1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

DẠY học về các NHÂN vật LỊCH sử ở TRƯỜNG THCS ( lớp 7 ) (bản đầy đủ)(autosaved)

147 2,9K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 4,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Nhân vật Ngô Quyền.Đối với nhân vật lịch sử Ngô Quyền, đây là một nhân vật rất quan trọng trong tiến trình lịch sử nước ta, nên khi giảng dạy giáo viên cần khắc sâu nhân vật Ngô Quyền,

Trang 1

1.Nhân vật Ngô Quyền.

Đối với nhân vật lịch sử Ngô Quyền, đây là một nhân vật rất quan trọng trong tiến trình lịch sử nước ta, nên khi giảng dạy giáo viên cần khắc sâu nhân vật Ngô Quyền, để giáo dục cho học sinh ý thức độc lập tự chủ của dân tộc, ghi nhớ công ơn của Ngô Quyền đã có công giành quyền tự chủ, chấm dứt hơn 10 thế kỷ thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc trên đất nước ta.

Khi giảng dạy

Bài 8: Nước ta buổi đầu độc lập Mục 1: Ngô Quyền dựng nền độc lập Giáo

viên cần khắc sâu nhân vật Ngô Quyền như sau:

NGÔ QUYỀN ( NGÔ VƯƠNG )

( 897-944 ) Ngô Quyền là bộ tướng của Dương Đình Nghệ sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh

Tỵ (897) ở Đường Lâm (Ba Vì, Hà Nội) Cha Ngô Quyền là Ngô Mân, một hào trưởng có tài Lớn lên trên quê hương có truyền thống bất khuất, nơi sản sinh và nuôi dưỡng người anh hùng dân tộc Phùng Hưng, Ngô Quyền sớm tỏ rõ chí khí phi thường hiếm thấy Vốn thông minh, có thân thể cường tráng, lại thường xuyên tập võ nghệ nên tiếng tăm Ngô Quyền lan rộng cả một vùng Vì có tài nên Dương Đình Nghệ giao cho Ngô Quyền cai quản đất

Ái Châu (Thanh Hoá và gả con gái cho Trong 5 năm (934-938), Ngô Quyền

đã đem lại yên vui cho đất Ái Châu, tỏ rõ là người có tài đức

Trang 2

Khi Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại, đoạt ngôi vị Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ (người đứng đầu Tĩnh Hải Quân – tên gọi của nước ta thời bấy giờ) Do soán ngôi bất minh, Kiều Công Tiễn bị dân chúng và các thế lực quyền lực phản đối kịch liệt Chẳng những thế, Kiều Công Tiễn còn đứng trước nguy cơ bị các cánh quân của các tướng lĩnh người Việt thảo phạt, trong đó có Ngô Quyền – người rất căm tức Kiều Công Tiễn vì đã sát hại cha

vợ mình Hoảng sợ trước viễn cảnh đen tối, Kiều Công Tiễn dấn thêm một bước sai lầm tệ hại, cầu cứu nhà Nam Hán Chỉ chờ có vậy, nhà Nam Hán bèn lấy cớ xua quân xuống xâm lược nước ta.

Tuy nhiên, chưa kịp chờ quân Nam Hán tới cứu, Kiều Công Tiễn đã bị Ngô Quyền tiễu trừ.

Sau khi diệt được kẻ nghịch tặc Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng đối đầu với quân giặc Nam Hán.

Là một người văn võ toàn tài, Ngô Quyền nắm rất rõ quy luật lên xuống thủy triều trên sông Bạch Đằng Quân Nam Hán lại tấn công nước ta bằng đường thủy Ngô Quyền bèn dụng mưu nhờ thủy triều diệt giặc giúp.

Ông cho người đóng cọc lim, đầu vót nhọn, bọc sắt cứng xuống lòng sông Bạch Đằng Chờ khi thủy triều lên ngập hết bãi cọc, Ngô Quyền cho quân đi thuyền nhẹ ra khiêu chiến, rồi giả thua bỏ chạy Quân Nam Hán tưởng thật, bèn ồ ạt dùng thuyền lớn đuổi theo Khi toàn bộ chiến thuyền của quân Nam Hán rơi vào vùng bãi cọc, cũng là lúc thủy triều xuống rất nhanh Thuyền Nam Hán bị trúng cọc sắt, đua nhau chìm, lật Bấy giờ, Ngô Quyền mới dốc tổng lực ra đánh Quân Nam Hán hỗn loạn, mười phần thì hoặc bị chết chìm, hoặc bị quân ta giết đến 6, 7 phần Tướng giặc là Lưu Hoằng Tháo cũng chết trong đám hỗn loạn ấy Bấy giờ là năm 938.

Sau trận thắng oanh liệt đó, nhà Nam Hán không còn dám ho he nghĩ tới chuyện xâm lấn nước Việt ta nữa.

Trang 3

Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền lên ngôi, xưng là Ngô Vương, đóng đô ở

Cổ Loa, mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ cho nước Việt ta Vì là người mở ra thời

kỳ độc lập huy hoàng cho đất nước, Ngô Quyền được giới sử gia tôn vinh là

“vua đứng đầu các vua”, hay là “vị tổ trung hưng” của nước Việt.

Nguồn: “54 vị Hoàng đế Việt Nam”, Đặng Việt Thuỷ-Đặng Thành

Trung, Nxb Quân đội Nhân dân, 2009, tr 22-23.

Trang 4

2.Nhân vật Đinh Bộ Lĩnh.

Khi giảng dạy về nhân vật Đinh Bộ Lĩnh, giáo viên cần khắc sâu để học sinh ghi nhớ công ơn của ông đã có công xóa bỏ tình trạng phân tán cát cứ của các sứ quân, thống nhất đất nước, thiết lập nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, góp phần củng cố vững chắc nền độc lập, tạo đà cho bước phát triển tiếp theo của dân tộc ta.

Khi giảng dạy

Bài 8: Nước ta buổi đầu độc lập Mục 3: Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước.

Giáo viên cần khắc sâu nhân vật Đinh Bộ Lĩnh như sau:

ĐINH BỘ LĨNH ( ĐINH TIÊN HOÀNG )

( 925-979 )

Ông vốn họ Đinh, tên Hoàng, Bộ Lĩnh là tước quan của sứ quân Trần Lâm phong cho, quê ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), con quan Thứ sử Châu Hoan (Nghệ An) về đời Dương Diên Nghệ là Đinh Công Trứ.

Cha mất sớm, ông theo mẹ là Đàm thị về quê, nương thân với chú ruột là Đinh Dự, ở chăn trâu Thường nhóm họp bạn bè lấy lau làm cờ, lập trận đánh nhau, ông tỏ ra có tài chỉ huy Kết bạn rất thân với Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu

Cơ và Trịnh Tú Bị người chú ghét đuổi đi, ông sang đầu quân trong đạo binh

Trang 5

của sứ quân Trần Lâm ở Bố hải Khẩu Ít lâu, được Trần Lâm mến tài gả con cho, ông càng vững bước trên đường sự nghiệp Không bao lâu, Trần Lâm mất, ông đem quân về giữ Hoa Lư, chiêu mộ hào kiệt, hùng cứ một phương, chống nhà Ngô và các sứ quân khác.

Năm Ất Sửu (965), Nam Tấn vương Xương Văn mất, con là Xương Xí nối nghiệp, quá suy yếu phải về đóng giữ đất Bình Kiều (thuộc Hưng Yên) Ông thừa thế hưng binh đánh lớn, chỉ trong một năm dẹp yên được các sứ quân Được xưng tụng là Vạn Thắng vương Năm Mậu Thìn (968) ông lên ngôi vua, tôn hiệu là Đại Thắng Minh, đặt hiệu nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư Năm Canh ngọ (970) , bắt đầu đặt hiệu năm là Thái Bình Ông truyền cho đúc tiền đồng là tiền tệ xưa nhất ở nước ta, gọi là tiền đồng “Thái Bình” Ông có công lớn trong việc thống nhất đất nước nhưng về chính trị trong nước lại có phần thiên về sử dụng hình phạt nghiêm khắc Năm Quí Dậu (973) ông sai con là Nam Việt vương Đinh Liễn sang cống nhà Tống, được nhà Tống phong ông làm Giao Chỉ Quận vương.

Đến năm Kỉ Mão (979), ông và con lớn là Đinh Liễn bị tên hầu cận là Đỗ Thích ám sát chết Ở ngôi 12 năm (968-979), thọ 56 tuổi, táng ở núi Mã Yên,

xã Trường An thượng, huyện Gia Liễn, tỉnh Ninh Bình, đền thờ ông cũng xây dựng gần đấy.

Nguồn: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Nguyễn Quốc

Thắng-Nguyễn Bá Thế, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006, tr 200.

Trang 6

3.Nhân vật Lê Hoàn.

