hiệu xung dài khi đó ảnh của nhiễu mưa sẽ dần dần giảm bớt đồng thời khônglàm mất đi ảnh của những mục tiêu nhỏ.Để biết được ảnh của những mục tiêunhỏ có bị mất đi khi ta điều chỉnh nhiễ
Trang 1NHẬN XÉT TÓM TẮT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
1 Tinh thần thái độ, sự cố gắng của sinh viên trong quá trình làm luận văn
………
………
………
………
2 Đánh giá chất lượng luận văn tốt nghiệp (so với nội dung yêu cầu đã đề ra trên các mặt: lý luận, thực tiễn, chất lượng thuyết minh và các bản vẽ): ………
………
………
………
………
………
………
……… ………
3 Chấm điểm của giáo viên hướng dẫn (Điểm ghi bằng số và chữ)
Hải Phòng, ngày tháng năm 2014 Giáo viên hướng dẫn
Ths Triệu Tuấn Hòa
Trang 2ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
1 Đánh giá chất lượng luận văn tốt nghiệp về các mặt: thu thập và phân tích
số liệu ban đầu, cơ sở lý thuyết, vận dụng và đều kiện cụ thể, chất lượng thuyết minh và các bản vẽ, mô hình (nếu có), ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn:
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
2 Chấm điểm của giáo viên phản biện (Điểm ghi bằng số và chữ) Hải Phòng ngày tháng năm 2014 Giáo viên phản biện
Trang 3Với thời gian có hạn và kinh nghiệm hạn chế của một sinh viên lênkhông tránh khỏi những thiếu xót em rất mong được sự chỉ bảo góp ý để emhoàn chỉnh hơn.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn
Hải phòng tháng 11 năm 2014
Trang 41 Tính chất cấp thiết của đề tài
Vận tải đường biển rất phổ biến trên nước ta và trên thế giới Nó phát triểnngày càng mạnh mẽ và đóng vai trò vô cùng quan trọng Trong một vài nămgần đây nước ta rất trú trọng vào việc phát triển đường biển đặc biệt là sự xuấthiện rất nhiều đội tàu biển hiện đại và mới mẻ và sự trang bị những thiết bị hiệnđại làm cho việc hàng hải thuận tiện và dễ dàng hơn Trong khi đó việc khai tháccác trang thiết bị hàng hải trong trực ca an toàn hàng hải trên biển là một côngviệc vô cùng quan trọng và không thể thiếu đối với thuyền viên làm việc trêntàu Những vụ đâm va trên tàu biển hiện nay chủ yếu là do con người và phầnlớn là do sử dụng sai hay thiếu kinh nghiệm trong việc sử dụng các trang thiết bịtrên tàu trong khi trực ca Vì vậy để hiểu rõ về tính chất của việc trực ca trênbiển chúng ta cần phải biết được trên tàu ta có được trang bị những loại thiết bị
gì để sử dụng chúng cho hiệu quả nhất
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là dành cho sinh viên mới ra trường có được đầy đủnhững kiến thức cơ bản trong việc sử dụng các trang thiết bị trên tàu trong khitrực ca trên biển
Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu là các trang thiết bị trên tàu,các trang thiết bịnằm trong chương trình học hiện nay và việc sử dụng cac trang thiết bị đó khitàu hành trình ngoài biển, hành trình trong cảng, trong những khu vực có mật độtàu thuyền đông đúc…
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Giúp cho sinh viên mới ra trường có thể nắm vững được các kiến thứctrong việc sử dụng hiệu quả các trang thiết bị trên tàu trong những trường hợp
cụ thể, từ đó nâng cao được khả năng chuyên môn của thuyền viên khi làm việctrên tàu
Có thể là đề tài tham khảo đối với môn máy điện, vô tuyến điện của khoa hàng hải Đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho sỹ quan và thuyền viên làm việc trên tàu
Trang 7MỤC LỤC
Chương 1: khi tàu nằm trong cảng 1
1.1 Trước khi tàu hành trình 1
1.1.1 Bật và điều chỉnh rõ nét RADAR 1
1.1.2 Bật, thử máy lái tự động và đồng bộ mặt phản ảnh la bàn con quay 2
1.1.3 Bật, điều chỉnh máy đo sâu 3
1.1.4 Bật máy nhận dạng mục tiêu AIS 4
1.1.5 Bật máy đo tốc độ, hệ thống INMARSAT 4
1.1.6 Bật, thử hệ thống NAVTEX 4
1.1.7 Kiểm tra IPIRB 5
1.1.8 Kiểm tra sart và thử hoạt động 6
1.1.9 Khởi động chế độ hàng hải theo điểm, theo tuyến 6
1.2 Khi tàu neo 8
1.2.1 Cảnh giới bằng mắt thường 8
1.2.2 Cảnh giới bằng gps (ví dụ máy GPS KGP-912) 9
1.2.3 Cài đặt trực neo (RADAR ARPA FURUNO FR-2805) 10
1.2.4 Cảnh giới đề phòng cướp biển, trộm cắp khi tàu neo 11
Chương 2: Khi tàu hành trình 12
2.1 sử dụng radar khi tài hành trình 12
2.1.1 Đặt chế độ định hướng trên màn ảnh radar 12
