1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng dạy và học trường Đại học Ngoại Thương

46 515 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 487,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đòi hỏi nguồn nhân lực không những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng do vậy sinh viên được đào

Trang 1

DANH SÁCH SINH VIÊN THỰC HIỆN

1 Mạc Thanh Bình - 1111110581

2 Đinh Công Tài - 1111110635

3 Lê Phương Thảo - 1111110467

4 Trần Thị Hồng Ngọc - 1111110609

5 Cao Bảo Ngọc - 1111110160

6 Nguyễn Bích Ngọc - 1111110520

7 Lê Thị Vân Anh - 1111110665

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC 6

CHƯƠNG II MÔ HÌNH LƯỢNG HOÁ CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG 8

1 Phân tích số liệu khảo sát 8

2 Hồi quy theo phương pháp OLS 13

Ta được mô hình: 13

3 Kiểm định mô hình 14

3.1 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 14

3.2 Kiểm định hệ số góc 15

3.3 Kiểm định mức độ ảnh hưởng 15

3.4 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 16

3.5 Kiểm định phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên 17

3.6 Kết quả 18

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG 19

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

PHỤ LỤC 26

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước sang thế kỷ 21, thế kỷ của nền “văn minh tri thức”, việc nâng cao chất lượng đào tạo không chỉ là vấn đề của riêng đất nước, con người Việt Nam mà là vấn

đề mà cả thế giới nhắc đến và phấn đấu để đạt được Trường Đại học Ngoại Thương là nơi tiến hành hoạt động đào tạo thì càng không thể nằm ngoài yêu cầu mang tính quy luật đó

Trong nhiều năm qua, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo đã được cả xã hội quan tâm và nó đã được thể hiện ở những hành động cụ thể:

- Về phía các cơ quan quản lý: đã không ngừng có sự quan tâm trong việc quy hoạch, triển khai, kiểm tra, cải tiến các hình thức dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Thể hiện cụ thể ở các văn bản, quyết định… về thực hiện những mục tiêu đổi mới cơ bản và toàn diện đại học ở Việt Nam, quy định về việc đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục, về kiên cố hóa trường lớp, phát động phong trào xã hội học tập,…

- Về phía người học: họ cũng đã dần nhận thức được yêu cầu của người lao động trong thời kỳ mới đòi hỏi phải có kỹ năng, kiến thức trình độ cao hơn, vì thế học tập là con đường duy nhất để giúp họ có việc làm và thu nhập ổn định

- Về phía doanh nghiệp: Sau nhiều năm đổi mới nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN có nhiều khởi sắc đòi hỏi các doanh nhiệp sản xuất kinh doanh phải biết quản lý tốt, làm ăn có hiệu quả, do vậy việc tuyển dụng kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp

vụ đòi hỏi yêu cầu cao hơn Muốn vậy sinh viên khi học ở trường phải được đào tạo cóchất lượng

- Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đòi hỏi nguồn nhân lực không những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng do vậy sinh viên được đào tạo có chất lượng là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển của đấtnước Kiến thức và sự hiểu biết về nguyên tắc đảm bảo chất lượng ngày càng mở rộng hơn, logíc tất yếu đòi hỏi chất lượng đào tạo ngày càng phải tốt hơn

Trang 4

- Chất lượng đào tạo được coi là công cụ thu hút người học, quyết định sự phát triển của Nhà trường, vì thế không còn con đường nào khác, Trường Đại học Ngoại Thương phải chú trọng đến công tác nâng cao chất lượng đào tạo.

Tóm lại để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như: nâng cao năng lực quản lý, chương trình đào tạo tiên tiến, đổi mới

phương pháp đào tạo, hoàn thiện công tác đánh giá kết quả đào tạo…Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu cho mỗi giải pháp cụ thể tuy nhiên đến nay hầu hết các cơ sở chưa ápdụng một cách đồng bộ và triệt để Mặt khác tùy theo tình hình thực tế, tùy theo khả năng của từng trường cần xây dựng cho mình một hệ thống các giải pháp hữu hiệu, nhằm có thể áp dụng hiệu quả vào thực tế của trường mình để nâng cao chất lượng đào tạo

Xuất phát từ những lý do trên, nhóm sinh viên chúng em đã quyết định chọn đề tài “ Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học tại trường Đại học Ngoại

