Do vậy, trong cuộc đấu tranh với thực dân Pháp, lập trường của Đảng Cộng sản Đông Dương, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn thể nhân dân Việt Nam trên các
Trang 1NGÔ CHƠN TUỆ
CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM CHỐNG
ÂM MƯU CHIA CẮT NAM BỘ RA KHỎI VIỆT NAM CỦA THỰC DÂN PHÁP GIAI ĐOẠN 1945-1949
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2NGÔ CHƠN TUỆ
CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM CHỐNG
ÂM MƯU CHIA CẮT NAM BỘ RA KHỎI VIỆT NAM CỦA THỰC DÂN PHÁP GIAI ĐOẠN 1945-1949
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại
1 PGS.TS Đinh Quang Hải
2 TS Nguyễn Hữu Nguyên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu được sử dụng có nguồn gốc rõ ràng, những đánh giá nhận định trong luận án do cá nhân tôi nghiên cứu dựa trên những tư liệu xác thực và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Ngô Chơn Tuệ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… 1
MỤC LỤC……… 2
MỞ ĐẦU………5
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu……… 5
1.1 Lý do chọn đề tài……… 5
1.2 Mục đích nghiên cứu………7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề………9
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước……… 9
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước……… 13
3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 19
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 20
4.1 Đối tượng nghiên cứu……….20
4.2 Phạm vi nghiên cứu……… 20
4.2.1 Về thời gian……….20
4.2.2 Về không gian……….21
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu……… 21
5.1 Cơ sở lý luận……… 21
5.2 Phương pháp nghiên cứu……… 21
5.3 Nguồn tài liệu………22
6 Những đóng góp khoa học của luận án……….23
7 Kết cấu của luận án……….24
CHƯƠNG 1: ÂM MƯU CHIA CẮT NAM BỘ RA KHỎI VIỆT NAM CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ………25
1.1 Âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp…………25
1.1.1 Thực dân Pháp gắn liền âm mưu chia cắt với âm mưu xâm lược……….25
1.1.1.1 Nam Bộ trong âm mưu chia để trị thời Đông Dương thuộc Pháp
(từ 2-1859 đến 9-1940)………25
Trang 51.1.1.2 Nam Bộ thời cộng trị Pháp – Nhật (từ 9-1940 đến 3-1945)……26
1.1.1.3 Nam Bộ dưới ách cai trị của Nhật (từ 3-1945 đến 8-1945)……29
1.1.1.4 Nam Bộ trong âm mưu tái xâm lược của thực dân Pháp
(từ 8-1945 đến 23-9-1945)……… 30
1.1.2 Âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp
sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1945……… 34
1.1.2.1 Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (từ 2-1946)…… ……… 35
1.1.2.2 Chính phủ Nam Kỳ tự trị của Nguyễn Văn Thinh
(từ tháng 6 đến 11-1946)……….38
1.1.2.3 Chính phủ Nam Kỳ tự trị của Lê Văn Hoạch
(từ 12-1946 đến 9-1947)………42
1.2 Chủ trương của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống
lại âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp… 45
CHƯƠNG 2: CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM CHỐNG ÂM MƯU CỦA THỰC DÂN PHÁP CHIA CẮT NAM BỘ RA KHỎI VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1945-1947………51
2.1 Đấu tranh chính trị……… 51
2.1.1 Đấu tranh chính trị ở Nam Bộ ……….51
2.1.1.1 Phong trào Báo chí thống nhất………51
2.1.1.2 Phong trào của trí thức yêu nước………61
2.1.1.3 Công chức yêu nước bỏ việc theo kháng chiến……… 63
2.1.1.4 Phong trào đấu tranh của các tổ chức và các đoàn thể…………66
2.1.2 Phong trào ở Bắc Bộ và Trung Bộ ủng hộ cuộc kháng chiến ở
Nam Bộ………71
2.2 Đấu tranh quân sự………74
2.2.1 Phong trào Nam Tiến……… 74
2.2.2 Bộ đội Hải ngoại (từ Thái Lan, Lào và Campuchia)………77
2.3 Đấu tranh ngoại giao………79
2.3.1 Hoạt động ngoại giao với Pháp………79
Trang 62.3.1.1 Cuộc thương lượng với Pháp cuối năm 1945 đầu 1946……… 79
2.3.1.2 Hội nghị trù bị Đà Lạt (từ 19-4 đến 11-5-1946)……… 90
2.3.1.3 Chuyến đi thăm nước Pháp của phái đoàn Quốc hội
Việt Nam (từ 16-4 đến 16-5-1946)……… 94
2.3.1.4 Hội nghị Fontainebleau (từ 6-7 đến 12-9-1946)……… 95
2.3.1.5 Chuyến đi thăm nước Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh
(từ 31-5 đến 19-9-1946)………98
2.3.2 Tranh thủ sự ủng hộ của Liên hiệp quốc, của chính phủ và
nhân dân các nước……… 106
CHƯƠNG 3: CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM CHỐNG ÂM MƯU CỦA THỰC DÂN PHÁP CHIA CẮT NAM BỘ RA KHỎI VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1947-1949……….117
3.1 Chủ trương "Nam Kỳ tự trị" thất bại, thực dân Pháp buộc phải thay bằng "giải pháp Bảo Đại"……….118
3.1.1 Chính phủ lâm thời Nam phần Việt Nam của Nguyễn Văn Xuân (từ 10-1947 đến 5-1948)……… 118
3.1.2 Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam của Nguyễn Văn Xuân (từ 6-1948 đến 6-1949)……… 122
3.1.3 Chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại (từ 7-1949)……… 129
3.2 Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống “giải pháp Bảo Đại”…131 3.2.1 Đấu tranh quân sự……… 132
3.2.2 Đấu tranh chính trị……….136
3.2.3 Đấu tranh ngoại giao……… 138
KẾT LUẬN………146
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……….155
TÀI LIỆU THAM KHẢO………156
PHỤ LỤC……… 167
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Lý do chọn đề tài
Nam Bộ là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam Ngay từ
cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII, di dân người Việt đã bắt đầu đến đây để khẩn hoang Đặc biệt từ sau đám cưới vua Chân Lạp Chey Chêttha II cùng công nương Ngọc Vạn (1620), số di dân vào đây ngày càng đông Đến năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, lấy đất Đồng Nai lập huyện Phước Long dựng dinh Trấn Biên, đất Sài Gòn lập huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, lập ra phủ Gia Định…Từ đó vùng đất này nằm trong lãnh thổ Việt Nam Mười năm sau (1708), Mạc Cửu đem vùng đất Hà Tiên dâng chúa Nguyễn để tránh sự tấn công cướp bóc của người Xiêm Chủ quyền Việt Nam từ đó được mở rộng đến Hà Tiên và mũi Cà Mau bao gồm cả vùng biển, các đảo và một phần vịnh Thái Lan như ngày nay
Chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ từng bước được khẳng định bằng các văn bản mang tính pháp lý quốc tế [19, tr.45] như Hiệp ước giữa Việt Nam, Xiêm và Campuchia (12-1845), Hiệp ước giữa Việt Nam và Xiêm (1946) nhắc lại Hiệp ước tháng 12-1845, Hiệp ước nhà Nguyễn nhượng cho thực dân Pháp
ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862), Hiệp ước nhà Nguyễn nhượng tiếp cho thực dân Pháp ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (1874), các văn bản pháp lý giữa hai Chính phủ Pháp và Campuchia về việc phân định biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia (1889)
Như vậy, đến giữa thế kỷ XIX, trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, vùng đất Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam độc lập và thống nhất
Năm 1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha bắt đầu nổ súng xâm lược Việt
Nam tại Đà Nẵng Năm 1859, thực dân Pháp tiến đánh Nam Kỳ Các tỉnh Nam Kỳ lần lượt rơi vào tay thực dân Pháp qua các Hiệp ước 1862 (Nhâm Tuất) và Hiệp ước
1874 (Giáp Tuất) Từ đó Nam Kỳ trở thành thuộc địa trực trị của thực dân Pháp…
Trang 8Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2-9-1945, nền độc lập và thống nhất của Việt Nam được tái lập Tuy nhiên, đêm 22 rạng 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tại Sài Gòn, mở đầu cho việc xâm lược Việt Nam một lần nữa Ngay từ những giây phút đầu, nhân dân Nam Bộ
đã đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp cùng sự giúp đỡ của nhân dân cả nước
Sau khi tái chiếm toàn Nam Bộ (đầu 1946), thực dân Pháp một lần nữa âm mưu chia cắt vùng đất này ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, thành lập cái gọi là “nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ” Đó là bước đầu của âm mưu xâm lược toàn bộ Việt Nam
và đặt lại ách thống trị thực dân như trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai của thực dân Pháp Do cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân Nam Bộ nói riêng và toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung, chủ trương Nam Kỳ tự trị của thực dân Pháp chỉ tồn tại trong thời gian ngắn “Nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ” chỉ có hai Chính phủ Nguyễn Văn Thinh (từ tháng 6 đến 11-1946) và Lê Văn Hoạch (từ tháng 12-1946 đến 9-1947)
Khi chủ trương Nam Kỳ tự trị bị phá sản, thực dân Pháp chuyển sang sử dụng “giải pháp Bảo Đại” Việc thực dân Pháp dần dần sáp nhập lại Nam Bộ vào lãnh thổ Việt Nam ngày càng rõ nét qua ba Chính phủ gồm: Chính phủ lâm thời Nam phần Việt Nam (từ tháng 10-1947), Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam
(từ tháng 6-1948) và Chính phủ Quốc gia Việt Nam (từ tháng 7-1949) Luật 49-733
do Tổng thống Pháp Vincent Auriol ký ban hành vào ngày 4-6-1949 là văn kiện mang tính pháp lý để sáp nhập Nam Bộ trở lại lãnh thổ Việt Nam Đông Dương từ chỗ gồm năm “xứ” (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Lào và Campuchia), nay trở thành
ba “nước” (Quốc gia Việt Nam, Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia) Trong những thập niên sau đó, Hiệp định Genève (7-1954), Hiệp định Paris (1-1973) càng khẳng định chủ quyền và nền thống nhất của Việt Nam đối với toàn bộ lãnh thổ, trong đó có Nam Bộ
Trang 9 Như đã nói ở trên, âm mưu của thực dân Pháp xâm chiếm và chia cắt Nam
Bộ ra khỏi Việt Nam không nằm ngoài âm mưu tái chiếm toàn bộ nước Việt Nam
Do vậy, trong cuộc đấu tranh với thực dân Pháp, lập trường của Đảng Cộng sản Đông Dương, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn thể nhân dân Việt Nam trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao luôn coi Nam Bộ là một bộ phận cấu thành của nước Việt Nam độc lập, thống nhất Lập trường đó thể hiện trong lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Paris (7-1946):
“Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam” Vì vậy, cuộc đấu tranh chống lại âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam không tách rời với cuộc đấu tranh tổng lực trên mọi mặt trận (quân sự, chính trị, ngoại giao ) của Đảng Cộng sản Đông Dương(1), Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và toàn thể quân và dân Việt Nam để bảo vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam
Nghiên cứu về cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam trong những năm 1945-1949, thực chất là làm rõ âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam cũng như tìm hiểu cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống lại âm mưu thâm độc đó Vấn đề này được các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến, nhưng chỉ khái quát, chưa hệ thống Xuất phát từ thực tế nói trên và dựa trên cơ sở các công trình khoa học của những người đi trước, chúng tôi
chọn “Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu chia cắt Nam Bộ
ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp giai đoạn 1945-1949” để làm đề tài luận án
tiến sĩ của mình
1.2 Mục đích nghiên cứu
Về mặt khoa học, luận án cố gắng làm sáng tỏ một nội dung quan trọng của
giai đoạn lịch sử đặc biệt của cách mạng Việt Nam về cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập
và sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam Kẻ thù của Việt Nam luôn tìm cách chia cắt lãnh thổ, chia rẽ dân chúng để làm suy yếu lực
(1)
Ngày 11-11-1945, Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra nghị quyết “tự giải tán”, đồng thời lập “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương” để tránh những thiệt hại do đế quốc và phản động trong nước gây ra Thực chất là Đảng đi vào hoạt động bí mật cũng với tên gọi Đảng Cộng sản Đông Dương
Trang 10lượng dân tộc Sau Nam Kỳ tự trị là Tây Nguyên tự trị, là xứ Mường, xứ Thái, xứ Nùng tự trị, là chia rẽ Quốc gia - Cộng sản với "giải pháp Bảo Đại", là chia cắt lâu dài hai miền Nam - Bắc bằng cách phá hoại Tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève
1954 về Đông Dương Do đó, đấu tranh thống nhất luôn gắn liền với bảo vệ độc lập Đối với dân tộc Việt Nam, đây là một trong những nội dung khoa học quan trọng của lịch sử Việt Nam hiện đại Với đề tài này, luận án hướng đến giải quyết các mục đích sau:
1 Thực dân Pháp đã chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam như thế nào
2 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà người đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân cả nước nói chung, nhân dân Nam Bộ nói riêng đấu tranh chống lại âm mưu nêu trên của thực dân Pháp ra sao
3 Cuộc đấu tranh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và toàn thể nhân dân Việt Nam trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao nhằm chống lại âm mưu thâm độc của thực dân Pháp trong những năm 1945-1949 đã đem lại những kết quả gì
Hơn nữa, luận án hướng đến việc góp phần làm rõ âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp trong việc chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam và cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ cùng cả nước nhằm làm thất bại âm mưu, thủ đoạn trên của thực dân Pháp, góp phần cùng nhân dân cả nước đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ
Về mặt thực tiễn, luận án mong được góp phần vạch trần âm mưu thâm độc
"chia để trị" của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và kiểu mới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm có thể tham khảo cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ trong bối cảnh phức tạp của quan hệ quốc tế hiện nay Vì vậy, khi nghiên cứu về cuộc đấu tranh chống lại âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam và cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 của toàn thể nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa thực tiễn và thời sự cho sự nghiệp bảo vệ chủ
Trang 11quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến hiện nay, đã có nhiều nhà sử học trong và ngoài nước nghiên cứu
lịch sử Nam Bộ thời hiện đại Riêng “Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam
chống âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp giai đoạn 1945-1949” cũng được nhiều tác giả đề cập, nhưng vì không có ý định tìm hiểu
riêng đề tài này nên không trình bày vấn đề này một cách hệ thống Sau đây, chúng tôi xin điểm qua vài nét chính về tình hình nghiên cứu vấn đề này như sau:
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
a Các công trình nghiên cứu được xuất bản bằng tiếng Anh
- Stein Tønnesson (1991), The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, Ho
Chi Minh and Charles de Gaulle in a World at War (Cách mạng năm 1945 của Việt
Nam: Roosevelt, Hồ Chí Minh và Charles de Gaulle trong một thế giới đang có chiến tranh) [118], International Peace Research Institute, Oslo Đây là luận án tiến
sĩ lịch sử của một người Na Uy Tác giả luận án chủ yếu trình bày về cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam trong đó có lướt qua tình hình cuộc chiến tranh Việt - Pháp ở Nam Bộ từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai
- William J Duiker (1994), U.S Containment Policy and the Conflict in
Vietnam (Chính sách ngăn chặn của Mỹ và cuộc xung đột ở Việt Nam) [111], Stanford University Press xuất bản, California Tác giả sách này chỉ nói lướt qua việc thực dân Pháp thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị ở Nam Bộ mà không trình bày tình hình Nam Bộ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng như cuộc chiến tranh Việt - Pháp ở Nam Bộ trong những năm 1945-1949 đầy đủ và hệ thống
- Ngoài ra còn có các tác phẩm viết về cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc ở
Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai như: “Vietnam, A Dragon
Embattled ” (Việt Nam, một con rồng lâm trận), Vol I [110] của Joseph Buttinger;
“Thailand and the Southeast Asian Network of theVietnamese Revolution” (Thái
Lan và mạng lưới Đông Nam Á của cách mạng Việt Nam) [113] của Christopher E
Goscha; “The Struggle for Indochina” (Cuộc đấu tranh ở Đông Dương) [114] của
Trang 12Ellen J Hammer; “No Peace for Asia” (Không có hòa bình ở châu Á) [115] của Harold Isaccs…
- Viết về chính sách ngoại giao của Mỹ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và
các nước khác có các tác phẩm: “Foreign Relations of the United States 1940-1964”
(Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trong những năm 1940-1964), Vol III: 1944 [112] bản in của Government Printing Office, Washington D.C; “Diplomacy”
(Ngoại giao) [116] của H Nicolson; “United States - Vietnam Relations 1945-1967”
(Quan hệ Mỹ - Việt trong những năm 1945-1967), Vol I [109] của Bộ Quốc phòng
Mỹ; và tài liệu của Lầu năm góc có “The Pentagon Papers” (Tài liệu của Lầu năm
góc), Vol I [117] ấn bản của thượng nghị sĩ Gravel…
Các tác phẩm nêu trên đã phản ánh nhiều sự kiện lịch sử phong phú về tình hình chính trị, xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng như các văn kiện ngoại giao giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Pháp và Mỹ Tuy nhiên, các tác giả nêu trên chỉ nói khái quát, sơ lược về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949, nhưng đây cũng là một nguồn tài liệu giúp chúng tôi tham khảo và trích dẫn trong quá trình viết luận án của mình
b Các công trình nghiên cứu được xuất bản bằng tiếng Pháp
- Philippe Devillers (1952), Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952 (Lịch sử
Việt Nam từ 1940 đến 1952) [124], Nxb Seuil, Paris Đây là cuốn sách mà tác giả đưa ra nhiều sự kiện lịch sử phong phú về tình hình chính trị, xã hội Việt Nam trong những năm từ 1940 đến 1952 ở cả hai miền Nam và Bắc Tuy nhiên, tác giả đã không chuyên sâu vào việc nghiên cứu cuộc đấu tranh chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949 Những luận điểm của tác giả về cuộc chiến tranh Việt - Pháp mang nặng tính chất thực dân, không phản ánh được cuộc đấu tranh chính nghĩa của toàn dân tộc Việt Nam với nguyện vọng độc lập và thống nhất đất nước
- Jean Sainteny (1953), Histoire d’une paix manquée - Indochine 1945-1947
(Lịch sử một nền hòa bình bị bỏ lỡ - Đông Dương 1945-1947) [137], Nxb Amiot
Trang 13Dumont, Paris Tác giả sách này nguyên là Ủy viên Cộng hịa Pháp ở Bắc Kỳ và cũng là người đại diện cho nước Pháp ký với Chủ tịch Hồ Chí Minh bản Hiệp định
Sơ bộ 6-3-1946 Dưới cách nhìn của một nhà thực dân, Sainteny đề cập đến quá trình Pháp tái chiếm Nam Bộ nĩi riêng và Việt Nam nĩi chung trong và sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai từ sự chuẩn bị của quân đội Pháp đĩng tại Cơn Minh (Trung Quốc) cho đến Hội nghị Fontainebleau (1946) thất bại
- Bao Dạ (1980), Le Dragon d’Annam (Con rồng An Nam) [121], Nxb Plon, Paris Hồi ký này được viết gồm 382 trang và chia làm 5 phần Trong đĩ, ở phần thứ 4, Bảo Đại đề cập đến giai đoạn lịch sử 1945-1949 Qua cuốn hồi ký, tác giả kể lại những ngày ở Huế với cương vị là vua Bảo Đại, sau đĩ trở thành cố vấn Vĩnh Thụy của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hịa và những ngày lưu vong cho đến năm 1949, khi trở thành Quốc trưởng của Chính phủ Quốc gia Việt Nam
- Thierry d’Argenlieu (1985), Chronique d’Indochine 1945-1947 (Biên niên
