1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Phương pháp hướng dẫn học sinh làm bài tập định lượng vật lí 8

9 785 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 117 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

APHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do: Hiện nay ngành Giáo dục – Đào tào đang thực hiện đổi mờí một cách toàn diện , đồng bộ,thay đổi chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực tự giác của học sinhg trong quá trình học tập, giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức một cách chủ đông, sáng tạo. Đặc biệt là môn vật lí, đặc trưng của nó là môn khoa học thực nghiệm, các bài học trong chương trình vật lí hầu hết đều có thí nghiệm. Ơû lớp 6,7 các kiến thức vật lí được trình bày thuần túy theo quan điểm hiện tượng, các thuộc tính, các quy luậ vật lí chỉ được mô tả một cách định tính bằng các thông số vĩ mô, không đi vào cơ chế vi mô cũng không đưa ra các quan hệ phức tạp, thì ở lớp 8 bắt đầu đề cập đến cơ chế vi mô của một số hiện tượng( quan hệ giửa nhiêt độ và chuyển động phân tử, quan hệ giửa nhiệt năng và cấu tạo phân tử ) và bắt đầu đề cập đến việc mô tả định lượng các quan hệ vật lí. Nhiều công thức về động học, động lực học, tĩnh học chất lưu, cơ năng và nhiệt năng đã được trình bày trong vật lí 8. Tỉ lệ các bài tập định lượng so với các bài tâp định lương cao hơn hẳn tỉ lệ này ở lớp 6 và 7. Trong bài tập định lượng đã có những yêu cầu tương đối cao về sử dụng các công cụ toán học như: Lập và giải phương trình bậc nhất, hệ phương trình bậc nhất… Tuy nhiên kiến thức toán học của học sinh lơp 8 còn rất nhiều hạn chế nên việc giả bài tập định tính vật lí gặp rất nhuiêù khó khăn. Mặc dù đãû có rất nhiều sách hướng dẫn nhưng các em cũng không năm được bản chất của việc giải bài tập đó là gì, dẫn đến áp dụng máy móc, lam bài tập đối phó. Là một giáo viên mới bước vào nghề được 3 năm , qua quá trình giảng dạy tôi thấy đối với học sinh lớp 8 mặc dù các em đã nắm được lí thuyết, viết công thức rất tốt nhưng áp dụng vào làm bài tập rất lúng túng và rất e ngại, lo sợ khi lên làm bài tập và găp rất nhiều thiếu sót như: Nhầm lẫn các kí hiệu, đơn vị đo của các đại lượng và những bài tập đòi hỏi tư duy cao thì hầu hết các em chưa biết làm. Mặc dù là khoa học thực nghiệm nhưng theo tôi nếu các em không biết giải bài tập thì việc nắm lí thuyết suông không có ý nghĩa gì. Từ thực tế và suy nghĩ như vậy qua quá trình giảng dạy chương trình mới, bản thân tôi tự rút ra những kinh nghiệm và mạnh dạn trao đổi một vài ý kiến về “ Phương pháp hướng dẫn học sinh làm bài tập định lượng vật lí 8”II.Mục đích:Học sinh biết vận dụng kiến thức lí thuyết đã học vào giải các bài tập định lượng một cách đúng đắn, có sự tư duy tìm tòi sáng tạo. Từ đó học sinh có lòng ham thích môn học và tiềp thu bài nhanh hơn.III.Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát thực trang làm bài tập định tính vật lí ở khốí 8 từ đó rút ra phương pháp hướng dẩn học sinh làm bài tâp định tính một cách phù hợp, đạt kết quả cao. Đánh giá kết quả thu được.IV.Phương pháp nghiên cứu:1.Phương pháp trò chuyện phỏng vấn: Thông qua trò chuyện trao đổ với học sinh để biết được nhìn nhận của học sinh về chương trình vật lí 8 và những vướn mắc khi làm bài tập định lươnh vật lí 82.