Thương ” cho bài nghiên cứu khoa học của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở tìm hiểu những yếu tố tác động đến chất lượng giáo dục, nhóm sinh viên chúng em đã tiến hành lập bảng điều tra khảo sát và tiến hành khảo sát trên 100 bạn sinh viên thuộc các chuyên ngành khác nhau tại trường Đại học Ngoại Thương Từkết quả khảo sát này, nhóm chúng em đã tiến hành lượng hoá để xây dựng nên một mô hình cho biết sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến chất lượng dạy và học tại trường Đại học Ngoại Thương, rồi từ đó đưa ra một vài ý kiến đề xuất để nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Ngoại Thương

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đề ra trên đây, bài nghiên cứu tập trung thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Nêu ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học

- Xây dựng mô hình cho biết sự ảnh hưởng của các yếu tố trên đến chất lượng giáo dục

Trang 5

- Đề xuất một vào ý kiến giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Ngoại Thương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Chất lượng dạy và học tại trường Đại học Ngoại Thương

Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: đây là kết quả nghiên cứu của nhóm chúng em dựa trên khảo sát 100 bạn sinh viên tại trường Đại học Ngoại Thương

- Về thời gian: số liệu trong bài nghiên cứu thu thập được trong khoảng thời gian tháng Hai- tháng Ba, năm 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ở trên, bài nghiên cứu dự kiến sửdụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp lý thuyết : Hệ thống hoá, phân tích, diễn giải, quy nạp, so sánh, đối chiếu, ý kiến chuyên gia…

- Phương pháp thực tiễn : Thống kê mô tả, phân tích, so sánh, định tính, định lượng, đối chiếu, ý kiến chuyên gia…

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, bài nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương I Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học Chương II Mô hình lượng hoá các yếu tổ ảnh hưởng đến chất lượng dạy và

học tại trường Đại học Ngoại Thương

Chương III Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tại trường Đại

học Ngoại Thương

Trang 6

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT

LƯỢNG DẠY VÀ HỌC

Giáo dục Đại học là bậc học đào tạo nghề nghiệp chuyên sâu, phục vụ yêu cầu của nền kinh tế tri thức, tạo nguồn lực lao động có tay nghề và trình độ chuyên môn cao Chất lượng giáo dục đại học phản ánh chất lượng giáo dục, thể hiện chiến lược về con người của một quốc gia Vì vậy, chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục đại học nói riêng là vấn đề trăn trở của mỗi quốc gia Ở nước ta, bộ Giáo dục & Đào tạo, các vụ, viện, các trường đại học đã tổ chức nhiều cuộc hội nghị, hội thảo để bàn về chiến lược giáo dục đại học nhằm tìm ra phương hướng đào tạo ĐH trong thế kỉXXI Nhưng nâng cao chất lượng giáo dục đại học không phải là vấn đề đơn giản, lại càng không phải là chuyện một sớm một chiều Nó có quá trình, quy trình và cần có chiến lược phát triển đúng đắn Vậy, có những yếu tố nào tác động đến chất lượng dạy và học? Có thể thấy là có vô vàn các yếu tố tác động nhưng quan trọng hơn cả là ba (nhóm) yếu tố sau:

Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục là người thầy-nhóm Năng lực giảng viên Dân gian nói “Không thầy đố mày làm nên” vẫn nguyên giá trị Chất

lượng người thầy quyết định chất lượng giáo dục Hiện nay, các trường đại học, số lượng giảng viên có học vị Tiến sĩ (TS.), Thạc sĩ (ThS.) chưa cao, đặc biệt là các trường đại học cấp tỉnh, cấp khu vực Đã ít rồi nhưng sự tận dụng đội ngũ này không hợp lí Nhiều sinh viên giỏi các trường đại học kĩ thuật kinh tế không muốn ở lại trường làm cán bộ giảng dạy vì lương thấp hơn nhiều so với ra làm cho các công ty Nhiều trường đại học dân lập, tư thục, bán công có hiện tượng “treo đầu dê, bán thịt chó” Ban đầu thì quảng cáo mời đội ngũ giảng viên toàn là TS, GS Nhưng rốt cục chỉ là mời điểm cho có, còn phần lớn là cử nhân và ThS giảng dạy bởi nếu mời người có học vị cao thì tốn tiền trả giờ dạy Do vậy cần phải có sự liên thông đội ngũ giảng viên giữa các trường, đặc biệt là các giảng viên có trình độ cao để tăng cường “chất xám” cho đội ngũ giảng viên của trường

