Cùng với xu thế chung của thời đại quốc tế hóa và sự hợp tác hóa, nước ta cuốn theo dòng xoáy của sự phát triển hội nhập nền kinh tế thế giới. Sự ra nhập của nước ta vào AEC, TPP .. đánh dấu bước phát triển và thách thức lớn đó là sự cạnh tranh tự do và mạnh mẽ của các tập đoàn kinh tế, thị trường chứng khoán ngày càng bùng nổ. Trong bối cảnh đó, kiểm toán là một trong những ngành, một trong những lĩnh vực thương mại dịch vụ được quan tâm trong đàm phán. Việc công khai hóa các bản báo cáo tài chính được chúng nhận trung thực hợp lý bởi một bên hoàn toàn độc lập đã khiến cho kiểm toán ngày càng trở nên phổ biến đối với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế.Từ đó yêu cầu người kiểm toán viên phải có kỹ năng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, tính độc lập, tính thận trọng, tôn trọng hiến pháp pháp luật, tôn trọng bí mật. Đây là những yêu cầu không thể thiếu của kiểm toán viên cho một báo cáo tài chính minh bạch. Trong đó tính độc lập và tính thận trọng là hai nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp quan trọng nhất mà bất kỳ kiểm toán viên nào cũng phải có. Chắc chắn những thành viên của gia đình kiểm toán Việt Nam đã từng biết tới sự kiện tập đoàn năng lượng lớn nhất nước Mỹ tập đoàn Enron sụp đổ dẫn tới sự sụp đổ của công ty kiểm toán AA vì đã đưa ra những báo cáo kiểm toán sai lệch về tình hình tài chính của Enron. Điều này đã làm cho đại gia kiểm toán đứng thứ 5 của Mỹ Arthur Andersen phải sụp đổ.
Trang 1Mục lục
Đặt vấn đề
Nội dung
I Sự cần thiết của tính độc lập và tính thận trọng đối với kiểm toán viên: 3
1 Tính độc lập 3
2 Tính thận trọng 4
II Thực tiễn của tính độc lập và tính thận trọng 4
1 Khái quát về tập đoàn Enron 4
2.2.2 Sự sụp đổ của tập đoàn Enron : 5
2.Khái quát về tập đoàn Worldcom 7
III Bài học rút ra: 19
IV.Liên hệ thực tiễn Việt Nam: 20 Tổng Kết
Trang 2Đặt vấn đề:
Kiểm toán là hoạt động nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu,
số liệu kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và các quy định hiện hành
Kiểm toán làm gia tăng giá trị cho các Báo cáo tài chính (BCTC) Từ đó những người quan tâm tới tình hình tài chính của đơn vị như: Nhà đầu tư, các ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp, người lao động, nhà nước… để đưa ra các quyết định kinh tế như: Đầu tư, cho vay, cấp tín dụng thương mại, bán hàng, đưa ra các chính sách thuế phù hợp… Những nhận xét đánh giá của những công ty này chính là căn
cứ cho các nhà đầu tư khi họ cân nhắc có nên đầu tư hay không dựa vào các báo cáo kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các số liệu kế toán của một công ty Điều gì sẽ xảy ra nếu các công ty kiểm toán này đưa ra những nhận xét, đánh giá không xác đáng về BCTC của công ty được kiểm toán? Sau đây chúng ta tìm hiểu
về tính thận trọng, tính độc lập của kiểm toán viên trong sự sụp đổ của các công ty
Trang 3B Nội dung :
I Sự cần thiết của tính độc lập và tính thận trọng đối với kiểm toán viên:
Kiểm toán là hoạt động nhắm xác minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu,
số liệu kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, đảm bảo việc tuân thủ các chuẩn mực và các quy định hiện hành Kiểm toán làm gia tăng giá trị cho các báo cáo tài chính Từ đó những người quan tâm tới tình hìnhtài chính của đơn vị như: nhà đầu tư, các ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp, người lao động, nhà nước… Để đưa ra các quyết định kinh tế như: đầu tư cho vay,cấp tín dụng thương mại, bán hàng, đưa ra các chính sách thuế phù hợp…
Những nhận xét đánh giá của công ty này chính là căn cứ cho các nhà đầu tư khi họcân nhắc có nên đầu tư hay không dựa vào các báo cáo kiểm toán về tính trung thực
và hợp lý của các số liệu kế toán của một công ty Điều gì sẽ xảy ra nếu các công tykiểm toán này đưa ra những nhận xét đánh giá không xác đáng về báo cáo tài chínhcủa công ty được kiểm toán?
