Thuế và các vấn đề liên quan (việc gian lận thuế tiêu thụ đặc biệt hiện nay) Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau theo quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì lại có định nghĩa về thuế khác nhau. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước”. Còn theo Paul A.Samuelson “Thuế là một dạng cưỡng bức quan trọng. Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật. Sự thật là toàn bộ công dân tự mình đặt gánh nặng thuế lên mình và mỗi công dân cũng được hưởng phần hàng hóa công cộng do chính phủ cung cấp”. Từ một số định nghĩa khác nhau về thuế, ta có thể có định nghĩa chung về thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Trang 1MỤC LỤC
I TỔNG QUAN VỀ THUẾ
1 KHÁI NIỆM VÀ TÍNH CHẤT CƠ BẢN
a) Khái niệm
II Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế Đứng trên các góc độ khác nhau theo quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì lại có định nghĩa về thuế khác nhau
III Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước”
IV Còn theo Paul A.Samuelson “Thuế là một dạng cưỡng bức quan trọng Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật Sự thật là toàn bộ công dân tự mình đặt gánh nặng thuế lên mình và mỗi công dân cũng được hưởng phần hàng hóa công cộng do chính phủ cung cấp”
V Từ một số định nghĩa khác nhau về thuế, ta có thể có định nghĩa chung
về thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
a) Tính chất cơ bản của thuế
VI Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác Các đặc trưng đó là:
Trang 2− Tính bắt buộc
VII Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước
VIII Đặc điểm này cho thấy việc đóng góp thuế cho Nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc đối với công dân Mọi công dân làm nghĩa vụ đóng thuế theo những luật thuế được cơ quan quyền lực tối cao quy định và nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế theo những hình thức nhất định
− Tính không ngang giá và không hoàn trả trực tiếp
IX Tính không ngang giá có thể được hiểu là chủ thể nộp thuế có thể không phải là chủ thể được thụ hưởng lợi ích từ hoạt động nộp thuế của chính mình mình
X Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự hoàn trả trực tiếp nào cho người nộp thuế
1 PHÂN LOẠI THUẾ
a) Phân loại theo phương thức đánh thuế (cơ chế đánh thuế)
− Thuế trực thu: loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của
người nộp thuế Ví dụ: Thuế thu nhập đối với người có thu nhập
cao,thuế thu nhập doanh nghiệp,thuế nhà đất…
− Thuế gián thu: loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và
dịch vụ Ví dụ: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất
khẩu và nhập khẩu
b) Phân loại theo đối tượng đánh thuế
− Thuế thu nhập: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân
Trang 3− Thuế tiêu dùng: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất – nhập khẩu,
− Thuế tài sản: thuế nhà đất, thuế trước bạ,
c) Phân loại theo phương pháp tính thuế
− Thuế đơn vị (thuế cố định): thuế được tính trên một lượng cố định trên
mỗi đơn vị hàng hóa được bán, mua.
− Thuế tỉ lệ: thuế đánh theo tỉ lệ phần trăm trên giá hàng hóa.