Trang 7

Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến chất lượng là người học, sinh viên- nhóm Năng lực sinh viên Điều này liên quan đến nguồn tuyển sinh, chất lượng tuyển sinh, phương

thức tuyển sinh Về phương thức tuyển sinh, những năm trước đây, ngành xét tuyển được nhân hệ số 2, ấy thế mà vẫn có HS không giỏi môn ngành tự chọn hơn các ngành khác trong khối thi được tuyển sinh Đến mấy năm gần đây lại bỏ chế độ nhân hệ số cho ngành tuyển sinh thì chất lượng ngành tuyển sinh lại không cao Trong tương lai, việc áp dụng một lần thi lấy hai kết quả, kết quả tốt nghiệp PT và tuyển sinh ĐH thì liệu chất lượng tuyển sinh sẽ ra sao nếu như việc thi cử ở trường PT có kẽ hở cho việc tiêu cực? Các trường ĐH sinh sau đẻ muộn, chất lượng tuyển sinh sẽ không cao bởi ít

có cơ hội thu hút HS giỏi của các trường PT, thậm chí phải tuyển sinh nguyện vọng 2,3là những đối tượng không mặn mà lắm với trường, thường có điểm tuyển sinh thấp hơn

so với các trường ĐH danh tiếng Các trường này cần có chế độ thu hút HS PT giỏi thi vào trường

(Nhóm)Yếu tố thứ ba là cơ sở vật chất ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Cơ

sở vật chất không chỉ là cơ ngơi trường lớp khang trang mà quan trọng là bộ phận cơ

sở vật chất phục vụ cho dạy và học Thư viện và thiết bị là cơ sở vật chất chuyên môn của trường ĐH, quan trọng là chất lượng đầu tư sách, thiết bị, hoá chất, máy móc phục

vụ cho việc dạy và học Nếu thư viện và thiết bị nghèo nàn thì đừng nói đến đổi mới phương pháp dạy học mới Đây là khâu yếu của các trường mới thành lập, thiếu giảng viên có thể mời được nhưng vật chất phục vụ cho việc dạy học không phải ngay một thời gian ngắn đã làm được

Đây cũng chính là ba nhóm yếu tố mà nhóm sinh viên chúng em đã tiến hành nghiên cứu và khảo sát trên 100 bạn sinh viên thuộc các chuyên ngành và các khoá khác nhau đang học tập tại trường Đại học Ngoại Thương với mục đích tìm ra mối liên hệ giữa các nhóm yếu tố này đến chất lượng dạy và học tại trường mình

Trang 8

CHƯƠNG II MÔ HÌNH LƯỢNG HOÁ CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

1 Phân tích số liệu khảo sát

Nhóm đã tiến hành nghiên cứu và khảo sát trên 100 bạn sinh viên thuộc các chuyên ngành và các khoá khác nhau đang học tập tại trường Đại học Ngoại Thương Nhóm tiến hành lập phiếu điều tra ( Xem Phụ lục 1 ) gồm 35 câu, chia thành ba nhóm câu hỏi điều tra về : năng lực giảng viên, cơ sở vật chất của trường và thái độ học tập của sinh viên Ba nhóm câu hỏi ứng với ba nhóm yếu tố đã nói ở chương I Sau khi phân tích, thống kê và tổng hợp lại, nhóm có được những kết quả như sau:

Trang 9

Đi m GPA hi n t i ểm GPA hiện tại ện tại ại

Với các kết quả bên dưới, nhóm đã sử dụng Thang đo Likert 4 mức độ để quy đổi mức độ đồng ý/hài lòng về các con số ( Không đồng ý=1, Bình thường=2, Đồng ý=3, Hoàn toàn đồng ý=4 )