1 Tính độc lập
Độc lập được coi là một nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải độc lập về mặt chuyên môn, độc lập về mặt kinh tế, độc lập về mặt tình cảm không bị chi phối hoặc tác động của bất kỳ lợiích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình:
Độc lập về tư tưởng: là trạng thái suy nghĩ cho phép đưa ra ý kến mà không chịu ảnh hưởng của những tác động trái với đánh giá chuyên nghiệp, cho phép một cá nhân hành động một cách chính trực, khách quan và có sự thận trọng nghề nghiệpĐộc lập về hình thức: là không có các quan hệ thực tế và hoàn cảnh có ảnh hưởng đáng kể làm cho bên thứ ba hiểu là không độc lập, hoặc hiểu là tính chính trực,
Trang 4khách quan và thận trọng nghề nghiệp của nhân viên công ty hay thành viên của nhóm cung cấp dịch vụ đảm bảo không được duy trì
2 Tính thận trọng
Người làm kiểm toán phải làm thực hiện công việc kiểm toán với đầy đủ năng lựcchuyên môn cần thiết, với sự thận trọng cao nhất và tinh thần làm việc chuyên cần Kiểm toán viên có nhiệm vụ duy trì, cập nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lí và các tiến bộ kĩ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc
Mỗi nhận xét, kết luận của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán có khả năng quyết định đến số phận của cả một công ty với hàng nghìn con người làm việc ở đó.Bởi vậy, kiểm toán viên phải thận trọng trong việc kiểm tra sổ sách, tìm đủ bằng chứng thích hợp mới đưa ra những quyết định cuối cùng Tính thận trọng còn thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của kiểm toán viên
II Thực tiễn của tính độc lập và tính thận trọng
*, Trên thế giới :
1 Khái quát về tập đoàn Enron
Enron là một tập đoàn cung cấp hàng hóa, dịch vụ và năng lượng hàng đầu của Mỹ.Lĩnh vực hoạt động chính của công ty đã mở rộng dần từ vận chuyển và phân phối khí đốt sang buôn bán xăng dầu và khí đốt, xây dựng các nhà máy điện và cung cấpđiện
Được thành lập từ năm 1985 trên cơ sở sáp nhập 2 công ty Houston Natural Gas
và Internorth of Omaha, cái tên Enteron (ruột) xuất phát từ ý tưởng cho rằng đó là
bộ phận không thể thiếu trong quá trình tiêu hóa Enron nhanh chóng trở thành công ty đa quốc gia hùng mạnh Với trụ sở chính tại bang Texas của Mỹ, công ty
có hoạt động ở trên 30 quốc gia trên thế giới bao gồ cả Việt Nam , sử dụng hơn 21.000 nhân viên trong đó có7.500 nhân viên làm việc tại tòa nhà 50 tầng ở trung tâm Houston Ngoài ra, Enron kiếm rất nhiều tiền từ việc mua bán trên thị trường
Trang 5năng lượng.Trên thực tế, họ chỉ là những nhà buôn bán sắp xếp hợp đồng giữa người mua và người bán rồi lấy tiền hoa hồng.