ĐƠN VỊ
1 KHÁI NIỆM THUẾ ĐƠN VỊ
XII Thuế đơn vị là khoản thuế cố định đánh trên mỗi đơn vị hàng hoá, dịch
vụ được bán ra Ví dụ: Chính phủ áp một loại thuế lên rượu vang là 3,4 USD cho
mỗi lít rượu và thuế thuốc lá là 0,34 USD cho mỗi gói thuốc
XIII Chức năng cơ bản của thuế đơn vị là nhằm giảm thiểu sự tiêu dùng một loại hàng hoá, dịch vụ
1 TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ ĐƠN VỊ ĐẾN PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG MÔ HÌNH CÂN BẰNG CỤC BỘ
XIV Mô hình cân bằng cục bộ là mô hình chỉ nghiên cứu hành vi của thị trường trực tiếp chịu sự tác động của thuế Phù hợp với những thị trường có quy mô tương đối nhỏ so với toàn bộ nền kinh tế Phương tiện phân tích của mô hình cân bằng cục bộ là mô hình cung và cầu
a) Thuế đơn vị tác động lên đường cầu
XV Gọi D,S lần lượt là đường cầu và đường cung của rượu
XVI Trước khi áp thuế, lượng rượu và giá tương ứng là Q0 và P0
Trang 4XVII Trên hình 1, xét điểm a tùy ý Điểm này phản ánh mức giá cao nhất mà người mua sẵn sàng chi trả cho Qa là Pa Sau khi chính phủ đánh thuế đơn
vị u, giả sử người mua vẫn sẵn lòng trả Pa để có được Qa lít rượu, tuy nhiên khi đó, nhà sản xuất không nhận được trọn vẹn số tiền mà chỉ nhận được (Pa-u), thể hiện
bằng điểm b
XVIII Ngoài điểm A, ta có thể chọn bất kì điểm nào trên đường cầu thì đều có kết quả tương tự Chẳng hạn xét điểm m, sau khi có thuế đơn vị, mức giá nhà sản xuất nhận được cho đầu ra Qm là tại điểm n (n=m-u) Lặp lại quá trình đó tại mỗi điểm trên đường cầu, ta có được đường cầu D’ mới nằm phía dưới đường cầu
cũ một khoảng cách là u USD
XIX Bây giờ chúng ta tìm lượng rượu cân bằng sau đánh thuế Trên hình 2, ta thấy mức sản lượng cân bằng mới là Q1, như vậy thuế đã làm giảm số lượng hàng hóa bán ra, từ Q0 xuống Q1
XX Có 2 mức giá ở điểm cân bằng mới: giá người bán nhận được và giá người mua phải trả
- Mức giá người bán nhận được là Pn – điểm giao nhau của đường cung và đường cầu sau khi bị áp thuế
- Mức giá người mua phải trả là Pg=Pn+u
XXI Trong trường hợp này, ta thấy người mua bị thiệt hơn, vì với mức giá mới Pg người mua phải trả cao hơn so với mức giá gốc P0, nhưng do mức giá người tiêu dùng trả không tăng đúng bằng số thuế (Pg-P0<u) nên người bán cũng phải trả một phần thuế do nhận được mức giá bán thấp hơn (Pn<P0) Như vậy thuế gây ra
Hình 1 Tác động của thuế đơn vị làm dịch chuyển đường cầu
Trang 5thiệt hại cho người mua lẫn người bán Số thuế nhà nước thu được bằng sản lượng
sản phẩm tiêu thụ nhân với thuế đơn vị u, chính là diện tích hình chữ nhật kfhn
XXII
XXIII Hình 2 Tác động của thuế đến đường cầu
XXIV Ví dụ: Giả sử chính phủ đánh thuế lên người tiêu dùng 1$ cho
mỗi gói thuốc lá
Trang 6P0
f k
h XXV
XXVI Hình 3 Tác động thuế đơn vị lên đường cầu thuốc lá
XXVII Ta có D, S lần lượt là đường cầu và đường cung của thuốc lá XXVIII Trước khi áp thuế, lượng thuốc và giá tương ứng là Q0 =20 và P0
= 30$ Sau khi chính phủ đánh thuế đơn vị u = 1$ Vì chính phủ đánh thuế lên người tiêu dùng nên thuế tác động đến đường cầu, đường cầu D dịch chuyển sang trái (xuống dưới) một khoẳng đúng bằng 1$, ta được đường cầu D’
XXIX Điều này dẫn đến 3 hệ quả:
− Tổng lượng thuốc lá giảm từ Q 0 = 20 xuống Q’
− Giá mà người tiêu dùng sẵn sàng trả cho thuốc lá tăng từ P 0 = 3$ lên
P g = 3.5$.
− Tuy nhiên, số tiền mà người sản xuất nhận được giảm từ P 0 = 3$ xuống P n = 2.5$.