2.1.2 Các chế độ chuyển động trên màn ảnh radar 14
2.1.3 Đặt thang tầm xa khi tàu hành trình 15
2.1.4 Cách đo khoảng cách và phương vị trong khi tàu đang hành trình 17
2.1.5 Các loại ảnh ảo thường gặp khi tàu hành trình trong khu vực gần bờ, đông tàu và khi tàu hành trình ngoài biển 20
2.1.6 Ảnh hưởng của vùng chết, vùng mù, vùng râm, góc chế 24
2.1.7 Phản xạ sóng radio và khúc xạ dị thường 25
2.2 hệ thống máy lái 28
2.2.1 Các chế độ lái khi tàu hành trình trong khu vực luồng hẹp, đông tàu 28
Trang 82.2.2 Các chế độ lái khi tàu hành trình ngoài biển 31
2.3 Sự kết hợp các trang thiết bị trong đánh giá nguy cơ đâm va và điều động32 2.3.1 Đánh giá nguy cơ đâm va 32
2.3.2 Phát hiện mục tiêu 33
2.3.3 Tiến hành đo phương vị, khoảng cách tới tàu mục tiêu 33
2.3.4 Sử dụng hệ thống nhận dạng mục tiêu AIS 34
2.3.5 Sử dụng VHF để liên lạc 35
2.4 Máy đo sâu 36
2.5 Hệ thống NAVTEX 39
2.5.1 Giới thiệu về hệ thống NAVTEX 39
2.5.2 Các loại bức điện của hệ thống 40
2.5.3 Cách đọc bức điện 40
2.6 Hệ thống INMARSAT_C 41
2.6.1 Thủ tục soạn và lưu bức điện 42
2.6.2 Mở bức điện đã được lưu trữ từ trước 42
2.6.3 Thủ tục thiết lập và lưu trữ một bức điện cấp cứu 42
2.6.4 Thủ tục phát một bức điện thông thường 43
Chương 3 kết luận và kiến nghị 44
3.1 Kết luận 44
3.2 Kiến nghị 44
Tài liệu tham khảo 45
Trang 10CHƯƠNG 1: KHI TÀU NẰM TRONG CẢNG 1.1 Trước khi tàu hành trình.
1.1.1 Bật và điều chỉnh rõ nét radar
- Trước khi bật radar cần kiểm tra sơ bộ toàn bộ thiết bị, núm điều khiển ở
vị trí hết trái, riêng núm tune có thể để ở vị trí hiện tại, thang tầm xa ở vị trítrung bình 6-24NM
- Bật công tắc nguồn về vị trí stand by chờ 3-5 phút đến khi có các chỉ thịthích hợp báo đã sẵn sàng và cho phép có thể phát xung Khi radar đã sẵn sàngbật công tắng nguồn sang vị trí ON khi đó radar bắt đầu phát xung
- Điều chỉnh thang tầm xa sao cho phù hợp
- Tăng dần khuếch đại (gain) đến khi nhìn thấy rõ các mục tiêu trên mànảnh ngoài ra còn nhìn thấy một nền nhiễu tạm âm máy thu lấm chấm và rải đủkhắp màn ảnh
- Điều chỉnh tune đến khi ảnh mục tiêu nhìn thấy rõ nét nhất
- Nếu có nhiễu biển: Nếu có sóng, gió thổi vào một mạn nào đó của tàu tathì khi đó mạn trên gió sẽ tồn tại nhiễu biển nhiều hơn mạn dưới gió Khi đó tacần phải điều chỉnh nhiễu biển sao cho mạn trên gió chỉ còn lại lấm tấm, mạndưới gió hết vừa đủ mà không làm mất đi những mục tiêu nhỏ xung quanh tàu tathì khi đó hiệu quả khử nhiễu biển đạt hiệu quả cao nhất
Hình 1.1 khử nhiễu biển
- Nếu có nhiễu mưa trong điều kiện thời tiết bất lợi: mây, mưa, tuyết,mù… Trong trường hợp này ta cần phải điều chỉnh để sao cho radar phát tín
Trang 11hiệu xung dài khi đó ảnh của nhiễu mưa sẽ dần dần giảm bớt đồng thời khônglàm mất đi ảnh của những mục tiêu nhỏ.Để biết được ảnh của những mục tiêunhỏ có bị mất đi khi ta điều chỉnh nhiễu mưa hay không thì ta có thể tiến hànhquan sát một mục tiêu nhỏ bằng mắt thường (có thể là tàu cá nào đó xung quanhtàu ta) và xác định được vị trí mục tiêu đó xuất hiện trên màn hình radar của tàu
ta Sau khi ta tiến hành khử nhiễu mưa xong ta quan sát trên màn hình radar xemảnh của mục tiêu đó còn xuất hiện hay không Nếu không thấy ảnh mục tiêu đóthì ta khử nhiễu nhưng radar làm mất đi ảnh của mục tiêu nhỏ
Trang 12- Để bật máy lại tự động ta chuyển công tắc nguồn về vị trí ON để cấpnguồn cho hệ thống Thử máy lái ta tiến hành các bước sau:
+ Kiểm tra bánh lái có vướng mắc gì không
+ Bật hai mô tơ lai bơm tủy lực (công tắc ở trên buồng lái)
+ Bật công tắc cấp nguồn cho trạm điều khiển
+ Dùng vô-lăng bẻ hết sang phải, trái, hết lái phải, hết lái trái….đồng thờibáo cho phó hai ở buồng lái biết các góc bẻ lái Thuyền phó hai theo dõi sự hoạtđộng của máy lái báo cho phó 3 biết các góc quay thực của bánh lái
+ Kiểm tra thời gian bánh lái quay từ hết lái mạn này sang hết lái mạn đốidiện và ngược lại
+ Thử chế độ lever, remote
+ Thử chế độ lái sự cố ở buồng máy lái
+ Nếu có hư hỏng gì phải báo cho thuyền trưởng đẻ khắc phục ngay + Sau khi chuyển xong chế độ lái chuyển trạm điều khiển về chế độ láitay
b Đồng bộ la bàn với mặt phản ảnh của la bàn con quay.