sử Đơng Dương) [119], Nxb Albin Michel, S.A., Paris Tác giả nguyên là Cao ủy Pháp ở Đơng Dương (từ ngày 16-8-1945 đến cuối tháng 3-1947), là người kiên quyết chủ trương chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam Qua sách này, tác giả trình bày về tình hình Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1947
mà khơng đi sâu vào chi tiết cuộc chiến tranh Việt - Pháp ở Nam Bộ từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai
- Ngồi ra, trong những năm 50 của thế kỷ XX, các cơng trình xuất bản nĩi
về cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam cĩ các tác phẩm: "La
Geste française en Indochine" (Quyền lợi của người Pháp ở Đơng Dương), Vol II
[140] của Georges Taboulet; "Ho Chi Minh, dernière chance" (Hồ Chí Minh, cơ
may cuối cùng) [120] của Henri Azeau; "La fin d’une guerre" (Cuộc chiến kết thúc)
[133] của Jean Lacouture và Philippe Devillers; "Viêt-Nam sociologie d’une guerre"
(Việt Nam xã hội học một cuộc chiến tranh) [135] của Paul Mus
- Cuốn sách "Visage et images du Sud Viêt-Nam" (Diện mạo và hình ảnh của
miền Nam Việt Nam) [139] của A.M Savani viết về tình hình các đảng phái chính trị và tơn giáo ở miền Nam Việt Nam sau năm 1945 Bản thân tác giả là một sĩ quan
Trang 14phòng nhì của thực dân Pháp ở Nam Bộ, do vậy, dưới con mắt và ngòi bút của tác giả đã thiên về lập trường thực dân của Pháp trong cách nhìn cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949
- Đến thập niên 60 của thế kỷ trước, có các tác phẩm: "Indochine 1946-1952
(Chronique d’une guerre révolutionnaire)" (Đông Dương 1946-1952 (Biên niên
một cuộc chiến tranh cách mạng) [127] của Bernard B Fall; "La Guerre
d’Indochine" (Chiến tranh Đông Dương) [138] của Louis Saurel; "Les Deux guerres
du Vietnam de Valluy à Westmoreland" (Hai cuộc chiến tranh Việt Nam từ Valluy
đến Westmoreland) [123] của Georges Chaffard; "Viêt-Nam de la guerre française
à la guerre américaine" (Việt Nam từ cuộc chiến tranh của người Pháp đến người
Mỹ) [125] của Philippe Devillers và Jean Lacouture Một thập niên sau đó, bộ
"Mémoires de guerre" (Hồi ký chiến tranh) [128] [gồm 3 tập] của Charles de Gaulle được xuất bản
- Trong thập niên 80 có ấn phẩm "La vérité sur le Viêt-Nam" (Sự thật về Việt
Nam) [134] của thư viện Pháp đã có nhiều cố gắng nói lên sự thật về cuộc chiến Việt Nam mà thực dân Pháp là kẻ xâm lược nhưng cũng không phản ánh đầy đủ về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam
- Tác phẩm "Les Communistes français et la guerre d’Indochine 1944-1954"
(Những người Cộng sản Pháp và cuộc chiến tranh Đông Dương) [136] của Alain Ruscio đã nói lên chính kiến của những người Cộng sản Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược củathực dân Pháp ở Việt Nam, nhưng cũng không phản ánh đầy đủ
về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưucủa thực dân Pháp chia
cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949 Sau cùng là tác phẩm "La
Jacques Valette
Các tác phẩm vừa được nêu trên đã phản ánh nhiều sự kiện lịch sử phong phú
về tình hình chính trị xã hội Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, tuy
Trang 15nhiên các tác giả cũng chỉ nói khái quát, sơ lược về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949 Mặc dù vậy, chúng tôi cũng coi đây là một trong những nguồn tài liệu tham khảo có liên quan và dùng để trích dẫn cho luận án của mình
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong số các tác phẩm đề cập đến cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam trong giai đoạn 1945-1949 với mức độ đậm nhạt khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, chúng tôi đặc biệt chú ý các tác phẩm:
- Nghiêm Kế Tổ (1954), Việt Nam máu lửa [72], Nxb Mai Lĩnh, Hà Nội Tác giả nêu lên tình hình kinh tế, chính trị và xã hội Việt Nam ở cả hai miền Nam, Bắc
từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhưng không đề cập đến âm mưu của thực dân Pháp trong việc thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị ở Nam Bộ
- Nguyễn Kỳ Nam (1964), Hồi ký (1925-1964) [50], Tập II: 1945-1954, nhật
báo Dân chủ mới xuất bản, Sài Gòn Tác giả hồi ký chỉ nêu vài nét sơ lược về sự ra
đời của Hội đồng tư vấn Nam Kỳ và Chính phủ Nam Kỳ tự trị dưới thời Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh
- Võ Nguyên Giáp (1976), Những chặng đường lịch sử [22], Nxb Văn học,
Hà Nội Với tư cách là người cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tham gia các cuộc đàm phán với Pháp, tác giả đã kể lại chi tiết về cuộc đấu tranh ngoại giao Việt
- Pháp nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh ở Nam Bộ trong những năm 1945-1946 qua Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, Hội nghị trù bị Đà Lạt và Hội nghị Fontainebleau
- Viện Sử học (1976), Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một [79], Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách nêu lên những bài học lịch sử của Chính phủ Nam Kỳ tự trị do thực dân Pháp lập ra và qua đó cho rằng Chính phủ Nam Kỳ tự trị
là một nhà nước do các lực lượng tài phiệt của Pháp lập ra, nó là đứa con đẻ của các nhà đương cục thuộc địa bấy giờ
- Trần Văn Giàu (Chủ biên, 1987), Địa chí văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh
[20], Tập I, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Ở chương 7 của sách, tác giả nói đến Sài
Trang 16Gòn từ ngày Nam Bộ kháng chiến bắt đầu (23-9-1945) đến Hiệp định Genève 1954) với phong trào kháng chiến của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn mà không đề cập sâu vào cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam trong giai đoạn 1945-1949
(7 Philippe Devillers (7 Hoàng Hữu Đản dịch (1993), Paris (7 Sài Gòn (7 Hà Nội
Minh Đây là cuốn sách được tác giả dày công biên soạn, qua đó tác giả đã cung cấp cho người đọc nhiều sự kiện lịch sử phong phú và nhiều tài liệu lưu trữ mới được công bố tại Pháp về cuộc chiến tranh Việt - Pháp trong những năm 1944-1947 Tuy nhiên, sách không phản ánh đầy đủ về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam Tác giả có những chỗ còn bị hạn chế về tính khách quan như: Do cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam khiến chủ trương Nam Kỳ tự trị bị phá sản, buộc thực dân Pháp phải chuyển sang "giải pháp Bảo Đại", thì Philippe Devillers cho rằng lúc này:
"Chính phủ Hồ Chí Minh, suy yếu đi rất nhiều và bắt buộc phải phân tán ra, lúc này giữ một thái độ đợi chờ, vừa lo tổ chức lại lược lượng" [15, tr.492]…
- Nguyễn Văn Sơn (1996), Đấu tranh ngoại giao giữa Việt Nam với Pháp
thời kỳ 1945-1954 [66], luận án phó tiến sĩ lịch sử, Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh Luận án trình bày về cuộc đàm phán Việt - Pháp thông qua các hội nghị năm 1946 (Hiệp định Sơ bộ 6-3, Hội nghị trù bị Đà Lạt, Hội nghị Fontainebleau) và những chiến thắng về quân sự của quân và dân Việt Nam dẫn đến thắng lợi tại Hội nghị Genève (7-1954)
- Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh (trực thuộc Bộ Chính trị, 1996), Tổng kết
Quốc gia, Hà Nội; Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh (trực thuộc Bộ Chính trị, 2000),
trị Quốc gia, Hà Nội Hai tác phẩm này đề cập khái quát về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949
Trang 17- Phan Văn Hoàng (2004), Việt Nam trong chính sách của Mỹ từ 1940 đến
Hồ Chí Minh Tác giả luận án đã đề cập khái quát việc Chính phủ Mỹ giúp thực dân Pháp tái chiếm Việt Nam và sau đó dùng “giải pháp Bảo Đại” để đẩy mạnh cuộc chiến tranh chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Vũ Minh Giang (Chủ biên, 2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ [19], in lần thứ hai, Nxb Thế giới, Hà Nội Tác giả sách đã nêu sơ lược về lịch sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam từ thế kỷ thứ I đến năm 2008 Song song đó, tác giả cũng nêu lên sơ lược
về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp trong những năm 1945-1949
- Hội đồng chỉ đạo lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2010), Lịch sử Nam Bộ
kháng chiến [35], Tập I: 1945-1954, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội; và
Hội đồng chỉ đạo lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2011), Biên niên sự kiện lịch sử
Đây là một công trình nghiên cứu mà chúng tôi đặc biệt quan tâm vì nó có liên quan trực tiếp đến luận án Công trình này phản ánh cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Nam Bộ cùng toàn thể nhân dân Việt Nam diễn ra giai đoạn 1945-
1954 Ở phần thứ nhất trong nội dung của sách là Nam Bộ kháng chiến chống thực
dân Pháp (1945-1954), các chương 1, 2 và 3 tập trung nêu lên quá trình thực dân
Pháp tái chiếm Sài Gòn từ đêm 22 rạng 23-9-1945, sau đó thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ Trong tác phẩm, các tác giả chủ yếu nêu lên cuộc kháng chiến, quá trình tổ chức kháng chiến của nhân dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ nhằm chống lại chính sách thực dân của Pháp và chỉ nói lướt qua những âm mưu của thực dân Pháp sau khi tái chiếm Nam Bộ bằng chính sách “chia để trị”, bằng việc kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo…, cũng như việc lập ra Hội đồng tư vấn Nam Kỳ, Chính phủ Nam Kỳ tự trị (1-6-1946) và sơ lược về “giải pháp Bảo Đại” mà không đi sâu vào việc nghiên cứu cuộc đấu tranh
Trang 18của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam trong giai đoạn 1945-1949
- Ngoài ra, về cơ sở lý luận, khi nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đối nội, đối ngoại, đường lối kháng chiến của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn 1945-1949, có