XXX Mặc dù thuế đánh trên người tiêu dùng nhưng không chỉ có người tiêu dùng chịu gánh nặng về thuế mà người sản xuất cũng chịu gánh nặng thuế do nhận được mức giá bán thấp hơn Người tiêu dùng phải trả một số tiền là Pg = P0 + u
Pn
D n
Pg
Q1 Q0
S
Trang 7P0
f k
h
XXXI Như vậy thuế gây ra thiệt hại cho người mua lẫn người bán Số thuế nhà nước thu được bằng sản lượng sản phẩm tiêu thụ nhân với thuế đơn vị u,
chính là diện tích hình chữ nhật kfhn
a) Thuế đơn vị tác động lên đường cung
XXXII Giả sử chính phủ đánh thuế lên người sản xuất 1$ cho mỗi gói thuốc lá
XXXIII
XXXIV
XXXV Ta có D, S lần lượt là đường cầu và đường cung của thuốc lá XXXVI Trước khi áp thuế, lượng thuốc và giá tương ứng là Q0 =20 và P0
= 30$ Sau khi chính phủ đánh thuế đơn vị u = 1$ Vì chính phủ đánh thuế lên người sản xuất nên thuế tác động đến đường cung, đường cung S dịch chuyển sang trái (lên trên) một khoảng đúng bằng 1$, ta được đường cầu D’
XXXVII Điều này dẫn đến 3 hệ quả:
− Tổng lượng thuốc lá giảm từ Q 0 = 20 xuống Q 1
n
Hình 4 Thuế đơn vị tác động lên đường cung
D
Pn
Pg
Q1 Q0
S
Trang 8S
D’
0
P
Q D
Pg
Q1
− Giá mà người tiêu dùng sẵn sàng trả cho thuốc lá tăng từ P 0 = 3$ lên
P g = 3.5$.
− Tuy nhiên, số tiền mà người sản xuất nhận được giảm từ P 0 = 3$ xuống P n = 2.5$.
XXXVIII Mặc dù thuế đánh trên người sản xuất nhưng không chỉ có người sản xuất chịu gánh nặng về thuế mà tiêu dùng cũng chịu gánh nặng thuế do phải trả
số tiền phải trả là Pg = P0 + u
XXXIX Như vậy thuế gây ra thiệt hại cho người mua lẫn người bán Số thuế nhà nước thu được bằng sản lượng sản phẩm tiêu thụ nhân với thuế đơn vị u,
chính là diện tích hình chữ nhật kfhn
XL Nhìn chung, thuế đơn vị tác động lên đường cung cũng đem lại kết quả tương tự với tác động của thuế lên đường cầu.
− Giá tăng từ P 0 lên P g
− Số tiền người sản xuất nhận được giảm từ P 0 xuống P n
− Lượng giảm từ Q 0 xuống Q 1
Thuế đơn vị gây ra độ lệch giữa mức giá mà người tiêu dùng trả và mức giá mà người cung cấp nhận được.
a) Tác động của thuế phụ thuộc độ co giãn đường cung:
a.1 Tác động của thuế khi cung co dãn hoàn toàn
XLI
Hình 5 Tác động của thuế khi đường cung co giãn hoàn toàn
Trang 9D’
0
P
Q D Pn
E1 Q1 = Q0
XLII.Khi chưa đánh thuế, thị trường cân bằng tại điểm E với lượng và giá tương ứng là P0 và Q0 Khi chính phủ đánh thuế đơn vị là u, đường cầu D dịch chuyển xuống một đoạn bằng với mức thuế u, từ D tạo ra D’
XLIII Đường cầu mới D’ cắt đường cung S tại điểm cân bằng mới E1
với số lượng cầu là Q1 Như vậy, lúc này người tiêu dùng phải trả mức giá Pg=Po+u cao hơn ban đầu.Tuy nhiên mức giá người sản xuất nhận được Pn = P0, bằng với
mức giá người sản xuất nhận được khi chưa đánh thuế Vậy, người tiêu dùng là
người chịu hoàn toàn gánh nặng thuế
a.2 Tác động của thuế khi đường cung hoàn toàn không co dãn:
XLIV
XLV.