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh:Nghiên cứu các bài tập của học sinh làm ra, so sánh với lúc chưa hương dân để tìm ra biên pháp khắc phục.V. Thời gian nghiên cứu:Để thực hiện sáng kiến nay tôi đã khảo sát, nghiên cứu từ tháng 092005 đến tháng 04 2006.B NỘI DUNGCHƯƠNG I: Cơ sở lí luận của đề tàiĐể viết sáng kiến kinh nghiệm này tôi dựa trên một số cơ sở sau:1.Nội dung chương trình SGK vật lí 8Trong chương trình SGK vật lí 8 đề cập đến hai chương:Chương I: Cơ học.Chương II: Nhiệt học:Trong hai chương này tổng hợp của rất nhiều kiền thức vật lí thcs nhau như:Chuyển động và lực.Một số vấn đề về tĩnh học chất lưu.Công và cơ năng.Nhiệt năng và một số vấn đề về nhiệt học.Với lượng thời gian không nhiều 35 tiết năm nhưng học sinh lớp 8 phải nắm rất nhiều kiến thức khác nhau và không dừng lại ở lí thuyết mà còn một lượng kiến thức khá lớn. Đặc biệt là bài tập định lương ( 60 bài tập).2.Sự phân bố thời gian giảng dạy:Trong chương trình SGK vật lí 8 cũng dựa vào phương pháp thực nghiêm là chủ yếu nên hầu hết thời gian là dành cho việc làm thí nghệm, phân tích kết quả thí nghiệm có trong SGK và rút ra kêtư luận. Còn thời gian dành cho việc hướn dẩn học sinh làm bài tập là rất ít nhưng lượng bài tập trong SBT là khá lớn làm cho các em rất khó khăn khi làm bài tập ở nhà. Mặc dù chương trình mới viết theo phương pháp “mở” tự học sinh tìm tòi, tư duy là chủ yếu. Tuy nhiên tư duy của học sinh lớp 8 còn nhiều hạn chế nên vệc để học sinh làm được bài tập định tính thì việc hướng dẩn của giáo viên là rất quan trọng. Từ đó học sinh mới lam được bài tập và áp dụng được vào làm các bài tập phần sau.CHƯƠNG II: Phương pháp hướng dẩn học sinh làm bài tập định lượng vật lí 8:Theo tôi mặc dù lượng kiến thức cần cung cấp cho học sinh là khá lớn nhưng giáo viên cần lựa chọn cóch thình bày các kjiến thức sao cho ngắn gọn để dành thời gian thích đáng cho việc rền luyện kĩ năng giải bài tập đinh lượng cho học sinh. Do đó trong mỗi tiết dạy giáo viên nên dành ít nhất 5 phút để hướng dẩn học sinh làm bài tập ở nhà.Trong khi hướng dẩn giáo viên nên dự kiến hệ thống câu hỏi phù hợp. Ban đàu giào viên có thể nêu các câu hỏi mang tính chất kiểm tra, chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã học sau đó tăng số câu hỏi then chốt, nhằm vào những mục đích nhận thức cao hơn đòi hỏi sự thông hiểu, phân tích , tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa.Để làm được bài tập phần nào yêu cầu học sinh phải nắm được líthuyết và công thức có liên quan đến phần bài tập đó.Ví dụ: Để làm được bai tập phần vận tốc – chuyển động cơ học học sinh cần nắm được:+ Dấu hiệu nhận biết về chuyển động cơ học, tính tương đối của chuyển động cơ học.+ Nêu được độ lớn vận tớc cho biết mức độ nhanh hay chậm của chuyển độngvà được xác định bằng đọ dài quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian.+ Công thức tính vận tốc: V=