Trang 10

a Nhóm yếu tố Năng lực Giảng viên

Mea n

1 Kế hoạch giảng dạy theo lịch trình của giảng viên 10

3 Trong buổi học đầu tiên, giảng viên giới thiệu đề

cương học phần

10 0

6 Giảng viên cập nhật và mở rộng kiến thức liên quan

đến học phần

10 0

7 Cơ hội để sinh viên đặt câu hỏi, phát biểu, tranh luận

trong giờ học

10 0

8 Kỹ năng diễn đạt và tư duy phản biện của sinh viên

được giảng viên

10 0

9 Giảng viên sẵn sàng giúp đỡ sinh viên các vấn đề liên

quan đến học tập

10 0

10 Xét một cách toàn diện, ấn tượng của các bạn đối với

giảng viên trong trường

10 0

11 GV liên hệ nội dung bài học với thực tiễn đời sống,

gắn với nghề nghiệp tương lai của ngành học

10 0

12 Kết quả học tập của người học được đánh giá bằng

nhiều hình thức khác nhau (kiểm tra; thảo luận nhóm,

bài tập, tiểu luận, giao nhiệm vụ học tập ở nhà…) và

Kết quả học tập này được GV đánh giá chính xác,

khách quan, công bằng

10 0

Trang 11

và phản biện của sinh viên được giảng viên quan tâm (mean=3.05), Giảng viên sẵn sàng giúp đỡ sinh viên các vấn đề liên quan đến học tập (mean=2,95) là các yếu tố

được các bạn sinh viên trường mình đánh giá cao

b Nhóm yếu tố Thái độ học tập của sinh viên

Mea n

1 Các bạn tham gia học trên lớp khoảng ? 10

3 Bạn thấy các dịch vụ như căng tin, wifi, thiết bị

phòng học làm hài lòng bạn chưa?

10 0

Theo bảng này thì yếu tố Tham gia học trên lớp (mean=2,97) là yếu tố được các

bạn sinh viên đánh giá cao, ảnh hưởng lớn đến Thái độ học tập của sinh viên

Trang 12

c Nhóm yếu tố Cơ sở vật chất

Mea n

1 Cảnh quan của nhà trường tạo ấn tượng đẹp 10

0

2 Quy hoạch tổng thể của nhà trường tạo thuận lợi cho

việc dạy và học

10 0

3 Số lượng phòng học, phòng TN, TH đủ đảm bảo cho

các hoạt động dạy và học

10 0

4 Phòng học, sân bãi TDTT, VHVN có diện tích phù

hợp

10 0

7 Hệ thống trang thiết bị của các phòng học, phòng thí

nghiệm, thực hành đầy đủ

10 0

8 Kí túc xá, sân bãi TDTT, VHVN đáp ứng được số

lượng đông đảo sinh viên

10 0

9 Thư viện đáp ứng đầy đủ sách báo, tư liệu, tài liệu

tham khảo của sinh viên

10 0

10 Sách, báo chí, tài liệu của thư viện thường xuyên

được cập nhật đầy đủ

10 0

11 Hệ thống thông tin, trang tín chỉ, web quản lý đào tạo

FTU thường xuyên được cập nhật

10 0

Trang 13

Từ những kết quả thu được, nhóm đã tiến hành xây dựng nên 4 biến số sau

Y : KQHT là kết quả học tập của sinh viên trường ĐHNT, nhóm xây dựng nên

biến này từ kết quả ở câu số 35 trong phiếu điều tra

X1: NLGV là năng lực của đội ngũ giảng viên trường ĐHNT, nhóm xây dựng

nên biến này từ kết quả ở câu số 13 trong phiếu điều tra

X2: TDSV là thái độ học tập của sinh viên trường ĐHNT, nhóm xây dựng nên

biến này từ kết quả ở câu số 31 trong phiếu điều tra

X3: CSVC là điều kiện cơ sở vật chất trường ĐHNT, nhóm xây dựng nên biến

này dựa trên các câu từ 15->27 trong phiếu điều tra

Kết quả của việc thu thập dữ liệu cho các biến trên được thể hiện ở Phụ lục 2

Ta có mô hình mẫu tổng thể Y = 1 + 2X1 + 3X2 + 4X3 + ei trong đó 1 là

hệ số chặn; 2, 3và 4 là hệ số góc; ei là sai số ngẫu nhiên

2 Hồi quy theo phương pháp OLS

Ta được mô hình:

Y = 0.524 + 0.410X1 + 0.429X2 + 0.056X3 + ei (Xem phụ lục 3)

Ý nghĩa hệ số hồi quy:

2 = 0.410: Với điều kiện các yếu tố khác không đổi, TDSV không đổi, CSVC không đổi, khi năng lực của đội ngũ giảng viên tăng (giảm) 1 đơn vị thì kết quả học tậpcủa SV tăng (giảm) 0.524 đơn vị