Để đồng bộ mặt phản ảnh với la bàn chính của con quay thì ta chỉ cần theodõi chỉ số của la bàn chính con quay sau đó tiến hành xoay ốc vít bên mép ngoàicủa mặt phản ảnh của la bàn Nếu thấy chỉ số trên mặt phản ảnh của la bàn trùngvới chỉ số trên la bàn chính của con quay thì khi đó mặt phản ảnh của con quay
đã được đồng bộ (thường dùng cho la bàn hokushin)
1.1.3 Bật, điều chỉnh máy đo sâu.
- Để bật máy đo sâu ta chỉ cần đưa công tắc nguồn từ vị trí Off sang On
- Để điều chỉnh máy đo sâu ta tiến hành làm như sau
+ Bật công tắc thang độ sâu về thang đo đã chọn thường cần tham khảo độsâu trên hải đồ
+ Vặn Gain theo chiều kim đồng hồ tới khi bắt đầu xuất hiện nhiễu trêngiấy ghi sau đo vặn ngược chiều kim đồng hồ một chút
Trang 13+ Nếu vạch số 0 độ sâu bị lệch khỏi vị trí 0 trên thang đo thì cần phải điềuchỉnh lại.
+ Nếu cần phân biệt ảnh của đáy biển với ảnh của mục tiêu nhỏ, lơ lửng vàkhông liên tục thì tăng dần núm while line theo chiều kim đồng hồ cho tới khixuất hiện một đường trắng dọc the đường viền của ảnh dáy biển Nếu không cầnthiết thì để núm này ở hết trái
+ Điều chỉnh tốc độ băng giấy hù hợp với yêu cầu sử dụng
+ Ấn nút đánh dấu nếu cần
+ Giảm công suốt nếu cần
+ Nếu thấy cần thiết thì điều chỉnh núm TVG một cách thích hợp
1.1.4 Bật máy nhận dạng tàu mục tiêu AIS.
Đối với máy nhận dạng mục tiêu AIS thì thường luôn ở chế độ bật
1.1.5 Bật máy đo tốc độ, hệ thống INMARSAT.
Máy đo tốc độ cũng như hệ thống INMARSAT cũng thường luôn ở chế độbật
1.1.6 Bật, thử hệ thống NAVITEX.
- Máy navtex cũng thường luôn ở chế độ bật Để bật máy ta ấn (Power) cấpnguồn cho máy, khi đèn xanh bật sang và có tiếng còi thì nguồn đã được cấp chomáy
- Ở những lần khởi động thông thường mọi số liệu trong bộ nhớ vẫn đượcduy trì và sau khi khởi động máy sẽ đưa ra thông báo sau:
POWER -ALL DATAR RETAINED
Ở những lần khởi động và số liệu lưu trữ đã bị mất hoặc ở lần bật máy đầutiên sau khi lắp đặt máy sẽ đưa ra thông báo
POWER -SELECT/EXCLUDE MESSAGE TYPES ANHSTATION ALL DATA HAVE BEEN CLEARED
Đối với máy NT_900 đòi hỏi phải có thời gian khởi động 30s Sau khikhởi động nếu mọi số liệu trong bộ nhớ còn nguyên vẹn thì máy sẽ tiếp tục hoạtđộng bình thường Các mã nhận dạng bức điện vẫn tiếp tục được nhập và lưu trữ
Trang 14tự động Tuy nhiên tất cả các mã nhận dạng đã quá 65 giờ lưu trữ sẽ tự độngxóa Đối với những mã còn lại ta sử dụng không thể thay đổi sửa chữa
1.1.7 Kiểm tra EBIBR
Hình 1.3 EPIRB+ Kiểm tra vị trí đặt của EPIRB đã được đặt đúng vị trí trong giá hay chưa,công tắc phải đặt ở vị trí ready
+ Kiểm tra pin có còn sử dụng được không, nếu không thì ta cần phải tiếnhành thay thế ngay
+ Kiểm tra và thử bộ nhả thủy tĩnh sao cho khi tàu chìm thì EPIRB có thể
tự động giải phóng bộ nhả thủy tĩnh và tự nổi để kích hoạt phát báo động cấpcứu hay không
+ Kiểm tra nguồn trong hệ thống bằng cách ấn vào nút TEST trên thân củaEPIRB Nếu thấy đèn sáng thì khi đó nguồn trong hệ thống vẫn đang hoặt độngbình thường
Trang 151.1.8 Kiểm tra SART và thử hoạt động
Hình 1.4 SART
- Sart được lắp đặt trong cabin (1-2) chiếc
- Sart không hoặt động công tắc luôn ở off Nếu chúng ta vô ý chuyển sang
on thì trong vòng (72-96) giờ là sart hết pin không sử dụng được nữa
- Sart không được để gần nơi có từ trường mạnh và trong bup phát radar
- Kiểm tra xem pin có còn sử dụng được không, nếu pin bị hết nguồn thì tacần phải tiến hành thay thế ngay
- Kiểm tra nguồn bằng cách ấn vào nút TEST trên thân SART Nếu thấyđèn sáng thì khi đó nguồn trên than SART vẫn đang hoạt động