XLVI
XLVII Khi chưa đánh thuế, thị trường cân bằng tại điểm E với lượng và giá tương ứng là P0 và Q0 Khi chính phủ đánh thuế đơn vị là u, đường cầu D dịch chuyển xuống một đoạn bằng với mức thuế u, từ D tạo ra D’
XLVIII Đường cầu mới D’ cắt đường cung S tại điểm cân bằng mới E1
với số lượng cầu là Q1 = Q0 như ban đầu Như vậy, lúc này người tiêu dùng chỉ phải trả mức giá Pg=P0 như ban đầu.Tuy nhiên mức giá người sản xuất nhận được Pn = P0
- u, giảm xuống đúng bằng số thuế đơn vị u Vậy, trong trường hợp cung hàng hoá hoàn toàn không co dãn, giá hoàn toàn không tăng thì người sản xuất là người chịu
hoàn toàn gánh nặng thuế
Hình 6 Tác động của thuế khi đường cung hoàn toàn không co giãn
Trang 10a) Tác động của thuế phụ thuộc độ co giãn đường cầu:
a.3 Tác động của thuế khi đường cầu co dãn hoàn toàn:
XLIX
L
LI Hình 7 Tác động của thuế khi đường cầu co giãn hoàn toàn
LII Khi chưa đánh thuế, thị trường cân bằng tại điểm E với lượng và giá tương ứng là Po và Qo Khi chính phủ đánh thuế đơn vị là u, đường cung S dịch chuyển lên một đoạn bằng với mức thuế u, từ S thành S’
LIII Đường cung mới S’ cắt đường cầu D tại E1 với sản lượng giảm xuống là
Q1 và giá P1=Po Tức là mức giá mà người tiêu dùng phải trả sau khi đánh thuế vẫn
bằng mức giá ban đầu Vậy, người tiêu dùng không chịu gánh nặng thuế.
a.4 Tác động của thuế khi đường cầu hoàn toàn không co dãn:
LIV
LV.
LVI Hình 8 Tác động của thuế khi đường cầu hoàn toàn không co giãn
Trang 11LVII.Khi chưa đánh thuế, thị trường cân bằng tại điểm E với lượng và giá tương ứng là P0 và Q0 Khi chính phủ đánh thuế đơn vị là u, đường cung S dịch chuyển lên một đoạn bằng với mức thuế u, từ S thành S’
LVIII Đường cung mới S’ cắt đường cầu D tại E1 làm giá muối tăng lên
từ P0 lên P1 và sản lượng Q1=Q0 như ban đầu Như vậy, lúc này người tiêu dùng phải trả mức giá P1=P0+u cao hơn ban đầu Vậy, Người tiêu dùng là người chịu hoàn
toàn gánh nặng thuế
LIX Còn về phía người sản xuất, giá trước và sau khi đánh thuế không thay đổi
giãn thì người mua gánh chịu thuế càng ít Còn nếu đường cung càng co giãn thì người mua càng có khuynh hướng chuyển sang sử dụng sản phẩm khác khi giá cả tăng, người cung cấp sẽ chịu gánh nặng thuế càng nhiều.
LXI. Nếu người mua tiêu dùng một lượng hàng hoá không đổi với bất kỳ mức giá nào, thì họ phải gánh chịu toàn bộ gánh nặng thuế Tương tự đối với nhà cung cấp cũng vậy.
1 KẾT LUẬN:
LXII. Từ việc phân tích tác động của thuế đơn vị trong mô hình cung và cầu, ta
có thể rút ra những kết luận như sau:
− Tác động kinh tế của thuế đơn vị không phụ thuộc vào việc thuế đánh vào người bán hay người mua mà cả hai cùng chịu gánh nặng thuế
− Tác động kinh tế của thuế đơn vị phụ thuộc vào độ co giãn cung cầu
LXIII.