3 = 0.429: Với điều kiện các yếu tố khác không đổi, NLGV không đổi, CSVC không đổi, khi thái độ học tập của SV tăng (giảm) 1 đơn vị thì kết quả học tập của SV tăng (giảm) 0.524 đơn vị

Trang 14

4 = 0.056: Với điều kiện các yếu tố khác không đổi, NLGV không đổi, TDSV không đổi, khi điều kiện cơ sở vật chất tăng (giảm) 1 đơn vị thì kết quả học tập của SV tăng (giảm) 0.524 đơn vị.

Giá trị của R2 = 0.584 và ´R 2 = 0.571 : Mức độ phù hợp của mô hình là 58.4%,

sự biến động của các biến NLGV, TDSV, CSVC giải thích được 58.4% cho sự thay đổicủa biến phụ thuộc KQHT

Khoảng tin cậy của hệ số hồi quy : (Xem Phụ lục 4)

2 (0.121 ; 0.7): Vậy với mức ý nghĩa α = 5%, khi NLGV tăng 1 đơn vị, TDSV và CSVC giữ nguyên thì KQHT tăng tối thiểu là 0.121 đơn vị, tối đa là 0.7 đơn vị

3 (0.169 ; 0.689): Vậy với mức ý nghĩa α = 5%, khi TDSV tăng 1 đơn vị, NLGV và CSVC giữ nguyên thì KQHT tăng tối thiểu là 0.169 đơn vị, tối đa là 0.689 đơn vị

4 (-0.120 ; 0.233): Vậy với mức ý nghĩa α = 5%, khi CSVC tăng 1 đơn vị, NLGV và TDSV giữ nguyên thì KQHT tăng tối thiểu là -0.120 đơn vị, tối đa là 0.233 đơn vị

3 Kiểm định mô hình

Với mức ý nghĩa α = 5% = 0.05, kiểm định

3.1 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình

Cho rằng mô hình trên không phù hợp Ta có cặp giả thuyết:

{H0: R2=0(M ô h ình kh ô ng ph ù h ợ p)

H1: R2≠ 0 (M ô h ình ph ù h ợ p )

F0.05(3;96) = 44.993

Trang 15

 Cho rằng CSVC không có ảnh hưởng đến KQHT Ta có cặp giả thuyết: \

Trang 16

3.4 Kiểm định các khuyết tật của mô hình

 Ta có tương quan giữa các biến như sau: (Xem Phụ lục 6)

Trang 17

Tương quan giữa các biến trong mô hình thấp => Mô hình (1) không mắc bệnh

đa cộng tuyến

 Kiểm định bằng thừa số tăng phương sai VIF: (Xem Phụ lục 7)

=> không có giá trị nào lớn hơn 10 => Mô hình không mắc bệnh đa cộng tuyến

Từ hai kết quả trên => không có đa cộng tuyến

 Phương pháp định lượng – kiểm định Park:

Kiểm định cặp giả thuyết:

{H0: α2=0(Phươ ng sai sai s ố kh ô ng thay đ ổ i)

H12≠ 0 ( Phươ ng sai sai s ố thay đ ổ i)

Hồi quy mô hình dạng log với biến ln(e2) theo ln(NLGV), ln(TDSV) và

ln(CSVC)

 Hồi quy mô hình ln(e2) = α1 + α2 lnX1 + vi, ta có kết quả: (Xem Phụ lục 8)p-value(α2) = 0.001 < α = 0.05=> Bác bỏ giả thuyết H0=>Phương sai sai số thay đổi

 Hồi quy mô hình ln(e2) = α1 + α2 lnX2 + vi, ta có kết quả: (Xem Phụ lục 9)p-value(α2) = 0.819 > α = 0.05=> Chấp nhận giả thuyết H0=> Phương sai sai sốkhông thay đổi

 Hồi quy mô hình ln(e2) = α1 + α2 lnX3 + vi, ta có kết quả: ( Xem Phụ lục 10)p-value(α2) = 0.339 > α = 0.05=> Chấp nhận giả thuyết H0=> Phương sai sai sốkhông thay đổi

Từ ba kết quả trên, ta rút ra kết luận: Phương sai sai số không thay đổi.