Nhờ hoạt động tài chính thuận lợi, Enron đã vươn sang các mặt hàng như: giấy, nước, nhựa, kim loại, và phương tiện viễn thông
Năm 2000, Enron là một trong bảy công ty của Mỹ có doanh số hơn 100 tỷ USD lợi nhuận lên tới 10 tỷ USD Hệ thống thông tin đại chúng, điển hình là tạp chí Fortune , Luôn đánh bóng Enron là công ty có nhiều tiềm năng nhất với số vốn kinh doanh là 63 tỷ USD
*, Khái quát về công ty kiểm toán Arthur Anderson ( A&A)
Công ty kiểm toán A&A thành lập vào năm 1913.Công y do Arthur Anderson thành lập khi ông ở tuổi 28, từng lãnh đạo công ty cho tới năm 1947 khi ông mất, làm một người theo đuổi các chuẩn mực đặc biệt cao trong nghành kiểm toán kế toán Là một biểu trưng về tính trung thực, ông cho rằng trách nhiệm cảu kiểm toánviên là vì lợi ích của nhà đầu tư chứ không phải là ban giám đốc của khách
hàng.Đã có nhiều trường hợp Arthur Anderson chịu mất khách hàng lớn chứ khôngchịu ký xác nhận cho các báo cáo không chính xác.Người lập kế nhiệm Leonard Spacek tiếp tục nhấn mạnh vào sự trung thực này Trong nhiều năm, khẩu hiệu của Arthur Anderson là “ Think straight, talk straight”
Công ty có trụ sở đặc biệt tại Chicago đã từng là công ty kiểm toán lớn thứ năm thếgiới hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, thuế, dịch vụ tư vấn
2.2.2 Sự sụp đổ của tập đoàn Enron :
Enron là một công ty năng lượng lớn nhất nước Mỹ phá sản kéo theo công ty tư vấn kiểm toán hàng đầu hế giới Arthur Anderson sụp đổ Đây chỉ là một minh chứng sống động của sự thất bại trong ngành kiểm toán Mỹ Sai lầm của ngành kiểm toán Mỹ chủ yếu là do nhân viên kiểm toán ( CPA) và do danh nghiệp bị kiểm toán “ ăn rơ” cùng nhau Các CPA vốn là những người thiếu tính độc lập và ngay chính bản thân họ cũng không giữ tính thận trong trong khi tác nghiệp và cả
sự hoài nghi cần thiết
*, Thiếu tính độc lập tự chủ:
Trang 6Đây là nhân tố quan trọng bảo đảm chất lượng kiểm toán, khiến cho xã hội tin tưởng vào các công ty kiểm toán Tuy nhiên tính độc lập của công ty kiểm toán A&A của Mỹ lại bị “ lợi nhuận” đe dọa nghiêm trọng.
Thu nhập từ các nghành không liên quan đến kiểm toán cao hơn rất nhiều so với thu nhập của nhân viên làm trong ngành kiểm toán Các ngành không luên quan đến kiểm toán có thể là ngành dịch vụ đại lý, tư vấn về thuế và tư vaansq uản lý.Theo thống kê của công ty kiểm toán “ Big Five” , ở Mỹ, tỷ lệ thu nhập của ngành không liên quan đến kiểm toán tăng rất nhanh, trong khi đó tỷ lệ thu nhập của ngành kiểm toán thì ngược lại
Enron Corp trả Arthur Anderson chi phí kiểm toán 25 triệu , chi phí tư vấn và các phí dịch vụ khác lên đến 27 triệu USD, và tổng số 52 triệu USD Như thế , có nghĩa
là công ty Enron Corp đã trả cho Arthur Anderson khoảng 1 triệu USD trong tuần, chủ tịch tiền nhiệm của SEC Arthur Levitt đã lên tiếng phê bình công ty Arthur Anderson thiếu tính độc lập, tự chủ khi làm việc Ông cho rằng một trong những nguyên nhân chính là các công ty kiểm toán lại cung cấp cả dịch vụ tư vấn quản lý.Mối quan hệ của Arthur Anderson và Enron Corp không chỉ tư vấn và kiểm toán
mà còn là nguồn cung cấp lãnh đạo tài chính Kế toán trưởng Richard Causay của Enron nguyên là người của Arthur Anderson Gíam đốc tài chính của Enron trưỡ Andrew Fastow là Jeffrey Mcmaho nguyên cũng từ Arthur Anderson chuyển sang Ngoài ra công ty Artthur Anderson đã cản trở công việc điều tra , hủy những tài liệu lưu trữ của mình có liên quan đến Enron, chỉ giữ lại những tài liệu tối thiểu theo quy định của luật
Chính những thông tin sai lệch về khả năng quản lý, Enron được quảng cáo rất hiệuquả qua công ty kiểm toán Arthur Anderson và các nhà phân tích phố Wall , nhờ vậy số người mua cổ phiếu của công ty cao kỷ lục Chi nhánh Houston của Arthur Anderson đã đưa ra những báo cáo kiểm toán sai lệch nhằm có lợi cho Enron đã được nhận 1 triệu đô trên tuần còn tham cả việc tìm kiếm đối tác cho Enron Số tiềnkếch xù trên đã làm mờ mắt các kiểm toán viên và họ dễ dàng bỏ qua nguyên tắc Tuy khẳng định răng Arthur Anderson đã làm tất cả để hạn chế thấp nhất khả năng
đổ vỡ của Enron nhưng học lại hủy hầu hết tài liệu có liên quan đến vụ việc, ngay
cả khi ủy ban chứng khoán đã mở cuộc điều tra
Do sự không độc lập về kinh tế và tình cảm qua món tiền lời được hưởng từ việc làm sai báo cáo tài chính cho Enron của công ty Arthur Anderson và việc cung cấp
Trang 7nhân sự cấp cao của Arthur Anderson sang cho Enron đã dẫn đến hiệu quả sụp đổ của Enron.