LXVII Hoàn toàn
không co giãn
LXVIII Người tiêu dùng gánh chịu toàn bộ thuế
LXIX Người sản xuất gánh chịu toàn bộ thuế LXX Co giãn
hoàn toàn
LXXI Người sản xuất gánh chịu toàn bộ thuế
LXXII Người tiêu dùng gánh chịu toàn bộ thuế LXXIII
Trang 12LXXIV. THỰC TRẠNG GIAN LẬN THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT (TTĐB)
LXXV Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, dịch vụ
LXXVI Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là những loại hàng hoá, dịch
vụ không thật cần thiết, có hại cho con người hoặc ảnh hưởng đến tiêu dùng (Theo quy định tại điều 2 luật thuế tiêu thụ đặc biệt, điều 2 Nghị định 26) Ví dụ:
− Đồ dùng xa xỉ như: ô tô, tàu bay, du thuyền, kinh doanh casino, kinh doanh golf,
…
− Sản phẩm tạo ra ngoại ứng tiêu cực, gây chi phí cho bên thứ ba không phải người mua người bán như: thuốc lá, vũ trường, kinh doanh karaoke, rượu bia,…
− Sản phẩm sản xuất trong nước còn thiếu như: xăng, chế phẩm xăng,…
LXXVII. Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân có sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
1. CÁC HÌNH THỨC GIAN LẬN THUẾ TTĐB HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
LXXVIII. 1 Trốn thuế, tránh thuế TTĐB thông qua hình thức chuyển giá
LXXIX.Chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa Thông qua việc tác động đến giá cả, doanh nghiệp hay các cơ sở sản xuất có thể làm tăng hoặc giảm lượng thuế TTĐB phải nộp
LXXX Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá Nhưng giao kết về
giá chưa đủ để kết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá Giá giao kết là
cơ sở để xem xét hành vi chuyển giá Chúng ta cũng chỉ có thể đánh giá một giao dịch có chuyển giá hay không khi so sánh giá giao kết với giá thị trường Nếu giá
Trang 13giao kết không tương ứng với giá thị trường thì có nhiều khả năng để kết luận rằng giao dịch này có biểu hiện chuyển giá
LXXXI Theo luật về thuế TTĐB của Việt Nam:
LXXXII Đối với hàng hoá sản xuất trong nước, giá tính thuế TTĐB được xác định như sau:
LXXXIII Giá tính thuế TTĐB =
LXXXIV Ví dụ: Các thức công ty Foster’s Việt Nam gian lận thuế tiêu thụ đặc biệt (2001)
LXXXV Chúng ta hãy xem xét cách thức mà Foster ‘S Việt Nam vào năm
2001 sử dụng để tránh né thuế tiêu thụ biệt bằng việc lập ra một công ty TNHH Foster ‘s Việt Nam để tiêu thụ sản phẩm nhưng vẫn cùng chủ đầu tư nhằm tránh phần thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào mặt hàng bia chai ở khâu sản xuất
LXXXVI Giá bia Foster‘s mà các đại lí bán ra là 240.000 VND/két với thuế suất tiêu thụ đặc biệt cho mặt hàng bia chai là 75% thì mỗi két bìa Foster ‘s Việt Nam phải đóng thuế TTĐB là:
LXXXVII Giá tính thuế TTĐB =
LXXXVIII = = 137.143 VND
LXXXIX Thuế tiêu thụ đặc biệt = 137.143*75%= 102.857 VND
XC Chủ đầu tư của Foster‘s Việt Nam thành lập thêm Công ty TNHH Foster‘s Việt Nam chỉ chuyên thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm của hai nhà máy sản xuất bia Foster‘s đã có Giá mỗi két bia mà các nhà máy bia Foster‘s bán cho Công ty tiêu thụ Foster‘s Việt Nam chỉ là 137.500 VND và chỉ chịu khoản thuế tiêu thụ đặc biệt là:
XCI Thuế TTĐB cho mỗi két bia = * 75%=58.929 VND
XCII Mức tiết kiệm thuế đầu ra so với trước khi thành lập công thụ TNHH Foster‘s Việt Nam chuyên về tiêu thụ là: 102.857 - 58.929 = 43.928đ XCIII Như vậy rõ ràng chỉ bằng cách lập thêm một công ty con chuyên
về tiêu thụ sản phẩm và thực hiện chuyển giá một cách hợp lí trong nội bộ mà chủ đầu tư của Foster‘s đã tiết kiệm được tới 42.7% thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp nhờ