Trang 18

3.5 Kiểm định phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên

{ H0: Ph â n ph ố ic ủ a m ẫ u ng ẫ u nhi ê n l à ph â n ph ố ichu ẩ n

H1: Ph â n ph ố i c ủ a m ẫ u ng ẫ u nhi ê n kh ô ng l à ph â n ph ố i chu ẩ n

Từ mô hình gốc, ta có: (Xem Phụ lục 11a và 11b)

p-value = 0.00 < α = 0.05=> Bác bỏ giả thiết H0=> Phân phối của mẫu ngẫu nhiên không là phân phối chuẩn

3.6 Kết quả

- Mô hình thu được có dạng:

Y = 0.524 + 0.410X1 + 0.429X2 + 0.056X3 + ei, với:

Y : KQHT là kết quả học tập của sinh viên trường ĐHNT

X1: NLGV là năng lực của đội ngũ giảng viên trường ĐHNT

X2: TDSV là thái độ học tập của sinh viên trường ĐHNT

X3: CSVC là điều kiện cơ sở vật chất trường ĐHNT

- Mô hình trên phù hợp

- Hai biến NLGV và CSVC không ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường ĐHNT, biến TDSV là biến trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên

- Mô hình không có khuyết tật

- Phân phối của mẫu ngẫu nhiên là phân phối không chuẩn, nguyên nhân là do số mẫu do nhóm tiến hành khảo sát vẫn chưa đủ lớn

Trang 19

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Chất lượng giảng dạy trong giáo dục đào tạo nói chung, chất lượng giảng dạy trong trường đại học nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội của một đất nước, bởi nó tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực – nguồn lực được xem là quan trọng bậc nhất hiện nay Do vậy, nâng cao chấtlượng giảng dạy không chỉ là mối quan tâm của riêng người học, người dạy mà là của toàn xã hội Chất lượng giảng dạy cũng chính là vấn đề cốt lõi, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của một trường đại học

Chất lượng giảng dạy phụ thuộc nhiều nhân tố, trong đó trực tiếp nhất là ba nhóm nhân tố tham gia và tương tác lẫn nhau trong một giờ giảng bất kỳ, đó là người dạy, người học và môi trường, cơ sở vật chất dạy học Ba nhóm nhân tố này quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau góp phần quan trọng tạo nên kết quả/sản phẩm cuối cùng là chất lượng giảng dạy

Chất lượng giảng dạy đương nhiên không thể thiếu vai trò của người dạy Dưới

góc độ chuyên môn, bài giảng của người thầy cần sinh động và được cập nhật thường xuyên Đây chính là điểm mấu chốt thu hút sự chú ý, tập trung của người học Trong bài giảng cần sử dụng các ví dụ mang tính thời sự, tính thực tế Điều này đặc biệt cần thiết với nhóm ngành kinh tế – nhóm ngành luôn có sự vận động thay đổi thường xuyên, nhanh chóng Các ví dụ trực quan sẽ giúp sinh viên liên hệ được với thực tiễn, làm cho các nội dung lý thuyết không còn khô cứng, khó nhớ mà trở nên gần gũi, dễ hiểu

Trong quá trình giảng dạy, giảng viên nên đưa ra nhiều câu hỏi gợi mở và đồng thời khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi về các vấn đề liên quan trong các tiết giảng Khi giảng viên đặt câu hỏi, sinh viên sẽ phải động não để tìm câu trả lời Ngược lại, khisinh viên đặt câu hỏi cũng đồng nghĩa với việc thúc đẩy giảng viên phải liên tục tìm

Trang 20

hiểu, nghiên cứu tài liệu để trả lời Đặt câu hỏi không chỉ yêu cầu đơn thuần là đưa ra câu hỏi một cách ngẫu nhiên, bất kỳ Thực tế, để có thể đặt được câu hỏi, cả sinh viên và giảng viên đều phải hết sức tập trung vào bài giảng, đọc trước giáo trình cũng như tài liệu tham khảo, thậm chí phải đọc kỹ và nhiều tài liệu mới có thể đặt được câu hỏi hay Mặt khác, khi đặt câu hỏi thì trong đầu người hỏi gần như tự động sẽ có một số phương án trả lời cho riêng mình, mặc dù có thể còn băn khoăn, thắc mắc, chưa chắc chắn phương án nào chính xác nhất Như vậy, câu hỏi trong các tiết giảng thúc đẩy cả thầy và trò tăng cường tư duy, động não, tập trung vào bài học Đặt câu hỏi chính là cách dẫn dắt để người học đến được câu trả lời và nhớ được câu trả lời tự nhiên nhất.