- Ta có thể kiểm tra SART bằng chính radar của tàu mình bằng cách: Tabật radar, điều chỉnh thang tầm xa tối thiểu 12 hải lý ứng với bước sóng 3,2 cm.Đưa SART ra bên ngoài cánh gà chuyển công tắc chức năng sang ON và tiếnhành đưa lên cao Khi đó trên màn hình radar sẽ xuất hiện tìn hiệu 12 vòng trònđồng tâm đồng thời SART sẽ phát đáp kèm theo một tín hiệu âm thanh thì khi
đó SART hoạt động bình thường
1.1.9 Khởi động chế độ hàng hải theo điểm, theo tuyến.
a Cách thức kích hoạt chế độ hang hải theo điểm.
Nhấn Mode để chọ một màn hình bất kì ở chế độ Nav1, Nav2, Nav3hoặc PLOT Tiếp tục nhấn SEL đến khi chọn được màn hình chế độ hang hảitheo điểm Trên màn hình này chữ WPT sẽ hiện ra ở dòng trên cùng góc phải
Trang 16của màn hình Dùng phím phải đưa con trỏ tới vùng nhập tên điểm phía sau chữWPT này, nhập tên điểm đích này bằng các phím số kết thúc nhấn ENT Khi tàuchạy tới một điểm đích hoặc cách điểm đích một khoảng cách nhỏ hơn khoảngcách đặt báo động tiếp cận thì máy sẽ phát ra âm thanh báo động Muốn xóa chế
độ hàng hải theo điểm này thì trong trang màn hình WPT ở trên nhấn SEL đểđưa màn hình về chế độ OFF
b Cách thức kích hoặt chế độ hàng hải theo tuyến
- Sau khi đã nhập toàn bộ các điểm chuyển hướng vào máy thu ta phải lậplên một tuyến đường nối lần lượt các điểm chuyển hướng đó theo thứ tự từ đầuđến hết quãng đường Ấn Menu để vào Menu chính, nhấn phím 5 để vào menu5.route.trên màn hình một menu con mới sẽ hiện ra.Nhấn vào phím số 1 để chọn
1 ROUTE EDIT Dùng các phím số để chọn một tên một tuyến bất kì và ấn ENT
để gọi tuyến đó ra (máy thu có thể lưu trữ 20 tuyễn đánh số từ 01-20) Nếu têntuyến này đã được sử dụng trước đó cho các chuyến hành trình trước thì nó đãbao gồm một số tên waypoint nào đó, nên xóa hết các waypoint này trước khinhập tên các điểm mới bằng cách ấn CLR và xác nhận.việc xóa bằng cách nhấntiếp phím ENT Nếu vẫn còn sử dụng tuyến cũ cho các tuyến tiếp theo thì chọnlại tên một tuyến khác để lập tuyến mới
- Tiếp tục dùng phím đưa con trỏ sang vị trí bên phải của tên tuyến, nhấnSEL để chọ chiều hành trình cả tuyến theo chiều thuận hay ngược của thứ tựwaypoint Dùng phím lên xuống đưa con trỏ xuống vùng tên waypoint để nhậptên các waypoint Lần lượt gõ tên waypoint bằng các phím số, hết mỗi waypoint
ấn ENT để xác nhận Kết thúc nhập ấn ENT Khi nhập xong các điểm máy tựđộng xác định tên các điểm thuộc tuyến bắt đầu từ 001,002,003….cho đến điểmcuối cùng của tuyến đó, bất kể tên của waypoint đó được đánh số như thế nào
- Để kích hoạt chế độ hàng hải theo tuyến,nhấn Mode để kích hoặt mộtmàn hình bất kỳ ở chế độ Nav1,Nav2,Nav3 hoặc PLOT Tiếp tục nhấn SEL chotới khi chọn được màn hình của chế độ hang hải theo tuyến Trên màn hình nàychữ RET (ROUTE) sẽ hiện ra ở dòng trên cùng góc phải của màn hình Dùng
Trang 17phím phải đưa con trỏ đến vùng nhập tên phía sau chữ RTE này, nhập tên tuyến
đã chọn bằng các phím số, nhấn ENT Dùng phím phải đưa con trỏ tới vùngnhập tên tuyến phía sau chữ RTE này, nhập tên tuyến đã chọn bằng các phím số,nhấn ENT Dùng phím phải đưa con trỏ tới vùng nhập tên điểm tiếp theo, nhậptên của điểm bắt đầu hành trình bằng phím số (chú ý nhập điểm bắt đầu bằng
001 chứ không phải bằng điểm waypoint) nhấn ENT để xác nhận dùng phímphải đưa con trỏ tới vùng tiếp theo sau để chọn chiều hành trình của tuyến nhấnSEL để chọn chiều thuận hay chiều ngược lại của tuyến Thông thường chỉ chọchiều thuận, chọn chiều ngược khi tàu hành trình ngược từ cảng đích về cảngxuất phát đầu tiên mà vẫn sử dụng đúng tuyến chạy đó đồng thời điểm bắt đầuhành trình cũng phải chọn là điểm cuối
- Muốn xóa chế độ hang hải theo tuyến này thì trong trang màn hình RTE ởtrên, nhấn SEL đưa màn hình về chế độ OFF
