Tuy nhiên, với những ưu thế về khả năng đồ họa, mô phỏng mà cácphương tiện dạy học hiện đại đem lại sẽ hỗ trợ và khắc phục những khó khăn trên.Qua các bài giảng dưới dạng Web, giáo viên
Trang 1MỤC LỤC 1
DANH MỤC VIẾT TẮT 3
SGK: Sách giáo khoa 3
GV: Giáo viên 3
HS: Học sinh 3
CD: Compact dics (đĩa quan được sử dụng để lưu trữ dữ liệu số) 3
DANH MỤC CÁC HÌNH 4
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
3 Giả thuyết khoa học 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3
5 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG KĨ THUẬT WEBQUEST VÀO DẠY HỌC HÓA HỌC 5
1.3.Tổng quan về phương pháp webquest và trang WebQuest 11
1.3.1.Giới thiệu về trang WebQuest 11
1.3.2.Khái niệm phương pháp WebQuest 11
1.3.3.Đặc điểm của việc học tập với phương pháp webquest 12
1.3.4.Các dạng nhiệm vụ trong WebQuest 13
1.3.5.Cấu trúc của một WebQuest 15
Hình 1.1: Cấu trúc chung của một Webquest 16
1.3.5.1.Giới thiệu (Introduction) 16
1.3.5.3.Tiến trình (Process) 19
1.3.5.4.Đánh giá (Evaluation) 20
1.3.5.5.Kết luận (Conclusion) 20
1.4.Thiết kế WebQuest 21
Hình 1.2: Quy trình thiết kế trang Web 21
1.4.2.Chọn chủ đề 22
1.4.3.Xác định mục đích 22
1.4.4.Tìm nguồn tài liệu học tập 22
1.4.5 Xác định nhiệm vụ 23
1.4.6.Thiết kế tiến trình 23
1.4.8 Trình bày trang Web 23
1.4.9 Thực nghiệm WebQuest 24
Trang 21.5.Kết luận chương I 24
2.1 Sử dụng Webquest vào dạy học hóa học vô cơ THPT chương “Oxi – Lưu huỳnh” 25
2.2 Sử dụng Webquest vào dạy học hóa học vô cơ THPT chương “Cacbon - Silic” 44
BÀI 15 : CACBON 44
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 63
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 63
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm: 63
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 63
3.2.1 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 63
3.2.2 Nội dung của thực nghiệm sư phạm 63
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 64
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 64
3.3.2 Quan sát giờ học 64
3.3.3 Các bài kiểm tra 64
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 64
3.4.1 Nhận xét tiến trình dạy học 64
3.5 Kết luận chương III 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Tài liệu trên internet 69
http://thptchacang.edu.vn/news/Goc-CNTT/Ung-dung-Cong-nghe-thong-tin-trong-day-hoc-thuan-loi-va-thach-thuc-311/ 69
http://www.vvob.be/vietnam/files/IntegrationofICTineducationinVietnam-Frompolicytopractice_VN.pdf 69
http://www.unesco.org/education/educprog/lwf/dl/edict.pdf 69
Trang 3ICT (Information and Communication Technology): Công nghệ thông tin và truyền thông
SGK: Sách giáo khoa
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
SV: Sinh viên
CD: Compact dics (đĩa quan được sử dụng để lưu trữ dữ liệu số)
HTML: Hypertext Markup Language (Ngôn ngữ liên kết siêu văn bản)
TP: Thành phố
CNTT: Công nghệ thông tin
CTCT: Công thức cấu tạo
Trang 4MỤC LỤC 1
DANH MỤC VIẾT TẮT 3
SGK: Sách giáo khoa 3
GV: Giáo viên 3
HS: Học sinh 3
CD: Compact dics (đĩa quan được sử dụng để lưu trữ dữ liệu số) 3
DANH MỤC CÁC HÌNH 4
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
3 Giả thuyết khoa học 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3
5 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG KĨ THUẬT WEBQUEST VÀO DẠY HỌC HÓA HỌC 5
1.3.Tổng quan về phương pháp webquest và trang WebQuest 11
1.3.1.Giới thiệu về trang WebQuest 11
1.3.2.Khái niệm phương pháp WebQuest 11
1.3.3.Đặc điểm của việc học tập với phương pháp webquest 12
1.3.4.Các dạng nhiệm vụ trong WebQuest 13
1.3.5.Cấu trúc của một WebQuest 15
Hình 1.1: Cấu trúc chung của một Webquest 16
1.3.5.1.Giới thiệu (Introduction) 16
1.3.5.3.Tiến trình (Process) 19
1.3.5.4.Đánh giá (Evaluation) 20
1.3.5.5.Kết luận (Conclusion) 20
1.4.Thiết kế WebQuest 21
Hình 1.2: Quy trình thiết kế trang Web 21
1.4.2.Chọn chủ đề 22
1.4.3.Xác định mục đích 22
1.4.4.Tìm nguồn tài liệu học tập 22
1.4.5 Xác định nhiệm vụ 23
1.4.6.Thiết kế tiến trình 23
1.4.8 Trình bày trang Web 23
1.4.9 Thực nghiệm WebQuest 24
1.4.10 Đánh giá, sửa chữa 24
Trang 52.1 Sử dụng Webquest vào dạy học hóa học vô cơ THPT chương “Oxi – Lưu
huỳnh” 25
2.2 Sử dụng Webquest vào dạy học hóa học vô cơ THPT chương “Cacbon - Silic” 44
BÀI 15 : CACBON 44
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 63
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 63
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm: 63
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 63
3.2.1 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 63
3.2.2 Nội dung của thực nghiệm sư phạm 63
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 64
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 64
3.3.2 Quan sát giờ học 64
3.3.3 Các bài kiểm tra 64
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 64
3.4.1 Nhận xét tiến trình dạy học 64
3.5 Kết luận chương III 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Tài liệu trên internet 69
http://thptchacang.edu.vn/news/Goc-CNTT/Ung-dung-Cong-nghe-thong-tin-trong-day-hoc-thuan-loi-va-thach-thuc-311/ 69
http://www.vvob.be/vietnam/files/IntegrationofICTineducationinVietnam-Frompolicytopractice_VN.pdf 69
http://www.unesco.org/education/educprog/lwf/dl/edict.pdf 69
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, khi mà quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế đang diễn ra mạnh mẽ, muốn chiếm lĩnh tri thức đòi hỏi con người phải tự chủ,sáng tạo và tư duy khoa học Trước tình hình đó đã đặt ra cho nền giáo dục nước taphải có những đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ, vươn tới ngang tầm với sự pháttriển chung trên thế giới và trong khu vực Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học làyếu tố quan trọng, cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu trên
Phát triển giáo dục là chìa khóa, là đòn bẩy để tạo nên sự phát triển nhanh chóng
và bền vững của đất nước trong thời gian sắp tới và lâu dài về sau Quan điểm này đãđược thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ươngĐảng (khóa VIII): “Thực sự coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu” Trongnhững năm qua, giáo dục nước ta đã có nhiều đổi mới về nội dung cũng như phươngpháp dạy học và đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến việc đổi mới phươngpháp dạy học theo hướng tăng cường vai trò chủ thể của học sinh Phát huy tính tíchcực, tự lực, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, trong đó việc giúp các em có khả năng tựchiếm lĩnh tri thức là một trong những phương pháp cần thiết Vì dù giáo viên truyềnđạt kiến thức có nhiều đến đâu cũng không thể hết được kho tàng kiến thức đồ sộ củanhân loại
Thực tế hiện nay, phương pháp này đã được áp dụng một phần nào đó trong dạyhọc Tuy nhiên việc hướng dẫn đó chỉ mang tính lý thuyết và khả năng vận dụng củahọc sinh chưa cao đặc biệt là trong việc vận dụng Internet trong quá trình tự học củahọc sinh
Phương pháp tự học (tự nghiên cứu) là phương pháp, trong đó học sinh tự làmviệc cá nhân với tư liệu, tài liệu tham khảo để thu nhận các thông tin cần thiết Cáctài liệu học tập này có thể do giáo viên cung cấp, chỉ dẫn, trong nhiều trường hợp cầnthiết kèm theo các yêu cầu làm việc cụ thể
- Ưu điểm của tự học là:
+ Học sinh là chủ thể nhận thức, kiến thức lĩnh hội được trở nên chắc chắn