Với các vấn đề mở, giảng viên nên để sinh viên thảo luận và khuyến khích quyền được trao đổi, phát biểu ý kiến cá nhân của sinh viên Trong một số trường hợp, giảng viên đưa các chủ đề liên quan, chia lớp thành các nhóm để thảo luận về các chủ

đề đó Sau đó các nhóm được yêu cầu trình bày trước lớp kết quả thảo luận của nhóm mình Giảng viên và các sinh viên nhóm khác sẽ bổ sung ý kiến và góp ý để hoàn chỉnh Việc được trao đổi, bày tỏ quan điểm sẽ giúp sinh viên cảm thấy không bị áp đặt, không bị thụ động thu nhận kiến thức một chiều, mà ngược lại, sinh viên được học hỏi lẫn nhau, từ đó có thể làm cho các em tự tin hơn, hăng say hơn trong các tiết học Riêng việc trình bày kết quả thảo luận nhóm, giảng viên cũng cần lưu ý yêu cầu và đánh giá sự tham gia của tất cả các thành viên trong nhóm Điều này giúp người học cótrách nhiệm, tham gia nhiệt tình hơn trong thảo luận, đồng thời rèn luyện cho họ kỹ năng làm việc nhóm trong các công việc chung

Bên cạnh kiến thức chuyên môn, phong thái và cách tiếp cận người học của giảng viên cũng rất quan trọng góp phần vào chất lượng giảng dạy Phong thái của người dạy thể hiện qua trang phục, giọng nói, cách đi đứng trên giảng đường Không yêu cầu quá khuôn mẫu, đạo mạo, vì điều này có thể tạo ra rào cản, làm cho người học

e ngại trước người dạy Tuy nhiên, giảng viên cũng cần đảm bảo những tiêu chuẩn cơ bản để tạo ra sự nghiêm túc cần thiết trong quá trình giảng dạy Cách diễn đạt mạch lạc, chắc chắn và có điểm nhấn của người thầy sẽ làm cho sinh viên dễ tiếp thu và tin

Trang 21

tưởng vào kiến thức được truyền đạt Ngôn ngữ hình thể của người dạy cũng là một kênh quan trọng để chuyển tải nội dung bài học Cùng với ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, ngôn ngữ hình thể giúp thu hút sự chú ý của người nghe, và trong một chừng mực nào đó giúp giải thích, làm rõ hơn nội dung cần truyền đạt Khi giảng dạy, việc tăng cường giao lưu giữa thầy và trò trong lớp học là rất cần thiết Nếu hoàn toàn chỉ đứng trên bục giảng, người dạy sẽ rất khó thúc đẩy sự tham gia phát biểu ý kiến cũng như kiểm soát được các hoạt động của người học Việc di chuyển đến gần vị trí sinh viên của giảng viên trong lớp học không chỉ giúp tất cả người học nghe rõ được bài giảng mà quan trọng hơn làm cho người học thấy bản thân họ được quan tâm, chú ý bởi người dạy Do đó, họ sẽ có ý thức điều chỉnh thái độ học tập, trở nên tích cực hơn và giảm bớt các hành động ảnh hưởng không tốt đến giờ học như nói chuyện riêng, làm việc riêng…

Chất lượng giảng dạy không chỉ phụ thuộc vào người dạy Tinh thần, thái độ của người học rất quan trọng trong các tiết học Người học là người chủ của buổi học,

là nhân tố quyết định đối với chất lượng kiến thức thu được sau buổi học Nếu người học không yêu thích, không chủ động, chưa có trách nhiệm với việc học của mình thì rất khó có được một giờ giảng sôi nổi, có chất lượng Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa giảng viên chỉ thụ động ngồi chờ sinh viên có thái độ học tập tốt Người dạy cần truyền được cho người học tinh thần học tập, sự hăng say sôi nổi trong các giờ học Khi sinh viên chưa có sự hăng say, chưa có đam mê học, giảng viên cần khơi gợi, tạo

ra sự yêu thích và động lực cho các em qua các câu chuyện, các tấm gương và ngay cả trong việc đánh giá công bằng kết quả học tập của sinh viên Cần làm cho sinh viên hiểu rằng học với các em chính là quyền lợi chứ không phải là nghĩa vụ, là “được đi học” chứ không phải “bị đi học” Cần xác định rõ việc học là để thu nhận kiến thức, kỹ năng phục vụ cho cuộc sống, cho tương lai của chính bản thân sinh viên chứ không phải vì cha mẹ, vì thầy cô hay vì bất kỳ một ai khác