Trang 1

A-PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do:

Hiện nay ngănh Giâo dục – Đăo tăo đang thực hiện đổi mờí một câch toăn

diện , đồng bộ,thay đổi chương trình, nội dung vă phương phâp giâo dục nhằm phât huy tính tích cực tự giâc của học sinhg trong quâ trình học tập, giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức một câch chủ đông, sâng tạo Đặc biệt lă môn vật lí, đặc trưng của nó lă môn khoa học thực nghiệm, câc băi học trong chương trình vật lí hầu hết đều có thí nghiệm Ơû lớp 6,7 câc kiến thức vật lí được trình băy thuần túy theo quan điểm hiện tượng, câc thuộc tính, câc quy luậ vật lí chỉ được mô tả một câch định tính bằng câc thông số vĩ mô, không đi văo cơ chế vi mô cũng không đưa ra câc quan hệ phức tạp, thì ở lớp 8 bắt đầu đề cập đến cơ chế vi mô của một số hiện tượng( quan hệ giửa nhiít độ vă chuyển động phđn tử, quan hệ giửa nhiệt năng vă cấu tạo phđn tử ) vă bắt đầu đề cập đến việc mô tả định lượng câc quan hệ vật lí Nhiều công thức về động học, động lực học, tĩnh học chất lưu, cơ năng vă nhiệt năng đê được trình băy trong vật lí 8 Tỉ lệ câc băi tập định lượng so với câc băi tđp định lương cao hơn hẳn tỉ lệ năy ở lớp 6 vă 7 Trong băi tập định lượng đê có những yíu cầu tương đối cao về sử dụng câc công cụ toân học như: Lập vă giải phương trình bậc nhất, hệ phương trình bậc nhất… Tuy nhiín kiến thức toân học của học sinh lơp 8 còn rất nhiều hạn chế nín việc giả băi tập định tính vật lí gặp rất nhuiíù khó khăn Mặc dù đệ có rất nhiều sâch hướng dẫn nhưng câc em cũng không năm được bản chất của việc giải băi tập đó lă gì, dẫn đến âp dụng mây móc, lam băi tập đối phó Lă một giâo viín mới bước văo nghề được 3 năm , qua quâ trình giảng dạy tôi thấy đối với học sinh lớp 8 mặc dù câc em đê nắm được lí thuyết, viết công thức rất tốt nhưng âp dụng văo lăm băi tập rất lúng túng vă rất e ngại, lo sợ khi lín lăm băi tập vă găp rất nhiều thiếu sót như: Nhầm lẫn câc kí hiệu, đơn vị đo của câc đại lượng vă những băi tập đòi hỏi tư duy cao thì hầu hết câc em chưa biết lăm Mặc dù lă khoa học thực nghiệm nhưng theo tôi nếu câc em không biết giải băi tập thì việc nắm lí thuyết suông không có ý nghĩa gì Từ thực tế

vă suy nghĩ như vậy qua quâ trình giảng dạy chương trình mới, bản thđn tôi tự rút

ra những kinh nghiệm vă mạnh dạn trao đổi một văi ý kiến về “ Phương phâp hướng dẫn học sinh lăm băi tập định lượng vật lí 8”

II.Mục đích:

Học sinh biết vận dụng kiến thức lí thuyết đê học văo giải câc băi tập định lượng một câch đúng đắn, có sự tư duy tìm tòi sâng tạo Từ đó học sinh có lòng ham thích môn học vă tiềp thu băi nhanh hơn

Trang 2

III.Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Khảo sát thực trang làm bài tập định tính vật lí ở khốí 8 từ đó rút ra phương pháp hướng dẩn học sinh làm bài tâp định tính một cách phù hợp, đạt kết quả cao

- Đánh giá kết quả thu được

IV.Phương pháp nghiên cứu:

1.Phương pháp trò chuyện phỏng vấn:

Thông qua trò chuyện trao đổ với học sinh để biết được nhìn nhận của học sinh về chương trình vật lí 8 và những vướn mắc khi làm bài tập định lươnh vật lí 8

2.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh:

Nghiên cứu các bài tập của học sinh làm ra, so sánh với lúc chưa hương dân

để tìm ra biên pháp khắc phục

V Thời gian nghiên cứu:

Để thực hiện sáng kiến nay tôi đã khảo sát, nghiên cứu từ tháng 09/2005 đến tháng 04/ 2006

B- NỘI DUNG

CHƯƠNG I: Cơ sở lí luận của đề tài

Để viết sáng kiến kinh nghiệm này tôi dựa trên một số cơ sở sau:

1.Nội dung chương trình SGK vật lí 8

Trong chương trình SGK vật lí 8 đề cập đến hai chương:

- Chương I: Cơ học

Trang 3

- Chương II: Nhiệt học:

Trong hai chương này tổng hợp của rất nhiều kiền thức vật lí thcs nhau như:

- Chuyển động và lực

- Một số vấn đề về tĩnh học chất lưu

- Công và cơ năng

- Nhiệt năng và một số vấn đề về nhiệt học

Với lượng thời gian không nhiều 35 tiết / năm nhưng học sinh lớp 8 phải nắm rất nhiều kiến thức khác nhau và không dừng lại ở lí thuyết mà còn một lượng kiến thức khá lớn Đặc biệt là bài tập định lương ( 60 bài tập)

2.Sự phân bố thời gian giảng dạy:

Trong chương trình SGK vật lí 8 cũng dựa vào phương pháp thực nghiêm

là chủ yếu nên hầu hết thời gian là dành cho việc làm thí nghệm, phân tích kết quả thí nghiệm có trong SGK và rút ra kêtư luận Còn thời gian dành cho việc hướn dẩn học sinh làm bài tập là rất ít nhưng lượng bài tập trong SBT là khá lớn làm cho các em rất khó khăn khi làm bài tập ở nhà Mặc dù chương trình mới viết theo phương pháp “mở” tự học sinh tìm tòi, tư duy là chủ yếu Tuy nhiên tư duy của học sinh lớp 8 còn nhiều hạn chế nên vệc để học sinh làm được bài tập định tính thì việc hướng dẩn của giáo viên là rất quan trọng Từ đó học sinh mới lam được bài tập và áp dụng được vào làm các bài tập phần sau

CHƯƠNG II: Phương pháp hướng dẩn học sinh làm bài tập định

lượng vật lí 8:

Theo tôi mặc dù lượng kiến thức cần cung cấp cho học sinh là khá lớn nhưng giáo viên cần lựa chọn cóch thình bày các kjiến thức sao cho ngắn gọn để dành thời gian thích đáng cho việc rền luyện kĩ năng giải bài tập đinh lượng cho học sinh Do đó trong mỗi tiết dạy giáo viên nên dành ít nhất 5 phút để hướng dẩn học sinh làm bài tập ở nhà

Trong khi hướng dẩn giáo viên nên dự kiến hệ thống câu hỏi phù hợp Ban đàu giào viên có thể nêu các câu hỏi mang tính chất kiểm tra, chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã học sau đó tăng số câu hỏi then chốt, nhằm vào những mục đích nhận thức cao hơn đòi hỏi sự thông hiểu, phân tích , tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa

- Để làm được bài tập phần nào yêu cầu học sinh phải nắm được lí

thuyết và công thức có liên quan đến phần bài tập đó

Ví dụ:

Để làm được bai tập phần vận tốc – chuyển động cơ học học sinh cần nắm được:

Trang 4

+ Dấu hiệu nhận biết về chuyển động cơ học, tính tương đối của chuyển động

cơ học

+ Nêu được độ lớn vận tớc cho biết mức độ nhanh hay chậm của chuyển độngvà được xác định bằng đọ dài quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian

+ Công thức tính vận tốc: V=

t s

Trong đó: S: Quảng đường đi được ( k, m) t: Thời gian đi hết đoạn đường đó (h, s )

V: Vận tốc : (km/ h, m/ s) Hay để tính được vận tốc trung bình thi học sinh cần nắm được :

+ Chuyển động đều là chuyển động mà vận tốc có độ lớn không thay đổi theo thòi gian

+ Chuyển động không đều là chuyển đông mà vận tốc có độ lớn thay đổi theo thời gian

+ Công thức tínhvận tốc trung bình là : Vtb=

2 1

2 1

+ +

+ +

=

t t

s s t s

Trong đó ; S1= : Độ dài đoạn đương thứ nhất

S2 : Độ dài đoạn đương thứ hai

t1: Thời gian đi trên đoạn đường thứ nhất

t2 : Thời gian đi trên đoạn đường thứ hai

- Măt khác học sinh phải nắm được đơn vị đo các đại lượng đó là gì?

- Vận dụng được công thức để tính một đại lượng khi biết các đại lượng kia

Ví dụ:

Tứ công thức V=

t

S

S= V t…

- Khi hương dẫn GV nên cho học sinh đọc đề 2 lần Sau khi đọc xong GV yêu cầu học sinh tóm tắt bài một cách ngắn gọn hợp lí

Ví dụ:

Bài tâp 2.4 (SBT) : Một máy bay bay với vận tốc 800 km / h từ Hà Nội đến TP

HCM Nếu đường bay Hà Nội – TPHCM dài 1400 km , thì máy bay phải bay trong bao nhiêu lâu?

Học sinh phải tóm tắt được

Cho biết:

V = 800 km/ h

S= 1400km

Tìm t = ?