các tác phẩm sau: “Hồ Chí Minh toàn tập”, Tập IV (1945-1947) [47], Tập IV (1946-1947) [48] và Tập V (1947-1949) [49]; “Văn kiện Đảng toàn tập” gồm các
Tập VIII (1945-1947) [76], Tập IX (1948) [77] và Tập X (1949) [78] Các tác
phẩm khác như: “Chiến đấu trong vòng vây” [23] của Võ Nguyên Giáp; “Lịch sử
Trung ương; “Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960” [75] của Văn phòng Quốc
hội; “Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp năm 1946” [6] của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
- Nói về chính sách thực dân của Pháp ở Việt Nam có các tác phẩm: “Bản án
Nam; “Góp thêm tư liệu về Sài Gòn Gia Định 1895-1945” [58] của Nguyễn Phan Quang
- Tìm hiểu về Nam Bộ trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam và những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp có các tác
phẩm: “Saigon Septembre 45” (Sài Gòn tháng 9-1945) [62] của Trần Tấn Quốc;
“Từ nội các Trần Trọng Kim đến Chính phủ Bảo Đại”, Quyển I [30] của Phan Xuân
Hòa; “Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn” [32] và “Từ triều đình Huế đến chiến khu
của Trần Huy Liệu và Phạm Khắc Hòe; “Bảo Đại vị vua triều Nguyễn cuối cùng”
[41] của Phan Thứ Lang; “Đêm dài Nhật Pháp bắn nhau” [64] của bác sĩ Ngô Văn
Quỹ và tác phẩm “Nội các Trần Trọng Kim bản chất, vai trò và vị trí lịch sử” [74] của Phạm Hồng Tung
- Nghiên cứu về các Hội nghị Việt - Pháp năm 1945-1946 và cuộc đấu tranh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống lại âm mưu của thực dân Pháp
Trang 19chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, cũng như đường lối ngoại giao của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong thời gian này có các tác phẩm: “Hội nghị Việt Pháp Đà Lạt tháng
Hoàng Xuân Hãn Ngoài ra còn có các tác phẩm khác như: “Liên hiệp Pháp
(L’Union Française), Phần thứ hai: Thực hiện Liên hiệp Pháp thế nào?” [59]; “Hội
nghị Việt Pháp Fông-te-nơ-bơ-lô tháng Bảy 1946”, Tập I [60] và Tập II [61] của
Trình Quốc Quang; “Từ Đà Lạt đến Paris” [4] của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam;
“Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao Việt - Pháp thời kỳ 1945-1946” [25] của Lê
Kim Hải; “Chủ tịch Hồ Chí Minh với hành trình kháng chiến” [45] của Đỗ Hoài
Linh và tác phẩm “Suy ngẫm về trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh” [67] của Võ Văn Sung
- Các phong trào đấu tranh chính trị và quân sự của nhân dân Nam Bộ, đặc biệt là của giới trí thức và phong trào Báo chí thống nhất ở Sài Gòn trong những
năm 1945-1950, có những tác phẩm: “Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam” [69] của
Nguyễn Thành; “Lược sử báo chí ở Việt Nam” [11] của Nguyễn Việt Chước (Hồng
Hà); “Sống mãi với đô thành” [8] và “Trận tuyến công khai giữa Sài Gòn” [9] của
Câu lạc bộ truyền thống vũ trang Thành phố Hồ Chí Minh; “Sài Côn cố sự
1930-1975” [18] của Bằng Giang; “Thoáng nhớ một thời” (Hồi ký lịch sử) [38] của
Trường Sơn Chí Ung Ngọc Ky; “Trần Tấn Quốc bốn mươi năm làm báo” [40] của
Thiện Mộc Lan; “Trí thứ Sài Gòn - Gia Định 1945-1975” [51] của Hồ Hữu Nhựt;
“Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954” [16] của Hồ Sơn
Diệp; “Báo chí công khai giữa Sài Gòn” [10] của Câu lạc bộ truyền thống kháng
chiến và “Lịch sử báo chí Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh” [37] của Nguyễn Công Khanh
- Về các tổ chức vũ trang và phong trào đấu tranh của nhân dân ở Nam Bộ cũng như phong trào cả nước ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược có những tác phẩm: “Chi đội Hải ngoại IV (Chi đội Trần Phú)” [65]
của thiếu tướng Lê Quốc Sản; “Phong trào Nam Tiến (1945-1946)” [81] của Viện
Lịch sử Quân sự Việt Nam; “Cao Triều Phát nghĩa khí Nam Bộ” [33] của Phan Văn
Trang 20Hoàng; “Bộ đội Bình Xuyên (Liên chi đội 2 và 3) [17] của Hồ Sơn Đài và các tác giả
khác; và tác phẩm “Việt kiều ở Lào, Thái Lan với phong trào cứu quốc thế kỷ XX”
[82] của Nguyễn Văn Vinh
- Các tác phẩm nói về quan hệ quốc tế của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước khác trong cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam chống
thực dân Pháp xâm lược gồm: “Why Vietnam? Tại sao Việt Nam” [56] của
Archimedes L.A Patti do Lê Trọng Nghĩa dịch; “Năm mươi năm ngoại giao Việt
nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) qua
tư liệu lưu trữ” [73] của Trung tâm lưu trữ Quốc gia III
- Về các sự kiện lịch sử Việt Nam và biên niên sử có “Những ngày chưa
các sự kiện lịch sử Việt Nam diễn ra hàng ngày từ năm 1945 đến 1964
Nhìn tổng quát từ trước đến nay, theo chúng tôi được biết, các tài liệu trong
và ngoài nước chỉ nói khái quát hoặc sơ lược về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949 Cũng có thể do mục đích và nhu cầu nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến giai đoạn này hay giai đoạn khác, khía cạnh này hay khía cạnh khác của vấn
đề mà họ cần quan tâm, chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào có hệ thống
và toàn diện về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân
Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949 Ngoài ra, các
websites trong và ngoài nước cũng chỉ đề cập khái quát, không nêu đầy đủ và hệ thống về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được chúng tôi giới thiệu ở trên, mặc dù chỉ nói khái quát hoặc sơ lược về cuộc đấu tranh của nhân
Trang 21dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949, nhưng đó cũng là những công trình khoa học tiêu biểu, giới thiệu được nhiều dữ liệu về các diễn biến, sự kiện lịch sử đã diễn ra ở Nam Bộ nói riêng, trong nước và quốc tế nói chung trong những năm sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai Do đó, dựa vào các tác giả và các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến luận án, đồng thời dựa vào các tài liệu tham khảo khác đã giúp cho chúng tôi thừa kế và cố gắng nghiên cứu sâu, nghiên cứu đầy
đủ và có hệ thống về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu như đã nói ở trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, sưu tầm, chọn lọc những tài liệu tin cậy và trung thực từ nhiều
nguồn khác nhau nhằm góp phần phục dựng một cách khách quan, khoa học về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949
Thứ hai, phân tích, đánh giá về bối cảnh khu vực và thế giới tác động đến cuộc
đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam
Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949, để từ đó vạch trần âm mưu của thực dân Pháp trong việc chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, qua đó làm rõ được lập trường của Đảng Cộng sản Đông Dương, của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh với thực dân Pháp để bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất lãnh thổ trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, cương quyết không nhượng bộ việc thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, sẵn sàng chấp nhận đấu tranh vũ trang với thực dân Pháp nếu họ cứ khăng khăng giữ âm mưu ấy
Thứ ba, tổng kết thực tiễn, rút ra những nguyên nhân thành công trong cuộc
đấu tranh chống lại âm mưu của thực dân Pháp trong việc chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam trong giai đoạn 1945-1949 để giành lấy thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam
Trang 22Ngoài ra, nghiên cứu đề tài này còn góp phần phát huy tình đoàn kết chiến đấu
chống kẻ thù xâm lược của các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong cả nước và bà con Việt kiều ở nước ngoài, cũng như tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược chung là thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là cuộc đấu tranh của toàn dân tộc chống lại âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam trong giai đoạn 1945-1949 Đó là cuộc đấu tranh giữa một bên là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng toàn thể nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh giành độc lập, cũng như kiên quyết giữ Nam Bộ nằm trong lãnh thổ một nước Việt Nam thống nhất; và bên kia là thực dân Pháp với âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, biến Nam Bộ thành một thuộc địa trực trị của thực dân Pháp như trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1.Về thời gian
Do đứng dưới góc độ lịch sử Việt Nam, lấy Việt Nam làm chủ thể của các mối quan hệ, nên luận án đã chọn những mốc thời gian quan trọng của tiến trình lịch sử Việt Nam để làm cơ sở cho việc mở đầu và kết thúc thời gian nghiên cứu của luận án Cụ thể là luận án được bắt đầu từ ngày Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu (từ 23-9-1945) nhằm chống lại âm mưu của thực dân Pháp trong việc chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam Do cuộc đấu tranh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung, của nhân dân Nam Bộ nói riêng bước đầu giành thắng lợi, buộc thực dân Pháp phải từ bỏ chủ trương Nam Kỳ tự trị Tổng thống Pháp Vincent Auriol phải ký ban hành Luật 49-
733 (4-6-1949) sáp nhập Nam Bộ trở lại lãnh thổ Việt Nam Luận án lấy thắng lợi
bước đầu này của quân và dân Việt Nam làm mốc kết thúc của luận án
Trang 23Tuy nhiên, để đảm bảo tính liên tục và hệ thống, luận án cũng không thể không nhắc đến các giai đoạn lịch sử trước đó nhằm làm rõ thêm các luận điểm lịch
sử về chủ quyền Nam Bộ của Việt Nam, tình hình quốc tế và khu vực có tác động đến hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa Pháp trong giai đoạn