+ Rèn luyện được kĩ năng làm việc với sách, tài liệu, kĩ năng tự đọc, kĩ năng nghiêncứu
+ Hình thành các thói quen đọc sách, các phẩm chất đặc biệt như tính độc lập, tính
Trang 7chủ động, tính khoa học, tính phê phán, tính ham hiểu biết
+ Học sinh có điều kiện mở rộng kiến thức ngoài chương trình, không chỉ giới hạnbởi giáo trình hay bài giảng của giáo viên
- Nhược điểm của tự học là:
+ Cần phải có quỹ thời gian rộng
+ Tốc độ dạy học chậm
+ Học sinh khi phải làm việc với các tài liệu mới, khó, phức tạp, hoặc không có tính
sư phạm dễ nản, buông xuôi
+ Khó áp dụng đối với học sinh chưa được rèn luyện nhiều kĩ năng làm việc với sáchhay kĩ năng tự học
+ Để phương pháp này có hiệu quả cần phải có tài liệu đầy đủ, rõ ràng và có sự hướngdẫn của giáo viên lưu ý học sinh vào các nội dung trọng điểm, cơ bản của tài liệu
Do đó, việc nghiên cứu đưa ra một giải pháp khắc phục và nhằm giúp các em
có thể vận dụng việc tự học ở trên mạng Internet là rất thiết thực nhằm đổi mớiphương pháp dạy học từng môn học theo đúng yêu cầu đặt ra
Trong chương trình hóa học phổ thông, có một số kiến thức, khái niệm, hiệntượng khá trừu tượng học sinh gặp nhiều khó khăn khi phải tìm hiểu bản chất củahiện tượng đó Việc dạy học gặp phải nhiều khó khăn do học sinh khó có thể hìnhdung hiện tượng Tuy nhiên, với những ưu thế về khả năng đồ họa, mô phỏng mà cácphương tiện dạy học hiện đại đem lại sẽ hỗ trợ và khắc phục những khó khăn trên.Qua các bài giảng dưới dạng Web, giáo viên có thể phát huy tác dụng tất cả các giácquan của học sinh trong quá trình truyền thụ kiến thức, làm cho học sinh nhận biếtđược các quan hệ giữa các hiện tượng, tái hiện những khái niệm, quy luật làm cơ sởcho việc áp dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất và đời sống
Các website phục vụ cho công tác giáo dục xuất hiện ngày càng nhiều Vì vậy,theo dự đoán của các chuyên gia công nghệ thông tin Việt Nam, trong một vài năm tới,bất kì tổ chức nào, đoàn thể nào không có Website hoặc các hình thức đưa thông tinđến rộng rãi công chúng bằng các phương tiện ICT (Information and CommunicationTechnology), thì tổ chức, đoàn thể đó sẽ trở nên lạc hậu
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng kỹ thuậtWebQuest vào dạy học hóa học vô cơ THPT”
Trang 82 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kỹ thuật WebQuest.
- Trình bày được ứng dụng của kỹ thuật WebQuest trong dạy học Hóa học.
- Vận dụng trong dạy học hóa học vô cơ THPT.
3 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và sử dụng được WebQuest trong dạy học hóa học trong chương“Nhóm
Oxi” (Hóa học lớp 10 nâng cao) và chương “Cacbon – Silic” (Hóa học lớp 11 nâng
cao) thì sẽ phát huy được tính tích cực, độc lập và chủ động trong hoạt động nhận thức củahọc sinh, từ đó sẽ nâng cao chất lượng của quá trình dạy học
4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được những yêu cầu trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của kỹ thuật WebQuest và việc ứng dụng WebQuest
trong dạy học hóa học
- Thiết kế WebQuest để dạy học hóa học vô cơ THPT.
- Sử dụng WebQuest để dạy học hóa học vô cơ THPT.
- Thực nghiệm sư phạm.
5 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc thiết kế WebQuest phục vụ cho PPDH Webquest trong chương“Nhóm Oxi” (Hóa học lớp 10 nâng cao) và chương “Cacbon –
Silic” (Hóa học lớp 11 cơ bản)
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Thiết kế WebQuest phục vụ cho PPDH webquest nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tích cực cho HS THPT với nội dung nằm trong chương“Nhóm Oxi” (Hóa học lớp 10 nâng cao) và chương “Cacbon – Silic”
(Hóa học lớp 11 cơ bản)
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Nghiên cứu các tài liệu về tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạyhọc hóa học ở trường phổ thông
+ Nghiên cứu SGK và các tài liệu về phương pháp giảng dạy hóa học cần cho việcxây dựng tiến trình dạy học
+ Tham khảo các tài liệu về ngôn ngữ và các công cụ đơn giản hỗ trợ cho việc thiết
kế WebQuest
Trang 9- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
+ Sử dụng các ngôn ngữ và công cụ hỗ trợ đơn giản để thiết kế WebQuest dạy họchóa học được cụ thể hóa trong dạy học phần hóa học vô cơ
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
+ Tiến hành thực nghiệm đối chứng ở trường phổ thông để đánh giá hiệu quả của tiếntrình dạy học và các giải pháp sư phạm đã đề ra
+ Ứng dụng toán học thống kê để xử lý số liệu và trình bày kết quả thực nghiệm sưphạm
Trang 10PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG KĨ THUẬT WEBQUEST
VÀO DẠY HỌC HÓA HỌC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Năm 1995 Bernie Dodge ở trường đại học San Diego State University (Mỹ) đãxây dựng Webquest trong dạy học Phương pháp này được tiếp tục phát triển bởi TomMarch (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ)
Bernie Dodge nhận thấy rằng Internet ngày càng phổ biến và việc thu thập, xử lýthông tin trên mạng là một kỹ năng cần thiết trong nghiên cứu, học tập cũng như tronghầu hết các ngành nghề Tuy nhiên, việc truy cập thông tin một cách tự do trên mạng đểđáp ứng yêu cầu trong dạy học của HS có những hạn chế như mất nhiều thời gian để tìmkiếm thông tin có chất lượng, HS dễ bị chệch hướng khỏi đề tài do lượng thông tin quánhiều Để khắc phục nhược điểm, ông đã đề ra phương pháp webquest và ý tưởng vềWebQuest Đồng hành cùng với ông là Tom March - cũng là giảng viên tại trường đại họcSan Diego State Cả hai ông cùng nhau tạo ra những WebQuest và cùng tiến hành thựcnghiệm với các sinh viên (SV), cải tiến phương pháp, khắc phục những nhược điểm Kể
từ khi ra đời, WebQuest đã nhanh chóng trở thành một làn sóng phát triển mạnh mẽ trênkhắp thế giới, đặc biệt Brazil, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Australia, Hà Lan, Mỹ là nhữngnước rất quan tâm và phát triển mạnh phương pháp này Bernie Dodge cũng đã tạo mộttrang web riêng (WebQuest.org) nhằm giới thiệu phương pháp webquest và cho phép mọingười tạo ra các WebQuest miễn phí tại đây
Sau đó, Tom March nhận thấy rằng, việc GV xây dựng một WebQuest chấtlượng tốn rất nhiều thời gian và công sức trong khi việc dạy học phải đảm bảo sự liêntục Thấu hiểu điều trên, ông đã lập ra một trang web gọi là “BestWebQuest.com”, tậphợp tất cả những WebQuest trên thế giới và ông phân ra theo lĩnh vực, GV có thể vàođây chia sẻ và sử dụng các WebQuest như là một nguồn tài nguyên chung CácWebQuest đã được ông cùng các cộng sự kiểm tra về mặt nội dung để đảm bảo HS sẽphát triển được các mức tư duy theo thang phân loại của Bloom
Một đại diện khác của WebQuest nữa mà nếu không nhắc đến ông có lẽ là mộtthiếu sót lớn, đó chính là Heinz Moser (Thụy Sĩ) Ông là một giáo sư về giáo dụctruyền thông tại Đại học Zurich và là giáo sư danh dự của ngành giáo dục và nghiêncứu tại Đại học Kassel Bernie Dodge và Tom March sáng tạo ra phương pháp
Trang 11webquest nhưng các ông chỉ dừng lại việc xây dựng các WebQuest cho từng bài riêngbiệt, một chủ đề riêng mang tính lịch sử hoặc tính thời sự Đến Heinz Moser, ông đãđưa ra thêm một ý tưởng nữa vào năm 2000, đó chính là việc áp dụng WebQuest chonhiều bài trong cùng một chương, nhiều chương liên tiếp theo cách học xoắn ốc nhằmphát triển tri thức một cách vừa củng cố vừa liên tục Cuốn sách “Abenteuer Internet:Lernen mit WebQuests” có nội dung gồm những hiểu biết và khái niệm về WebQuest