1.2 Khi tàu neo.
1.2.1 Cảnh giới bằng mắt thường.
- Mọi tàu thuyền phải thường xuyên duy trì công tác cảnh giới bằng mắtnhìn và tai nghe một cách thích đáng, đồng thời phải sử dụng tất cả các thiết bịsẵn có phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện hiện tại để đánh giá đầy đủ tìnhhuống và nguy cơ đâm va
- Việc quan sát bằng mắt thường ta tiến hành như sau: Ta tiến hành theodõi sự hoạt động của những tàu xung quanh và đánh giá nguy cơ va chạm đốivới tàu mình Nếu thấy một tàu nào đó có khả năng đâm va với tàu mình thì tàu
ta cũng phải sẵn sàng trong mọi tình huống để tiến hành tránh va Lúc này tuytàu ta là tàu neo nhưng tàu ta cũng phải chuẩn bị sẵn sàng cho mọi tình huốngxấu có thể xảy ra Nếu biết rằng tàu mục tiêu không có khả năng tránh va với tàumình thì thuyền trưởng sẽ ra lệnh cho thuyền viên kéo neo và tiến hành chạymáy để tránh va nhanh nhất có thể
- Ngoài ra việc trực ca khi tàu neo không chỉ là việc quan sát những tàuđang hành trình mà ta cũng cần phải quan sát những tàu đang neo xung quanh
Trang 18tàu ta để biết được tình hình neo của tàu ta và tàu mục tiêu So sánh và đánh giákhả năng trôi neo của tàu ta và tàu mục tiêu, nếu thấy tàu ta di chuyển tương đối
so với các tàu đang neo xung quang tàu ta thì ta cần phải thông báo cho thuyềntrưởng biết vì khi đó tàu ta đang có khả năng bị trôi neo Ngoài ra nếu ta thấytàu nào đó bị trôi neo mà không ai trên tàu đó biết về việc trôi neo của tàu mìnhthì ta cần phải sử dụng trang thiết bị sẵn có trên tàu mình để thông báo nhanhchóng kịp thời cho tàu đó biết Nếu việc trôi neo của tàu đó có khả năng đâm vavới tàu mình thì thuyển trưởng phải thông báo sẵn sàng việc kéo neo, chạy máysẵn sàng tránh va
1.2.2 Cảnh giới bằng GPS (ví dụ như máy GPS KGP-912)
-Tiến hành cài đặt báo động trực neo: Là chế độ báo động khi tàu đang neo,nếu tàu bị trôi neo vị trí tàu di chuyển cách xa vị trí neo đặt ban đầu một khoảngnhất định đã đặt trước thì máy sẽ phát ra âm thanh báo động thao tác như sau:Đặt vị trí neo: nhấn MODE để chọ một màn hình bất kì ở chế độ Nav1,Nav2, Nav3 hoặc PLOT Tiếp tục nhấn SEL tới khi chọn được màn hình của chế
độ trực neo ANCW Trên màn hình này chữ ANCW sẽ hiện ra ở dòng trên cùnggóc phải của màn hình Nhấn ENT để lưu tọa độ hiện tại là vị trí neo vào máythu Sau khi đã đặt vị trí neo như vậy, khi tàu dịch chuyển trên màn hình sẽ liêntục báo cho ta khoảng cách và phương vị từ vị trí tàu hiện tại tới vị trí neo đã đặttrước đó
- Đặt khoảng báo động trôi neo: Nhấn Menu để vào Menu chính củamáy,nhấn phím số 6 để vào 6.Alarm Nhấn dịch chuyển con trỏ xuống xuốngdòng 2.ANCW và dùng các phím số để nhập khoảng cách báo động trôi neo, kếtthúc nhấn ENT Lưu ý khoảng cách này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chiềudài tàu, chiều dài lỉn neo xông ra độ sâu tại khu vực neo, dung sai cho phép mật
độ tàu neo tại khu neo,tàu có gần các chướng ngại vật khác hay không, tốc độgió và dòng chảy… Nếu đặt lớn quá thì tàu có thể đã trôi neo mà máy thu vẫnchưa báo động Nếu đặt lượng dung sai nhỏ quá thì do sai số định vị, máy có thể
Trang 19phát tín hiệu báo động trong khi tàu vẫn chưa bị trôi neo Nếu khoảng báo động
là 0.00NM thì chế độ báo động không hoạt động
- Tiếp tục kích hoạt chế độ báo động như sau: Dùng phím dịch chuyển đưaccon trỏ lên đưa con trỏ lên dòng 1.MODE, dùng phím dịch chyển phải, trái đưacon trỏ sang chữ ANCW Nếu tàu trôi neo máy thu sẽ phát ra âm thanh báo động
để tạm thời tắt âm thanh này ta ấn CLR
- Để xóa chế độ báo động này, quay trở lại màn hình trên tại dòng 1.MODEdùng phím dịch chuyển phải, trái đưa con trỏ từ chữ ANCW sang OFF Chế độnày không hoạt động khi ta xóa bỏ vị trí neo và chuyển sang các chế độ chạybiển khác như chế độ hang hải theo điểm hoặc theo tuyến
-Ngoài ra đối với máy thu khác (ví dụ như GPS koden 913) ta tiến hànhnhư sau:
1 Nhấn phím (ALARM) để mở menu cài đặt báo động
2 Nhấn trên, xuống để chọn ANCHOR WATCH ALARM
3 Nhấn softkey EDIT để hiển thị cửa sổ cài báo động nhấn phím trên chọnON
4 Sử dụng cursor pad di chuyển cài đặt khoảng báo động (giá trị từ 0.001đến 9.999 hải lý)
5 Nhấn softkey ENTER hay phím ENTER
1.2.3 Cài đặt trực neo (radar-arpa furuno fr-2805)
1 Trong phím ANCHOR WATCH nhấn phím 2 để chọn ANCHORWATCH OFF/ON
2 Nhấn phím 2 để chọn ON, sau đó nhập dữ liệu cần thiết rồi ENT Biểutượng WATCH xuất hiện góc trái phía dưới màn hình
3 Nhấn phím 3 để chọn ALARM OFF/ON Sau đó nhấn phím 3 lần nữa đểchọn ON hay OFF kết thúc bằng phím ENT để chấp nhận
- Cài đặt phạm vi báo động
Trang 20+ Nhấn phím 4 chọn ALARM RANGE trên menu ANCHOR WATCH.Nhập vào phạm vi báo động cần thiết trong khỏng 0.1NM đến 9.999NM vớiphím số và ấn ENT để chấp nhận.
+ Chu vi báo động trực neo sẽ được hiển thị với chu vi màu đỏ trên mànhình khi tàu thoát khỏi chu vi cài đặt thì một tiếng báo động có thể phát ra vàtrên màn hình biểu tượng ANCHOR WATCH sẽ đỏ lên
- Để tắt báo động này nhấn phím AUDIO OFF trên bảng điều khiển
1.2.4 Cảnh giới đề phòng cướp biển, trộm cắp khi tàu neo.
- Khi tàu neo trong những khu vực hiểm trở có ít tàu thuyền qua lại ta cầnphải chú ý trong việc cảnh giới để đề phòng cướp biển có thể tấn công tàu ta khi
đó ta cần đặc biệt quan tâm và theo dõi đối với những tàu thuyền nhỏ chạy vớitốc độ lớn đang cố gắng tiếp cận tàu ta Khi đó ta cần ngay lập tức thông báocho thuyển trưởng biết để có thể có những biện pháp kịp thời tránh gây tổn thấtcho người và tàu
- Ngoài ra đối với những người làm nhiệm vụ trực canh cầu thang mạn thìkhông được phép cho những người lạ không xuất trình đầu đủ giấy tờ và mụcđích lên tàu Những người được phép lên tàu phải là những người có đầy đủ giấy
tờ và làm nhiệm vụ phục vụ lợi ích của tàu
- Cần đặc biệt cảnh giác đối với những người lạ khi lên tàu tiếp cận nhữngkhu vực như buồng lái,khu vực hải đồ,… mà không được sự cho phép củathuyền trưởng
Trang 21CHƯƠNG 2.KHI TÀU HÀNH TRÌNH
2.1 Sử dụng radar khi tàu hành trình
hình 2.1 radar
2.1.1 Đặt chế độ định hướng trên màn ảnh radar
a chế độ định hướng mũi tàu head up
Hình 2.2 chế độ định hướng head up
- Ở chế độ này vạch dấu mũi tàu luôn chỉ cố định vào 0 độ trên vành chia
độ cố định trên màn ảnh Các mục tiêu bên phải hoặc bên trái ngoài thực địacũng hiện ra bên phải hoặc bên trái vạch dấu mũi tàu với khoảng cách và góc
Trang 22mạn tương ứng với thực tế tốc độ chuyển động, ảnh của các mục tiêu chuyểnđộng tương đối so với tàu ta.