Dưới góc độ tâm lý, tinh thần và thái độ học tập tích cực của sinh viên còn như một động lực, thôi thúc giảng viên nhiệt tình, đưa hết tâm huyết vào bài giảng Khi

Trang 22

người học chăm chú lắng nghe bài giảng, tích cực phát biểu ý kiến, trao đổi hai chiều

sẽ làm cho người dạy cảm thấy bài giảng của mình hữu ích, được chú ý Nó như một yếu tố vô hình động viên người thầy ngày càng yêu nghề hơn, cố gắng, nỗ lực hết mìnhtrong việc xây dựng bài giảng hay hơn, sinh động hơn, cũng như thôi thúc người dạy tiếp tục học hỏi, nghiên cứu để làm phong phú bài giảng, chú ý rèn luyện để hoàn thiệnbản thân, xứng đáng với vai trò người thầy trên bục giảng

Cùng với vai trò người dạy và người học, nhóm nhân tố về điều kiện, cơ sở vật chất dạy học cũng góp phần làm nên chất lượng của tiết giảng Hệ thống phòng học,

máy móc thiết bị không thể thay thế được người thầy nhưng hệ thống này đảm bảo chấtlượng chính là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc dạy và học Ví dụ các thiết bị nghe nhìn như máy chiếu, tai nghe, loa đài, … giúp cho sinh viên tiếp cận nội dung bài giảng sinhđộng hơn, rõ ràng hơn, đồng thời giúp giảng viên dành được nhiều thời gian trao đổi, giao tiếp với sinh viên thay vì mất quá nhiều thời gian cho việc tác nghiệp trên bảng Đối với các môn học có nhiều hình vẽ, sơ đồ, mô hình và liên quan đến âm thanh, các thiết bị này lại càng hữu ích

Một vấn đề nữa cũng cần đề cập đến trong nhóm nhân tố về điều kiện, cơ sở vật chất dạy học là trật tự lớp học Khi các yếu tố âm thanh gây nhiễu ở bên ngoài phòng học được loại trừ thì việc duy trì không khí dạy học nghiêm túc, trật tự hết sức quan trọng đối với chất lượng giảng dạy Môi trường giảng dạy rất cần sự thân thiện, cởi mở giữa sinh viên và giảng viên, cũng như giữa các sinh viên với nhau Nhưng điều này không có nghĩa các thành viên trong lớp học, kể cả giảng viên, hoàn toàn tự do tất cả các hành động của mình Các hoạt động trong lớp cần hướng đến và liên quan tới nội dung bài học Cần loại trừ các hoạt động như nói chuyện riêng, làm việc riêng khác Chú ý đảm bảo nguyên tắc “người nói có người nghe” Để có được điều này, trước khi bắt đầu một môn học hoặc một giờ giảng nên có sự thống nhất, xây dựng nội quy của tập thể lớp học để cả thầy và trò cùng chấp hành Một hoạt động tốn rất ít thời gian, tưởng như nhỏ như việc nghiêm túc đứng chào nhau giữa người học và người dạy đầu mỗi buổi học cũng góp phần không nhỏ đối với việc tạo ra trật tự cho lớp học Thực

Trang 23

hiện động tác này, ngoài việc như một nghi lễ để thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau giữa thầy và trò, quan trọng hơn, nó còn giúp cho cả thầy và trò chuẩn bị tâm thế nghiêm túc, ổn định và tập trung cho một tiết học mới

Chất lượng giảng dạy là kết quả tổng hòa của rất nhiều nhân tố Nó có thể được cải thiện, nâng cao, tuy nhiên, không phải ngay tức khắc mà cần một quá trình, với sự phối hợp tích cực của cả người dạy, người học và những điều kiện, cơ sở vật chất hỗ trợ bên ngoài

Ngày đăng: 24/04/2016, 12:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w