Đối với nhân vật lịch sử Lê Hoàn, là nhân vật chèo lái con thuyền quốc gia Đại Cồ Việt khi vận nước lâm nguy Là người chuyển nguy thành an, nên khi giảng dạy giáo viên cần khắc sâu nhân vật Lê Hoàn, để học sinh hiểu con thuyền Đại Cồ Việt dưới sự chèo lái của Lê Hoàn đã vượt qua mọi nguy hiểm khó khăn, cập bến vinh quang, mở ra kỷ nguyên “Nam thiên lý thái bình” (trời Nam mở nền thái bình)

Khi giảng dạy

Bài 9: Nước Đại Cồ Việt thời Đinh-Tiền Lê Phần I-Tình hình chính trị, quân sự Mục 2: Tổ chức chính quyền thời Tiền Lê Giáo viên cần khắc sâu về

nhân vật Lê Hoàn như sau:

LÊ HOÀN ( LÊ ĐẠI HÀNH )

( 941-1005 )

Lê Hoàn sinh năm Tân Sửu (941) ởXuân Lập, Thọ Xuân, Thanh Hoá trong một gia đình nghèo khổ Cha là Lê Mịch,

mẹ là Đặng Thị Sen đều lần qua đời khi

Lê Hoàn còn nhỏ Bởi vậy, cũng ngay từ

bé, Lê Hoàn phải làm con nuôi cho một vị quan nhỏ, người cùng họ Lớn lên, Lê Hoàn đi theo Nam Việt Vương Đinh Liễn.

Dù chỉ là lính thường nhưng trí dũng khác thường, tính tình phóng khoáng nên được cha con Đinh Bộ Lĩnh yêu mến Trong công cuộc đánh dẹp các sứ quân,

Lê Hoàn tỏ rõ là người có tài nên được

Trang 7

Đinh Bộ Lĩnh giao cho trông coi 2.000 binh sĩ Đến khi dẹp yên các sứ quân, thống nhất đất nước, lập nên cơ nghiệp nhà Đinh, Lê Hoàn được phong chức Thập Đạo tướng quân, Điện tiền đô Chỉ huy sứ (tổng chỉ huy quân đội kiêm chỉ huy đội quân cấm vệ) của triều đình Hoa Lư Lúc này, Lê Hoàn vừa tròn

30 tuổi.

Tháng 10 năm Kỷ Mão (979), cha con Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết hại, Đinh Toàn 6 tuổi lên ngôi vua, Lê Hoàn làm nhiếp chính, trong một tình thế đầy khó khăn Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp nổi loạn nhưng đã bị Lê Hoàn dẹp tan Ngô Nhật Khánh, phò mã nhà Đinh, bỏ trốn vào Nam rước vua Cham-pa cùng hơn nghìn chiến thuyền toan cướp Kinh đô Hoa Lư nhưng đã bị bão đắm hết Tháng 7 năm Canh Thìn (980), đại quân Tống theo đường thuỷ bộ xâm lược Đại Cồ Việt Trước nguy cơ xâm lược của quân Tống, Thái hậu họ Dương thấy Lê Hoàn được lòng người quy phục, quan lại đồng tình, bèn lấy áo long bào khoác lên người Lê Hoàn và suy tôn ông làm vua

Lê Hoàn (Lê Đại Hành) lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc, lập nên nhà Lê Sử cũ gọi là Tiền Lê

Lê Đại Hành vẫn đặt tên nước là Đại Cồ Việt đóng đô tại Hoa Lư Năm Ất Tỵ (1005), vua Lê Đại Hành mất, thọ 64 tuổi, làm vua được 24 năm.

Khi giảng dạy mục 3: Cuộc kháng chiến chống Tống của Lê Hoàn, giáo

viên cần khắc sâu những sự kiện về nhân vật Lê Hoàn như sau:

Tháng 7 năm Canh Thìn (980), đại quân Tống theo hai đường thủy, bộ xâm lược Đại Cồ Việt Lê Hoàn lúc này đã lên ngôi hoàng đế tức Lê Đại Hành vừa triển khai lực lượng sẵn sàng chiến đấu vừa sai sứ đưa thư cầu hòa Vua Tống đòi Dương Vân Nga và con là Đinh Toàn sang chầu Tình thế bức bách,

Lê Hoàn buộc phải cho quân đánh giặc quyết bảo vệ đất nước Ông đã tái tạo một Bạch Đằng, sáng tạo một Chi Lăng, thắng lợi lớn trên cả hai mặt thủy bộ,

Trang 8

giết được tướng giặc Hầu Nhân Bảo, diệt quá nửa quân Tống, buộc vua Tống phải xuống chiếu lui quân.

Đại thắng năm Tân Tỵ (981) đã mở đầu kỷ nguyên Đại Việt bách thắng bọn phong kiến phương Bắc.

Sau khi đại thắng quân Tống, nhà Tống buộc phải công nhận chủ quyền của nước ta do vua Lê Đại Hành đứng đầu Lê Đại Hành (Lê Hoàn) – người

“vác núi vật biển” (phụ sơn hải đảo) là danh hiệu người Tống dùng để chỉ ông

từ sau trận họ thua về quân sự Họ đã phải nhìn nhận ông như một con người kiên cường, dũng mãnh, có thể làm những việc kinh thiên động địa.

Nguồn: “ 54 vị Hoàng đế Việt Nam”, Đặng Việt Thuỷ-Đặng Thành Trung, Nxb Quân đội Nhân dân, 2009, tr 30-31.

Trang 9

4 Nhân vật Lý Công Uẩn.

Với chính sách đúng đắn dưới thời cai trị của mình, Lý Công Uẩn đã góp phần xây dựng vương triều Lý hùng mạnh, mở ra một kỉ nguyên văn minh Đại Việt Đó là thời kì cả dân tộc vươn lên mạnh mẽ trong xây dựng lại đất nước sau hơn nghìn năm Bắc thuộc và sau giai đoạn chuẩn bị đời Ngô, Đinh, Tiền Lê, thực hiện thành công một cuộc phục hưng dân tộc lớn lao Nước Đại Việt nhanh chóng trở thành quốc gia độc lập, thống nhất nên khi giảng dạy giáo viên cần khắc sâu nhân vật Lý Công Uẩn, để giúp học sinh rèn

kỹ năng đánh giá công lao của nhân vật lịch sử tiêu biểu (thời Lý)

Khi giảng dạy

Bài 10: Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước Mục 1: Sự thành lập nhà Lý Giáo viên cần khắc sâu về nhân vật Lý Công Uẩn như sau:

LÝ CÔNG UẨN ( LÝ THÁI TỔ )

( 974-1028 )

Người khởi dựng chiều Lý là Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp (nay

là Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) Lý Công Uẩn sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất (974), là con nuôi của thiền

sư Lý Khánh Văn từ năm 3 tuổi và truyền thuyếtvẫn cho rằng ông là con của Vạn Hạnh, anh ruột Khánh Văn.

Lý Công Uẩn lớn lên tỏ rõ có chí lớn khác thường Ông đến Hoa Lư làm quan nhà Tiền Lê đến chức Tả

Trang 10

thân vệ điện tiền Chỉ huy sứ Khi vua Trung Tông bị giết, ông ôm thây vua khóc Vua Ngoạ Triều khen là trung, cử ông làm Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy

sứ, thống lĩnh hết quân túc vệ

Đến ngày Tân Hợi tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), vua Lê Long Đĩnh (Ngoạ Triều) băng hà ở tẩm điện Sau đó ba ngày là ngày Quý Sửu, Lý Công Uẩn được trăm quan và quân đội tôn lên chính điện, lên ngôi Hoàng đế Miếu hiệu Lý Thái Tổ, mở đầu vương triều Lý

Hoa Lư là Kinh đô của nước ta từ thời Đinh Tiên Hoàng Đấy cũng chính là quê hương của vua Đinh Hoa Lư là vùng đất nhỏ hẹp, xung quanh có rất nhiều núi non Địa hình của Hoa Lư phù hợp với phòng thủ nhưng không phù hợp với phát triển kinh tế, giao thông, nghĩa là không có tầm vóc phát triển như một Kinh đô Lý Thái Tổ bèn nghĩ tới việc dời đô “Xem khắp đất Việt”, thấy chỉ có Đại La là “nơi thắng địa”, “ở trung tâm của trời đất”,

“được thế rồng chầu hổ phục, đã thuận hướng nam bắc đông tây, lại tiện nghi núi sông sau trước”, “mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa”,

Lý Thái Tổ bèn soạn thiên Chiếu dời đô nổi tiếng sử sách để tham vấn ý kiến quần thần Vua tôi nhất trí đồng lòng, bèn quyết dời đô từ Hoa Lư ra Đại La Bởi vậy, việc làm có ý nghĩa lớn nhất của vị vua khai cơ này là quyết định chuyển Kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long.

Quyết định này không những cho thấy Lý Công Uẩn có một tầm nhìn rộng lớn, mà còn thể hiện tâm thế tự chủ, dũng cảm của một quốc gia, đã tự tin rời bỏ nơi phòng thủ để hướng đến sự phát triển, khẳng định chính mình.