- Hình ảnh trên màn ảnh gần giống với ngoài thực địa, khi tàu đảo mũi thìvạch SHM vẫn luôn cố định các mục tiêu sẽ bị dao động quanh vị trí của nó và
có thể nhòe nếu đảo mũi mạnh Khi tàu quay trở thì SHM vẫn cố định ảnh củacác mục tiêu sẽ quay ngược với chiều quay trở của tàu Khi đó nó có ưu điểm là
có hình ảnh trên màn ảnh giống ngoài thực địa nên thường được sử dụng khicảnh giới khi tàu hành trình ngoài biển nhưng nếu dùng để xác định vị trí tàu thìchế độ này có nhiều bất tiện khi xác định phương vị sẽ có sai số lớn khi ảnh củacác mục tiêu luôn bị dao động khi tàu đảo mũi
b Chế độ định hướng theo hướng bắc North up
vị thật so với hướng bắc Ở chế độ này ảnh của các mục tiêu ổn định không bịnhòe khi tàu đảo mũi hoặc quay trở, thuận tiện khi đo khoảng cách và phương vịmục tiêu để đồ giải tránh va hoặc xác định vị trí tàu do giá trị các thông số đó sẽ
Trang 23mắc phải sai số nhỏ hơn so với chế độ head up ngoài ra còn thuận tiện cho việcnhận dạng mục tiêu tránh nhầm lẫn.
-Nhược điểm của chế độ này là khi cảnh giới bằng radar thì chế độ này cóbất tiện là khi hướng la bàn của tàu ta có hướng nam, khi đó việc nhận dạng mụctiêu bên phải hay bên trái và nhất là xác định hướng chuyển động tương đối vàhướng chuyển động thật của tàu mục tiêu đều dễ xảy ra nhầm lẫn
c Chế độ định hướng theo hướng tàu chạy course up
Hình 2.4 Chế độ định hướng course up
- Kết hợp các ưu điểm của 2 chế độ head up và north up vạch SHM sẽ chỉ
về phía 0 độ trên vành chia độ cố định quanh màn ảnh và dao động quanh vị trínày khi tàu đảo mũi cho lên hình ảnh của mục tiêu vẫn ổn định và không bị nhòe
và hình ảnh gần giống với chế độ H-up Ngoài ra khi tàu quay trở sang phải hoặcsang trái thì ảnh các mục tiêu trên màn ảnh vẫn đứng yên,chỉ có SHM sẽ quaysang phải hoặc trái một góc tương ứng với góc chuyển hướng của tàu Với chế
độ này có ưu điểm là rất thuận tiện cho việc cảnh giới bằng radar do có quangcảnh trên màn ảnh giống như đứng yên trên buồng lái nhìn ra, ngoài ra mục tiêuluôn ổn định không bị nhòe khi tàu đảo mũi và có thể sử dụng đồ giải tránh va
đo các thông số khoảng cách và phương vị có độ chính xác cao
2.1.2 Các chế độ chuyển động trên màn ảnh radar.
a Chế độ chuyển động tương đối.
- Khi tàu hành trình trong khu vực cầu cảng có nhiều tà bè qua lại thuậntiện trong việc đánh giá nguy cơ đâm va, cảnh giới thì ta sử dụng chế độ chuyển
Trang 24động tương đối vì ở chế độ chuyển động này là vị trí tàu ta luôn cố định tại mộtđiểm trên màn hình điểm này gọi là điểm tâm quét màn hình còn các mục tiêu sẽchuyển động với hướng và tốc độ tương ứng so với tàu ta Đồ giải tránh va và sửdụng màn ảnh chế độ này gọi là đồ giải tránh va tương đối.Vì vậy ngày nay chế
độ chuyển động tương đối thường được sử dụng thường xuyên khi tàu hànhtrình trên biển
b Chế độ chuyển động thật.
- Ngoài chế độ chuyển động tương đối còn có chế độ chuyển động thật cónghĩa là trên màn ảnh radar các mục tiêu cố định ngoài thực địa thì ảnh củachúng cũng đứng yên trên màn ảnh, ảnh của chúng sẽ chuyển động với hướngthật và tốc độ thật tương ứng với hướng và vận tốc chuyển động thực tế Tâmquét với vị trí tàu ta không cố định trên màn ảnh mà có thể ở một vị trí bất kỳ,chuyển động với hướng và tốc độ tương ứng với hướng thật và vận tốc thật củatàu ta trên thực tế
- Để tâm quét có thể chuyển động trên màn ảnh có tốc độ và hướng radarphải được kết nối với la bàn và tốc độ kế chúng được đồng bộ với nhau
- Chế độ này không sử dụng thang tầm xa lớn vì nếu sử dụng thang tầm xalớn tốc độ chuyển động ảnh ảo trên màn ảnh sẽ thấp,khó phân biệt chuyển độngđồng thời khả năng phát hiện mục tiêu ở khoảng cách lớn của radar cũng bị hạnchế
2.1.3 Đặt thang tầm xa khi tàu hành trình.
a Khi tàu hành trình trong khu vực gần bờ, đông tàu hoặc trong điều kiện thường.