*, Thiếu tính thận trọng:
Khi tiến hành các thủ tục kiểm toán , CPA thường bộc lộ nhược điểm của họ là thiếu tính thận trọng và tính hoài nghi nghiệp vụ vần thiết, và do đó thường tin vào lời giải thích của các lãnh đạo quản lý công ty Trong báo cáo kiểm toán từ năm
1991 đến 2001 do công ty kiểm toán Arthur Anderson cung cấp ASEC và toàn án
đã chỉ ra rằng công Arthur Anderson đã coi Enron là khách hàng có mức rủ ro cao nhất Mặc dù Arthur Anderson cũng đã nhận ra rằng có nguy cơ rủi ro rất cao trongbáo cáo tài chính tại Enron
2.Khái quát về tập đoàn Worldcom
Tập đoàn worldcom từng là một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất nước
Mỹ đứng đầu là cựu tổng giám đốc Bernard Ebbers, giám đốc tài chính là ông ScottSulliva, giám đốc phụ trách kiểm toán là ông Buford Yates Jr
Các cột mốc lịch sử hình thành tập đoàn này có thể tóm tắt như sau:
1983: Hai thương nhân MurrayWaldron và William Rector phác thảo một kế hoạchnhằm thành lập công ty điện thoại đường dài có tên LLDS ( Long-Distance
Discount Service)
1985: Nhà đầu tư Bernard Ebbers trở thành tồng giám đốc điều hành LDDS
1989: LDDS nổi danh nhờ vụ mua Advantage Companies Inc
1992: LDDS sáp nhập trong một thỏa thuận ttrao đổi cổ phiếu với công ty điện thoại đường dài giá rẻ Advanced Telecommunications Crop
1993: LDDS mua các công ty điện thoại đường dài Resurgens Communications Group Inc và Metromedia Communications Corp trong một thỏa thuận trao đổi cổ phiếu và tiền mặt giữa 3 bên tạo ra mạng điện thoại lớn thứ 4 nước Mỹ
1995: LDDS mua công ty truyền dữ liệu và điện thoại Wiliams
Telecommunications Group Inc (WilTel) với giá 2,5 tỉ USD bằng tiền mặt và đổi tên thành Worldcom Inc
1996: Worldcom sáp nhập với MSF Communications Company Inc (MFS), sở hữucác cơ sở truy cập mạng địa phương qua các mạng cáp quang kỹ thuật số ở trong và
Trang 8ở xung quanh các thành phố lớn ở nước Mỹ và Châu Âu, cũng như UUNet
Technologies Inc., một hang cung cấp dịch vụ truy cập internet cho các doanh nghiệp
1998: Worldcom hoàn tất 3 thương vụ hợp nhất Với MCI Commuinicatipns Corp (40 tỉ USD) – thương vụ lớn nhất vào thời diểm đó, Brooks Fiber Properties Inc (1.2 tỉ USD) và CompuServe Corp (1,3 tỉ USD)
1999: Worldcom và Sprint Corp đồng ý sáp nhập
22/07/2002: Worldcom nộp đơn xin phá sản Đây là vụ phá sản lớn thứ hai trong lịch sử nước Mỹ Trước khi phá sản, tổng tài sản của Worldcom là 104 tỉ USD, nhưng đang gánh khoản nợ khổng lồ 30 tỉ USD Khoảng 20.000 nhân viên biị sa thải sau vụ phá sản này…sau khi tuyên bố chính thức phá sản, Worldcom đã đổi tên thành MCI
Những gian lận tài chính của Worldcom được đưa ra chưa đầy một năm sau khi Erron tuyên bố phá sản do những scandal tài chính hàng tỉ USD Vụ việc của
Worldcom và Erron được đánh giá là hai vụ phá sản lớn nhất nước Mỹ