Tháng 7 năm Canh Tuất (1010), vua lên thuyền ngự, dời đô về Thành Đại La Theo truyền thuyết, khi thuyền ngự sắp đến nơi, nhà vua nhìn thấy trong đám mây phía Thành Đại La có con rồng vàng bay lên Vua cho là điềm

lành, bèn đổi tên thành là Thành Thăng Long (có nghĩa là Rồng bay lên) Cái

tên Thăng Long được ra đời từ đó.

Trang 11

Định đô tại Thăng Long, Lý Công Uẩn cho đổi tên cố đô Hoa Lư thành phủ Tràng An, đổi tên quê hương Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức, chia cả nước làm 24 lộ, gọi Hoan Châu và Ái Châu là trại.

Đất nước ta dưới thời vua Lý Thái Tổ trị vì rất ổn định Thiên hạ được yên ổn, nhân dân chí thú làm ăn, ngày càng no ấm.

Lý Thái Tổ ở ngôi được 19 năm thì băng hà, thọ 55 tuổi.

Nhà Lý truyền ngôi được 8 đời (không kể vua Lý Chiêu Hoàng đánh mất ngôi vua về tay nhà Trần), nên dân gian vẫn coi hình bông hoa 8 cánh đất đùn trên mộ thân phụ nhà vua là điềm báo nhà Lý giữ ngôi vua được 8 đời Tại đền Lý Bát Đế (thuộc Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) nay vẫn chỉ thờ 8 vị vua này

Lý Thái Tổ ở ngôi từ năm 1010 đến năm 1028, lấy niên hiệu là Thuận Thiên Năm 1028, Lý Thái Tổ băng hà, được đặt thụy hiệu là Thần vũ Hoàng

đế Linh cữu Lý Thái Tổ được táng tại Thọ Lăng.

Nguồn: “ 54 vị Hoàng đế Việt Nam”, Đặng Việt Thuỷ-Đặng Thành Trung, Nxb Quân đội Nhân dân, 2009, tr 44-47.

Trang 12

5 Nhân vật Lý Thường Kiệt.

Giáo viên khắc sâu nhân vật Lý Thường Kiệt, để giáo dục cho học sinh lòng

tự hào dân tộc và biết ơn người anh hùng dân tộc có công với đất nước.

Khi giảng dạy

Bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075-1077) Phần I: Giai đoạn thứ nhất (1075-1076) Mục 2: Nhà Lý chủ động tiến công để phòng

vệ Giáo viên cần khắc sâu những sự kiện về nhân vật Lý Thường Kiệt như

sau:

LÝ THƯỜNG KIỆT ( 1019-1105 )

Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, sinh năm

1019, mất năm 1105, thọ 86 tuổi Ông vốn là người làng An Xá, huyện Quảng Đức, sống tại phường Thái Hòa (thuộc phía trên khu vực Bách Thảo, Hà Nội hiện nay) Như vậy, ông

là người Thăng Long gốc.

Ngô Tuấn có bố là Ngô An Ngữ Ngô An Ngữ là một quan võ, từng giữ chức Sùng ban Lan tướng vào đầu triều Lý Mẹ Ngô Tuấn là người họ Hàn, sinh con đầu lòng là Ngô Tuấn năm 20 tuổi Bố mẹ Ngô Tuấn sinh được 2 người con trai, Ngô Tuấn và

em là Ngô Hiến Ngô Hiến sau này cũng trở thành một quan võ phục vụ trong triều đình nhà Lý, cũng được vua ban cho quốc thích với tên mới là Lý Thường Hiến.

13 tuổi, Ngô Tuấn mồ côi cha, được gia đình một người cô mang về nuôi dạy, cho ăn học tới nơi, tới chốn Vốn là con nhà võ, Ngô Tuấn thường xuyên luyện tập võ nghệ Ông nổi tiếng là người văn võ song toàn Năm Ngô Tuấn 18 tuổi, mẹ của ông cũng đột ngột qua đời Mới 18 tuổi, nhưng Ngô Tuấn đã

Trang 13

đứng ra lo việc hiếu cho mẹ vẹn toàn, được hàng xóm ngợi khen là người con chí hiếu.

20 tuổi, Ngô Tuấn lấy vợ tên là Thuần Khanh 21 tuổi, gác tình riêng, Ngô Tuấn xin vào đội kỵ binh của nhà vua với mong muốn được thỏa chí trai, góp sức bảo vệ bờ cõi nước nhà Ngô Tuấn được phong làm Kỵ mã Hiệu úy Đây chỉ là một chức quan nhỏ, nhưng đó là bước khởi đầu tốt đẹp cho sự nghiệp của Ngô Tuấn sau này.

Ngô Tuấn làm Kỵ mã Hiệu úy được 3 năm Sau đó, vua Lý thấy Ngô Tuấn khôi ngô, tác phong đĩnh đạc, học rộng, hiểu nhiều nhưng cũng rất đỗi khiêm tốn, thận trọng bèn cho vào cung, bổ làm thị vệ hầu cận vua Do quy định ngặt nghèo dưới thời phong kiến, để được nhập cung hầu vua, Ngô Tuấn phải tự yếm (tự nguyện hoạn để trở thành hoạn quan) Là người học rộng, tài cao, lại trung trinh, hiếu nghĩa, Ngô Tuấn nhanh chóng được vua Lý tin cẩn giao nhiều trọng trách và liên tục được thăng quan vì lập được nhiều công trạng, được vua Lý ban cho quốc thích, lấy tên tự ghép lại thành Lý Thường Kiệt Người đời sau thường biết đến và gọi ông là Lý Thường Kiệt là vì vậy.

Công trạng của Lý Thường Kiệt lập được nhiều khó kể xiết, chỉ có thể

kể tới những công lớn của ông, từ dẹp nội loạn tới bình Chiêm, phạt Tống Trong công cuộc bình Chiêm, Lý Thường Kiệt được giao lãnh quân tiên phong, truy bắt được vua Chiêm là Chế Củ, buộc Chế Củ phải hàng và dâng 3 châu để được tha về nước Trong công cuộc phạt Tống, nhà Tống nhăm nhe xâm lược nước ta vì ngỡ sau trận chiến với Chiêm Thành, Đại Việt đã bị suy yếu, hao binh, tổn tướng.

Với những chiến công lẫy lừng, Lý Thường Kiệt được phong làm Phụ quốc thái phó, dao thụ chư trấn tiết độ, đồng trung thư môn hạ, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, phụ quốc thượng tướng quân, tước Khai quốc công, sau lại được phong làm Thái úy.

Lý Thường Kiệt mất năm 1105, thọ 87 tuổi Thương tiếc, vua Lý Nhân Tông ban cho ông chức Nhập nội điện đô tri kiểm hiệu thái úy bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, cho em trai ông là Lý Thường Hiến kế phong tước hầu.

Trang 14

Bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075-1077) Phần II: Giai đoạn thứ hai (1076-1077) Mục 2: Cuộc chiến đấu trên phòng tuyến Như Nguyệt

Với sự kiện tại phòng tuyến sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt làm bài

“thơ thần” Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) nổi tiếng:

Quân Tống khi sa vào trận địa trên sông Như Nguyệt thì bị cắt hoàn toàn đường tri viện Lương thảo thiếu thốn, lại không hợp thủy thổ nên quân Tống thảy đều mỏi mệt, ốm yếu mà chết Thêm vào đó, quân Đại Việt dùng mưu liên tục tập kích khiến quan quân nhà Tống hãi hùng càng đến tột cùng,

10 phần thì quân chết đến 6, 7 phần Đêm đêm, Lý Thường Kiệt cho người ngâm nga bài thơ thần từ đền thờ Trương Hống, Trương Hát Lời thơ trầm bổng nhưng uy lực như được phát ra từ hồn thiêng sông núi khiến quân Tống càng kinh hồn, bạt vía:

Nam quốc sơn hà, Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Lời dịch:

Sông núi nước Nam, vua Nam ở,

Rành rành định phận tại sách trời.

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Biết được quân Tống đã ở vào thế không thể chịu đựng hơn được nữa,

để tránh họa binh đao làm lụy tới dân chúng cả hai nước, Lý Thường Kiệt bèn sai người đi nghị hòa Chỉ huy quân Tống là Quách Quỳ như người chết đuối vớ được cọc, vội vã chấp nhận giảng hòa, rút tàn quân về nước Về đến nước rồi mà quan quân nhà Tống vẫn chưa hết hoảng hồn, chúng tâu với vua Tống: “Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hòa, không thì chưa biết làm thế nào”.

Trang 15

Nguồn: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Đinh Xuân Lâm-Trương

Hữu Quýnh, Nxb Giáo dục, 2000.

Trang 16

6 Nhân vật Trần Cảnh.

Nhân vật Trần Cảnh là vị vua đầu tiên của nhà Trần Việc lên ngôi của ông thật đặc biệt, do tài sắp đặt của Trần Thủ Độ mà nên, đúng vào lúc ông mới 8 tuổi Vì vậy, khi giảng dạy giáo viên cần khắc sâu nhân vật Trần Cảnh,

để học sinh hiểu hơn quá trình thành lập của nhà Trần.

Khi giảng dạy

Bài 13: Nước Đại Việt ở thế kỷ XIII Phần I-Nhà Trần thành lập Mục 1: Nhà Lý sụp đổ Giáo viên cần khắc sâu về nhân vật Trần Cảnh như sau:

TRẦN CẢNH ( TRẦN THÁI TÔNG )

( 1218-1277 )

Vua Trần Thái Tông huý là Cảnh, là vị vua đầu tiên của nhà Trần, sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218) tại hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay là thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng ngoại thành Nam Định Ông là con trai của Trần Thừa, cháu gọi Trần Thủ Độ bằng chú Việc lên ngôi của ông thật đặc biệt, do tài sắp đặt của Trần Thủ Độ mà nên, đúng vào lúc ông mới có 8 tuổi.

Khi ông sinh ra, họ Trần đã nắm quyền thao túng triều chính nhà Lý Lúc đó chú họ

là Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ, cai quản toàn bộ binh lực triều đình Trần Cảnh do là họ hàng nên được vào hầu trong cung Lý Chiêu Hoàng, nữ hoàng nhỏ tuổi của nhà Lý thấy ông thì rất thích

Trang 17

" Một hôm, Cảnh lúc ấy mới lên 8 tuổi, phải giữ việc bưng nước rửa,

nhân thế vào hầu bên trong Chiêu Hoàng trông thấy làm ưa, mỗi khi

chơi đêm cho gọi Cảnh đến cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến

trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng lên bóng Có một hôm, Cảnh

bưng chậu nước hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước té ướt cả

mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném

cho Cảnh Cảnh không dám nói gì, về nói ngầm với Thủ Độ Thủ Độ

nói: " Nếu thực như thế thì họ ta thành hoàng tộc hay bị diệt tộc đây?"

Lại một hôm, Chiêu Hoàng lại lấy khăn trầu ném cho Cảnh, Cảnh lạy

rồi nói: " Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh" Chiêu

Hoàng cười và nói: " Tha tội cho ngươi Nay ngươi đã biết nói khôn đó"

Cảnh lại về nói với Thủ Độ Thủ độ sợ việc tiết lộ thì bị giết cả, bấy giờ

mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm Thủ Độ đóng cửa

thành và các cửa cung, sai người coi giữ, các quan vào chầu không

được vào Thủ Độ loan báo rằng: " Bệ hạ đã có chồng rồi".

Đại Việt Sử ký Toàn thư

Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (tức 22 tháng 11 năm 1225), Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh Ngày mồng 1 tháng Chạp năm ấy (tức 31 tháng 12 năm1225), Chiêu Hoàng bỏ hoàng bào mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế ở điện Thiên An, dựng lên nhà Trần, sử gọi là Trần Thái Tông Chiêu Hoàng được Thái Tông phong làm Hoàng hậu.

Trần Cảnh tức vị Hoàng đế, trở thành người khai lập ra nhà Trần, tự xưng là Thiện Hoàng , đổi niên hiệu làm Kiến Trung Ông tôn cha Trần Thừa

làm Thái thượng hoàng, chú là Trần Thủ Độ làm Thái sư, gọi là Quốc thượng

phụ , nắm trong tay quyền hành lớn.

Ngày 24 tháng 2 năm 1258, ông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, lui

về làm Thái thượng hoàng, được tôn làm Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái

Thượng Hoàng Đế Trần Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông Lệ Thái

thượng hoàng của nhà Trần từ đây thành truyền thống, thứ nhất tránh việc tranh giành ngôi báu giữa các con do đã sớm được định đoạt, thứ nữa là rèn luyện cho vị Hoàng đế mới cai trị đất nước càng sớm càng tốt.

Trang 18

Ngày mồng 1 tháng 4 năm Đinh Sửu (tức 5 tháng 5 năm 1277), Thái thượng hoàng mất tại Vạn Thọ điện, thọ 58 tuổi, táng tại Chiêu Lăng thuộc phủ Long Hưng (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình ngày nay).

Ông được dâng miếu hiệu là Thái Tông, thụy hiệu là Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu hoàng đế.

Nguồn: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Đinh Xuân Lâm-Trương

Hữu Quýnh, Nxb Giáo dục, 2000.

Trang 19

7 Nhân vật Trần Thủ Độ

Trần Thủ Độ là người có bản lĩnh và cá tính khác thường Ông xử lý việc gì cũng thẳng thắn, thường quyết đoán theo ý chí của mình, ít chịu để cho tình cảm sai khiến Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Thủ Độ gắn liền với nghiệp đế của họ Trần Nhưng hiệu quả lịch sử những việc ông làm đã đưa nước nhà qua khỏi cuộc suy vong cuối triều Lý và khởi dựng nên thời đại Đông A rực rỡ những chiến công oanh liệt chống ngoại xâm và những thành tựu xây dựng đất nước Vì vậy, giáo viên cần khắc sâu nhân vật lịch sử Trần Thủ Độ, để học sinh tự hào về lịch sử dân tộc, về ý thức tự lập tự cường của ông cha ta thời Trần.

Khi giảng dạy

Bài 13: Nước Đại Việt ở thế kỷ XIII Phần I-Nhà Trần thành lập Mục 1: Nhà Lý sụp đổ Giáo viên cần khắc sâu về nhân vật Trần Thủ Độ như sau:

THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ

( 1194-1264 )

Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần(1194) ở làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng, nay là xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Tổ tiên ông vốn nối đời làm nghề đánh cá, từ Yên Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) về vùng sông nước Hiển Khánh, Tức Mặc ven bờ sông Hồng (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), rồi sang ở vùng Bát Xá – Tam Nông (tám làng Xá, ba làng Nông) cạnh dòng sông Luộc Đến đời thân phụ của Trần Thủ Độ và nguyên tổ Trần Lý của nhà Trần thì họ Trần trở nên giàu có,

Trang 20

người ở quanh vùng quy phụ, “…nhân có nhiều người cũng nổi lên làm giặc” Nhất là từ khi Trần Lý có người con gái là Trần Thị Dung lấy Hoàng Thái tử Sảm (sau là vua Lý Huệ Tông) thì thanh thế càng lớn Trần Thủ Độ cùng với những người con ưu tú khác của họ Trần sớm tham gia lập các đội hương binh đi đánh dẹp các thế lực cát cứ khác, lúc đầu nhằm khôi phục cơ nghiệp cho nhà Lý Năm 1224, ông được nhà Lý phong làm Điện tiền chỉ huy sứ, quản lý các đạo quân bảo vệ kinh thành Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn.

Trần Thủ Độ là người có bản lĩnh và cá tính khác thường Ông xử lý việc gì cũng thẳng thắn, thường quyết đoán theo ý chí của mình, ít chịu để cho tình cảm sai khiến Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Thủ Độ gắn liền với nghiệp đế của họ Trần Nhưng hiệu quả lịch sử những việc ông làm đã đưa nước nhà qua khỏi cuộc suy vong cuối triều Lý và khởi dựng nên thời đại Đông A rực rỡ những chiến công oanh liệt chống ngoại xâm và những thành tựu xây dựng đất nước.

Cuối triều Lý, chính quyền trung ương bất lực trước cuộc suy thoái về kinh tế và hỗn loạn về chính trị Thiên tai, mất mùa, đói kém xảy ra liên tiếp Các thế lực cát cứ nổi lên khắp nơi đánh giết lẫn nhau, cướp bóc bừa bãi Ngoài biên thùy, Chiêm Thành và Chân Lạp thường xuyên quấy phá Đế quốc Mông Cổ cũng đã tung vó ngựa sang phía Đông đánh Kim, diệt Tây Hạ, chiếm Triều Tiên, chuẩn bị xâm lược Tống và các nước phía Nam.

Trong lúc ấy, vua Lý Cao Tông vẫn mải mê rong chơi, say đắm thanh sắc, thích xây dựng cung điện, đền miếu, không thiết gì đến chính sự Vua Lý Huệ Tông thì nhu nhược, bệnh hoạn, năm Giáp Thân (1224) truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới 6 tuổi rồi đi tu ở chùa Chân giáo.

Trần Thủ Độ đạo diễn cuộc chính biến tháng Chạp năm Ất Dậu (tức tháng 1-1226), xếp đặt việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần

Cảnh với lời lẽ trong chiếu nhường ngôi rằng: “…Trẫm là nữ chúa, tài đức

đều thiếu, không có người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, giữ thế nào nổi ngôi báu nặng nề”.

Làm cuộc đảo chính thay đổi triều đại mà không xảy ra đổ máu và đảo lộn lớn trong nước, Trần Thủ Độ tỏ ra là một nhà chính trị sáng suốt, khôn khéo.

Trang 21

Ngay sau khi lên làm vua, Trần Thái Tông phong Trần Thủ Độ làm Quốc thượng phụ nắm giữ mọi việc cai trị thiên hạ Năm sau lại phong Trần Thủ Độ làm thái sư giữ tất cả việc hành quân, đánh dẹp trong nước Ông là một nhà lãnh đạo tài giỏi và tận tụy chăm lo việc nước Phàm công việc gì làm cho đế nghiệp Đông A vững mạnh, ông đều cương quyết làm bằng được Năm

70 tuổi, trước lúc chết 5 tháng, sử còn chép việc ông đi tuần ở vùng biên giới

Lạng Sơn “Thủ Độ tuy làm Tể tướng mà phàm công việc, không việc gì không

để ý” Vì thế đã giúp nên vương nghiệp, giữ được tiếng tốt cho đến lúc mất.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Mông Cổ, Trần Thủ Độ có vai trò hết sức quan trọng Tháng 12 năm Đinh Tỵ (tức tháng 1-1258), quân Mông Cổ, sau khi tiêu diệt nước Đại Lý (Vân Nam), đã tiến vào lưu vực sông Hồng Thế giặc rất mạnh Quân Đại Việt bị đánh lui, vua Thái Tông phải bỏ Thăng Long rút xuống phía nam Vua ngự thuyền nhỏ đến thuyền em ruột là Thái úy Trần Nhật Hạo hỏi kế Nhật Hạo lấy ngón tay chấm nước viết hai chữ “Nhập Tống” ở mạn thuyền, ý khuyên vua nên chạy sang nhờ vả nước Tống Vua bèn rời thuyền đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ, Trần Thủ Độ trả lời:

– Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!

Vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến, câu trả lời đanh thép ấy của ông đã giữ vững được tinh thần dám đánh và quyết thắng của quân dân Đại Việt trong cuộc phản công quyết liệt đánh vào Đông Bộ Đầu ngày 29-1-1258, buộc địch phải rút chạy về nước.

Trần Thủ Độ xứng đáng được xếp vào hàng những nhân vật kiệt xuất,

đi đầu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc.

Ông mất tháng Giêng năm Giáp Tý (1264), thọ 71 tuổi.

Nguồn: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Đinh Xuân Lâm-Trương Hữu Quýnh, Nxb Giáo dục, 2000.

Trang 22

8 Nhân vật Trần Quốc Toản.

Mới 15 tuổi, tính theo “tuổi ta” là 16, nhưng chàng thiếu niên này đã hừng hực chí lớn muốn diệt giặc bạo tàn, bảo vệ sự toàn vẹn cho non sông nước Việt Chàng thiếu niên dũng mãnh ấy đã từng bóp nát quả cam vua ban

vì không được dự bàn việc nước, dốc lòng xông pha trận mạc với lá cờ thêu sáu chữ vàng “Diệt cường địch, báo hoàng ân” nổi danh sử sách Vì vậy, giáo viên cần khắc sâu nhân vật Trần Quốc Toản, để giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, tự hào về anh hùng dân tộc, ý thức tự lập tự cường

Khi giảng dạy

Bài 14: Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông-Nguyên (thế kỷ XIII) Phần II-Cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân xâm lược Nguyên (1285) Mục 2: Nhà Trần chuẩn bị kháng chiến Giáo viên cần khắc sâu sự kiện

về nhân vật Trần Quốc Toản như sau:

TRẦN QUỐC TOẢN

( 1267-1285 )

Trần Quốc Toản sinh năm

1267, là con trai của Trung Thành vương (sử liệu không ghi rõ Trung Thành vương có tên thật là gì), nên được phong là Hoài Văn hầu.

Trước khi Hoài Văn hầu chào đời 10 năm, quân, dân Đại Việt đã khiến giặc Nguyên Mông thua tan tác trong trận quyết chiến Đông Bộ Đầu, giành thắng lợi tưng bừng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất Biết rằng giặc Nguyên Mông không bao giờ từ bỏ

Trang 23

giấc mộng thôn tính Đại Việt, triều đình nhà Trần một mặt giảng hòa với nhà Nguyên, một mặt tích cực chuẩn bị lực lượng sẵn sàng ứng phó Suốt từ năm

1258 trở đi, trong khoảng 1/4 thế kỷ, nhà Trần áp dụng phương sách đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt nhưng cũng không kém phần cương quyết, không ít lần vua Trần khéo léo từ chối những yêu sách quá quắt của Hốt Tất Liệt, hoàng đế Nguyên Mông Điều này càng khiến Hốt Tất Liệt nung nấu quyết tâm thôn tính Đại Việt và càng ngày càng đưa ra những yêu sách quá quắt để

“nắn gân” và “dọn đường” cho cuộc tấn công xuống Đại Việt Đó là lý do vua Trần triệu tập hội nghị Bình Than vào tháng 10 năm 1282, khởi đầu cho câu chuyện “bóp nát quả cam” hy hữu trong lịch sử của Trần Quốc Toản.

Trước nguy cơ giặc Nguyên Mông đánh chiếm Đại Việt hiện hữu, tháng

10 năm 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Bình Than để bàn phương hướng kháng chiến, tiến cử và quyết định nhân sự cho cuộc kháng chiến khi Nguyên Mông xua quân đánh chiếm nước ta Hội nghị này bao gồm quan lại, vương hầu và được đích thân vua Trần chủ trì Do mới 16 tuổi (theo cách tính tuổi như bây giờ thì khi ấy, Trần Quốc Toản mới 15 tuổi), nên Hoài Vương hầu không được mời dự Hội nghị Tuy vậy, Hoài Vương hầu vẫn tới bến Bình Than, đòi được vào dự Hội nghị Bị lính canh chặn cửa, Hoài Văn hầu vặn hỏi:

- Ta là Hoài Văn hầu, quan gia truyền gọi tất cả vương, hầu tới họp Ta là hầu, cớ sao không cho vào?

Thấy chuyện ầm ĩ bên ngoài, Trần Nhân Tông hỏi ra mới biết chuyện, bèn cho người mang ban cho Hoài Văn hầu một quả cam và khuyên Hoài Văn hầu lui bước vì chưa đến tuổi bàn việc nước Về chuyện này, Đại Việt sử ký toàn thư chép lại như sau: Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn Quốc Toản trong lòng

hổ thẹn, phẫn kích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết.

Trở về từ Hội nghị Bình Than, Hoài Văn hầu vẫn quyết tâm tìm cách đánh giặc cứu nước Chàng thiếu niên có vóc dáng vạm vỡ hơn người do sớm thao luyện võ nghệ bèn quy tập gia nhân, trai tráng trong vùng được hơn

1000 người, rèn luyện binh khí, tích trữ lương thảo, ngày đêm luyện võ, tập

trận Trần Quốc Toản còn cho thêu trên một lá cờ lớn 6 chữ vàng: “Phá

cường địch, báo hoàng ân”.

Trang 24

Cuối tháng 2 năm 1285, quân Nguyên Mông ồ ạt tấn công Đại Việt Trong các trận chiến chống giặc ngoại xâm, Trần Quốc Toản thường dẫn quân xông lên trước lính triều đình, tả xung hữu đột đương đầu trực tiếp với thế giặc đang mạnh Lá cờ thêu 6 chữ vàng của Trần Quốc Toản xuất hiện trên nhiều mặt trận, góp phần quan trọng làm chậm bước tiến của quân

Nguyên Về chuyện này, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “khi đối trận với

giặc, (Hoài Văn hầu) tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch”.

Nguồn: Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long Hà Nội.

Trang 25

9 Nhân vật Trần Quốc Tuấn.

Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng gồm đủ tài đức Là tướng dũng, ông xông pha nơi nguy hiểm để đánh giặc, tạo những trận như Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời Ông là người đã có công lao to lớn trong ba cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên Vì vậy, khi giảng dạy giáo viên nên khắc sâu nhân vật lịch sử Trần Quốc Tuấn, để bồi dưỡng cho học sinh niềm tự hào về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và biết ơn người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn có công lớn với đất nước.

Khi giảng dạy

Bài 14: Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông-Nguyên (thế kỷ XIII) Phần IV-Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông-Nguyên Mục 1: Nguyên nhân thắng lợi.

Giáo viên cần khắc sâu về nhân vật Trần Quốc Tuấn như sau:

HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN

QUỐC TUẤN ( 1228-1300 )Ông tên thật là Trần Quốc Tuấn,

là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu vua Trần Thái Tông, quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Hà Nam Ninh (nay thuộc tỉnh Nam Định) Năm sinh của ông không rõ ràng, có tài liệu cho là năm 1228, có tài liệu thì cho

là năm 1230 hay 1232 Ngài thông minh đĩnh ngộ, văn võ song toàn; chí biết

Trang 26

dẹp thù nhà, thân biết đoàn kết anh em dòng họ cùng lo toan việc nước Ngài nghiên cứu binh thư, biết dùng người hiền tài như Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng; coi binh sĩ như chân với tay Ở nơi Ngài thể hiện các đức tính: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, và Tín Cả ba lần chống quân Mông- Nguyên, ngài đã lập nhiều công lớn Ngài mất vào ngày 20 tháng Tám năm Canh Tý (1300) Thi hài được hỏa táng theo ý nguyện của ngài: tro thu vào một bình đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ Có đền thờ tại Vạn Kiếp, Chí Linh.

Ngài vốn có tài quân sự, lại là tôn thất nhà Trần, do đó trong cả 3 lần quân Nguyên – Mông tấn công Đại Việt, ông đều được vua Trần cử làm tướng chống trận Đặc biệt ở kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ 2 và thứ 3, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ (Tổng tư lệnh quân đội) Dưới tài lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi giặc ra khỏi nước vì thế ngài được phong tước Hưng Đạo Vương.

Trần Quốc Tuấn là bậc tướng trụ cột của triều đình Ông đã soạn hai

bộ binh thư: Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp Tông bí truyền thư để răn dạy các tướng cầm quân đánh giặc Khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng trận, tiến lui Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn trương của một bậc “đại bút“.

Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng gồm đủ tài đức.

Là tướng nhân, ông thương dân thương quân, chỉ cho họ con đường sáng.

Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi.

Là tướng trí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn tới đâu.

Là tướng dũng, ông xông pha nơi nguy hiểm để đánh giặc, tạo những trận như Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời.

Trang 27

Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông thì gặp họa Cho nên, cả 3 lần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọng trách điều bát binh mã và đều lập công lớn.

Mùa thu tháng Tám, ngày 20 năm Canh Tý (1300), “Bình Bắc đại nguyên soái” Hưng Đạo đại vương qua đời Theo lời ông dặn, thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rường An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ Vua gia phong cho ông tước Hưng Đạo đại vương Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh Nơi phong ấp của ông lúc sinh thời.

Sau khi mất, Trần Hưng Đạo được thờ phụng ở nhiều nơi, trong đó lễ hội lớn nhất ở đền Kiếp Bạc thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay, nơi ngày xưa là phủ đệ của Ngài Ngài được người dân bao đời sùng kính phong Thánh tức là Đức thánh Trần, đây là điều hiếm hoi trong lịch sử chỉ dành riêng cho vị danh tướng nhà Trần Ngày lễ chính thức được tổ chức vào ngày Ngài mất (20 tháng 8 âm lịch hàng năm) Nhân dân không gọi trực tiếp tên của Ngài mà gọi là Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo Đại Vương, Đức thánh Trần, hoặc gọi là Cha (Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ).

Câu nói nổi tiếng của Ngài:

“Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rễ Đó là thượng sách giữ nước.”

“Vua tôi một lòng, anh em hòa thuận, nước nhà chung sức, trăm họ là binh.”

Nguồn: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Đinh Xuân Lâm-Trương

Hữu Quýnh, Nxb Giáo dục, 2000.

Trang 28

10 Nhân vật Trần Nhân Tông.

Trần Nhân Tông là một trong những vị hoàng đế nổi tiếng anh minh trong lịch sử Việt Nam, có vai trò lãnh đạo quan trọng trong chiến tranh chống quân Nguyên-Mông lần 2 và lần 3 Đã đánh tan tác quân đội hùng mạnh của nhà Nguyên, bảo vệ bờ cõi Đại Việt trước vó ngựa nổi tiếng vô địch của người Mông Cổ Vì vậy, giáo viên cần khắc sâu nhân vật lịch sử Trần Nhân Tông, để bồi dưỡng cho học sinh niềm tự hào về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc.

Khi giảng dạy

Bài 14: Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông-Nguyên (thế kỷ XIII) Phần IV-Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông-Nguyên Mục 1: Nguyên nhân thắng lợi.

Giáo viên cần khắc sâu về nhân vật Trần Nhân Tông như sau:

TRẦN NHÂN TÔNG ( TRẦN KHÂM )

( 1258-1308 )

Vua Thánh Tông có 3 con: Thiên Thụy công chúa, Thái tử Khâm và Tả Thiên Vương Đức Việp Năm Kỷ Mão (1279), Thái tử Khâm sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258) kế vị ngôi vua, lấy hiệu là Nhân Tông

Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, quyết đoán, được sử sách ca ngợi là vị anh hùng cứu nước, là bậc

“Vua hiền của nhà Trần…thuần túy đạo mạo, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng…” Thời gian Nhân Tông trị vì, nước Đại Việt đã trải qua những thử thách ghê gớm Ông là con trưởng của vua Thánh Tông Trần Hoảng, lên ngôi năm 21 tuổi (1279) Ông làm vua 14 năm đến lúc 35 tuổi thì nhường ngôi cho con là Anh

Trang 29

Tông để làm Thượng hoàng Triều đại nhà Trần dưới quyền ông là một thời thịnh trị.

Những năm đầu cầm quyền, Trần Nhân Tông đã tham gia chỉ đạo cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông Ông đã cùng vua cha Trần Thánh Tông, mở hội nghị quân sự Bình Than, phân công các tướng lĩnh đi đóng giữ những nơi hiểm yếu để chuẩn bị chặn đánh các mũi tiến công của địch (1282) Ông lại cùng với cha tổ chức hội nghị Diên Hồng (1284) để cùng nhất trí trẻ già, một lòng quyết đánh Chưa bao giờ tinh thần đánh giặc ở nước ta được phát triển mạnh như dưới thời vua Trần Nhân Tông Cả nước sôi sục chuẩn

bị chiến đấu, quân sĩ tỏ thái độ quyết không đội trời chung với địch, trên cánh tay đều chích hai chữ: Sát Thát (giết giặc Thát) Trần Nhân Tông thực

sự tin tưởng vào lực lượng của dân tộc mình Ông biết rõ các vị tướng tài, các chú bác anh em của ông đều giỏi chiến lược, giàu cơ mưu và có quyết tâm kháng chiến Các lộ: Hải Đông, Vân Trà, Bà Điểm, các vị trí Thăng Long, Vạn Kiếp…đều sôi sục khí thế tiến công Và trong vùng Thanh Hóa, Nghệ An cũng

có lực lượng hậu bị, sẵn sàng chi viện chiến trường

Và quả nhiên quân dân ta đã ra quân là chiến thắng, còn địch thì thất bại thảm hại Trận Bạch Đằng (9-4-1988) đại thắng đã đè bẹp ý đồ bành trướng của đế quốc Nguyên Mông, đế quốc cường bạo nhất hồi bấy giờ, đã chiến thắng từ Âu sang Á, song chúng không làm gì xoay chuyển nổi tình thế nước Nam Chiến công này là của toàn dân, của những vị nguyên soái, đại tướng tài giỏi như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão…Song công lao đều thuộc về hai cha con Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông Trong cả hai lần kháng chiến chống quân Nguyên-Mông, hai vị vua đã trở thành ngọn lửa đoàn kết toàn dân, lãnh đạo nhân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn gian khổ, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi huy hoàng.

Sau 14 năm làm vua, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, về làm Thái Thượng hoàng và đi tu, trở thành thủy tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Trần Nhân Tông qua đời năm Mậu Thân (1308) tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử (Đông Triều, Quảng Ninh), thọ 51 tuổi.

Trần Nhân Tông đã bước vào cõi Niết bàn, nhưng còn để lại hình ảnh của một vị vua anh hùng, một nhà thơ, nhà hiền triết tài cao, đức trọng

Trang 30

Nguồn: “ 54 vị Hoàng đế Việt Nam”, Đặng Việt Thuỷ-Đặng Thành

Trung, Nxb Quân đội Nhân dân, 2009, tr 104-105.

11 Nhân vật Chu Văn An.

Nhân vật Chu Văn An là một nhà giáo tài đức trọn vẹn, có đóng góp to lớn với đất nước và đạo học Có thể coi ông là nhà giáo dục học đầu tiên của

Trang 31

Việt Nam vì có nhiều trò giỏi và những công trình biên soạn lớn Cuộc đời thanh bạch và tiết tháo của ông là tấm gương sáng của thời phong kiến Việt Nam Ông là một trong số rất ít bậc hiền nho được thờ ở Văn Miếu Vì vậy, giáo viên cần khắc sâu về nhân vật lịch sử Chu Văn An, để giúp học sinh hiểu biết sơ lược cuộc đời và những cống hiến của ông đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà.

Khi giảng dạy

Bài 15: Sự phát triển kinh tế và văn hóa thời Trần Phần II- Sự phát triển văn hóa Mục 3: Giáo dục và khoa học kỹ thuật a.Giáo dục Giáo viên cần khắc

sâu nhân vật Chu Văn An như sau:

CHU VĂN AN ( 1292-1370 )Chu Văn An (1292–1370), tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ

là Linh Triệt, là một nhà giáo, thầy thuốc, đại quan nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, được phong tước Văn Trinh Công nên đời sau quen gọi là Chu Văn

An Quê ông ở làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (Thanh Trì), nay thuộc xóm Văn, xã Thanh Liệt,huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Ông dạy học rất nghiêm, lấy mình làm gương mẫu cho học trò noi theo.

Tể tướng Phạm Sư Mạnh, Thượng thư

Lê Bá Quát, những khi về trường thăm thầy, được thầy khuyên bảo, khen chê đều rất phấn khởi.

Tài đức của Chu Văn An đến tai nhà vua Trần Minh Tông (1300 - 1357) mời ông ra làm tư nghiệp trường Quốc Tử Giám (như phó giám đốc trường đại học) và dạy thái tử học Thái tử Vượng lúc đó mới khoảng 5 - 6 tuổi Cho nên ông giảng dạy ở Quốc Tử Giám là chính 10 tuổi, thái tử Vượng

Trang 32

lên ngôi (Trần Hiếu Tông) Vượng mất, Dụ Tông (1336 - 1369) lên nối ngôi khi mới 8 tuổi Minh Tông vẫn làm Thượng hoàng đến năm 1457 thì mất, chính

sự từ đó đổ nát Dụ Tông trở nên hư đốn, suốt ngày cờ bạc rượu chè Ông ta thường gọi bọn nhà giàu vào cung đánh bạc; bắt các quan thi uống rượu, ai uống được 100 thăng (chén to) thì thưởng cho hai trật; bắt các công chúa, vương hầu phải hát tuồng trong cung v.v Chu Văn An nhiều lần khuyên can nhưng không được Ông dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần Dụ Tông không nghe Ông bèn trả lại áo mũ, từ quan về quê.

Chu Văn An ở nhà ít lâu, rồi đi chơi đây đó Đến vùng Chí Linh, Hải Dương thấy thắng cảnh đẹp, ông liền dựng nhà ở núi Phượng Hoàng, thuộc làng Kiệt Đắc Ông lấy hiệu là Tiều Âấn và mở trường dạy học, sống một cuộc đời thanh đạm.

Sau đó, Dương Nhật Lễ cướp ngôi nhà Trần Hoàng tử Phủ con Trần Minh Tông đánh tan được bọn Nhật Lễ, lên ngôi (Nghệ Tông) Chu Văn An từ Chí Linh chống gậy ra mừng vua Trần Nghệ Tông (1320 - 1394) muốn mời ông ra tham dự việc triều chính nhưng ông từ chối Bà hiến Từ hoàng thái hậu đã nói một câu chí lí: "Người ấy là bậc cao sĩ, thanh thiết, nhà vua không thể bắt làm bầy tôi được đâu " Vua thưởng cho mũ áo, ông nhận và lạy tạ nhưng đem về cho người khác Ông vui sống với học trò ở núi Phượng Hoàng, rồi mất vào khoảng cuối tháng 11-1370, thọ 78 tuổi (theo Đại Việt sử ký toàn thư).

Trong quá trình dạy học, Chu Văn An đã soạn ra bộ Tứ thư thuyết ước Theo tên sách ta có thể biết đây là tập giáo trình đầu tiên bàn về bốn quyển sách qui định trong chương trình giảng dạy: Đạ học, Trung Dung, Luật Ngữ

và Mạnh Tử Tiếc thay tập giáo trình này đã bị nhà Minh lấy mất Nếu còn bộ sách, chúng ta sẽ hiểu cụ thể quan điểm của ông Ở miếu thờ Chu Văn An ở làng Huỳnh Cung còn ghi lời của Bùi Huy Bích (1744 - 1802) có đoạn, tạm dịch: Kính nghĩ phu tử, tinh thông về lý học, khi ra đời (xuất thế) cũng vì Lễ, khi ở ẩn (thoái ẩn) cũng vì nghĩa Những học trò của ngài đã đem bày tỏ rõ ràng được đạo Nho, chống lại tà thuyết, gạt bỏ mê tín Phong thái và ảnh hưởng của ngài dù đến trăm năm sau cũng cảm thấy như chính mình đang ở gần ngài Trong Kinh thi, chẳng đã có câu: Núi cao, ngửa trông thấy càng cao, đường lớn càng đi càng thấy xa

Trang 33

Chu Văn An là một nhà giáo tài đức trọn vẹn, có đóng góp to lớn với đất nước và đạo học Có thể coi ông là nhà giáo dục học đầu tiên của Việt Nam vì

có nhiều trò giỏi và những công trình biên soạn lớn.

Nguồn: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Đinh Xuân Lâm-Trương

Hữu Quýnh, Nxb Giáo dục, 2000.

12 Nhân vật Lê Văn Hưu.

Trang 34

Nhân vật Lê Văn Hưu là một danh sĩ, là nhà sử học đời nhà Trần, tác giả bộ Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam Nên khi giảng dạy, giáo viên cần khắc sâu nhân vật Lê Văn Hưu, để giúp học sinh có những hiểu biết sơ lược về cuộc đời và những cống hiến của ông đối với nền sử học nước nhà.

Khi giảng dạy

Bài 15: Sự phát triển kinh tế và văn hóa thời Trần Phần II- Sự phát triển văn hóa Mục 3: Giáo dục và khoa học kỹ thuật a.Giáo dục Giáo viên cần khắc

sâu nhân vật Lê Văn Hưu như sau:

LÊ VĂN HƯU

( 1230-1322 )Danh sĩ, sử gia đời Trần Thái Tông, quê xã Phủ Lí, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn Phủ Lí Trung, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu

Hóa, tỉnh Thanh Hóa).

Theo lời các cố lão địa phương thì đất Triệu Trung vốn là trang trại của vị tổ khai sáng dòng

họ Lê - quan Trấn quốc bộc xạ Lê Lương thời Đinh Tiên Hoàng, đến nay đã được hơn hai mươi đời Lê Văn Hưu là ông tổ thứ bảy của dòng

họ này Cuốn Lê thị gia phả hiện còn được bảo tồn, ghi ông sinh năm Canh Dần (1230) là người khôi ngô tuấn tú, tư chất thông minh.

Năm Đinh Mùi, Lê Văn Hưu

đi thi, đỗ Bảng Nhãn Đây là khoa thi đầu tiên ở Việt Nam có đặt danh hiệu tam khôi (ba người đỗ đầu: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa) Năm ấy, ông vừa tròn 18 tuổi.

Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan (chức quan trông coi việc hình luật), rồi Binh bộ Thượng thư, rồi Hàn lâm viện học sĩ kiêm

Trang 35

Quốc sử Viện giám tu Ông cũng là thầy học của thượng tướng Trần Quang Khải, một trong những danh tướng của cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông.

Trong thời gian làm việc ở Quốc sử Viện, vào năm 1272, ông đã hoàn thành việc biên soạn Đại Việt sử ký - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, ghi lại những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15 thế

kỷ, từ Triệu Vũ đế (tức Triệu Đà 207 - 136 trước Công nguyên) cho tới Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225), tất cả gồm 30 quyển, được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen.

Đại Việt sử ký nay không còn, nhưng vẫn có thể thấy được thấp thoáng bóng dáng bộ quốc sử đầu tiên này trong Đại Việt sử ký toàn thư Ngô Sĩ Liên,

sử thần đời Lê, người khởi đầu việc biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, đã căn

cứ vào Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, tiếp đó là Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên để biên soạn những phần liên quan Trong bài tựa Đại Việt sử

ký ngoại kỷ toàn thư, Ngô Sĩ Liên viết: "Văn Hưu là người chép sử giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lão của thánh triều ta, đều vâng chiếu biên soạn lịch

sử nước nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập hợp thành sách để cho người xem đời sau không có gì phải tiếc nữa, thế là được rồi" Tiếp đó, Ngô Sĩ Liên nói rõ, ông đã đem "hai bộ sách của tiên hiền" (tức là Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên) ra "hiệu chỉnh, biên soạn lại, thêm vào một quyển Ngoại

kỷ, thành một số quyển, gọi là Đại Việt sử ký toàn thư" Như vậy, khó có thể phân định được đích xác đâu là nguyên văn Đại Việt sử ký trong bộ quốc sử lớn đời Lê này Tuy vậy, rất may là trong Đại Việt sử ký toàn thư hiện đang lưu hành vẫn còn có 29 đoạn ghi rõ là lời văn của Lê Văn Hưu với mấy chữ "

Lê Văn Hưu viết " Qua nhưng trích đoạn đó, có thể thấy được phần nào khuynh hướng cũng như sắc thái ngọn bút chép sử của ông Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng Ba năm Nhâm Tuất (1322), táng ở cánh đồng xứ Mả Giòm (thuộc địa phận xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa) Hiện nay ở đó vẫn còn phần mộ với tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 20 (1867), khắc ghi tiểu sử và một bài minh ca tụng tài đức, sự nghiệp của ông

Nguồn: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Đinh Xuân Lâm-Trương

Hữu Quýnh, Nxb Giáo dục, 2000.

13 Nhân vật Tuệ Tĩnh.

Trang 36

Từ bao đời nay, giới y học Việt Nam và nhân dân đều công nhận Tuệ Tĩnh có công lao to lớn trong việc xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế đất nước Câu nói của ông: "Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt" biểu hiện sự nhận thức sâu sắc về quan hệ giữa con người và sinh cảnh, đồng thời cũng tiêu biểu cho ý thức độc lập tự chủ.Nên khi giảng dạy, giáo viên cần khắc sâu nhân vật lịch sử Tuệ Tĩnh, để giúp học sinh có những hiểu biết sơ lược về cuộc đời và những cống hiến của ông đối với nền y học nước nhà.

Khi giảng dạy

Bài 15: Sự phát triển kinh tế và văn hóa thời Trần Phần II- Sự phát triển văn hóa Mục 3: Giáo dục và khoa học kỹ thuật b Khoa học-kỹ thuật Giáo viên

cần khắc sâu về nhân vật Tuệ Tĩnh như sau:

TUỆ TĨNH ( 1330-? ) Tuệ Tĩnh (1330-?) được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam và là

người mở đầu cho nền y dược cổ truyền Việt Nam Các bộ sách Nam Dược thần hiệu và Hồng Nghĩa tư giác y thư của ông không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học Việt Nam Nếu những kết quả nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học Việt Nam sau này không đưa thêm bằng chứng gì mới thì truyền thuyết địa phương

và những công trình nghiên cứu chuyên môn khác cho phép khẳng định Tuệ Tĩnh là một nhân vật đời Trần Ông chính tên là Nguyễn Bá Tĩnh,

Trang 37

quê ở làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (tỉnh Hải Dương ngày nay)

Mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, Nguyễn Bá Tĩnh được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh Những ngày đi tu cũng là những ngày ông chuyên học thuốc, làm thuốc, chữa bệnh cứu người

Năm 55 tuổi (1385), Tuệ Tĩnh bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng, được vua Minh phong là Đại

y Thiền sư, mất ở bên ấy, không rõ năm nào Bia văn chỉ làng Nghĩa Phú (do Nguyễn Danh Nho soạn năm 1697) cùng các tư liệu khác ở địa phương đều ghi như vậy

Những năm ở trong nước, Tuệ Tĩnh đã chăm chú nghề thuốc: trồng cây thuốc, sưu tầm kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian, huấn luyện y học cho các tăng đồ Ông đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách giá trị là

bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa Đặc biệt, ông có bộ Hồng Nghĩa tư giác y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Đường luật (nôm), và bài Phú thuốc Nam 630 vị cũng dùng quốc ngữ Thơ văn Nôm đời Trần rất hiếm, nếu quả thực đó là tác phẩm của ông thì Tuệ Tĩnh không những có vị trí trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học nữa

Từ bao đời nay, giới y học Việt Nam và nhân dân đều công nhận Tuệ Tĩnh có công lao to lớn trong việc xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam Câu nói của ông: "Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt" biểu hiện sự nhận thức sâu sắc về quan hệ giữa con người và sinh cảnh, đồng thời cũng tiêu biểu cho ý thức độc lập tự chủ

Ngay trong việc nghiên cứu dược liệu, ông cũng không chịu phụ thuộc vào cách sắp xếp của những sách nước ngoài Chẳng hạn, ông không đưa kim,

Trang 38

mộc, thủy, hỏa, thổ lên đầu mà xếp các cây cỏ trước tiên Ông cũng phê phán

tư tưởng dị đoan của những người chỉ tin vào phù chú mà không tin thuốc Ông đã nêu ra nhiều phương pháp khác nhau để chữa bệnh như: châm, chích, chườm, bóp, xoa, ăn, uống, hơ, xông, v.v

Tuệ Tĩnh đã không dừng lại ở vị trí một thầy thuốc chữa bệnh, ông còn

tự mình truyền bá phương pháp vệ sinh, tổ chức cơ sở chữa bệnh trong nhà chùa và trong làng xóm Có tài liệu cho biết, trong 30 năm hoạt động ở nông thôn, Tuệ Tĩnh đã xây dựng 24 ngôi chùa, biến các chùa này thành y xá chữa bệnh Ông tập hợp nhiều y án: 182 chứng bệnh được chữa bằng 3.873 phương thuốc

Ông cũng luôn luôn nhắc nhở mọi người chú ý nguyên nhân gây bệnh, tìm biện pháp phòng bệnh tích cực Tuệ Tĩnh nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ: Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình Tuệ Tĩnh còn tập hợp những bài thuốc chữa bệnh cho gia súc Có thể nói, ông đã góp phần đặt cơ sở cho ngành thú y dân tộc Nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh thuốc Việt Nam Tại Hải Dương, còn đền thờ ông ở xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ, ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, nay là chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cầm Giàng, có tượng Tuệ Tĩnh Câu đối thờ ông ở đền Bia viết, dịch nghĩa như sau: Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang

Nguồn: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Đinh Xuân Lâm-Trương

Hữu Quýnh, Nxb Giáo dục, 2000.

14 Nhân vật Trần Nguyên Đán.

Trang 39

Nhân vật Trần Nguyên Đán không những là một thi sĩ với nhiều bài bài thơ hay, song ông còn là một nhà khoa học với những tác phẩm rất có giá trị đối với sự phát triển về thiên văn học Vì vậy, khi giảng dạy giáo viên nên khắc sâu nhân vật Trần Nguyên Đán, để giúp học sinh có những hiểu biết sơ lược về cuộc đời và những cống hiến của ông đối với nền khoa học nước nhà.

Khi giảng dạy

Bài 15: Sự phát triển kinh tế và văn hóa thời Trần Phần II- Sự phát triển văn hóa Mục 3: Giáo dục và khoa học kỹ thuật b Khoa học-kỹ thuật Giáo viên

cần khắc sâu về nhân vật Trần Nguyên Đán như sau:

TRẦN NGUYÊN ĐÁN

( 1325-1390 )Trần Nguyên Đán sinh năm 1325, mất năm 1390, hiệu Băng Hồ tử (chàng

trai có tấm lòng trắng trong như tuyết), quê hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) Thân phụ ông là Uy Túc công Trần Văn Bích giữ chức Nhập nội Thái bảo, từng giúp Văn miếu gây nên nghiệp thái bình Tổ là Văn Túc vương Trần Đạo Tái, 14 tuổi đã đỗ Bảng nhãn Tổ bốn đời là Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, con thứ vua Trần Thái Tông Vốn dòng tôn thất, lại thông minh đức độ nên Trần Nguyên Đán được bổ làm quan từ khi còn trẻ tuổi Ông hăng hái mong được đem hết sức mình phục vụ đất nước, đáp đền ơn vua, sẵn sàng xông vào nơi nguy hiểm

Dưới triều Trần Dụ Tông (1341 - 1369), Trần Nguyên Đán làm quan Ngự

sử Đại phu, chuyên lo việc khuyến cáo, can gián những lỗi lầm của vua và đàn

Trang 40

hặc các quan phạm tội Bấy giờ vua không chăm lo việc nước, quyền thần có nhiều kẻ không coi trọng phép nước, Trần Nguyên Đán nhiều lần can gián nhưng vua không nghe Sau khi Trần Dụ Tông mất, Hiến từ Hoàng Thái hậu cho Dương Nhật Lễ lên làm vua Dương Nhật Lễ là kẻ hoang dâm vô độ, tính tình tàn ác nên việc nước càng trở nên tồi tệ Trần Nguyên Đán lại dâng thư trình bày chính sự nhưng vẫn không được vua đếm xỉa đến

Năm 1370 Trần Nguyên Đán từ chức, bỏ đi giúp Cung Định Đại vương Trần Phủ (tức vua Trần Nghệ Tông) tập hợp lực lượng, dẹp được loạn Dương Nhật Lễ Do có nhiều công lao với nhà Trần, nhất là đã giúp Trần Nghệ Tông lên ngôi Hoàng đế, khôi phục nhà Trần, ổn định chính sự, nên năm 1371 Trần Nguyên Đán được phong chức Tư đồ phụ chính Ông ở ngôi Tể tướng lâu năm Đến thời Trần Duệ Tông (1374 - 1377) ông được ban tước Chương Túc Quốc Thượng hầu, lại được giao thêm trọng trách trông coi việc quân ở trấn Quảng Oai.

Trần Nguyên Đán là viên quan trụ cột của vương triều Trần hồi cuối thế

kỷ 14 Khi xuất thế, Trần Nguyên Đán đem hết sức lực và tài năng phò vua, giúp nước

Không chỉ là vị quan tài năng, hết lòng với dân với nước, mà Trần Nguyên Đán còn nổi tiếng là người có tấm lòng bao dung nhân hậu hiếm có Nếu không có tấm lòng bao dung nhân hậu của Trần Nguyên Đán, cõ lẽ dân tộc Việt Nam sẽ không có nhà văn hoá lớn, thi sĩ thiên tài, anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, tác giả Bình Ngô đại cáo nổi tiếng.

Trần Nguyên Đán làm quan vào thời kỳ nhà Trần suy yếu Hồ Quý Ly ngày càng thâu tóm quyền bính và lũng đoạn triều đình Tiên đoán trước nguy cơ nhà Trần sẽ mất về tay Hồ Quý Ly, ông luôn ý thức nhắc nhở bạn bè

về nghĩa vụ làm tôi Bản thân bất lực trước thời thế, cuối cùng ông kết thông gia với Hồ Quý Ly mong đảm bảo sự yên ổn cho con cháu về sau.

Ngày đăng: 24/04/2016, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w