- Trong điều kiện tầm nhìn xa bình thường mà khi tàu hành trình trongnhững khu vực gần bờ,đông tàu thì những mục tiêu lọt vào màn ảnh 5-6 hải lý lànhững mục tiêu cần quan tâm tránh va ngoài ra thì ta cần phải lựa chọn thứ tự ưutiên tránh va sao cho phù hợp như đó là những mục tiêu đó là những mục tiêu có
xu hướng đối đầu hay những mục tiêu có xu hướng cắt ngang mũi tàu hay nhữngmục tiêu có xu hướng vượt từ phía sau Vì vậy khi tàu hành trình trong cảng,
Trang 25khu vực gần bờ đông tàu thì ta lên để xung phát ngắn sao cho thuận tiện quan sáthơn Hiện nay radar có các bước sóng = 10 cm = 3.2 cm ( = 0.8
cm hiện nay không còn sử dụng) thì ta thường sử dụng bướcsóng 3.2 cm với tần số 9400Mhz Bước sóng 3.2 cm tuy có chiềudài xung nhỏ hơn bước sóng 10cm nhưng trái lại có độ phân giảilớn hơn bước sóng 10cm vì vậy tăng bán kính của vùng chếtquan sát được những tàu nhỏ hay những vật thể nhỏ hơn
- Ngày nay radar được sản xuất với hai chế độ xung dài và ngắn, tùy thangtầm xa và yêu cầu thực tế hàng hải mà chuyển chế độ xung phát cho phùhợp.Người ta tạo ra công tắc chuyển đổi chế độ PULSE SWITCH với hai chế độLONG và SHORT (một số máy của nhật thì chế độ này là NORMAL vàNARROW) thông thường chiều dài xung bằng 0.01-3 micro giây
b Khi tàu hành trình trong điều kiện tầm nhìn xa bị hạn chế.
-Khi tàu hành trình trong điều kiện tầm nhìn xa bị hạn chế thì radar lên đặt
ở chế độ phát xung dài vì khi tàu hành trình trong điều kiện tầm nhìn xa bị hạnchế thì phần lớn sẽ tồn tại nhiều nhiễu biển và nhiễu mưa Khi radar đặt ở chế độphát xung dài thì đồng thời sẽ khử được nhiễu đó.Tuy nhiên ta cũng lên quan sátthực tế những mục tiêu nhở để đảm bảo rằng trong quá trình khử nhiễu biển vànhiễu mưa radar không làm mất đi ảnh của những mục tiêu nhỏ đang hành trìnhxung quanh tàu ta
c Khi tàu hành trình ngoài biển
-Khi tàu hành trình ngoài biển thì tùy thuộc vào điều kiện thực tế mà ta đặtthang tầm xa cho phù hợp Nếu trong điều kiện bình thường thì ta có thể đặtthang tầm xa lớn với bước sóng 10cm để có thể thuận tiện cảnh giới được đốivới những mục tiêu ở xa tuy nhiên nếu trong điều kiện tầm nhìn xa bị hạn chếthì ta cần phải đặt thang tầm xa nhỏ hơn kết hợp với việc quan sát bằng mắtthường để đánh giá tình hình
d Thao tác lệch tâm để cảnh giới
Trang 26-Trong trường hợp vị tái tàu ở tâm màn hình radar không thuận tiện cho
việc cảnh giới thì ta có thể chuyển tâm của vị trí tàu ta sang một vị trí bất kỳ đểsao cho thuận tiện nhất thao tác như sau:
+Đặt con trỏ tại vị trí mà ta muốn,sau đó ta di chuyển tâm tia quét bằng
2.1.4 Cách đo khoảng cách và phương vị trong khi khi tàu đang hành trình
a Cách đo khoảng cách tới mục tiêu
Trang 27Hình 2.6 Đo khoảng cách
b Sử dụng vòng cự ly cố định
- Khi tàu đang hành trình trong điều kiện có mật độ tàu bè đông đúc,không yêu cầu độ chính xác cao mà ta muốn xác định khoảng cách của nhiều tàucùng một lúc để thuận tiện cho việc cảnh giới tránh va thì ta lên sử dụng vòng cự
+ Ưu điểm: Có thể nhanh chóng xác định khoảng cách gần đúng củanhiều mục tiêu cùng xuất hiện đồng thời trên màn ảnh
+ Nhược điểm: Có độ chính xác kém
c Sử dụng vòng cự ly di động (VRM)
- Trong trường hợp khi tàu hành trình mà có một tàu nào đó có khả năng
đâm va với tàu mình mà ta muốn xác định khoảng cách đến một tàu nào đó màyêu cầu độ chính xác cao thì ta sử dụng vòng cự ly di động
- Trước hết điều chỉnh núm VRM BRILLIANCE tăng độ sang của VRMđến khi nhìn thấy rõ vòng VRM trên màn ảnh Sau đó điều chỉnh VRM controlđưa vòng VRM tiếp xúc với mép trong của mục tiêu cần đo khoảng cách, đọcgiá trị khoảng cách trên ô chỉ báo của VRM sẽ cho ta khoảng cách tương ứng cảgiá trị đó
- Nếu khi tăng vòng VRM BRILLIANCE lên mà không thấy xuất hiệnvòng VRM trên màn hình thì phải quan sát chỉ thị khoảng cách của VRM khi đó
có thể vòng VRM đang ở tâm màn ảnh hoặc rất gần tâm, nằm trong vùng nhiễubiển lên không nhìn thấy được cũng có thể vòng VRM nằm ngoài biên màn ảnhnếu chỉ thị khoảng cách vòng VRM lớn hơn thang tầm xa đang sử dụng Khi đó