do Heinz Moser biên soạn được tiếp nhận nồng nhiệt tại Đức
Riêng ở Việt Nam, khái niệm WebQuest cũng theo trào lưu du nhập vào nước ta
từ khoảng 2007 Có một số GV và một vài khóa luận đề cập đến phương phápwebquest Điển hình như các thầy cô trong nhóm thành viên của VVOB Việt Nam đãđưa vào trang web của mình một chuyên mục giới thiệu về WebQuest Các chị TrầnThị Tuyết Nhung, Phạm Thị Nhạn lớp CH K20 - SPKT trường đại học Sư Phạm HàNội cũng thiết kế riêng một trang web (music.easyvn.com) giới thiệu khá đầy đủ và cókèm ví dụ về WebQuest Ngoài ra còn có một vài khóa luận cũng nghiên cứu vềWebQuest:
- Vận dụng kỹ thuật WebQuest vào dạy học chương “Động lực học chất điểm” vật lý 10 THPT, khóa luận tốt nghiệp (khuyết danh)
- Nguyễn Thị Thu Chi (2007), Sử dụng WebQuest trong dạy học Lịch sử lớp 11 ở trường THPT”, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà
Nội
Đặc biệt, có một số giảng viên đại học đã áp dụng phương pháp webquest vàodạy học trên đối tượng SV và thu được những kết quả nhất định Kết quả các nghiêncứu đã cho thấy rằng phương pháp này ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm củanhà giáo dục Tuy nhiên, nó vẫn còn mới mẻ và chưa có sự phát triển rộng rãi ở ViệtNam Các tác giả trên đều giới thiệu về phương pháp WebQuest, nêu được những ưuđiểm của phương này cũng như cách thức và công cụ để tạo nên một WebQuest nhưngchưa tác giả nào tạo được một WebQuest một cách hoàn chỉnh, hoặc có tác giả đã tạođược nhưng lại chỉ lưu hành nội bộ Và một điều đặc biệt là các tác giả tạo WebQuest
từ các phần mềm Microsoft Word, PowerPoint hay trên công cụ xây dựng web:Microsoft Frontpage Nếu dùng Word, PowerPoint thì không mô tả hết tinh thần củaWebQuest, còn dùng Frontpage thì đòi hỏi người thiết kế phải biết ngôn ngữ HTLM,rất khó khăn và tương đối phức tạp Nếu tìm trên mạng một WebQuest thì rất nhiều
Trang 12nhưng một WebQuest bằng tiếng Việt hoàn chỉnh thì hầu như không có, nhất là tronglĩnh vực hóa học.
1.2 Tổng quan về việc ứng dụng ICT trong dạy học hóa học ở trường THPT
1.2.1 Thực trạng về việc ứng dụng ICT trong giáo dục ở Việt Nam
Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là một “tập hợp đa dạng các công cụ
và tài nguyên công nghệ được sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản
lý thông tin” [30].Các công nghệ này bao gồm phần cứng và mạng máy tính, các phần
mềm cần thiết, Internet, công nghệ truyền thông (đài và vô tuyến) và điện thoại Thuậtngữ ICT ra đời vào năm 1997, trong một báo cáo của Dennis Stevenson gửi chính phủAnh và được lan truyền rộng rãi trong các tài liệu mới của chương trình giảng dạy củaquốc gia Anh vào năm 2000
Riêng CNTT - đặc biệt là Internet, bắt đầu được sử dụng ở Hoa Kỳ vào năm
1995 và sau đó được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới Ngày nay, thật khó có thểhình dung được thế giới của chúng ta sẽ như thế nào nếu như không có các ứng dụngCNTT Nhiều chương trình đào tạo ở các trường đại học và phổ thông của các nước cónền giáo dục tiên tiến từ lâu đã sử dụng những chức năng của công nghệ vào tronggiảng dạy Đổi mới PPDH bằng CNTT cũng là một chủ đề lớn được UNESCO đưa rathành chương trình của thế kỷ XXI và dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục mộtcách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT
Ở nước ta, năm học 2008 – 2009 là năm học đầu tiên triển khai thực hiện Chỉ thị
số 55/2008/CT - BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo về tăngcường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 –
2012 Năm học 2008 – 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổimới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”, Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã nêu rõ:
- Tổ chức tốt việc dạy học Tin học ở các cấp học, bậc học, ngành học nhằm phổcập Tin học trong nhà trường
- Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong Giáo dục và Đào tạo ở các cấp học, bậc học,theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho đổi mới phươngpháp giảng dạy, học tập ở các môn học
Qua tham khảo các tài liệu [3],[28], tính đến năm 2009, đã có 20% GV trunghọc, 30% trường THPT, 25% trường THCS ứng dụng CNTT Trong đó, từ 2–5% số
Trang 13bài giảng được sử dụng phần mềm dạy học và có ứng dụng CNTT Ứng dụng CNTTtrong giảng dạy, không chỉ phát triển mạnh ở các thành phố lớn mà còn phát triển ởnhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn đã góp phần đẩy nhanhtiến trình công bằng trong giáo dục Với sự trợ giúp của CNTT, việc dạy và học đãmang lại hiệu quả thiết thực, nhất là các môn xã hội cho những vùng ít có cơ hội tiếpcận với các nguồn thông tin
Hiện nay các trường phổ thông điều trang bị phòng máy, phòng đa năng, nốimạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức Một số trường còn trang bị thêmthiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máyquét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho GV sử dụngvào quá trình dạy học của mình
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, đặc biệt là các phần mềm mã nguồn mởphục vụ cho giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể: Phần mềm văn phòng(OpenOffice.org), thư viện số (Emilda, phpmylibrary, Koha, OpenBiblio), quản lýmạng lớp học (Mythware, i–Talc của Intel),… ngoài ra còn có hệ thống quản lý E-learning (Moodle, Dokeos) và các phần mền đóng gói, tiện ích khác
Qua tìm hiểu, việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở nước ta trong những năm vừaqua đã có những ưu điểm và hạn chế nhất định
Ưu điểm
- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh đoạn phim, ảnh chụp trênmáy quay… với âm thanh, văn bản, biểu đồ… được trình bày qua máy tính theo giáo
án vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan
- Các phần mềm và công cụ có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tựnhiên, xã hội con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhàtrường
- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những côngviệc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người
sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet… có thể được khai thác để tạo.nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để HS học tập tronghoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặctrong giao lưu
Trang 14- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ,
âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, HS có thể
có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn củaICT trong quá trình đổi mới PPDH
Có thể khẳng định rằng, môi trường ICT chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sựphát triển trí tuệ của HS và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới
Hạn chế
Theo nhận định của một số chuyên gia, việc đưa ICT ứng dụng vào lĩnh vực giáodục và đào tạo bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đãđạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫncòn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn
- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trongmột mức độ nào đó, công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ GV hoàn toàn trongcác bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phảitoàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nộidung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽthuận lợi hơn cho HS, vì GV sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng vànhư vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng
“slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “vận dụng” đòi hỏi
GV phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các PPDH truyền thống mới rèn luyệnđược kỹ năng cho HS
- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về CNTT ở một số GV vẫn còn hạn chế, chưa đủvượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặt khác, PPDH cũ vẫncòn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trongmột thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạyphương pháp tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cáchchung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với GV và đòi hỏi GVphải kết hợp hài hòa các PPDH đồng thời phát huy ưu điểm của PPDH này làm hạnchế những nhược điểm của PPDH truyền thống Điều đó làm cho CNTT, dù đã đượcđưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy trọn vẹn tính tích cực và hiệu quảcủa nó
Trang 15- Việc sử dụng CNTT để đổi mới PPDH chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việcứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa xác địnhhướng ứng dụng CNTT trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập,chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việcđổi mới PPDH sử dụng CNTT (phương tiện chiếu projector,…) còn thiếu, chưa đồng
bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên khó triển khai rộng khắp, hiệu quả
- Việc kết nối, sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sửdụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền chậm Công tácđào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV chỉ
mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên GV chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian vàcông sức để sử dụng CNTT trong lớp học một cách có hiệu quả
1.2.2 Các hình thức ứng dụng ICT trong dạy học
Hiện nay trên thế giới, người ta phân biệt rõ ràng hai hình thức ứng dụng ICTtrong dạy và học, đó là Computer Base Training (CBT: dạy dựa vào máy tính) và E-learning (học dựa vào máy tính).[3]
- CBT: là hình thức GV sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo các trang thiết bịnhư máy chiếu, các thiết bị đa phương tiện để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến HS, kếthợp với phát huy những thế mạnh của các phần mềm máy tính như hình ảnh, âmthanh, các tư liệu phim ảnh, sự tương tác giữa người và máy
- E-learning là hình thức HS sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà GV soạnsẵn, hoặc xem những đoạn phim về tiết dạy của các GV hay trao đổi trực tuyến với
GV thông qua mạng Internet
Điểm khác biệt giữa E-learning và CBT là E-learning lấy người học làm trung tâm,người học tự làm chủ quá trình học tập của mình Còn CBT là hình thức hỗ trợ cho GV,lấy người dạy làm trung tâm và cơ bản vẫn dựa trên mô hình lớp học cũ Ở nước ta hiệnnay, ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDH đã được nghiên cứu và thử nghiệm, trong đó
có một số mô hình được đánh giá là thành công như “Teaching and Learning withcomputer” của công ty IBM và “Teaching to the Future” của công ty Intel
Căn cứ vào tình hình thực tiễn và những thành tựu nêu trên, có thể nhận địnhrằng ngành giáo dục phổ thông nước ta chỉ đang phát triển ở hình thức CBT Vì vậy,phương hướng phấn đấu và phát triển tiếp theo sẽ là tích hợp ICT vào quá trình dạy
Trang 16học Đồng thời đổi mới dần PPDH và xây dựng một mô hình giáo dục hiện đại mới
phù hợp hơn, trong đó việc phát triển và đẩy mạnh sử dụng E-learning trong giáo dục
là mục tiêu cần đạt được Tuy nhiên, việc học theo E-learning (học thông qua mạng
Internet) lại còn quá mới mẻ so với HS THPT và không giúp HS hiểu được cặn kẽ vấn
đề Phương pháp webquest chính là sự kết hợp cả hai cách ứng dụng ICT trên, vừagiúp HS tự tiếp cận kiến thức thông qua mạng Internet và trang WebQuest, vừa giúp
HS hiểu sâu sắc vấn đề khi GV tổng kết, giải quyết những vấn đề HS hiểu lệch hoặcchưa hiểu tới ngay tại buổi báo cáo của HS
1.3 Tổng quan về phương pháp webquest và trang WebQuest
1.3.1 Giới thiệu về trang WebQuest
Cùng với việc ra đời và phổ biến của internet, ngày nay việc thu thập và xử lýthông tin trên mạng là một kỹ năng cần thiết trong nghiên cứu và học tập cũng nhưtrong lao động nghề nghiệp Việc ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng internettrong dạy học ngày càng trở nên quan trọng Tuy nhiên, việc học sinh truy cập thôngtin một cách tự do trên mạng internet trong dạy học có những nhược điểm chủ yếu là:
- Việc tìm kiếm thường kéo dài vì lượng thông tin trên mạng lớn, dễ bị chệch
hướng khỏi bản thân đề tài
- Nhiều tài liệu được tìm ra với nội dung chuyên môn không chính xác, có thể
dẫn đến “nhiễu thông tin”
- Chi phí quá lớn cho việc đánh giá và xử lý thông tin trong dạy học.
- Việc tiếp thu kiến thức qua truy cập thông tin trên mạng có thể chỉ mang tính
thụ động mà thiếu sự đánh giá, phê phán của người học
Để khắc phục những nhược điểm trên người ta đã phát triển phương phápWebQuest
1.3.2 Khái niệm phương pháp WebQuest
Ngày nay WebQuest được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong giáo dục phổthông cũng như đại học Có rất nhiều định nghĩa về WebQuest tuy nhiên giới hạn lại
có thể hiểu WebQuest là một trang Web trợ giúp học tập, trong đó các nội dung họctập được đưa ra dưới dạng câu hỏi đồng thời cung cấp nguồn tài liệu tham khảo (chủyếu từ internet) để học sinh có thể sử dụng trả lời các câu hỏi đó
Theo nghĩa hẹp, WebQuest được hiểu như một phương pháp dạy học(WebQuest - Method); theo nghĩa rộng, WebQuest được hiểu như một mô hình, một
Trang 17quan điểm về dạy học có sử dụng mạng internet.
WebQuest cũng là bản thân đơn vị nội dung dạy học được xây dựng để sử dụngphương pháp này và là trang WebQuest được đưa lên mạng Khi gọi WebQuest làmột phương pháp dạy học, cần hiểu đó là một phương pháp phức hợp, trong đó có thể
sử dụng những phương pháp cụ thể khác nhau Với tư cách là một phương pháp dạyhọc, có thể định nghĩa WebQuest như sau:
WebQuest là một phương pháp dạy học mới, được xây dựng trên cơ sở phươngtiện dạy học mới là công nghệ thông tin và Internet Trong tiếng Việt chưa có cáchdịch hoặc dùng thuật ngữ thống nhất cho khái niệm này Trong tiếng Anh, Web ở đâynghĩa là mạng, Quest nghĩa là tìm kiếm, khám phá Dựa trên thuật ngữ và bản chấtcủa khái niệm có thể gọi WebQuest là phương pháp “khám phá trên mạng”.WebQuest là một dạng đặc biệt của dạy học sử dụng truy cập mạng Internet
WebQuest là một phương pháp dạy học, trong đó học sinh tự lực thực hiện trongnhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn Nhữngthông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết (Internet links) dogiáo viên chọn lọc từ trước Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kếtquả học tập được học sinh trình bày và đánh giá
WebQuest có thể chia thành các WebQuest lớn và các WebQuest nhỏ:
- WebQuest lớn: xử lý một vần đề phức tạp trong một thời gian dài (ví dụ chođến một tháng), có thể coi như một dự án dạy học
- WebQuest nhỏ: trong một vài tiết học (ví dụ 2 đến 4 tiết), học sinh xử lý một
đề tài chuyên môn bằng cách tìm kiếm thông tin và xử lý chúng cho bài trình bày,tức là các thông tin chưa được sắp xếp sẽ được lập cấu trúc theo các tiêu chí và kếthợp vào kiến thức đã có trước của các em