Trang 5

- Sau khi viết tóm tắt học sinh phải biết viết công thức xác định mối liên hệ giữa cái đã biết với cái chưa biết từ đó tìm ra phương án giải ngắn gọn nhất

+ Để tìm t ta áp dụng công thức nào? Yêu cầu học sinh viết công thức , tìm t

- Đối với những bài tập có thuật ngữ mới giáo viên nên giải thích cho học sinh hiểu

Ví dụ:Bài tập: 15.4 (SBT) Tính công suất của dòng nước chảy qua đập ngăn cao

25m xuông dưới , biết rằng lưu lương dòng nướn là 120 m3/ phút ( khối lượng riêng của nước là 1000 kg/ m3)

- Sau khi cho học sinh đọc bài xong giáo viên nên giải thích thật ngữ : Lưu lượng dòng nước là 120 m3 / phút cho biết cứ mổi phút lượng nước chảy qua đập ngăn là

120 m3

Đối với những dạng bài tập có liên quan đến vẽ hình thì giáoviên nên vẽ hình minh họa và hướn dẫn học sinh lam trên hình vẽ đó

Ví dụ: BT 14.7 (SBT)

Người ta dùng một măt phẳng nghiêng để kéo một vật có khối lượng 50 kg lên cao

2 m

a, Nếu không có ma sát thì lực léo là 125 N tính chiều dài của mặt phẳng nghiêng

b, Thực tế có ma sát và lực kéo là 150 N Tính hiệu suất của mặt phẳng nghiêng Sau lhi cho học sinh đọc xong giáo viên nên vẽ hình lên bảng:

h

F

Fms

Yêu cầu học sinh tóm tắt trình bày các bước giải Nhắc nhỡ học sinh hiệu suất cuỉa mặt phẳng nghiêng:

H= 100 % 2

1 x A

A

Với : A1 : Công có ích

A2 : Công toàn phần

Trên đây là phương pháp hướng dẫn học sinh làm bài tập mà tôi đã rút ra trong quá trình giang dạy

Hướng dẫn một số bài tập cụ thể:

Đối với bài tâp vật lí giáo viên không phải hướng dẩn hết mà chỉ hướng dẫn nhưỡng bài tập khó khi hướng dẫn giáo viên nên cho học sinh tìm tòi định hướng cách giải Giáo viên chỉ giải thích những thuật ngữ mới hướng dẫn học sinh đi những bước chính và yêu cầu học sinh tự giải

Cụ thể:

Bài 3: chuyển động đều, không đều

BT 3.1 đến BT 3.5 : Học sinh tự làm

Trang 6

Bài 3.6 Giáo viên hướng dẫn

Cho 1 học sinh đọc bài S2, V2,t2

Giáo viên vẽ hình S1,V1,t1

S3, V3,t3

Yêu cầu học sinh tĩm tắt

Cho biết:

Quảng đường AB: S1 = 45Km= 45 000 m ;

t1= 2h15phút = 8100 s

Quảng đường BC : S2= 30 Km = 30000m,

t2= 1440s

Quảng đường CD: S3 = 10 000m,

t3=900s

Tính : V1, V2,V3

Vtb

Vtb được tính theo cơng thức nào?

Bài 7: Aùp suất

BT7.1 đến BT 7.5 Học sinh tự làm

BT 7.6 : Giáo viên hướng dẫn

- Cho học sinh đọc bài

- Để tính áp suất ta áp dụng cơng thức nào? (p=

S

F

)

- Lực F do vật nào gây ra? ( trọng lượng của ghế và của gạo)

- Diện tích tiếp xúc của các chân ghế được tính như thế nào?

- Yêu cầu học sinh tĩm tắt bài:

Cho biết:

Gạo : m1= 60 kg

Ghế: m2 = 4 kg

S= 4x8= 32 cm2 =0.0032 m2

Tìm p

Bài 12: Sự nổi.

BT 12.1 đến BT 12.5 học sinh tự làm

- Yêu cầu học sinh đọc bài

- Giáo viên vẽ hình , hướng dẫn trên hình

Trang 7

………

h1

yêu cầu học sinh lên tóm tắt

Cho biết:

a= 4m, b= 2 m, h1= 0.5 m

d= 10000 N/ m3

Tìm : p=?

Muốn tìm p ta áp dụng công thức nào? (p= F A = d V) với V là phần thể tích của vật chìm trong chất lỏng.

BT 12.7

-Học sinh đọc bài

-Tóm tắt bài

Cho biết:

dv = 26000 N/ m3

Pn = 150 N

dn = 10000N / m3

tìm: P =?