1945-1949
4.2.2 Về không gian
Luận án được giới hạn trong phạm vi cả nước Tuy nhiên, luận án cũng không thể không trình bày đến bối cảnh quan hệ quốc tế lúc đó để thấy được một cách toàn diện về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949
Trong luận án, chúng tôi dùng địa danh Nam Bộ cho giai đoạn sau tháng
8-1945, trừ trường hợp các chức danh và các tổ chức liên quan đến thực dân Pháp như Hội đồng tư vấn Nam Kỳ, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ, Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Là một công trình nghiên cứu sử học, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử
để phục dựng lại cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1945-1949 trên các lĩnh vực chính trị, quân sự và ngoại giao để chống lại âm mưu của thực dân Pháp trong việc chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam Phương pháp logic giúp chúng tôi nhìn rõ vấn đề một cách xuyên suốt, hệ thống, mạch lạc, hợp lý trong quá trình thực hiện đề tài; cũng như rút ra những nguyên nhân thành công trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949
Trang 24Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu khoa học quan hệ quốc tế cũng được chúng tôi sử dụng để làm rõ những nhân tố chi phối đến cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam giai đoạn 1945-1949
5.3 Nguồn tài liệu
Để nghiên cứu luận án này, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu chính sau
đây:
1 Tài liệu Văn kiện của Đảng Cộng sản Đông Dương và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các Văn kiện của Chính phủ nước Cộng hòa Pháp có liên quan đến quan hệ giữa hai nước, các hiệp định, thỏa thuận thư, giác thư, các tuyên bố chung hoặc các bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của các nhà lãnh đạo giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cộng hoà Pháp đã được công bố trên sách, báo, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước
2 Các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài (do tác giả luận án dịch và có phần trích dẫn đính kèm theo luận án dưới dạng chú thích (footnote) có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội dung luận án) đã được công bố trên các sách, báo trong và ngoài nước
3 Báo chí xuất bản trong nước viết về hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và Cộng hòa Pháp trong những năm 1945-1949 đã được phép công bố, hiện các tài liệu này đang được lưu trữ tại Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
4 Các báo, ấn phẩm của thư viện Pháp được xuất bản tại Cộng hòa Pháp,
bằng tiếng Pháp có liên quan đến luận án (báo Action, Ce Soir, Le Monde,
L’Humanité ) mà chúng tôi khai thác và sử dụng do Cán bộ hướng dẫn và các bạn
đồng nghiệp đang giảng dạy ở nước ngoài cung cấp
5 Tài liệu Journal officiel (Công báo Pháp) và các loại Công báo của các Chính phủ Nam Kỳ tự trị như Journal officiel de la République de Cochinchine
(Công báo Cộng hòa Nam Kỳ) gồm các năm 1946, 1947, 1948 và từ năm 1948,
1949, 1950 bắt đầu có Công báo Việt Nam bằng tiếng Việt Hiện tại, các loại Công
Trang 25báo này đang được bảo quản tại Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh và đã được cho phép khai thác, công bố trong luận án
6 Các hồ sơ lưu trữ mà luận án khai thác có liên quan đến các Chính phủ Nam Kỳ tự trị hiện được bảo quản tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Thành phố Hồ Chí Minh Về các tài liệu này chỉ được phép công bố một phần, nên chúng tôi chỉ dùng để tham khảo và chỉ tiếp cận những hồ sơ về thời gian thành lập, thành phần của Hội đồng tư vấn Nam Kỳ cũng như thời điểm Hội đồng tư vấn Nam Kỳ được đổi tên thành Hội đồng Nam Kỳ và thành phần của các Chính phủ Nam Kỳ tự trị, các sắc lệnh của Bảo Đại và thành phần của Chính phủ Quốc gia Việt Nam để đối chiếu với các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước được giới thiệu trong luận án
7 Các websites trong và ngoài nước có nội dung liên quan đến luận án Ngoài ra, do những điều kiện khách quan và chủ quan không cho phép, nên chúng tôi mới chỉ bước đầu khai thác một phần thông tin từ các tài liệu tiếng Pháp được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II và một số ít các tác phẩm viết bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp được xuất bản ở nước ngoài để phục vụ cho luận án Tất
cả các nguồn tài liệu nói trên được chúng tôi khai thác và sử dụng qua khâu kiểm tra, đối chiếu Đặc biệt là tài liệu từ sách nước ngoài, các websites được chúng tôi lựa chọn cẩn thận, kỹ lưỡng và sử dụng để đưa vào luận án cho đúng với tình hình hiện nay mà không ảnh hưởng đến tình hình chính trị của đất nước cũng như quan
hệ quốc tế
6 Những đóng góp khoa học của luận án
1 Luận án cố gắng phục dựng toàn diện, cụ thể và hệ thống về âm mưu của thực dân Pháp đối với Nam Bộ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1949
2 Phân tích làm rõ chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất lãnh thổ, kiên quyết chống lại âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp giai đoạn 1945-1949
3 Hệ thống hóa và bổ sung các tài liệu, số liệu mới về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống lại âm mưu xâm lược của thực dân Pháp trong những
Trang 26năm đầu sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Luận án đóng góp vào việc nghiên
cứu truyền thống đấu tranh hào hùng, bất khuất của nhân dân Việt Nam nói
chung và của nhân dân Nam Bộ nói riêng trong công cuộc đấu tranh cho độc lập
và thống nhất Tổ quốc Với hệ thống một khối tài liệu tương đối nhiều, luận án
cũng góp phần làm phong phú thêm tài liệu cho việc nghiên cứu lịch sử Nam Bộ nói
chung và tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng trên các mặt trận quân sự, chính trị và
ngoại giao
4 Những nhận xét, kết luận, bài học kinh nghiệm rút ra có thể góp phần giúp
các cơ quan chức năng có thêm tài liệu tham khảo trong việc tổng kết lịch sử Nam
Bộ giai đoạn 1945-1949, để có thể tham khảo trong việc hoạch định các chính sách
đối nội và đối ngoại, góp phần trong việc giữ gìn và bảo vệ an ninh Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay
5 Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến
một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc nói chung và của Nam Bộ nói riêng trong
giai đoạn 1945-1949; luận án là một tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy và học tập về lịch sử Việt Nam hiện đại Ngoài ra, luận án còn đóng
góp một phần nhỏ bé công sức của tác giả cho ngành Nam Bộ học trong tương lai
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của
luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp và chủ
trương của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chương 2: Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân
Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam trong những năm 1945-1947
Chương 3: Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống âm mưu của thực dân
Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam trong những năm 1947-1949
Trang 27CHƯƠNG 1:
ÂM MƯU CHIA CẮT NAM BỘ RA KHỎI VIỆT NAM
CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA CHÍNH PHỦ
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
1.1 Âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp
1.1.1 Thực dân Pháp gắn liền âm mưu chia cắt với âm mưu xâm lược 1.1.1.1 Nam Bộ trong âm mưu chia để trị thời Đông Dương thuộc Pháp (từ 2-1859 đến 9-1940)
Ngày 1-9-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha do tướng Rigault de Genouilly chỉ huy nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm lược Việt Nam Không giành được thắng lợi ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng vào tấn công Nam Kỳ (2-1859) và chiếm được Gia Định
Ngày 5-6-1862, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp (thay mặt triều đình Tự Đức) ký với thiếu tướng Bonard (Pháp) và đại tá Palanca (Tây Ban Nha) bản Hòa ước Nhâm Tuất, nhượng ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn cho Pháp Sang năm 1863, vua Tự Đức cử một Sứ bộ do Phan Thanh Giản dẫn đầu sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ Do ngân sách nước Pháp đang thâm hụt 972 triệu franc, vua Napoléon III chỉ thị cho Aubaret ký với Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành và Phan Huy Vịnh bản Hiệp ước ngày 15-7-1864 trả lại cho Việt Nam ba tỉnh nói trên [55, tr.190]
Tuy nhiên, giới thực dân ở Pháp (như Chasseloup Laubat, Bonard ) cũng như ở Sài Gòn (đại diện là thiếu tướng De Lagrandière, người thay Bonard) chống lại việc cho chuộc ba tỉnh miền Đông Một sĩ quan hải quân Pháp là Rieunier (với
bút hiệu H Abel) viết cuốn “La question de la Cochinchine au point de vue des
intérêts français” (Vấn đề Nam Kỳ theo quan điểm những quyền lợi của người
Pháp) đòi giữ lại ba tỉnh nói trên Dưới sức ép của giới thực dân, ngày 18-7-1864, Napoléon III ra lệnh hủy bỏ Hiệp ước ngày 15-7-1864 Không những không trả lại
ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, Pháp tiếp tục chiếm thêm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ
Trang 28gồm: Vĩnh Long (20-6-1867), An Giang (2-6-1867) và Hà Tiên (24-6-1867) Sau khi xâm chiếm hoàn toàn xứ Nam Kỳ, Pháp ban hành quy chế thuộc địa (1867) cho Nam Kỳ do Thống đốc trực tiếp cai trị Nam Kỳ thuộc Bộ Hải quân và Bộ Thuộc địa (đến ngày 20-3-1894, Nam Kỳ do Bộ Thuộc địa trực tiếp quản lý)
Dùng Nam Kỳ làm bàn đạp, Pháp tiếp tục tấn công và sau đó chiếm nốt Bắc