WebQuest có thể được sử dụng ở tất cả các loại hình trường học Điều kiện cơbản là học sinh phải có kỹ năng đọc cơ bản và có thể tiếp thu, xử lý các thông tindạng văn bản Bên cạnh đó, học sinh cũng phải có những kiến thức cơ bản trong thaotác với máy tính và Internet
WebQuest có thể sử dụng cho mọi môn học Ngoài ra, WebQuest rất thích hợpcho việc dạy liên môn
1.3.3 Đặc điểm của việc học tập với phương pháp webquest
Dạy học với phương pháp webquest có những đặc điểm riêng khác với các
Trang 18phương pháp khác:
Chủ đề dạy học: Chủ đề phải gắn với tình huống thực tiễn và mang tính phức
hợp, có thể là những tình huống lịch sử mang tính điển hình, hoặc những tình huống
có tính thời sự Những tính huống này có thể được xem xét dưới nhiều phương diệnkhác nhau và có thể có nhiều quan điểm để giải quyết
Định hướng hứng thú HS: Nội dung của chủ đề và PPDH phải định hướng
vào hứng thú, tích cực hoá động cơ học tập của HS
Tính tự lực cao của người học: Quá trình học tập là quá trình tự điều khiển,
HS cần tự lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự điều khiển và tham gia vào quátrình kiểm tra, đánh giá HS sẽ chủ động tiếp cận và lĩnh hội kiến thức, tự giác hơntrong học tập, GV chỉ đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn
Quá trình học tập là quá trình tích cực và kiến tạo: Khác với việc truy cập
mạng thông thường nhằm thu thập thông tin, trong phương pháp webquest HS cần lấy
và xử lý thông tin thông qua trang WebQuest nhằm giải quyết nhiệm vụ đề ra (tíchcực) HS cần có quan điểm riêng dựa trên cơ sở lập luận để trả lời câu hỏi hoặc giảiquyết vấn đề (kiến tạo)
Quá trình học tập mang tính xã hội và tương tác: Hình thức làm việc trong
webquest chủ yếu là làm việc nhóm, do đó việc học tập mang tính xã hội và tươngtác HS có thể rèn luyện tính cộng đồng, biết trình bày quan điểm và lắng nghe phảnhồi cũng như nhận xét quan điểm của bạn bè và của chính mình
Quá trình học tập định hướng nghiên cứu và khám phá: Để giải quyết
vấn đề đặt ra HS cần áp dụng các phương pháp làm việc theo kiểu nghiên cứu vàkhám phá Những hoạt động điển hình của HS trong phương pháp webquest làtổng kết, đánh giá, hệ thống hóa, trình bày trong sự trao đổi với những HS khác HScần thực hiện và từ đó phát triển những khả năng tư duy như: so sánh, phân loại, suyluận, kết luận, phân tích sai lầm, chứng minh…
1.3.4 Các dạng nhiệm vụ trong WebQuest
Có nhiều dạng nhiệm vụ trong WebQuest, nhưng Bernie Dodge phân biệtnhững loại nhiệm vụ sau:
Tái hiện thông tin các thông tin (bài tập tường thuật): HS tìm kiếm những
thông tin, xử lý thông tin đó để trả lời các câu hỏi riêng rẽ và phải chứng tỏ đượcrằng HS hiểu những thông tin đó Kết quả tìm kiếm thông tin sẽ được trình bày theo
Trang 19cách đa phương tiện (ví dụ bằng chương trình PowerPoint) hoặc thông qua các ápphích, các bài viết ngắn,… (tùy theo yêu cầu của GV) Nếu chỉ là cắt dán mà không
xử lý các thông tin đã tìm được như tóm tắt, hệ thống hóa thì không phải phươngpháp webquest
Tổng hợp thông tin: HS có nhiệm vụ lấy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
và sau đó xử lý, liên kết, tổng hợp chúng trong một sản phẩm chung
Giải điều bí ấn: Việc đưa vào một điều bí ẩn là phương pháp làm cho người
học quan tâm, hứng thú hơn với đề tài Vấn đề là thiết kế một bí ẩn mà HS không thểtìm thấy lời giải của nó trên Internet, để giải nó HS sẽ phải thu thập thông tin từnhững nguồn khác nhau, lập ra các mối liên kết và rút ra kết luận
Bài tập báo chí: HS được giao nhiệm vụ với tư cách nhà báo tiến hành lập
báo cáo về những hiện tượng hoặc những cuộc tranh luận hiện tại cùng với nhữngbối cảnh nền và tác động của chúng Để thực hiện nhiệm vụ này họ phải thu thậpthông tin và xử lý chúng thành một bản tin, một bài phóng sự, một bài bình luậnhoặc một dạng bài viết báo kiểu khác
Lập kế hoạch và thiết kế (nhiệm vụ thiết kế): HS phải tạo ra một sản phẩm
hoặc phác thảo kế hoạch cho một dự định Những mục đích và hướng dẫn chỉ đạo sẽđược miêu tả trong đề bài
Lập ra các sản phẩm sáng tạo (bài tập sáng tạo): Nhiệm vụ của người học
là chuyển đổi những thông tin đã xử lý thành một sản phẩm sáng tạo, ví dụ một bứctranh, một tiết mục kịch, một tác phẩm châm biếm, một tấm áp phích, một trò chơi,một nhật ký mô phỏng hoặc một bài hát…
Lập đề xuất thống nhất (nhiệm vụ tạo lập sự đồng thuận): Những đề tài
nhất định sẽ được thảo luận theo cách tranh luận Mọi người sẽ ủng hộ các quanđiểm khác nhau trên cơ sở các hệ thống giá trị khác nhau, các hình dung khác nhau
về những điều kiện và hiện tượng nhất định, dẫn đến sự phát triển một đề xuấtchung cho một nhóm thính giả cụ thể (có thực hoặc mô phỏng)
Thuyết phục những người khác (bài tập thuyết phục): Người học phải tìm
kiếm những thông tin hỗ trợ cho quan điểm lựa chọn, phát triển những ví dụ có sứcthuyết phục về quan điểm tương ứng Ví dụ bài trình bày trước một ủy ban, bài
Trang 20thuyết trình trong phiên xử tại tòa án (mô phỏng), viết các bức thư, các bài bình luậnhoặc các công bố báo chí, lập một áp phích hoặc một đoạn phim, trong khi đó vấn đề
sẽ luôn luôn là thuyết phục những người được đề cập
Tự biết mình (bài tập tự biết mình): Những bài tập kiểu này đòi hỏi
người học xử lý những câu hỏi liên quan đến bản thân cá nhân mình mà các câuhỏi đó không có những câu trả lời nhanh chóng HS có thể suy ra từ việc xem xétcác mục tiêu cá nhân, những mong muốn về nghề nghiệp và các triển vọng củacuộc sống, các vấn đề tranh cãi về đạo lý và đạo đức, các quan điểm về các đổimới kỹ thuật, về văn hoá và nghệ thuật
Phân tích các nội dung chuyên môn (bài tập phân tích): Người học phải
xử lý cụ thể hơn với một hoặc nhiều nội dung chuyên môn, để tìm ra những điểmtương đồng và các khác biệt cũng như các tác động của chúng
Đề ra quyết định (bài tập quyết định): Để có thể đưa ra quyết định, phải có
thông tin về nội dung cụ thể và phát triển các tiêu chuẩn làm cơ sở cho sự quyếtđịnh Các tiêu chuẩn làm cơ sở cho sự quyết định có thể được cho trước, hoặc ngườihọc phải phát triển các tiêu chuẩn của chính mình
Điều tra và nghiên cứu (bài tập khoa học): HS tiến hành một nhiệm vụ
nghiên cứu thông qua điều tra hay các phương pháp nghiên cứu khác Ở kiểu bài tậpnày, cần tìm ra một nhiệm vụ với mức độ khó khăn phù hợp
1.3.5 Cấu trúc của một WebQuest
Một WebQuest thường gồm các phần: giới thiệu (Introduction), nhiệm vụ(Task), tiến trình (Process), đánh giá (Evaluation), kết luận (Conclusion)
Trang 21Hình 1.1: Cấu trúc chung của một Webquest
1.3.5.1 Giới thiệu (Introduction)
Phần này viết cho người đọc là các em học sinh Viết một đoạn ngắn ở đây giớithiệu cho học sinh về bài học, về các nhiệm vụ
Nếu trong phần nhiệm vụ có yêu cầu các em phân vai hoặc theo một kịch bảnnào đó thì phần giới thiệu là nơi chúng ta dàn dựng sân khấu
Nếu không muốn dẫn nhập theo cách kích thích trí tưởng tượng như vậy, có thểnói tổng quan về bài học, cách tổ chức hoặc phân công thực hiện
Trong phần này, nên đưa ra một vấn đề chủ đạo, gợi ý, hướng dẫn Về sautoàn bộ WebQuest xoay quanh vấn đề này
1.3.5.2 Nhiệm vụ (Task)
Mô tả ngắn gọn, rõ ràng các kết quả mà học sinh phải đạt được:
- Vấn đề đưa ra phải được giải quyết
- Sản phẩm phải được thiết kế hoàn tất
- Các nhiệm vụ phức tạp phải nghiên cứu
Trang 22- Các ý kiến, nhận xét của cá nhân học sinh.
- Các bảng tổng kết
- Các kết quả mang tính sáng tạo
- Các nhiệm vụ yêu cầu học sinh phải biết xử lý và diễn đạt lại thông tin
- Liệt kê tên các phần mềm sử dụng (nếu bắt buộc), không liệt kê các bước thựchiện (sẽ nêu ở trong phần tiến trình)
Có nhiều dạng nhiệm vụ trong WebQuest Dodge phân biệt những loại nhiệm vụsau:
Tổng hợp thông tin (bài
tập biên soạn)
Học sinh có nhiệm vụ lấy thông tin từ nhiều nguồnkhác nhau và liên kết, tổng hợp chúng trong một sảnphẩm chung Kết quả có thể được công bố tronginternet, nhưng cũng có thể là một sản phẩmkhông phải thuộc dạng kỹ thuật số Các thông tinđược tập hợp phải được xử lý
Giải điều bí ấn
Việc đưa vào một điều bí ẩn có thể là phương phápthích hợp làm cho người học quan tâm đến đề tài.Trong khi đó vấn đề sẽ là thiết kế một bí ẩn mà người
ta không thể tìm thấy lời giải của nó trên internet, đểgiải nó sẽ phải thu thập thông tin từ những nguồn khácnhau, lập ra các mối liên kết và rút ra các kết luận
Bài tập báo chí
Học sinh được giao nhiệm vụ, với tư cách nhà báo tiếnhành lập báo cáo về những hiện tượng hoặc nhữngcuộc tranh luận hiện tại cùng với những bối cảnh nền
và tác động của chúng Để thực hiện nhiệm vụ này họphải thu thập thông tin và xử lý chúng thành một bản
Trang 23tin, một bài phóng sự, một bài bình luận hoặc mộtdạng bài viết báo kiểu khác.
Kế hoạch và thiết kế
(nhiệm vụ thiết kế)
Học sinh phải tạo ra một sản phẩm hoặc phác thảo kếhoạch cho một dự định Những mục đích và hướng dẫnchỉ đạo sẽ được miêu tả trong đề bài
Lập ra các sản phẩm sáng
tạo (bài tập sáng tạo)
Nhiệm vụ của người học là chuyển đổi những thôngtin đã xử lý thành một sản phẩm sáng tạo, ví dụ mộtbức tranh, một tiết mục kịch, một tác phẩm châmbiếm, một tấm áp phích, một trò chơi, một nhật ký môphỏng hoặc một bài hát
Thuyết phục những người
khác (bài tập thuyết phục)
Người học phải tìm kiếm những thông tin hỗ trợ choquan điểm lựa chọn, phát triển những ví dụ có sứcthuyết phục về quan điểm tương ứng Ví dụ bài trìnhbày trước một ủy ban, bài thuyết trình trong phiên xửtại tòa án (mô phỏng), viết các bức thư, các bài bìnhluận hoặc các công bố báo chí, lập một áp phích hoặcmột đoạn phim video, trong khi đó vấn đề sẽ luôn luôn
là thuyết phục những người được đề cập
Tự biết mình (bài tập tự
biết mình)
Các bài tập kiểu này đòi hỏi người học xử lý những câuhỏi liên quan đến bản thân cá nhân mình mà đối vớichúng không có những câu trả lời nhanh chóng Các bàitập loại này có thể suy ra từ việc xem xét các mục tiêu
cá nhân, những mong muốn về nghề nghiệp và các triểnvọng của cuộc sống, các vấn đề tranh cãi về đạo lý vàđạo đức, các quan điểm về các đổi mới kỹ thuật, về vănhoá và nghệ thuật
Trang 24Phân tích các nội dung
chuyên môn (bài tập phân
tích)
Người học phải xử lý cụ thể hơn với một hoặcnhiều nội dung chuyên môn, để tìm ra những điểmtương đồng và các khác biệt cũng như các tác động củachúng
Điều tra và nghiên cứu
(bài tập khoa học)
Học sinh tiến hành một nhiệm vụ nghiên cứu thôngqua điều tra hay các phương pháp nghiên cứu khác Ởkiểu bài tập này cần tìm ra một nhiệm vụ với mức độkhó khăn phù hợp
Khi giải bài tập cần lưu ý các bước sau :
- Lập ra các giả thiết
- Kiểm tra các giả thiết dựa trên các dữ liệu từnhững nguồn lựa chọn
1.3.5.3 Tiến trình (Process)
Nêu các bước cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ ở trên
Phần này viết dành cho học sinh đọc Tuy nhiên nên viết rõ ràng, chi tiết phầnnày để giáo viên khác có thể đọc, theo dõi được tiến trình của bài học và vận dụng vàobài giảng của mình
Ví dụ:
1 Trước tiên, các em chia thành từng nhóm 3 người
2 Sau đó, mỗi em chọn lấy một phần của mình
3 Kế tiếp,
Các liên kết đến trang web nên liệt kê ở đây theo trình tự thực hiện để học sinhtruy cập (không nên tách thành một danh sách riêng)
Nếu chia nhóm thì các liên kết được liệt kê theo tiến trình của từng nhóm
Ở phần này, chúng ta hướng dẫn cách tổ chức, sắp xếp lại các thông tin do các
em tìm được: bảng tổng kết, đồ thị
Hoặc nếu cần, đưa ra danh sách các câu hỏi hướng dẫn các em phân tích thông
Trang 25tin, hoặc viết thu hoạch cho bài học.
Nếu cần, đưa ra các câu hỏi, bài tập mở rộng
Nên có lời cám ơn đến tác giả các trang web hoặc những nguồn tài liệu liên quankhác như sách, băng, tranh ảnh mà chúng ta sử dụng trong bài giảng của mình
Có thể tóm tắt cấu trúc của một WebQuest theo bảng sau:
Nhập đề
GV giới thiệu về chủ đề Thông thường, một WebQuestbắt đầu với việc đặt ra tình huống có vấn đề thực sự đối vớingười học, tạo động cơ cho người học sao cho họ tự muốn quantâm đến đề tài và muốn tìm ra một giải pháp cho vấn đề
Xác định nhiệm
vụ
Học sinh được giao các nhiệm vụ cụ thể Cần có sự thảoluận với học sinh để học sinh hiểu nhiệm vụ, xác định đượcmục tiêu riêng, cũng như có những bổ sung, điều chỉnh cầnthiết Tính phức tạp của nhiệm vụ phụ thuộc vào đề tài và trướctiên là vào nhóm đối tượng Thông thường, các nhiệm vụ sẽđược xử lý trong các nhóm
Trình bày
Học sinh trình bày các kết quả của nhóm trước lớp, sửdụng PowerPoint hoặc tài liệu văn bản, có thể đưa lên mạng.Đánh giá kết quả, tài liệu, phương pháp và hành vi học tập
Trang 26Đánh giá
trong WebQuest Có thể sử dụng các biên bản đã ghi trong quátrình thực hiện để hỗ trợ, sử dụng đàm thoại, phiếu điều tra.Học sinh cần được tạo cơ hội suy nghĩ và đánh giá mộtcách có phê phán Việc đánh giá tiếp theo do GV thực hiện
1.4 Thiết kế WebQuest
Hình 1.2: Quy trình thiết kế trang Web
1.TẠO KHUNG TRANG WEBQUEST
Trang 271.4.1 Tạo khung trang WebQuest
Tạo trang web và cấu trúc chung của một WebQuest Có thể dùng nhiều công cụ như: Microsoft Word, Excel, PowerPoint, Microsoft Frontpage, Microsoft Publisher, các công cụ tạo website miễn phí, các dịch vụ tạo website…
1.4.2 Chọn chủ đề
Chủ đề cần phải có mối liên kết rõ ràng với những nội dung được xác địnhtrong chương trình dạy học Chủ đề có thể là một vấn đề quan trọng trong xã hội,đòi hỏi học sinh phải tỏ rõ quan điểm Quan điểm đó không thể được thể hiện bằngnhững câu trả lời như “đúng” hoặc “sai” một cách đơn giản mà cần phải lập luậnquan điểm trên cơ sở hiểu biết về chủ đề Những câu hỏi sau đây cần trả lời khi quyếtđịnh chủ đề:
- Chủ đề có phù hợp với chương trình đào tạo không?
- Học sinh có hứng thú với chủ đề không?
- Chủ đề có gắn với tình huống, vấn đề thực tiễn không?
- Chủ đề có đủ lớn để tìm được tài liệu trên Internet không?
Sau khi quyết định chọn chủ đề, cần mô tả chủ đề để giới thiệu với học sinh Đềtài cần được giới thiệu ngắn gọn, dễ hiểu để học sinh có thể làm quen với một đề tàikhó
1.4.3 Xác định mục đích
- Cần xác định một cách rõ ràng những mục tiêu, yêu cầu đạt được trong việc thựchiện WebQuest
- Các yêu cầu cần phù hợp với học sinh và có thể đạt được
1.4.4 Tìm nguồn tài liệu học tập
Giáo viên tìm các trang web có liên quan đến chủ đề, lựa chọn những trangthích hợp để đưa vào liên kết trong WebQuest Đối với từng nhóm bài tập riêng rẽcần phải tìm hiểu, đánh giá và hệ thống hóa các nguồn đã lựa chọn thành dạng các địachỉ Internet (URL) Giai đoạn này thường đòi hỏi nhiều công sức Bằng cách đó,người học sẽ được cung cấp các nguồn trực tuyến để áp dụng vào việc xử lý và giảiquyết vấn đề Những nguồn thông tin này được kết hợp trong tài liệu WebQuest hoặc
có sẵn ở dạng các siêu liên kết tới các trang web bên ngoài
Ngoài các trang web, các nguồn thông tin tiếp theo có thể là các thông tinchuyên môn được cung cấp qua Email, CD hoặc các ngân hàng dữ liệu kỹ thuật số (ví
Trang 28dụ từ điển trực tuyến trong dạy học ngoại ngữ) Điều quan trọng là phải nêu rõ nguồntin đối với từng nội dung công việc và trước đó các nguồn tin này phải được giáo viênkiểm tra về chất lượng để đảm bảo tài liệu đó là đáng tin cậy.
1.4.5 Xác định nhiệm vụ
Để đạt được mục đích của hoạt động học tập, học sinh cần phải giải quyết mộtnhiệm vụ hoặc một vấn đề có ý nghĩa và vừa sức Vấn đề hoặc nhiệm vụ phải cụ thểhóa đề tài đã được giới thiệu Nhiệm vụ học tập cho các nhóm là thành phần trungtâm của WebQuest Nhiệm vụ định hướng cho hoạt động của học sinh, cần tránhnhững nhiệm vụ theo kiểu ôn tập, tái hiện thuần túy
Như vậy, xuất phát từ một vấn đề chung cần phải phát biểu những nhiệm vụriêng một cách ngắn gọn và rõ ràng Nhiệm vụ cần phong phú về yêu cầu, về phươngtiện có thể áp dụng, các dạng làm bài Thông thường, chủ đề được chia thành các tiểuchủ đề nhỏ hơn để từ đó xác định nhiệm vụ cho các nhóm khác nhau Các nhóm cũng
có thể có nhiệm vụ giải quyết vấn đề từ những góc độ tiếp cận khác nhau
1.4.6 Thiết kế tiến trình
Sau khi đã xác định nhiệm vụ của các nhóm học sinh, cần thiết kế tiến trìnhthực hiện WebQuest Trong đó đưa ra những chỉ dẫn, hỗ trợ cho quá trình làm việccủa học sinh Tiến trình thực hiện WebQuest gồm các giai đoạn chính là: nhập đề,xác định nhiệm vụ, hướng dẫn nguồn thông tin, thực hiện, trình bày, đánh giá
1.4.8 Trình bày trang Web
Các nội dung đã được chuẩn bị trên đây, bây giờ cần sử dụng để trình bàyWebQuest Để lập ra trang WebQuest, không đòi hỏi những kiến thức về lập trình vàcũng không cần các công cụ phức tạp để thiết lập các trang HTML Về cơ bản chỉ cầnlập luận WebQuest, ví dụ trong chương trình Word và nhớ trong thư mục HTML,
Trang 29không phải như thư mục DOC Có thể sử dụng các chương trình điều hành Web, ví
dụ như FrontPage, tham khảo các mẫu WebQuest trên Internet hiện có TrangWebQuest được đưa lên mạng nội bộ để sử dụng
1.4.9 Thực nghiệm WebQuest
Sau khi đã đưa WebQuest lên mạng nội bộ, tiến hành thử với học sinh để đánhgiá và sửa chữa
1.4.10 Đánh giá, sửa chữa
Việc đánh giá WebQuest để rút ra kinh nghiệm và sửa chữa cần có sự tham giacủa học sinh, đặc biệt là những thông tin phản hồi của học sinh về việc trình bàycũng như quá trình thực hiện WebQuest Có thể hỏi học sinh những câu hỏi sau:
- Các em đã học được những gì?
- Các em thích và không thích những gì?
- Có những vấn đề kỹ thuật nào trong WebQuest?
1.5 Kết luận chương I
Kết thúc chương I, có thể khái quát những vấn đề đã được nghiên cứu như sau:
- WebQuest đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của quá trình dạy học, tạo môitrường dạy học chủ động, tích cực, phù hợp với việc triển khai lý thuyết về cácphương pháp dạy học hiện đại
- Việc thiết kế WebQuest không đòi hỏi cao ở người thiết kế và kiến thức chuyênmôn trong lĩnh vực tin học
- Tuy nhiên, việc thiết kế được WebQuest đáp ứng được các yêu cầu: đa dạng, cungcấp đầy đủ các thông tin cần thiết cho cả học sinh và giáo viên thì việc kết hợp đượccác yếu tố khoa học, sư phạm là vấn đề quan trọng Do đó, việc thiết kế WebQuestcần đảm bảo được tính cấu trúc, nguyên tắc và yêu cầu cơ bản xác định
- Hiện nay, việc dạy học thông qua WebQuest chưa thực sự phát triển Do đó, cùngvới việc hình thành ý tưởng thiết kế WebQuest, ta phải đề cập đến một số điểm cầnlưu ý và những hạn chế cần khắc phục khi sử dụng WebQuest
Trang 30-Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG WEBQUEST VÀO DẠY HỌC HÓA
HỌC VÔ CƠ THPT 2.1 Sử dụng Webquest vào dạy học hóa học vô cơ THPT chương “Oxi – Lưu
Hình 2.1: Hình ảnh minh họa bài oxi
Trang 31chỉ có một khí dùng để thở và đốt cháy Đến người Pháp thì ủng hộ Lavoisier, ngườiAnh thì ủng hộ cho Pristley và người Thuỵ Điển chỉ biết có Sile (C Scheele) mới làngười phát hiện ra oxi đầu tiên.
Tóm lại, không nước nào chịu thua nước nào! Cuộc tranh luận về quyền tác giả khámphá ra oxi đã kéo dài 200 năm mới tạm yên
Nhưng có một điều mà mọi người phải nhất trí rằng sự ra đời của oxi là cái mốclịch sử lớn lao của hoá học, là một cuộc cách mạng trong hoá học Hoá học có đượcmột ngôn ngữ riêng, có giả thuyết và định luật riêng, chỉ từ sau khi oxi chính thức rađời
Lịch sử ghi nhận năm tìm ra oxi là năm 1774 và tác giả gồm có hai người của hainước khác nhau: Pritli, người Anh và Sile, người Thuỵ Điển – tên La Tinh chính thứccủa nguyên tố này là “oxygenium”, do nhà hoá học Pháp Lavoadie đặt ra năm 1779,vay từ hai chữ Hi Lạp “oxus” có nghĩa là axit và “gennao” có nghĩa là sinh ra
Vậy oxi là chất có trong tự nhiên và là một chất khí có khá nhiều ứng dụng vàquan trong hơn để biết được tính chất của oxi là gì và vai trò ra sao thì chúng ta sẽcùng tìm hiểu qua bài học
II Nhiệm vụ
Lớp chia thành 4 nhóm thực hiện các nhiệm vụ sau:
Nhóm 1: Tìm hiểu lịch sử ra đời của oxi và từ đó hãy lấy dẫn chứng để chứng
minh ai mới là “cha đẻ” của oxi trong 3 nhà hóa học Lavoisier, Pristley, C.Scheele
Nhóm 2: Tìm hiểu về vị trí cấu tạo của oxi trong bảng tuần hoàn hóa học và tính
chất vật lý của oxi
Nhóm 3: Tìm hiểu về tính chất hóa học của oxi.
Nhóm 4: Tìm hiểu về ứng dụng và điều chế oxi.
Mỗi nhóm thuyết trình trên power point trong vòng 7 phút Sau khi các nhómhoàn thành báo cáo, cả lớp sẽ làm một bài trắc nghiệm ngắn về nội dung mà tất cả cácnhóm đã thuyết trình
Trang 32- Tính chất hóa học cơ bản của Oxi?
- Thể hiện ở những phản ứng với các chất nào?
- Mô phỏng các thí nghiệm qua các video hoặc chuẩn bị một số thí nghiệm đểlàm trước lớp
Nhóm 4:
- Ứng dụng của oxi trong cuộc sống và công nghiệp?
- Nguyên tắc chung điều chế oxi trong phòng thí nghiệm?
- Thu khí oxi bằng phương pháp gì? Vì sao? Thực hiện thí nghiệm trên lớp
- Các cách điều chế oxi trong công nghiệp?
Các nhóm có thể kết hợp sách giáo khoa và tìm thêm thông tin qua các trang web
Thiết kế power point
Chuẩn bị báo cáo
Diễn thuyết trước lớp
IV: Nguồn tư liệu
Tìm hiểu về lịch sử của Oxi:
Trang 33http://khilongbinhduong.com/san-pham/Khi-Oxy-khi-Oxy-cong-nghiep-cung-V Đánh giá
Các sản phẩm tạo thành sẽ được đánh giá theo các tiêu chí sau:
• Nội dung chính xác được cập nhật hóa rõ ràng, có tính hệ thống
• Thực hiện đúng nhiệm vụ đưa ra, có tính sáng tạo, tính logic, không có tínhchính tả và văn phạm
• Tài liệu được cập nhật và phong phú
• Cách trình bày: kỹ năng trình bày kĩ năng lắng nghe và trả lời câu hỏi
Đánh giá củagiáo viênĐăt tựa đề rõ ràng, chính xác 5
Cả nhóm phối hợp tốt rong việc trình
bày và trả lời câu hỏi
30
VI: Kết luận
Chúc mừng các em đã hoàn thành bài thuyết trình! Qua bài này, các em phần nào
đã hiểu thêm về lịch sử, cấu tạo cũng như tính chất của Oxi, đặc biệt là vai trò của oxitrong cuộc sống Chúng ta cần bảo vệ bầu khí quyển của chúng ta luôn luôn trong lànhbằng cách trồng nhiều cây xanh và tuyên truyền giảm lượng khí thải ra môi trường
Bài 42: OZON VÀ HIDRO PEOXIT
I Giới thiệu
Hãy quan sát tranh sau đây và cho biết:
Trang 34- Em thấy gì trong bức tranh?
- Nếu như không có tầng ozon thì hiện tượng gì sẽ xảy ra?
- Cho biết chúng có vai trò gì trong đời sống?
Hình 2.2: Hình ảnh minh họa bài ozon và hidropeoxit
Ozon và hidro peoxit là hai hợp chất quan trọng của oxi Ozon là một dạng thùhình của oxi, được Schoenbein – người Đức tìm ra vào năm 1840 Ban đầu, ông gọi nó
là ozon vì ông ngửi thấy nó có mùi gì đó gần giống như Clo, hoặc Brom, vì theo tiếng
Hy Lạp, “ozon” nghĩa là “có mùi” Còn hidro peoxit hay còn được gọi là nước oxi giàthì nó khá là quen thuộc với tất cả mọi người Vậy để biết được ozon và hidro peoxit
có vai trò quan trọng như thế nào cũng như cấu tạo và tính chất ra sao thì các em sẽcùng tìm hiểu
sẽ biến mất vào năm 2060
Trang 352 Khi dùng nước oxi già để sát khuẩn vết thương thì người ta thường thấy hiệntượng sủi bọt trên bề mặt vết thương Và hidro peoxit còn được dùng làm thí nghiệmvui là giả tiếng ma.
Để tìm hiểu 2 vấn đề trên giáo viên sẽ chia lớp làm 4 nhóm
Nhóm 1: Tìm hiểu về cấu tạo, tính chất và những ứng dụng của ozon
Nhóm 2: Tìm hiểu về tầng ozon, nguyên nhân gây lên lỗ thủng tầng ozon, hậu
quả và cho biết lỗ thủng ozon đang được thu hẹp dần có phải điều đáng mừng
Nhóm 3: Tìm hiểu về cấu tạo, tính chất của hidro peoxit
Nhóm 4: Tìm hiểu ứng dụng của hidro peoxit và giải thích vấn đề thứ 2
Mỗi nhóm thuyết trình bằng power point trong 7 phút Cuối buổi báo cáo, cả lớp
sẽ làm một bài trắc nghiệm nhỏ trong vòng 5 phút gồm 5 câu, bao gồm tất cả nội dung
mà các nhóm đã báo cáo (có tính điểm)
III Tiến trình
Nhóm 1:
- Dạng thù hình là gì? Cấu tạo của ozon
- Tính chất vật lý của ozon? Tại sao nói ozon vừa là chất có hại, vừa là chất cólợi cho sức khỏe?
- Ozon có ở đâu?
- Tính chất hóa học của ozon? So sánh tính chất đó với oxi?
- Nhận biết ozon như thế nào?
- Ứng dụng của ozon? Những ứng dụng đó dựa trên tính chất nào của ozon
Nhóm 2:
- Điều chế ozon
- Tầng ozon là gì? Vai trò của tầng ozon?
- Nguyên nhân gây thủng tầng ozon?
- Ảnh hưởng của lỗ thủng tần ozon đối với trái đất và cho biết trong tương lai lỗthủng tầng ozon đang bị thu hẹp thì đó có phải điều đáng mừng
Nhóm 3:
- Công thức cấu tạo và công thức phân tử của hidro peoxit?
- Tính chất vật lý của hidro peoxit?
- Tính chất hóa học của hidro peoxit?
Nhóm 4:
Trang 36- Ứng dụng của hidro peoxit? Và làm thí nghiệm vui giả tiếng ma từ hidro peoxit
- Tại sao nước oxi già có khả năng khử trùng? Khi nước oxi già tiếp xúc với vếtthương, ta thấy vết thương sủi bọt lên, giải thích?
- Hidro peoxit và ozon có những điểm gì giống và khác nhau
- Nhận biết hidro peoxit và ozon bằng cách nào?
Các nhóm có thể sử dụng sách giáo khoa tra cứu thông tin trên internet, chuẩn bị powerpoint và thuyết trình.
IV Nguồn tư liệu
Tìm hiểu về ozon
https://sites.google.com/site/tulieudayhocnhomoxy/home/tim-hieu-ve-ozonhttp://hoa.hoctainha.vn/Thu-Vien/Ly-Thuyet/3238/ozon-va-hidro-peoxit
Trang 371 Đánh giá chung
Dựa vào thời gian trình bày, nội dung trình bày và power point mà các nhóm sẽcho điểm của nhóm bạn
Điểm tối đa cho
Thời gian thuyết trình: 3 điểm (chậm 1 phút trừ 0,5 điểm)
Nội dung thuyết trình: 5 điểm
Power point: 2 điểm
Bảng đánh giá
điểm
Đánh giá củanhóm khác
Đánh giá củagiáo viênĐăt tựa đề rõ ràng, chính xác 5
Cả nhóm phối hợp tốt rong việc trình
bày và trả lời câu hỏi
Bài 43: LƯU HUỲNH
I Giới thiệu