Để tìm P ta áp dụng công thức nào?P= d.V (1)

Tìm V bằng cách nào? Giáo viên hướng dẫn : F A = P- P n d n V= d v V

Yêu cầu học sinh tự rút V thế vào ( 1 )

Bài 25 : phương trình cân bằng nhiệt

BT 25.1 đến 25.5 học sinh tự làm

Bài tập 25.6 Giáo viên hướng dẫn

- Học sinh đọc bài

- Vật nào tỏa nhiệt, vật nào thu nhiệt?

- Tóm tắt:

Cho biết:

Đồng: m1 = 0.2 kg

t1= 1000C ,C1

Nước : m2 = 0.783 kg

t2= 150C ,C2 = 4186 J/ kg.k

Nhiệt lượng kế : 3 = 0.01 kg

t3= t2= 150C ,C3 = C1

t= 17 0 C

tìm C1= ?

Tính nhiệt lượng tỏa ra, nhiệt lượng thu vào Viết phương trình cân bằng nhiệt , rút C1

- Ngoài ra giáo viên cũng có thể cho thêm một số bài tập vận dụng nhằm cũng cố kĩ năng giải bài tập cho học sinh

Trang 8

Như vậy tôi cũng nói thêm rằng ; việc hướng dẫn ở đây không phải là làm thay cho học sinh mà chỉ hướng dẫn học sinh con đường đi tìm kết quả chứ không đưa ra kết quả do đó vẫn kích thích được tính tự giác, tích cực của học sinh , mặt khác học sinh có khả năng làm bài tâp từ đó hứng thú hơn với môn học

CHƯƠNG 3: Kết quả nghiên cứu;

Mặc dù thời gian nghiên cứ đề tài này chưa được lâu nhưng qua quá trình khảo sát nghiên cứu học sinh khối 8 trương THCS Hoàng Văn Thụ tôi thấy:

- Ở các lớp được hướng dẫn: 8A,8B,8C nhìn chung học sinh hăng hái hơn khi lên làm bài tập, cảm giác le ngại, lo âu giảm đi tỉ lệ học sinh xung phong lên làm bài tập, phát biểu xây dụng baì tăng lên và khả năng làm bài tập đúng của các

em tăng lên

- Tôi đã đưa ra một bài tập cụ thể và hướng dẫn ở các lớp 8A, 8B, 8C và không hướng dẫn ở các lớp 8D, 8E, 8H, yêu cầu học sinh về nhà làm sau đó thu bài làm của các em để kiểm tra

Đề ra :Đun một nồi nhôm có klhối lượng 1 kk chứa 5 lít nước ở nhiệt độ 20 0C cho đến sôi bằng bếp củi khô Hãy tính:

a, Nhiệt lượng cần thiết để cung cấp cho nước biết nhiệt dung riêng của nhôm là

880 J/ kg.K.nhiệt dung riêng của nước là 4200 J / kg.K

b, Khối lượng củi dùng để đun biết hiệu suất của bếp là 50% và năng suất tỏa nhiệt của bếp là 10.106 J/ kg

Kết quả thu được :

Lớp Tổng số HS Điểm >= 5 Điểm < 5

Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ %

Trang 9

C KẾT LUẬN

Từ kết quả trên cho thấy để kích thích tính tìm tòi sáng tạo của học sinh và để học sinh làm bài tập ở nhà được tốt thì việc hướng dẫn của giáo viên trên lớp đóng một vai trò hết sức quan trọng Nó giúp cho học sinh nắm bài , làm bài tập nhanh hơn, tốt hơn từ đó thự tin hơn khi lên lớp và trả lời bài củ Việc hướng dẫn

ở đây không phải là làm thay cho học sinh mà chie hướng dẫn học sinh biết hướng giải một số bài tập khó từ đó chính học sinh phải tìm ra các bước giải cụ thể Tuy nhiên việc hướng dẫn này chỉ có kết quả tốt khi được kết hợp với phương pháp dạy học phù hợp của thầy và việc nắm kiến thức, chủ động , tự giác , tích cực của trò

Qua nội dung trao đổi trên bản thân tôi mong muốn cùng các đồng nghiệp thảo luân, đóng góp ý kiến nhằm không nghừng nâng cao tay nghề về năng cao chất lượng dạy học môn vật lí ở trường THCS.Tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn

EaKiết tháng 3 năm 2007

Người viết Hoàng Thị Thủy

Ngày đăng: 24/04/2016, 13:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w