Qúa trình khủng hoảng và sụp đổ của tập đoàn Worldcom:
Khủng hoảng của Worldcom được phát hiện từ năm 2002:
Từ tháng 03/2002, công ty Worldcom bắt đầu gây chú ý khi SEC (ủy ban chứng khoán và hối đoái Mỹ) thực hiện cuộc điều tra tại sao và làm thế nào mà Worldcomcho tổng giám đốc điều hành (cũng là người sáng lập) Bernie Ebbers vay 366 triệu USD trước khi Ebbers tuyên bố từ chức vào cuối tháng 04/2002 (và được hưởng lương hưu 1,5 triệu USD/năm đến suốt đời)
Số tiền được ông vay và đặt cược vào các cổ phiếu của Worldcom Khoản vay này thực tế đã được ông Ebbers chuyển sang tài sản cá nhân, bao gồm một công ty bán thuyền thể thao, một trang trại đậu nành và gần 27 triệu cổ phiếu của Worldcom.Tổng giám đốc mới là John Sidgmore Và một kiểm toán viên nội bộ đã phát hiện
ra công ty đang có những biểu hiện “bất thường” trong việc ghi sổ các chi phí vốn Một điều tra sau đó của hãng kiểm toán KPMG (thay thế hãng kiểm toán đang gặp khó khăn Arthur Andersen) đã bới ra các khoản chi phí trị giá tới 3,85 tỉ USD Khoản chi phí này đã bị phân loại nhầm lẫn vào các chi phí vốn (trong cả năm 2001luồng tiền và lợi nhuận của Worldcom đã bị thổi phồng, thay vì lỗ 1,2 tỉ USD, họ
Trang 9lãi 1,6 tỉ USD và quý I/2002 là 172 triệu USD Các con số này nếu có tính khoản chi phí trên sẽ không đúng.
Những gì mà Worldcom đã làm là ảnh hưởng tới lượng tiền mặt tạo ra từ hoạt độngkinh doanh Trước đây, Worldcom đã công bố, các hoạt động kinh doanh năm 2001của công ty tạo ra 7,7 tỉ USD tiền mặt nhưng giờ đây công ty cho biết, số tiền mặt thực tế tạo ra là 4,6 tỉ USD Tổng luồng tiền của Worldcom sẽ không bị ảnh hưởng bởi những sai sót trong sổ sách vì việc công bố lại của Worldcom cũng sẽ làm giảmlượng tiền sử dụng trong các hoạt động đầu tư Các hoạt động này có tính đến đầu
tư vốn Như vậy, 2 sự thay đổi sẽ triệt tiêu nhau Tuy nhiên điều này lại ảnh hưởng đến một cách đo lường luồng tiền khác đó là thu nhập
Năm 2001, thu nhập (EBITDA) mà Worldcom công bố 10.5 tỉ USD Con số đó theo tính toán giờ đây sẽ là 6,3 tỉ USD Tương tự như vậy, EBITDA của Worldcomquý I/2002 theo công bố là 2,1 tỉ USD nhưng khi phá sản, con số này phát hiện chỉ
là 1,4 tỉ USD
Worldcom đã nợ 2,65 tỉ USD và vào thời điểm trước khi vụ việc đổ bể công
ty này còn thương lượng vay 5 tỉ USD Trong số ngân hàng trở thành nạn nhân của Worldcom, có Ngân hàng Hoa Kì (Bank of America), J.P.Morgan Chase,
Citigroup, FleetBoston Financial, Mellon Financial, Bank One, Wells Fargo…Năm 2001, Worldcom đã trả cho công ty kiểm toán arthur Andersen chi phí dịch vụlên đến khoảng 16,8 triệu đola Mỹ trong đó chi phí cho kiểm toán là 4,4 triệu USD,dịch vụ tư vấn thuế là 7,6 triệu USD, chi phí cho việc kiểm toán các bản báo cáo tàichính là 1,6 triệu USD và các dịch vụ tư vấn khác là 3,2 triệu USD