Kỳ và Trung Kỳ Pháp buộc triều đình Huế ký liên tiếp hai Hiệp ước Quý Mùi 8-1883) và Giáp Thân (6-6-1884), theo đó Trung Kỳ và Bắc Kỳ là hai xứ bảo hộ
(25-(Protectorat), trên danh nghĩa vẫn thuộc triều đình Huế (nhưng trong thực tế dần dần do Pháp kiểm soát), còn Nam Kỳ là thuộc địa (Colonie) do Pháp cai trị trực
tiếp, không còn nằm trong lãnh thổ của Vương quốc Việt Nam nữa Người Việt Nam ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ phải có giấy thông hành do Pháp cấp mới được vào địa phận Nam Kỳ Tình trạng đó kéo dài cho đến ngày 9-3-1945
1.1.1.2 Nam Bộ thời cộng trị Pháp - Nhật (từ 9-1940 đến 3-1945)
Ngày 1-9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ Tháng 6-1940, Đức quốc xã chiếm Paris Chính phủ Pháp của Thủ tướng Paul Reynaud chạy về Bordeaux, sau đó sụp đổ Ngày 19-6-1940, thống chế Philippe Pétain lập Chính phủ mới ở Vichy và đầu hàng Đức Từ đây, chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương phải thi hành các mệnh lệnh từ Vichy
Hay tin Pháp đầu hàng Đức, Nhật tìm cách gia tăng sức ép lên Chính phủ Vichy để đưa quân vào Đông Dương Ngày 30-8-1940, Arsène Henry, đại diện Chính phủ Vichy tại Tokyo, ký với Matsouka, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật một Hiệp ước đồng ý cho quân Nhật vào Đông Dương, đổi lại Tokyo thừa nhận “chủ quyền” của Pháp trên toàn cõi Đông Dương Cuối tháng 9-1940, quân Nhật từ Trung Hoa vượt biên giới tiến vào miền Bắc Việt Nam Quân Pháp nhanh chóng đầu hàng quân Nhật
Tuy chiếm được Đông Dương, nhưng quân phiệt Nhật vẫn giữ nguyên bộ máy thống trị cũ của Pháp, dùng nó làm công cụ để vơ vét và bóc lột kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh của Nhật và để đàn áp phong trào cách mạng Việt Nam, đồng thời giúp Nhật tiết kiệm chi phí quản lý và cai trị Việc lựa chọn phương
Trang 29pháp cộng trị Pháp - Nhật được giới quân phiệt Nhật xem là “chính sách hợp lý cao” [74, tr.41] nhằm giúp Nhật đạt được những mục đích tại Đông Dương, biến nơi này thành căn cứ quân sự của Nhật Từ khi quân Nhật kéo vào Đông Dương, Mỹ đã phản đối hành động này của Nhật Quan hệ Mỹ - Nhật trở nên căng thẳng và Nhật
quyết định tấn công quân Mỹ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào ngày
8-12-1941 Ngay lúc đó, tướng Nhật Isumu trao cho Toàn quyền Decoux tối hậu thư, buộc Pháp phải cung cấp cho Nhật các phương tiện cần thiết cho chiến tranh Mặt khác, Nhật đã ra sức giúp đỡ các đảng phái chính trị thân Nhật ở Đông Dương đẩy mạnh hoạt động, tăng cường tuyên truyền cho thuyết Đại Đông Á nhằm dọn đường cho Nhật đảo chính Pháp sau này
Trước những chiến thắng của phe Trục ở châu Âu cũng như châu Á trong những năm đầu Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thực dân Pháp ở Đông Dương bị cô lập, đành phải chịu khuất phục và hợp tác với Nhật nhằm duy trì sự có mặt của họ ở Đông Dương, chờ đợi một khi “gió đổi chiều” sẽ tìm cách chiếm lại nơi này Điều
đó đã đưa nhân dân Đông Dương vào cảnh sống “một cổ hai tròng” mà hậu quả của
nó là cuối năm 1944 đầu 1945, “từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói” [47, tr.2]
Giữa lúc Chính phủ Pétain chấp nhận làm tay sai cho Đức, tháng 6-1940, thiếu tướng De Gaulle chạy sang London (Anh), sau đó sang Alger (Algérie), lập
Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp(Comité français de libération nationale - CFLN)
kêu gọi nhân dân Pháp đứng về phe Đồng minh chống phát-xít Trong lúc phần lớn lãnh thổ nước Pháp đang bị quân Đức chiếm đóng và bản thân De Gaulle đang sống lưu vong, ông ta vẫn theo đuổi việc "giải phóng Đông Dương", thực chất là chống lại Đông Dương từ tay Nhật và đặt lại Đông Dương dưới ách thống trị của Pháp Cuối năm 1942 - đầu năm 1943, cục diện Chiến tranh thế giới lần thứ hai thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho phe Trục Hồng quân Liên Xô bắt đầu giành những thắng lợi quan trọng trên chiến trường châu Âu Trong khi đó, quân Mỹ bắt đầu phản công trên mặt trận châu Á Trước tình hình đó, từ tháng 3-1943, tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương, tướng Eugène Mordant hình thành một nhóm quân nhân
Trang 30Pháp có tinh thần bài Nhật và cử người sang Alger bắt liên lạc với Chính phủ kháng chiến của De Gaulle để tìm cách “giải phóng Đông Dương”
Việc Pháp muốn chiếm lại Đông Dương gặp phản ứng khác nhau từ hai nước trong phe Đồng minh chống phát-xít Trong khi Anh chủ trương sau chiến tranh thì
“thuộc địa của đế quốc nào trả lại cho đế quốc ấy”, nên tìm cách giúp đỡ Pháp lấy lại Đông Dương từ tay Nhật, Mỹ muốn nhân cơ hội này thay thế lực của Pháp ở Đông Dương bằng ảnh hưởng của Mỹ, nên cản trở mọi hoạt động của Pháp muốn quay trở lại Đông Dương
Tháng 8-1943, De Gaulle thành lập Đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông
(Corps expéditionnaire français d’Extrême-Orient - CEFEO) De Gaulle đề nghị
Tổng hành dinh lực lượng quân Đồng minh(Allied Forces Headquarter - AFHQ)
cung cấp vũ khí và giúp đỡ tàu chở quân sang Đông Dương, nhưng Mỹ từ chối Mỹ
cũng không cho Pháp tham gia Hội đồng chiến tranh Thái Bình Dương (Pacific War
Council) Ngày 8-12-1943, tại Brazzaville (Congo), thiếu tướng De Gaulle ra tuyên
bố không chấp nhận mọi nhượng bộ mà Chính phủ Vichy đã ký kết với Nhật và thề
sẽ “giải phóng” Đông Dương khỏi ách chiếm đóng của quân Nhật [15, tr.44] Gần hai tháng sau (1-2-1944), De Gaulle đổi Đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông
(CEFEO) thành Lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (Forces Expéditionnaires
françaises d’Extrême – Orient - FEFEO) và giao cho tướng Roger C Blaizot chỉ
huy Lực lượng này được Anh cho phép hoạt động trong Bộ chỉ huy Đông Nam Á
(Southeast Asia Command - SEAC) của đô đốc Anh Mountbatten kiểm soát
Mùa hè năm 1944, thủ đô Paris được giải phóng Sau đó, Chính phủ lưu vong của De Gaulle chuyển từ Alger về Pháp Thấy Đức, Ý, Nhật sắp thua trận, một số viên chức cao cấp của Pháp ở Đông Dương bí mật ngả theo phe De Gaulle Từ đó,
De Gaulle chuẩn bị cho công cuộc tái chiếm Đông Dương hơn nữa bằng việc lập Ủy ban hành động giải phóng Đông Dương(Comité d’action pour la libération de
l’Indochine), đứng đầu là René Pleven, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp
Theo lệnh của De Gaulle, ngày 6-7-1944, thiếu tá Langlade (bí danh Lutèce)
bí mật nhảy dù xuống Bắc Bộ, tới Hà Nội gặp tướng Eugène Mordant (cựu tư lệnh
Trang 31quân Pháp ở Đông Dương đã về hưu) trao thư của De Gaulle thuyết phục Mordant theo phe mình Mordant đồng ý Ngày 23-8-1944, De Gaulle cử Mordant làm Tổng đại diện của Chính phủ De Gaulle ở Đông Dương, bí mật tổ chức lãnh đạo mạng lưới kháng chiến chống Nhật Người thứ hai ngả theo phe De Gaulle là tướng Georges Aymé, tân tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương (lấy bí danh là Pierre) Cuối cùng, ngày 31-10-1944, Toàn quyền Decoux cũng xin theo De Gaulle (qua trung gian tướng Mordant), mang bí danh Diogène Đến giữa tháng 11-1944, De Gaulle chỉ thị Langlade nhảy dù xuống Bắc Bộ một lần nữa, tới Hà Nội bí mật gặp Decoux vào ngày 29-11-1944
Ngày 21-2-1945, Ủy ban hành động giải phóng Đông Dương được nâng lên thành Ủy ban Liên bộ về Đông Dương(Comité interministériel d’Indochine) do chính De Gaulle làm Chủ tịch, Langlade làm Tổng thư ký Ủy ban này gồm đại diện một số Bộ và Tổng nha tình báo Pháp(Direction générale d’études et de recherches
- DGER) Tuy nhiên, sự chuẩn bị “giải phóng Đông Dương” của De Gaulle cùng
những hành động của Mordant và các cộng sự của ông ta không thể qua được tai mắt của người Nhật, như lời than phiền của tướng Leclerc sau này: “Trong thời kỳ quân Nhật chiếm đóng Đông Dương, một số đông người Pháp chịu khuất phục làm việc cho Nhật để lấy vài lạng thuốc phiện hút Họ bị nha phiến cám dỗ đến nỗi đưa cho người Nhật những tin tức bí mật và cả chương trình kháng chiến” [90, 28-10-
1948]
Những người Pháp theo phe De Gaulle ở Đông Dương làm thì ít nhưng tuyên
bố huênh hoang thì nhiều, nên tình báo Nhật biết được mọi chuyện của họ Nhật quyết định đảo chính Pháp vào đêm 9-3-1945
1.1.1.3 Nam Bộ dưới ách cai trị của Nhật (từ 3-1945 đến 8-1945)
Sau đêm 9-3-1945, trong thực tế Đông Dương trở thành thuộc địa của Nhật Nhật tuyên bố giao Trung Bộ và Bắc Bộ cho Chính phủ Bảo Đại - Trần Trọng Kim, nhưng vẫn trực tiếp cai trị Nam Bộ
Trong một cuộc họp với các công chức huyện Long Xuyên ngày 30-3-1945, Thống đốc Nam Bộ, Minoda tuyên bố “có một sự hiểu nhầm lớn về độc lập ở Đông
Trang 32Dương Sự độc lập này hoàn toàn dưới quyền kiểm soát quân sự của Nhật Bản […] Nam Bộ không những nằm dưới sự kiểm soát quân sự mà còn dưới sự cai trị quân
sự của Nhật” [64, tr.88-89]
Từ tuyên bố trên của Thống đốc Minoda, nhân dân Việt Nam đã thấy được
dã tâm của người Nhật, đi ngược lại tuyên bố lúc đầu của họ là lật đổ thực dân Pháp
là một “nghĩa cử cao đẹp” của người Nhật đối với Việt Nam Cùng lúc đó, các đảng phái và giáo phái thân Nhật họp nhau lên tiếng ca ngợi cuộc đảo chính ngày 9-3-
1945 và cám ơn “người anh cả da vàng” đã giúp đỡ người anh em “đồng chủng đồng văn” chống lại thực dân da trắng Trong thực tế, đây chỉ là sự “thay thầy đổi chủ”, Nam Bộ vẫn là thuộc địa do Nhật (thay thực dân Pháp) trực tiếp cai trị - Nam
Bộ hoàn toàn không có độc lập tự do
Từ khi quân Nhật lật đổ chính quyền của thực dân Pháp, họ thay các công chức và những sĩ quan cao cấp của Pháp như Toàn quyền, Khâm sứ, Thống sứ, Công sứ và các Giám đốc Sở… bằng người Nhật Ở các cấp thấp hơn, vì thiếu người, nên họ phải dùng người bản xứ Do Nhật không đủ thời gian để hoàn thiện
hệ thống cai trị, nên bộ máy hành chính, cảnh sát và quân sự của Nhật còn chệch choạc, kém hữu hiệu so với thời kỳ Pháp thuộc, tạo ra cơ hội tốt cho phong trào cách mạng ở Việt Nam
1.1.1.4 Nam Bộ trong âm mưu tái xâm lược của thực dân Pháp (từ 8-1945 đến 23-9-1945)
Cuộc đảo chính quân sự của Nhật vào đêm 9-3-1945 đã chấm dứt sự cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương Tuy nhiên, quyết tâm trở lại Đông Dương của thực dân Pháp vẫn thể hiện rõ qua bản tuyên bố ngày 24-3-1945 của De Gaulle tại Paris, theo đó:
- Nước Pháp cùng với Liên bang Đông Dương và những nước thuộc địa của Pháp hợp thành “Liên hiệp Pháp” (một tên gọi mới thay cho “Đế quốc Pháp”) mà các quan hệ với bên ngoài của nó do nước Pháp làm đại diện Trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, Liên bang Đông Dương được hưởng một quyền tự do và những người có
Trang 33quốc tịch Liên bang Đông Dương vừa là công dân của Đông Dương vừa là công dân của nước Pháp
- Trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, Liên bang Đông Dương được hưởng một chế độ tự trị kinh tế cho phép nó đạt mức phát triển cao nhất về nông nghiệp, công nghiệp và thương mại
- Chính phủ của Liên bang Đông Dương do Toàn quyền đứng đầu và gồm các Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Chính phủ Liên bang, chọn trong số những người Đông Dương hoặc trong số những người Pháp cư trú ở Đông Dương
- Quốc hội của Liên bang Đông Dương được bầu theo kiểu đầu phiếu nào thích hợp nhất với mỗi nước của Liên bang và trong đó lợi ích của nước Pháp sẽ được đại diện Quốc hội sẽ biểu quyết những khoản thuế mọi loại cùng ngân sách Liên bang, và thảo luận những dự án luật
- Nền tảng của luật lệ trong Liên bang Đông Dương là các quyền tự do báo chí, tự do lập hội, tự do hội họp, tự do tư tưởng và tín ngưỡng
- Năm xứ lập thành Liên bang Đông Dương (gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam
Kỳ, Lào và Campuchia) có sự khác biệt nhau về văn minh, chủng tộc và truyền thống, vẫn giữ bản chất riêng của mình trong Liên bang
- Toàn quyền Đông Dương là người trọng tài của tất cả năm xứ khi có sự va chạm, trong lợi ích riêng của mỗi xứ Các Chính phủ địa phương được cải tiến hoặc cải tổ Các trọng trách và chức vụ trong mỗi xứ dành chủ yếu cho những người mang quốc tịch xứ đó
- Quy chế của Liên bang Đông Dương, như vừa được xem xét, trở thành chính thức sau khi được các cơ quan của Đông Dương giải phóng góp ý kiến [15, tr.84-85]
Tháng 4-1945, De Gaulle cử Jean Sainteny sang Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc) lãnh đạo M 5(Mission 5) thuộc Tổng nha tình báo Pháp và phụ trách đài phát thanh của Pháp tại đây, đồng thời chuẩn bị về mọi mặt cho việc quay trở lại Đông Dương Được Anh đồng ý, ngày 13-5-1945, Pháp gửi sang Đông Dương Đội khinh binh can thiệp(Corps Léger d’intervention - CLI), sau đổi thành Trung đoàn bộ
Trang 34binh thuộc địa số 5(5 ème Régiment d’Infanterie coloniale - 5è RIC), nhưng Mỹ phản đối Bốn tháng sau đội này mới đến được Đông Dương (12-9-1945)
Như vậy, trước sau Pháp đều muốn chiếm lại Đông Dương làm thuộc địa như trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai Bản tuyên bố ngày 8-12-1943 và ngày 24-3-
1945 của De Gaulle đều thể hiện lập trường nhất quán của Pháp đối với Đông Dương Đặc biệt, bản tuyên bố ngày 24-3-1945 của De Gaulle thể hiện hai điểm sau:
Thứ nhất, thực dân Pháp không công nhận độc lập cho các nước Việt Nam,
Lào và Campuchia, ngược lại họ vẫn muốn đặt 3 nước này trong khối Liên hiệp Pháp, một tên gọi mới thay cho từ “Đế quốc Pháp”
Thứ hai, thực dân Pháp không để cho Việt Nam thống nhất mà vẫn tiếp tục
chia Việt Nam làm 3 “xứ” (Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ) để cùng 2 “xứ” Lào và Campuchia hợp thành Liên bang Đông Dương Điều đó chứng tỏ rằng họ vẫn tiếp tục âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
Hay tin Nhật đầu hàng Đồng minh (15-8-1945), De Gaulle cử tướng Leclerc
làm Tổng chỉ huy Lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (FEFEO) Hôm sau
(16-8-1945), De Gaulle tiếp tục cử đô đốc hải quân D’Argenlieu sang làm Cao ủy Pháp
ở Đông Dương “với sứ mệnh là lập lại chủ quyền của nước Pháp trên lãnh thổ Liên bang Đông Dương”(1) [119, tr.30] Sau đó, De Gaulle bay sang Washington D.C để vận động Chính phủ Mỹ ủng hộ việc Pháp trở lại Đông Dương Ngày 22-8-1945, Tổng thống Mỹ Harry Truman nói với người đứng đầu Chính phủ Pháp rằng:
“Trong mọi trường hợp, đối với vấn đề Đông Dương, Chính phủ của Mỹ không chống lại việc nhà cầm quyền và quân đội Pháp quay lại xứ này”(2) [128, tr.249-
250] Nhà báo Mỹ Harold Isaacs nhận xét: “Đối với người Việt Nam, điều đó có vẻ như Mỹ đã bảo kê cho Pháp tái chiếm Việt Nam”(3) [115, tr.175] Nói một cách khác, Chính phủ Mỹ đã bật đèn xanh cho thực dân Pháp tái xâm lược Việt Nam
Trang 35Về phía Anh, ngày 24-8-1945, Chính phủ London ký thỏa hiệp với Pháp, thừa nhận “chủ quyền” của Pháp ở Đông Dương Để che đậy ý đồ của mình, Chính phủ De Gaulle đã lừa bịp nhân dân Pháp và dư luận thế giới bằng cách tuyên truyền rằng “đây không phải là sự tái chiếm, mà là một cuộc chiến tranh chống lại người Nhật câu kết với bọn cướp An Nam [ám chỉ các nhà cách mạng Việt Nam] đang khủng bố một dân tộc thuộc địa vô cùng gắn bó với nước Pháp” [5, tr.106] Do đó,
họ tuyên bố chỉ cần tiến hành các cuộc “hành quân cảnh sát chống lại bọn sống ngoài vòng pháp luật”(1) [127, tr.29] và sẽ dễ dàng giành chiến thắng vì “bọn An-nam-mít là một lũ hèn nhát Một khi anh tỏ ra cương quyết và rút cây gậy ra thì chúng sẽ chạy trốn như bầy chim sẻ”(2) [124, tr.157] Điều này cho thấy thực dân Pháp vẫn nghĩ có thể dễ dàng tái chiếm Việt Nam mà trước hết là Nam Bộ để đặt lại ách thống trị như trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai
Ngày 22-8-1945, đại tá Cédile (Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam Kỳ) cùng hai người Pháp được máy bay Dakota từ Calcutta (Ấn Độ) chở sang Việt Nam và nhảy
dù xuống Tây Ninh, gần biên giới Việt Nam - Campuchia (cùng ngày, thiếu tá Messmer nhảy dù xuống Bắc Bộ) Nhóm của Cédile bị dân làng bắt Quân Nhật đưa
cả 3 người về Sài Gòn ngay trong đêm và cho ở trong một ngôi nhà nhỏ phía sau Dinh Norodom Trong dịp này, Cédile gặp đại diện cộng đồng Pháp kiều ở Sài Gòn
và được dịp chứng kiến cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Sài Gòn trong đêm 24 rạng 25-8-1945 Hai ngày sau (27-8-1945), Cédile gặp 3 đại biểu Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ gồm Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch và Nguyễn Văn Tạo Tại cuộc gặp, Cédile nhắc lại bản tuyên bố ngày 24-3-1945 của
De Gaulle, nhưng đại diện của Ủy ban bác bỏ, cho rằng bản tuyên bố trên vi phạm nguyên tắc độc lập và thống nhất của Việt Nam
Cuộc gặp gỡ ngày 27-8-1945 giữa Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ và Cédile cho thấy Pháp vẫn có dã tâm trở lại xâm lược Việt Nam một lần nữa, không
Trang 36chỉ muốn đặt lại ách thống trị như cũ mà còn muốn chia cắt Việt Nam thành ba kỳ như trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai
1.1.2 Âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1945
Khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai sắp đến hồi kết thúc, tại Hội nghị Potsdam (7-1945), Mỹ đưa ra giải pháp chia đôi Đông Dương ở vĩ tuyến 16, giao nhiệm vụ giải giới và hồi hương quân Nhật ở phía Bắc vĩ tuyến 16 cho quân Trung Hoa Dân quốc và ở phía Nam vĩ tuyến 16 cho quân Anh Trong khi đó, Chính phủ London có chủ trương “giữ nguyên trạng các thuộc địa của các đế quốc như trước chiến tranh”, nên tích cực giúp thực dân Pháp chiếm lại Đông Dương, trước hết là chiếm lại Nam Bộ Sau chuyến đi Washington D.C của tướng De Gaulle vào cuối tháng 8-1945, Mỹ cũng không chống lại việc nhà cầm quyền và quân đội Pháp quay lại xâm lược Đông Dương
Được Mỹ đồng ý và được Anh giúp đỡ, đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, thực dân Pháp tiến hành đánh úp Sài Gòn, mở đầu cho cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai Ngay từ đầu, cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ đã nổ ra quyết liệt Ngày 5-10-1945, tướng Leclerc đến Sài Gòn, mang theo viện binh gồm nhiều đơn vị bộ binh và xe bọc thép…Một số quân Pháp được chở sang Nam Bộ bằng tàu của Mỹ Nhà báo Mỹ Harold Isaacs có mặt lúc đó mô tả: “Một loạt tàu của Mỹ, treo
cờ Mỹ, do thủy thủ Mỹ lái Từ những tàu này, quân Pháp đổ bộ lên bờ, mặc quân phục của Mỹ, với vũ khí, xe tăng, xe tải và xe jeep do Mỹ cho thuê, cho mượn”(1) [115, tr.161] Nhà sử học Mỹ, Joseph Buttinger nhận định: “Việc Mỹ giúp tàu bè chuyên chở khiến cho Pháp có đủ quân lính đến Sài Gòn để đánh bại cuộc cách mạng ở Nam Bộ”(2) [110, tr.343]
Ngày 31-10-1945, D’Argenlieu và đoàn tùy tùng đến Sài Gòn
(1)
French troops were arriving, thousands every week, first in French transports and then in a long succession of American ships, flying the American flag and manned by American crews They came ashore in their American uniforms, with their American Lend - Lease weapons, tanks, trucks, jeeps
(2)
American shipping enabled the French to get enough troops to Saigon with which to defeat the revolution in the South
Trang 37Giữa tháng 3-1946, Tổng thống Mỹ Truman đồng ý để Anh giao lại cho quân Pháp nhiều trang thiết bị quân sự trị giá hơn 70 triệu đô-la, trong đó có khoảng 800
xe quân sự của Mỹ cho Anh thuê và mượn, viện cớ rằng không thể di chuyển những trang thiết bị này ra khỏi Việt Nam(1) [117, tr.18] Từ đó, thực dân Pháp tăng cường các hoạt động quân sự ở Nam Bộ và đòi Ủy ban kháng chiến Nam Bộ phải giao nộp hết vũ khí cho quân Pháp Trên thực tế thì thực dân Pháp chỉ kiểm soát được các thị
xã, thị trấn và các đường giao thông lớn ở Nam Bộ, trong khi đó các vùng nông thôn ở đây vẫn do quân và dân Việt Nam làm chủ
Lúc đầu, thực dân Pháp nghĩ có thể dễ dàng tái chiếm toàn bộ Việt Nam, nhưng họ không ngờ gặp phải sức kháng cự ngoan cường của nhân dân Việt Nam
Do đó, trong khi chưa thể tái chiếm toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp chủ trương chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, biến Nam Bộ thành một thuộc địa trá hình dưới
chiêu bài “Cộng hòa tự trị” (République autonome), dùng nơi đây làm bàn đạp để
tiến chiếm Trung Bộ và Bắc Bộ theo “chiến thuật vết dầu loang” (Tactique de tache
d’huile)
1.1.2.1 Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (từ 2-1946)
So với Bắc Bộ và Trung Bộ, Nam Bộ là một vùng đất phì nhiêu màu mỡ hơn, nơi mà thực dân Pháp có nhiều quyền lợi kinh tế hơn (các đồn điền cao su, ruộng lúa, nhà máy…) Do đó, thực dân Pháp quyết tạo ra một “nước Cộng hòa Nam Kỳ
tự trị” do một Chính phủ của người Việt tay chân của họ nắm giữ để phục vụ những quyền lợi chính trị và kinh tế của họ
Ngày 4-2-1946, D’Argenlieu ký sắc lệnh thành lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ Hội đồng này có nhiệm vụ đề đạt lên Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam Kỳ những
“nguyện vọng của nhân dân trong xứ và cho ý kiến về những vấn đề quyền lợi của nhân dân Nam Bộ”[124, tr.175] Hội đồng tư vấn Nam Kỳ có 4 người Pháp (Béziat, William Bazé, Clogne, Gressier) và 8 người Việt (trong đó có đến 7 người mang
(1)
In the middle of March 1946, at the withdrawal of the British troops from Southern Indochina, the United Kingdom turned over to France a lot of military equipment worth more than US$ 70 million in which there were some 800 US Lend - Lease jeeps and trucks Truman approved this transaction “on the grounds that removing the equipment would be impraticable”
Trang 38quốc tịch Pháp) gồm Nguyễn Văn Thinh, Trần Thiện Vàng, Jacques Lê Văn Định, Nguyễn Thành Lập, Trần Tấn Phát, Nguyễn Tấn Cường, Nguyễn Văn Tỵ và Nguyễn Văn Thạch Hội đồng tư vấn Nam Kỳ đặt dưới sự chủ tọa của Cédile, Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam Kỳ Ngày 12-2-1946, khi khai mạc phiên họp đầu tiên của Hội đồng tư vấn Nam Kỳ tại Dinh Đốc lý Sài Gòn (nay là trụ sở Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh), Cédile tuyên bố sẽ chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam để thành lập xứ Nam Kỳ tự trị có một chính phủ riêng, một thành viên của Liên bang Đông Dương
Ngày 6-3-1946, Sainteny ký với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bản Hiệp định Sơ bộ Phần đầu Hiệp định ghi rõ chức danh của Jean Sainteny là
“người thay mặt có ủy quyền chính thức của đô đốc Georges Thierry D’Argenlieu, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, ủy nhiệm quyền của Chính phủ Cộng hòa Pháp làm đại biểu”(1) [134, tr.48] Thế nhưng, chỉ một tuần sau đó (12-3-1946), trong phiên họp của Hội đồng tư vấn Nam Kỳ, Cédile giải thích Hiệp định Sơ bộ 6-3 chỉ là một Hiệp định mang tính địa phương giữa nhà cầm quyền ở Hà Nội với Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Kỳ, do đó Hiệp định này không có hiệu lực ở Nam Bộ Cédile không thừa nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một Chính phủ duy nhất cho cả Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ Một lần nữa, Cédile nhắc lại rồi đây ở Nam Bộ cũng sẽ có chính phủ, có nghị viện, có quân đội, có tài chính riêng, có mọi quyền lợi như các xứ khác trong Liên bang Đông Dương Ngày 26-3-1946, Hội đồng tư vấn Nam Kỳ đề cử Nguyễn Văn Thinh(2), Chủ tịch Đảng Dân chủ Đông
(1)
Convention préliminaire - Entre les Hautes Parties ci-après désignées, le Gouvernement République française représenté par M Sainteny, Délégué du Haut-Commissaire de France, régulièrement mandaté par le vice- amiral d’escadre Georges Thierry d’Argenlieu, Haut-Commissaire de France, dépositaire des Pouvoirs de la République française d’une part…
(2)
Nguyễn Văn Thinh sinh năm 1888, trong một gia đình đại điền chủ ở Nam Kỳ, có quốc tịch Pháp Sau khi tốt nghiệp khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Y khoa Đông Dương (1907), Thinh sang Pháp theo học tại Trường Đại học Y khoa, sau đó làm việc tại Viện Pasteur (Paris) và viết luận án tốt nghiệp bác sĩ tại đây
Năm 1937, Nguyễn Văn Thinh thành lập Đảng Dân chủ Đông Dương ở Nam Kỳ
Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, thực dân Pháp tiến hành tái chiếm Nam Bộ, theo lệnh của đại tá Jean Cédile (Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam Kỳ), Nguyễn Văn Thinh vận động một số chính khách ở Nam Bộ lập
ra Hội đồng tư vấn Nam Kỳ để xúc tiến việc thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị
Ngày 4-2-1946, đô đốc D’Argenlieu (Cao ủy Pháp ở Đông Dương) ký sắc lệnh thành lập Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ Hội đồng này đã đề cử Thinh làm Thủ tướng lâm thời vào ngày 26-3-1946, lãnh trách nhiệm thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị
Trang 39Dương, một người có quốc tịch Pháp làm Thủ tướng để xúc tiến việc thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị
Âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp đã bị toàn thể
nhân dân Việt Nam lên án mạnh mẽ Dưới tựa đề “Quần chúng tuyên án”, báo Quốc
gia ra ngày 17-3-1946 ở Hà Nội, đã kết án tử hình những người Việt Nam tham gia
vào Hội đồng tư vấn Nam Kỳ
Tuy nhiên, bất chấp sự phản đối của toàn thể nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp vẫn dùng nhiều thủ đoạn chia rẽ người Việt Nam như cố dựng ra các vụ xung đột giữa tù nhân người Nam Bộ và người Bắc Bộ ở Khám lớn Sài Gòn…[79, tr.171] Trong những ngày cuối tháng 4-1946, thực dân Pháp còn thuê một số thành phần du thủ du thực đi biểu tình ở Sài Gòn và gây sự với những người Việt Nam có quê ở Bắc Bộ hay Trung Bộ Trong lúc biểu tình, họ hô những khẩu hiệu “Nam Kỳ của người Nam Kỳ”, “Đả đảo người Bắc Kỳ”…Được cảnh sát Pháp dung túng và bênh vực, họ cướp phá các tiệm buôn của người Bắc Bộ và người Trung Bộ Dụng
ý của thực dân Pháp là gây mâu thuẫn địa phương trong nhân dân, để người các vùng miền của Việt Nam thù ghét lẫn nhau
Hơn nữa, nhằm tạo "danh chính ngôn thuận" cho sự ra đời của Chính phủ Nam Kỳ tự trị, thực dân Pháp tiến hành “trưng cầu dân ý” bằng cách gặp bất cứ người dân Nam Bộ nào họ cũng hỏi ý kiến về Nam Kỳ tự trị, hễ ai trả lời trái với ý muốn của thực dân Pháp liền bị đánh đập dã man, rồi sau đó cho cảnh sát bắt những người có tội "dám chủ trương nước Việt Nam thống nhất" đem tống vào nhà giam Những người bị bắt này đều bị thực dân Pháp buộc phải ký vào quyển sổ đòi Nam
Kỳ tự trị, những ai không chịu ký đều bị họ tiếp tục giam giữ vô thời hạn
Tính đến cuối tháng 4-1946, ở Nam Bộ có khoảng 2.700 người yêu nước bị thực dân Pháp bắt giam trong Khám lớn Sài Gòn [85, 29-4-1946] Để tiếp tục đàn
áp, khủng bố những người phản đối việc chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, thực dân Pháp đã đem một số chiến sĩ cách mạng đang bị họ giam giữ trong các khám ở Sài Gòn đày ra Côn Đảo để lấy chỗ nhốt những người mới bị bắt Đến giữa tháng 5-
1946, phóng viên báo Paris - Saigon hỏi Messmer (Ủy viên Chính phủ Pháp) về
Trang 40việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ, Messmer cho rằng trong việc lựa chọn của Nam
Bộ, Pháp không muốn làm một "bên", mà muốn làm người trọng tài (giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nam Kỳ)(1) [105, 19-9-1946]
Một tuần sau khi phái đoàn Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị Quốc hội Pháp, ngày 23-4-1946, D’Argenlieu gửi sang Paris một phái đoàn do Nguyễn Văn Xuân(2) cầm đầu nhằm vận động cho Nam Kỳ tự trị Ba ngày sau (26-5-1946), thực dân Pháp triệu tập các thân hào, hương chức các tỉnh Nam Bộ về Sài Gòn đưa kiến nghị thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị Thế rồi trong phiên họp của Hội đồng tư vấn Nam Kỳ có các nhà báo tham dự (28-5-1946), Nguyễn Văn Xuân báo cáo mục đích chuyến đi Paris vừa qua của ông ta là để tường trình sự thật về tình hình ở Nam Bộ và yêu cầu chính giới Pháp ủng hộ cho Nam Bộ được tự trị Xuân còn nói thêm rằng, “nếu Chính phủ Pháp không công nhận cho Nam Kỳ được tự trị tức là không hiểu rõ “nguyện vọng” của nhân dân ở đây”, khi đó sẽ bùng nổ nhiều cuộc khởi nghĩa mà Pháp không thể lường hết được sự tác hại của nó [85, 30-5-1946]
1.1.2.2 Chính phủ Nam Kỳ tự trị của Nguyễn Văn Thinh (từ tháng 6 đến
11-1946)
Ngày 1-6-1946, thực dân Pháp tổ chức cho Chính phủ Nam Kỳ tự trị ra mắt trước Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn Đến dự có tướng Leclerc; đại tá Cédile, Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam Kỳ và nhiều quan chức thực dân khác
Thành phần Chính phủ Nam Kỳ tự trị gồm có:
- Nguyễn Văn Thinh, Thủ tướng, kiêm Tổng trưởng Bộ Nội vụ;
- Nguyễn Văn Xuân, Phó Thủ tướng, kiêm Tổng trưởng Bộ Quân đội;
- Cùng một số Tổng trưởng, Thứ trưởng, tất cả 9 người, trong đó có 7 người mang quốc tịch Pháp [157]
vụ trong binh chủng pháo binh, tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Đến trước năm 1945, Xuân là sĩ quan người gốc Việt mang quân hàm cao nhất trong quân đội Pháp (đại tá) Khi chủ trương Nam Kỳ tự trị thất bại, thực dân Pháp chuyển sang “giải pháp Bảo Đại”, Xuân được thực dân Pháp phong quân hàm thiếu tướng (giữa năm 1947)