Ngày 19/07/2002, Worldcom, công ty điện thoại đường dài lớn thứ 2 nước Mỹ sau AT&T, nộp đơn phá sản sau vụ gian lận lợi nhuận kế toán trị giá 11 tỉ USD Vụ phásản của Worldcom trị giá 103,9 tỉ USD Giám đốc điều hành Worldcom, Bernie Ebbers, bị tuyên án 25 năm tù giam với tội danh lừa đảo chứng khoán, gian lận sổ sách
Worldcom bị phá sản đã khiến các cổ đông của hãng chịu thiệt hại khoảng 180 tỉ USD và trên 20.000 nhân viên bị mất việc làm, kinh tế Mỹ đã thiệt hại khoảng 10 tỉUSD Sau khi chính thức tuyên bố phá sản, Wordcom đã đổi tên thành MCI
Việc Worldcom sụp đổ đã kéo theo phản ứng dây chuyền khiến giá cổ phiếu của nhiều hãng viễn thông khác cũng tụt dốc thê thảm và chính phủ Mỹ đã cải cách lại toàn bộ các quy định hiện hành về kế toán
Trang 10Kiểm toán đã góp phần như thế nào tới sự sụp đổ của World com
Công ty kiểm toán Arthur Andersen
Arthur Andersen thành lập năm 1913, từng là một trong năm công ty kiểm toán lớnnhất thế giới cùng với PricewaterhouseCoopers, Deloitte Touche Tohmatsu, Ernst Young và KPMG, cung cấp dịch vụ kiểm toán, dịch vụ thuế và dịch vụ tư vấn cho các công ty và tập đoàn lớn Nhiều năm liền công ty nổi tiếng về tính trung thực và trách nhiệm trong kiểm toán cho đến năm 2001- 2002 họ vướng vào bê bối kiểm toán với công ty Enron và World com
Andersen coi World com như một khách hàng hàng đầu và muốn trở thành một thành viên cam kết của đội ngũ Mặc dù phần mềm quản lý rủi ro của Andersen đánh giá World com như một “ nguy cơ cao “ của khách hàng, đội ngũ kiểm toán của World com lại tiếp tục xếp hạng nó như một khách hàng “ nguy cơ trung bình “ Kiểm toán viên của Andersen đã được đưa ra giới hạn truy cập đến các thông tin
kế toán World com giữ lại các thông tin, tài liệu bị thay đổi, bỏ qua thông tin từ cáctài liệu được yêu cầu và chuyển hàng triệu đô la trong tài khoản để đánh lừa
Andersen
Sau khi gian lận của World com bị phanh phui, công ty Arthur Andersen kiểm toán cho World com cho biết khi Andersen phát hiện ra các chi phí đã được báo cáo láo thành vốn đầu tư, Andersen đã báo động cho ban kiểm toán nội bộ World com rằng báo cáo tài chính 2001 không đáng tin cậy Trong một bản tuyên bố Andersen nhấn mạnh : “ vấn đề là ở chỗ lãnh đạo của World com đã giấu các nhân viên “ Họ thậm chí không cho chúng tôi biết giá chuyển nhượng các đường truyền
và nhiều lần không nhờ Andersen tư vấn và Andersen có đủ bằng chứng chứng tỏ mình minh bạch trong vụ bê bối này
Tuy vậy các nhà phân tích đánh giá rằng Andersen đã mắc phải một số sai lầm trong kiểm toán như sai sót về mô hình kiểm toán, trình độ kiểm toán không cao, mục tiêu hệ thống khuyến khích….nhưng phải nói đến hơn cả các KTV của
Andersen vốn là nhũng người thiếu tính độc lập và ngay cả bản thân họ cũng khôngbiết giữ tính thận trọng trong khi tác nghiệp và cả sự hoài nghi cần thiết Điều này được thể hiện cụ thể như sau: