1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM

71 1,2K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 763 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAMKết quả nghiên cứu của bài luận văn có thể cung cấp một cái nhìn rõ nét hơn về tác động của chiến lược đa dạng hóa sản phẩm đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam trong một cái nhìn khách quan và toàn diện

Trang 1

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

INCLUDEPICTURE "http://srv.vnexpress.net/FileStore/Raovat/2011/06/18/536kuzut logo-ftu(1).jpg" \*

-*** -MERGEFORMATINET INCLUDEPICTURE

"http://srv.vnexpress.net/FileStore/Raovat/2011/06/18/536kuzut logo-ftu(1).jpg" \* MERGEFORMATINET INCLUDEPICTURE "http://srv.vnexpress.net/FileStore/Raovat/2011/06/18/536kuzut logo-ftu(1).jpg" \*

MERGEFORMATINET INCLUDEPICTURE

"http://srv.vnexpress.net/FileStore/Raovat/2011/06/18/536kuzut logo-ftu(1).jpg" \* MERGEFORMATINET

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH

NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên : Mai Thị Hà Thanh

Mã sinh viên : 1001040052

Lớp : Anh 3

Khóa : 49

Trang 2

Hà Nội, tháng 5 năm 2015 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 5 1.1 Khái quát chung về sản phẩm 5

1.1.1 Khái niệm sản phẩm 5

1.1.2 Cấu trúc của sản phẩm 5

1.1.3 Hệ thống thứ bậc của sản phẩm 7

1.1.4 Danh mục sản phẩm 8

1.2 Khái quát chung về đa dạng hóa sản phẩm 9

1.2.1 Bản chất đa dạng hóa sản phẩm 9

1.2.2 Động cơ thúc đẩy đa dạng hóa sản phẩm 11

1.2.3 Phân loại đa dạng hóa sản phẩm 15

1.3 Tổng quan tài liệu phân tích ảnh hưởng của đa dạng hóa sản phẩm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp 17

1.3.1 Tổng quan các tài liệu nước ngoài 17

1.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở trong nước 19

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨN ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM 21 2.1 Khái quát về các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 21

2.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ - SMEs 21

2.1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 24

2.2 Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 29

2.2.1 Các nhân tố khách quan 29

2.2.2 Các nhân tố chủ quan nội tại của doanh nghiệp 32

2.3 Mô hình đánh giá tác động của đa dạng hóa sản phẩm đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 34

Trang 3

2.3.2 Các biến số của mô hình 35

2.3.3 Kết quả ước lượng mô hình 42

2.3.4 Kiểm định mô hình hồi quy 44

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM46 3.1 Cơ hội và thách thức của đa dạng hóa sản phẩm đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 47

3.2 Các hạn chế và khó khăn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 50

3.2.1 Hạn chế về tiếp cận nguồn vốn 51

3.2.2 Hạn chế về công nghệ 52

3.2.3 Hạn chế về hiệu quả sản xuất, kinh doanh 53

3.2.4 Hạn chế về chất lượng lao động và trình độ quản lý 53

3.2.5 Hạn chế về sự tiếp cận các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế 54

3.3 Một số kiến nghị về đa dạng hóa sản phẩm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 55

3.3.1 Xây dựng chiến lược đa dạng hóa phù hợp với khả năng của doanh nghiệp 55

3.3.2 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường làm cơ sở phát triển đa dạng hóa 56

3.3.3 Quảng bá : Chiến lược đa thương hiệu 58

KẾT LUẬN 61

PHỤ LỤC 65

Trang 4

PD : Product Diversification – Đa dạng hóa sản phẩm

P : Performance – Hoạt động kinh doanh

SMEs : Các doanh nghiệp vừa và nhỏ

WB : World bank – Ngân hàng thế giới

EU : Europe Union – Liên minh Châu Âu

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Cấu trúc sản phẩm ( 5 product levels)

Bảng 1.1 Tóm tắt một số nghiên cứu định lượng tác động của PD tới PBảng 2.1 Định nghĩa SMEs theo WB

Bảng 2.2 Định nghĩa SMEs theo EU

Bảng 2.3 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc giaBảng 2.4 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu SMEs tại Việt Nam giai đoạn 2006-2011 (đơn vị %)Biểu đồ 2.2 Sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam 2006-2011

Bảng 3.1 Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tínhBảng 3.2 Thống kê mô tả biến

Bảng 3.3 Ma trận tương quan giữa các biến của mô hình

Bảng 3.4 Kết quả hồi quy của mô hình

Bảng 3.5 Kết quả hồi quy robust của mô hình

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến lớn.Mặc dù đã phải trải qua cuộc khủng hoảng tương đối nghiệm trọng từ năm 2008nhưng với sự nhạy bén và linh hoạt của các chủ thể kinh tế, cùng với các sự kiệnkinh tế nổi bật như gia nhập WTO, một cách tổng quan, Nền kinh tế Việt Nam đangthu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Sự chuyển hướng phát triển nền kinh tếcòn là một điều kiện vô cùng quan trọng và thuận lợi giúp các tập đoàn và doanhnghiệp trong nước có cơ hội tăng trưởng và phát triển đem lại nguồn lợi lớn choquốc gia

Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) làloại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế Trong những nămvừa qua, loại hình doanh nghiệp này đã đóng vai trò quan trọng cho sự phát triểncủa nền kinh tế, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huyđộng các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên,trước sức mạnh của nhà đầu tư nước ngoài đang không ngừng bị thu hút về ViệtNam hay các tập đoàn lớn mạnh trong nước, những doanh nghiệp vừa và nhỏ khôngthể cạnh tranh trong cuộc đua giá cả, chất lượng sản phẩm và dịch vụ Ngoài ra, thịtrường hiện nay đang không ngừng rộng mở với thị hiếu và nhu cầu thay đổi liêntục của những khách hàng đang trở nên khó tính hơn Cũng như thị phần trong lĩnhvực sản phẩm dịch vụ của các doanh nghiệp đang có nguy cơ thu nhỏ lại khi cácđối thủ cạnh tranh đang dần lớn mạnh và nhiều doanh nghiệp đang xâm lấn vào lĩnhvực thu lợi nhuận lớn Câu hỏi đặt ra cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là làm thếnào để gia tăng giá trị, chiếm lĩnh thị trường, mở rộng phạm vi kết nối, để ứng phókhôn khéo với đối thủ cạnh tranh?

Câu trả lời có thể nằm ở nhiều chiến lược cạnh tranh và chiến lược marketing,chiến lược quản trị… phụ thuộc vào khả năng và tình trạng của bản thân từng doanh

Trang 6

nghiệp Nhưng trong để tài này,tác giả tập trung phân tích chiến lược xu hướng hiệnnay và có khả năng linh hoạt đối mặt với sự thay đổi không ngừng của thị trường,

đó là chiến lược đa dạng hóa sản phẩm - một trong những phương thức phổ biếnnhất Điều này gần như tuân theo một quy luật cổ điển của Wall Street: “Đừng baogiờ bỏ hết trứng vào một giỏ” Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hướngphát triển ngày càng phổ biến của doanh nghiệp công nghiệp và là điều kiện đểdoanh nghiệp thích ứng và phát triển trong môi trường kinh doanh đầy biến động.Tuy nhiên, đa dạng hóa sản phẩm như thế nào là đúng? Như thế nào là đủ? Liệu vớikhả năng hiện tại của doanh nghiệp thì chiến lược đa dạng hóa sản phẩm có là phùhợp? Nhiều doanh nghiệp như Vinamilk, Kinh Đô hay Hòa Phát đã áp dụng thànhcông chiến lược đa dạng hóa và mang lại uy tín cũng như lợi ích to lớn cho sự pháttriển của doanh nghiệp nhưng với tình hình thực tế trước mắt của nhiều doanhnghiệp phải chịu thua lỗ và sự sụt giảm uy tín Chiến lược đa dạng hóa sản phẩmcủa chính doanh nghiệp Vinamilk đối với sản phẩm cà phê và bia là một ví dụ điểnhình khi kế hoạch thất bại chỉ sau vài năm thực hiện và mang lại chi phí tương đốilớn cho Vinamilk Đa dạng hóa sản phẩm có thể sẽ giúp hỗ trợ cho việc kinh doanh,tìm kiếm các thị trường mới hoặc phân tán bớt rủi ro nhưng việc đa dạng hóa sảnphẩm không có ĐÚNG – SAI, không có THỰC HIỆN – KHÔNG THỰC HIỆN,các doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ lưỡng tới yếu tố "chiến lược phù hợp" Đây

là một vấn đề thực tiễn được quan tâm chú ý nghiên cứu trong nhiều năm trở lạiđây, đặc biệt là những nghiên cứu cụ thể của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằmnâng cao hiệu quả kinh doanh của mình

Chính vì vậy, xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tiễn, tác giả đã quyết định

chọn đề tài “Phân tích ảnh hưởng của đa dạng hóa sản phẩm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam” Kết quả nghiên cứu của bài

luận văn có thể cung cấp một cái nhìn rõ nét hơn về tác động của chiến lược đadạng hóa sản phẩm đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ tại Việt Nam trong một cái nhìn khách quan và toàn diện Qua đó, luận văn

Trang 7

cũng đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm tìm ra phương thức và chính sách phùhợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng thành công chiến lược đa dạng hóasản phẩm để nâng cao kết quả kinh doanh như mong đợi.

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Để phân tích làm rõ yếu tố sản phẩm và chiến lược đa dạng hóa sản phẩm đốivới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, tác giả nghiêncứu với mục tiêu như sau Thứ nhất, làm rõ yếu tố sản phẩm và bản chất của hoạtđộng đa dạng hóa sản phẩm Thứ hai, phân tích các đặc điểm và tính chất của cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam và cuối cùng là đề xuất giải pháp áp dụngchiến lược một cách phù hợp với khả năng doanh nghiệp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và sự ảnhhưởng của nó đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong năm 2011 của 2552 doanhnghiệp vừa và nhỏ khảo sát được ở các tỉnh: Hà Nội, Phú Thọ, Hải Phòng, Nghệ

An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh và Long An

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm:

- Nghiên cứu tại bàn qua các tài liệu thứ cấp như các đề tài nghiên cứu khoa học,các bài đăng tạp chí, các nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nướcnhằm thu thập các cơ sở lý luận về sản phẩm và chiến lược đa dạng hóa sản phẩm.Tác giả cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây và tham khảo một số trườnghợp đa dạng hóa sản phẩm của doanh nghiệp vừa và nhỏ để tăng cường cơ sở khoahọc, lý thuyết thực nghiệm và hiểu biết cần thiết cho công việc nghiên cứu

- Dựa trên lý thuyết nghiên cứu ở trên, đề tài sử dụng phương pháp OLS để phântích định lượng ảnh hưởng của việc đa dạng hóa sản phẩm đến kết quả kinh doanhcủa các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

5 Tình hình nghiên cứu

Trang 8

Qua hoạt động nghiên cứu và tìm hiểu, tác giả thấy rằng hoạt động đa dạng hóasản phẩm đã được chú ý đến và nghiên cứu trong nhiều thập kỷ, đặc biệt là cácnghiên cứu về ảnh hưởng của chiến lược đa dạng hóa sản phẩm đến kết quả kinhdoanh của các doanh nghiệp của các nhà nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứutrong nước cũng đề cập đến vấn đề này trong nhiều bài tổng quan về tình hình kinhdoanh của một doanh nghiệp nhất định Đây là cơ sở nền tảng cơ bản xây dựng nênnội dung bài luận văn này.

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, danh mục bảng, biểu, hình vẽ, tài liệu tham khảo, luận vănđược chia làm ba chương chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đa dạng hóa sản phẩm và ảnh hưởng

của đa dạng hóa sản phẩm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Chương 2: Phân tích ảnh hưởng của đa dạng hóa sản phẩm đến kết quả kinh

doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

Chương 3: Một số khuyến nghĩ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

trong việc thực hiện chiến lược đa dạng hóa sản phẩm

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát chung về sản phẩm

1.1.1 Khái niệm sản phẩm

Trước khi nhắc đến đa dạng hóa sản phẩm, chúng ta phải làm rõ khái niệm của

“sản phẩm” trong một doanh nghiệp Định nghĩa của một sản phẩm phụ thuộc vàoloại hình kinh doanh của doanh nghiệp và dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau.Khái niệm này mang tính chất khá phức tạp do mỗi sản phẩm đều có những đặc tínhriêng về thiết kế bên ngoài, mục đích sử dụng, đối tượng khách hàng hướng đến…đáp ứng vô số các nhu cầu khác nhau Tuy nhiên, khái niệm ‘’sản phẩm” lần đầutiên được sử dụng bởi Adam Smith dưới góc độ kinh tế và thương mại, về sau đượcphát triển theo xu hướng đi lên của nhân loại, của các nền kinh tế hàng hóa, của cácquan hệ trao đổi mua bán - được coi là khái niệm tổng quát mà rõ ràng nhất

“Sản phẩm (product) là bất cứ cái gì có thể đưa vào thị trường để tạo sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn Nó có thể là những vật thể, dịch vụ, con người, địa điểm, tổ chức và ý tưởng.”

1.1.2 Cấu trúc của sản phẩm

Để cho ra đời một sản phẩm trước tiên mỗi doanh nghiệp cần phải hiểu rõ vềcấu trúc của sản phẩm, đây cũng được coi như là các bước nghiên cứu và phát triểnmột sản phẩm nhất định – quả trứng vàng của doanh nghiệp và cũng là lời hứa củacác doanh nghiệp đối với khách hàng và người tiêu dùng

Cấu trúc của sản phẩm, hay còn gọi là 5 mức độ sản phẩm được đưa ra bởi bậcthầy kinh tế và marketing Philip Kotler Đối với ông thì sản phẩm không chỉ là mộthàng hóa hữu hình mà còn mang những giá trị trừu tượng nhằm đáp ứng nhu cầu

Trang 10

của người tiêu dùng Với lý do đó, Kotler đưa ra cấu trúc sản phẩm dưới góc nhìncủa các khách hàng – nhóm người mang lại lợi ích chính cho các doanh nghiệp.

Hình 1.1 Cấu trúc sản phẩm ( 5 product levels)

- Mức độ cơ bản - Giá trị cốt lõi (Core Benefits) : lợi ích cơ bản đem lại chokhách hàng và cũng là mục đích chính của sản phẩm Chẳng hạn đối với một chiếc

áo đi mưa, khách hàng mua “sự khô ráo”; đối với một lọ nước hoa, khách hàng mua

“một niềm hy vọng”; đối với một chuyến du lịch thiên nhiên, khách hàng mua “sựthư giãn và bầu không khí trong lành” Nhà kinh doanh phải xem mình là ngườicung ứng lợi ích

- Sản phẩm chung (Basic Product) : mức độ này đưa ra mọi đặc trưng cơ bảncủa một sản phẩm Chẳng hạn đối với chiếc áo ấm cung cấp giá trị cốt lõi là làm ấmcho người mặc thì sản phẩm chung còn là về sự vừa vặn, chất liệu, khả năng chốngthấm… của chiếc áo đó

Trang 11

- Sản phẩm kỳ vọng (Expected Product) : là tập hợp những thuộc tính và điềukiện mà người mua thường mong đợi và chấp thuận khi họ mua sản phẩm đó Mộtchiếc áo không chỉ là để giữ ấm, chống lại giá lạnh của thời tiết mà còn phải thuậntiện để người dùng có thể vận động thoải mái, ví dụ như khi đi xe đạp.

- Sản phẩm hoàn thiện (Augmented Product): là mức độ thứ tư, nhà kinhdoanh chuẩn bị một sản phẩm hoàn thiện thêm, tức là một sản phẩm bao gồm cảnhững dịch vụ và lợi ích phụ thêm làm cho sản phẩm của doanh nghiệp khác vớisản phẩm của đối thủ cạnh tranh Chiếc áo ấm có kiểu cách không? Có thời trangkhông? Có phải nhãn hiệu nổi tiếng không? Điều đó làm nên sự khác biệt của doanhnghiệp

- Sản phẩm tiềm ẩn (Potential Product): là những sự hoàn thiện và biến đổi màsản phẩm đó có thể có được trong tương lai Trong khi sản phẩm hoàn thiện thểhiện những gì đã được đưa vào sản phẩm hiện nay, thì sản phẩm tiềm ẩn chỉ nêu rahướng phát triển có thể của nó Vì thế các doanh nghiệp tích cực tìm kiếm nhữngcách thức mới để thỏa mãn khách hàng và tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm củamình Chẳng hạn như chiếc áo ấm trong tương lai có thể được dệt may từ loại sợibền nhẹ mà rẻ hơn hơn áo lông vũ?

Đối với các doanh nghiệp thì điều quan trọng là đưa được sản phẩm của mình từ

vị trí giá trị cốt lõi để đi dần lên sản phẩm hoàn thiện, và nghiên cứu phát triển thêm

để có tiềm năng đi lên mức độ cao nhất của sản phẩm

Mỗi sản phẩm được lên mức độ là được thêm giá trị cho khách hàng Các doanhnghiệp càng nỗ lực ở mọi mức độ thì họ càng có khả năng được nhận biết và thuđược nhiều lợi lớn Để như vậy, họ có thể tăng thêm giá trị cho sản phẩm bằng cácdịch vụ, các điều khoản, các thay đổi trong bản thân sản phẩm Điều này không chỉ

là việc làm hài lòng khách hàng mà còn là làm họ ngạc nhiên Trong một danh sáchdài các sản phẩm thì đa dạng hóa sản phẩm được coi là một giải pháp hiệu quả

Trang 12

1.1.3 Hệ thống thứ bậc của sản phẩm

Các sản phẩm đều có quan hệ với nhau và tạo thành một hệ thống thứ bậc trải ra

từ những nhu cầu cơ bản đến những mặt hàng cụ thể dùng để thỏa mãn những nhucầu đó

- Họ nhu cầu : Nhu cầu cơ bản là nền tảng của họ sản phẩm

- Họ sản phẩm : bao gồm tất cả các lớp sản phẩm có thể thỏa mãn một nhu cầucốt lõi với hiệu quả nhất định

- Lớp sản phẩm : là một nhóm sản phẩm trong cùng một họ sản phẩm đưọcthừa nhận là có quan hệ gắn bó nhất định về mặt chức năng

- Loại sản phẩm : là một nhóm sản phẩm trong cùng một lớp sản phẩm cóquan hệ chặt chẽ với nhau vì chúng hoạt động giống nhau hay được bán cho cùngmột nhóm khách hàng, hoặc được bán tại cùng một kiểu thị trường, hay nằm trongcùng một thang giá

- Kiểu sản phẩm : là những mặt hàng trong một loại sản phẩm có một trong sốdạng có thể có của sản phẩm

- Nhãn hiệu : là tên gắn liền với một hay nhiều mặt hàng trong loại sản phẩm

đó, được sử dụng để nhận biết nguồn gốc hay tính chất của mặt hàng

- Mặt hàng : là một đơn vị riêng biệt trong một nhãn hiệu hay loại sản phẩm cóthể phân biệt được theo kích cỡ, giá cả, hình thức hay thuộc tính nào đó Mặt hàngcòn được gọi là đơn vị lưu kho hay một phương án sản phẩm

Ví dụ, nhu cầu “hy vọng” làm xuất hiện một họ sản phẩm là đồ trang điểm vàmột lớp sản phẩm trong họ sản phẩm đó là mỹ phẩm Trong lớp mỹ phẩm có mộtloại sản phẩm là son môi với nhiều kiểu khác nhau, như son có ánh nhũ và không cóánh nhũ, trong đó có nhãn hiệu Chanel với năm mặt hàng khác nhau về màu sắc

1.1.4 Danh mục sản phẩm

Một danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả những loại sản phẩm và mặt hàng

mà một người bán cụ thể đưa ra để bán cho người mua Danh mục sản phẩm củamột doanh nghiệp sẽ có chiều rộng, chiều dài, chiều sâu và một mật độ nhất định:

Trang 13

- Chiều rộng danh mục sản phẩm thể hiện doanh nghiệp có bao nhiêu loại sảnphẩm khác nhau.

- Chiều dài danh mục sản phẩm là tổng số mặt hàng của doanh nghiệp

- Chiều sâu danh mục thể hiện có bao nhiêu phương án của mỗi sản phẩmtrong một loại

- Mật độ của danh mục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mức độnào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiết bị sảnxuất hay kênh phân phối nào khác

Bốn chiều này của danh mục sản phẩm tạo nên những căn cứ để xây dựng chiếnlược sản phẩm của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể khuyếch trương doanhnghiệp của mình theo nhiều cách Doanh nghiệp có thể mở rộng danh mục sảnphẩm bằng cách bổ sung những sản phẩm mới Doanh nghiệp có thể kéo dài từngloại sản phẩm Doanh nghiệp có thể bổ sung thêm các phương án sản phẩm chotừng sản phẩm và tăng chiều sâu của danh mục Cuối cùng doanh nghiệp có thể tiếptục tăng hay giảm mật độ của loại sản phẩm tùy theo ý đồ của doanh nghiệp muốn

có uy tín vững chắc trong một lĩnh vực hay tham gia vào nhiều lĩnh vực

Việc lập kế hoạch danh mục sản phẩm chủ yếu tùy thuộc vào trách nhiệm củanhững người hoạch định chiến lược của doanh nghiệp căn cứ vào những thông tin

do người làm công tác marketing của công ty cung cấp Họ phải đánh giá nhữngloại sản phẩm cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch và cần loại bỏ

1.2 Khái quát chung về đa dạng hóa sản phẩm

1.2.1 Bản chất đa dạng hóa sản phẩm

Trong hệ thống mục tiêu của mỗi doanh nghiệp có hai mục tiêu được coi là cơbản Một là tạo tiền đề cho các mục tiêu khác đó là việc tạo ra sản phẩm với chấtlượng cao phù hợp với nhu cầu của thị trường và xã hội; hai là việc đạt được lợinhuận tối đa sau mỗi chu kỳ kinh doanh trên cơ sở nâng cao hiệu quả của các hoạtđộng sản xuất kinh doanh Để thực hiện có hiệu quả hệ thống mục tiêu nói chung vàhai mục tiêu nói riêng, mỗi doanh nghiệp phải xác định được cơ cấu sản phẩm hợp

lý của mình Tính hợp lý của mỗi cơ cấu sản phẩm chỉ thích ứng với những điều

Trang 14

kiện nhất định trong mỗi kỳ kinh doanh do đó khi những điều kiện ấy có sự thay đổithì cơ cấu sản phẩm cũng phải thay đổi để đạt tính hợp lý mới điều đó có nghĩa là

cơ cấu sản phẩm của công ty phải mang tính " động " để thích ứng với nền kinh tếthị trường cạnh tranh sôi động Sự hoàn thiện và đổi mới cơ cấu sản phẩm củadoanh nghiệp được thực hiện theo nhiều cách khác nhau như :

- Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi thời,những sản phẩm kém sức cạnh tranh và những sản phẩm không có khả năng tạo ralợi nhuận cho doanh nghiệp

- Giữ nguyên chủng loại sản phẩm đang sản xuất nhưng cải tiến, hoàn thiệnnhững sản phẩm ấy về hình thức, về nội dung, tạo thêm nhiều kiểu dáng và thế hệsản phẩm mới

- Bổ sung thêm vào danh mục sản phẩm những sản phẩm mới phù hợp với nhucầu thị trường và xu hướng phát triển của khoa học, công nghệ

- Chuyển hoá vị trí các sản phẩm trong cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp,đưa những sản phẩm ở vị trí hàng thứ lên vị trí hàng đầu hoặc ngược lại bằng cáchthay đổi định lượng sản xuất mỗi loại

Trong thực tế, các hướng trên đây được thực hiện xen kẽ lẫn nhau Nếu cơ cấusản phẩm của doanh nghiệp thay đổi theo hướng thu hẹp lại, đảm bảo sự tập trungcao hơn về sản xuất thì doanh nghiệp phát triển theo hướng chuyên môn hoá.Ngược lại cơ cấu sản phẩm được mở rộng ra, doanh nghiệp phát triển theo hướng đadạng hoá Trong những thời kì nhất định và trên một thị trường nhất định doanhnghiệp có thể thực hiện đa dạng hoá thông qua hình thức cải tiến, hoàn thiện sảnphẩm đã có hoặc là đưa ra những sản phẩm mới hoàn toàn có thể cùng loại hoặckhác biệt so với những sản phẩm cũ nhưng doanh nghiệp cũng có thể kết hợp cả haihình thức trên nhằm thỏa mãn đáp ứng cao nhất nhu cầu của thị trường

Như vậy đa dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp là một chiến lược mở rộng

danh mục sản phẩm, nó gắn liền với quá trình đổi mới và hoàn thiện cơ cấu sản phẩm, mang những sản phẩm mới tiến nhập thị trường nhằm đảm bảo doanh nghiệp thích ứng được với sự biến động của môi trường kinh doanh (theo

Trang 15

http://www.entrepreneur.com/ và lý thuyết đa dạng hóa của Igor Ansoff) Đa dạng

hoá sản phẩm là một nội dung chiến lược cụ thể của đa dạng hoá sản xuất và đadạng hoá kinh doanh Mối quan hệ giữa đa dạng hoá sản phẩm và kế hoạch hoá sảnxuất - kinh doanh được thể hiện ở chỗ khi xác định phương án đa dạng hoá sảnphẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định rõ chủng loại sản phẩm, khối lượng sảnphẩm của mỗi loại, thị trường tiêu thụ, khả năng đảm bảo các yếu tố đầu vào, khảnăng huy động vốn đầu tư và dự kiến lợi nhuận sẽ đạt được

Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hướng phát triển ngày càng phổ biếntrong các doanh nghiệp công nghiệp Các tổ chức kinh tế lớn như tập đoàn kinhdoanh thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, kinh doanh đa ngành và đa lĩnh vực hoạtđộng Số lượng và chủng loại hàng hoá lưu thông trên thị trường thực chất cũng làmột chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của mỗi doanh nghiệp cũng như của nềnkinh tế nói chung Nhiều doanh nghiệp độc lập với các quy mô khác nhau cũng thựchiện đa dạng hoá sản phẩm và trong thực tế việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm đãkhông những giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu kinh tế và phi kinh tế nhưlợi nhuận hay thế lực trên thị trường mà còn đóng góp rất lớn vào sự phát triển củatoàn xã hội nhờ tạo ra nhiều loại hàng hoá mang lại lợi ích và thỏa mãn tốt nhất nhucầu của người tiêu dùng

1.2.2 Động cơ thúc đẩy đa dạng hóa sản phẩm

Nhu cầu thị trường ngày càng phong phú, đa dạng và thường xuyên biến đổi

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, đời sống xã hội cũngngày càng được nâng cao về nhiều mặt Trong cuộc sống ngày nay, nhu cầu của conngười không chỉ bó gọn ở mức độ thấp như ăn no mặc ấm mà phải là ăn ngon mặcđẹp Bên cạnh đó còn là nhiều nhu cầu khác như nhu cầu tinh thần là vui chơi, giảitrí hay là các nhu cầu thẩm mĩ Như vậy, so với trong thời kì kế hoạch hoá tập trung

tự cung tự cấp trước kia, giờ đây nhu cầu của người tiêu dùng mới là nhân tố thực

sự quyết định sự vận động của thị trường Các sản phẩm không thể đáp ứng đượcnhu cầu của thị trường khi chúng chỉ mang " ích lợi cốt lõi " đơn thuần mà còn phảimang nhiều giá trị khác ở các mức độ sản phẩm cao hơn như tính thẩm mĩ và sự

Trang 16

phong phú về chủng loại Việc một loại sản phẩm có cùng giá trị sử dụng nhưng cóthêm một số đặc tính khác để thoả mãn từng đoạn thị trường nhất định chính là mộtbiểu hiện của hoạt động đa dạng hoá sản phẩm Đa dạng hoá sản phẩm tạo ra nhiềumặt hàng mới phong phú với chất lượng cao tăng phương án sản phẩm để ngườitiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn Theo quy luật tất yếu, thị trường luôn vận động

và biến đổi không ngừng làm nảy sinh những nhu cầu mới cao hơn, phong phú hơntạo ra những thách thức và cũng đồng thời mang đến những cơ hội kinh doanh chodoanh nghiệp

Trong môi trường kinh doanh sôi động mà người thành công là người biết "Biếtđược thời cơ để nắm lấy các cơ hội", doanh nghiệp phải luôn bám sát các diễn biếncủa quan hệ cung cầu trên thị trường, xây dựng cơ cấu sản phẩm tối ưu để thích ứng

và đuổi kịp sự linh hoạt của thị trường Thực tế cho thấy hiện nay các doanh nghiệpluôn cố gắng làm mới và mở rộng danh mục sản phẩm của mình dựa trên sự hoànthiện không ngừng các sản phẩm hiện có (mức độ 4) song song với việc đưa vào sảnxuất những mặt hàng mới đón đầu nhu cầu thị trường (mức độ 5), tạo thế chủ độngcủa doanh nghiệp trên thương trường Sự phong phú và biến đổi không ngừng củathị trường đã đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động sáng tạo trong việc tạo ramột cơ cấu sản phẩm " động " thông qua hoạt động đa dạng hoá sản phẩm mới cóthể tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường

Do tiến bộ của khoa học công nghệ nên chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn

Ngày nay, các cuộc cách mạng khoa học công nghệ và kỹ thuật đang diễn ra vớitốc độ nhanh như vũ bão Một khối lượng đồ sộ các phát minh sáng chế ra đời đãtạo ra ngày càng nhiều công nghệ, máy móc thiết bị và nguyên liệu mới Điều đặcbiệt là hàm lượng tri thức với các công nghệ mới này là rất lớn chính, vì vậy thờigian tồn tại của các công nghệ này rất ngắn và điều này cũng đồng nghĩa với việcsản phẩm của doanh nghiệp bị đào thải nhanh hơn Cứ nghĩ đến từng dòng iPhonevừa sản xuất ra đã nhanh chóng thay thế bởi dòng iPhone mới hơn chứ chưa kể đếncác nhãn hiệu công nghệ khác

Trang 17

Chu kỳ sống của một sản phẩm được chia ra 4 pha: bắt đầu - phát triển - bão hoà

- suy thoái Các thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng ngày càng rộng rãi vàosản xuất làm cho giai đoạn bão hoà và suy thoái của một sản phẩm đến nhanh hơn

Sự lạc hậu nhanh chóng của công nghệ và sản phẩm không cho phép doanh nghiệp

tự hài lòng với những gì hiện có mà phải tranh thủ nắm bắt kịp thời những thành tựumới nhất của khoa học công nghệ và sử dụng những thành tựu ấy như một lợi thếcạnh tranh Vì vậy doanh nghiệp phải luôn xem xét, đánh giá sản phẩm đang ở giaiđoạn nào trong chu kỳ sống Nếu sản phẩm đang ở giai đoạn bão hoà thì doanhnghiệp nên tìm cách cải tiến sản phẩm đó để kéo dài tuổi thọ của sản phẩm hoặcchuẩn bị nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu phong phú của thịtrường Sự xuất hiện của các ngành công nghệ mới vừa tạo điều kiện vừa thúc đẩydoanh nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm mới, thực hiện đa dạng hoá sản phẩm như mộtphương thức phát triển của doanh nghiệp

Xu hướng chuyên môn hoá kết hợp với đa dạng hoá trong sản xuất kinh doanh

Việc nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa chuyên môn hoá và đa dạng hoá sảnphẩm của doanh nghiệp công nghiệp là cơ sở để xác định đúng đắn con đường,phương hướng và điều kiện phát triển các hình thức tổ chức sản xuất tương ứng

Về hình thức, khi mức độ đa dạng hoá sản phẩm càng cao thì trình độ chuyênmôn hoá sản xuất của doanh nghiệp càng thấp Nhưng nếu xét về nội dung thì đókhông phải là hai quá trình độc lập mà ngược lại, chúng có mối quan hệ ràng buộclẫn nhau Thứ nhất, bản thân sản phẩm chuyên môn hoá của doanh nghiệp cũngphải được hoàn thiện, cải tiến về hình thức và nội dung, tăng thêm kiểu cách, mẫu

mã để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường Theo nội dung này, sản phẩmchuyên môn hoá của doanh nghiệp được đa dạng theo hình thức biến đổi chủng loại.Thứ hai, với nhiều doanh nghiệp việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn hoáthường không sử dụng hết các nguồn lực sẵn có Bởi vậy trong khi coi nâng cao mộtcách hợp lý trình độ chuyên môn hoá là phương hướng chủ đạo của phát triển doanhnghiệp, doanh nghiệp vẫn cần mở rộng danh mục sản phẩm để tận dụng các nguồnlực sản xuất Với nội dung này, đa dạng hoá sản phẩm tạo thành " tuyến sản phẩm "

Trang 18

hỗ trợ quan trọng cho phát triển chuyên môn hoá Thứ ba, có rất nhiều phương thứcthực hiện đa dạng hoá sản phẩm nhưng đa dạng hóa sản phẩm dựa trên cơ sở nềntảng các điều kiện vật chất kĩ thuật của chuyên môn hoá ban đầu mang lại, sẽ giảmbớt được nhu cầu đầu tư Đây chính là ràng buộc của chuyên môn hoá đến việc thựchiện đa dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp

Như vậy, để xây dựng cơ cấu sản phẩm động mang tính linh hoạt thì bản thânsản phẩm chuyên môn hoá của doanh nghiệp cũng phải được đa dạng hoá và đâyđược coi là xu hướng tất yếu đảm bảo cho doanh nghiệp đứng vững trong môitrường kinh doanh thiên biến vạn hoá

Phân tán rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh

Mục tiêu chính của các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh là lợinhuận nhưng trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, sự thành công củadoanh nghiệp bị đe dọa bởi rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Một cơ hộikinh doanh có khả năng thu lợi càng lớn thì mức độ rủi ro kinh doanh xảy ra đối vớidoanh nghiệp càng cao Các nguyên nhân gây ra rủi ro có thể đến từ các yếu tố nộitại của doanh nghiệp như máy móc thiết bị không đồng bộ, công nghệ lạc hậu, thiếuvốn hay từ môi trường kinh doanh như sự thay đổi đột ngột nhu cầu, chính sáchkinh tế của nhà nước, thiên tai Rủi ro kinh doanh xảy ra có thể gây thiệt hại rất lớncho doanh nghiệp về nhiều mặt vì vậy khi xây dựng các phương án kinh doanh,doanh nghiệp rất quan tâm đến việc ngăn ngừa rủi ro đảm bảo độ an toàn cao nhấtcho doanh nghiệp

Một trong những biện pháp giúp doanh nghiệp giảm thiểu những rủi ro là thựchiện đa dạng hoá sản phẩm để tạo ra các tuyến sản phẩm với nhiều thang, dòng bổsung lẫn nhau thay vì chỉ tập trung sản xuất một sản phẩm khi các yếu tố kháchquan biến động có thể dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp

Đa dạng hoá góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự pháttriển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó trong quátrình tái sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh Một hiện tượng có tính

Trang 19

phổ biến tồn tại trong các doanh nghiệp hiện nay là các nguồn lực không được tậndụng hết mức sản xuất thực tế mà thường nằm dưới đường giới hạn khả năng sảnxuất Sự lãng phí nguồn lực có thể do: đầu tư không đúng mục đích, đọng vốn lớn,không sử dụng hết công suất thiết bị máy móc hay không tận dụng hết chất có íchcủa nguyên liệu Việc đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở các nguồn lực sẵn có chophép doanh nghiệp tăng năng lực sản xuất, đạt được lợi nhuận tối đa ngoài ra còntăng thêm thu nhập cho người lao động, giải quyết việc làm và các mục tiêu xã hộikhác.

Tóm lại, thực hiện đa dạng hóa sản phẩm được coi là một xu hướng tất yếukhách quan đối với các doanh nghiệp công nghiệp giúp doanh nghiệp tồn tại, pháttriển vững chắc trong nền kinh tế thị trường hiện hay

1.2.3 Phân loại đa dạng hóa sản phẩm

Trong quá trình đa dạng hóa sản phẩm, các doanh nghiệp có thể thực hiện theonhiều hình thức khác nhau Có nhiều cách để phân loại các hình thức này xét theonhiều góc độ khác nhau Ví dụ:

Xét theo sự biến đổi danh mục sản phẩm, doanh nghiệp có thể biến đổi chủngloại – hoàn thiện và cải tiến các sản phẩm đã có; đổi mới chủng loại – thêm vàodanh mục những sản phẩm mới với doanh nghiệp hoặc/và mới với thị trường và loại

bỏ các sản phẩm cũ; hay doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức hỗn hợp cả haiphương thức trên

Xét theo tính chất của nhu cầu sản phẩm, doanh nghiệp có thể đa dạng hóa theochiều sâu - tăng thêm kiểu cách, mẫu mã của cùng một loại sản phẩm; đa dạng hoátheo bề rộng - thoả mãn đồng bộ một số nhu cầu có liên quan với nhau của một đốitượng tiêu dùng( ví dụ như doanh nghiệp không chỉ sản xuất kem đánh răng mà cònsản xuất bàn chải đánh răng); hay theo một con đường hoàn toàn mới là đa dạng hoátheo hướng thoát ly sản phẩm gốc và đưa sản phẩm mới vào danh mục của doanhnghiệp

Nói chung, mặc dù việc phân loại đa dạng hóa phụ thuộc nhiều vào góc độnghiên cứu và chúng ta mới chỉ nhắc đến một số góc nhìn nhưng trong bài luận này,

Trang 20

chúng ta tập trung chủ yếu vào mối liên hệ giữa đa dạng hóa sản phẩm và kết quảkinh doanh của các doanh nghiệp Vì thế, tôi chỉ xin đưa ra cách phân loại phổ biếntheo mô hình ma trận chiến lược marketing của Ansoff dựa vào việc xác định mức

độ khác biệt của sản phẩm/thị trường mới Cách phân loại này chính là các chiếnlược thích hợp với các hãng không thể đạt được mục tiêu tăng trưởng trong ngànhcông nghiệp hiện thời với các sản phẩm và thị trường đang kinh doanh

1.2.3.1 Đa dạng hóa đồng tâm

Các doanh nghiệp hướng đến tăng trưởng thông qua việc đa dạng hóa sản phẩmhướng tới các sản phẩm mới nhưng vẫn nằm trong hệ sản xuất và marketing với cácsản phẩm đã có, là các sản phẩm mới có liên quan đến sản phẩm hiện tại Ví dụ,trên dây chuyền sản xuất đã có, với các thiết bị đã có, doanh nghiệp sản xuất thêmcác loại nước ép trái cây mới

Loại hình đa dạng hóa sản phẩm này phù hợp với các doanh nghiệp đang chậmtăng trưởng hoặc tăng trưởng không rõ do môi trường cạnh tranh khá khốc liệt vàcác sản phẩm đang có của doanh nghiệp đang có xu hướng bị suy thoái và việc tăngsản phẩm mới sẽ giúp doanh nghiệp tăng doanh thu rõ rệt Chẳng hạn trường hợpcủa Kinh Đô đối với loại bánh mặn AFC, lúc đầu loại bán mặn này được thị trườngkhá hoan nghênh nhưng sau một thời gian, phong trào dường như bị giảm xuốngvới sự cạnh tranh lớn mạnh từ các nhãn hiệu khác và doanh thu không còn như banđầu khiến cho sản phẩm này đang dần đi vào giai đoạn cuối Tuy nhiên, Kinh đô đãlựa chọn chiến lược đa dạng hóa đồng tâm, dựa vào các hệ thông dây chuyền sảnxuất và điều kiện truyền thông cũng như marketing sẵn có, Doanh nghiệp này đã

mở rộng sản xuất thêm nhiều sản phẩm cùng loại khác Và kết quả mang lại vôcùng khả quan

1.2.3.2 Đa dạng hóa ngang – đa dạng hóa sản phẩm liên quan

Các doanh nghiệp lựa chọn tăng trưởng bằng cách hướng vào thị trường với cácsản phẩm mới không có sự liên hệ nào với các sản phẩm đang có Có nghĩa là sảnphẩm mới với công nghệ mới ở một thị trường không mới tại cấp độ ngành hiện tại,

Trang 21

bổ sung sản phẩm dịch vụ mới cho các đối tượng khách hàng hiện tại của doanhnghiệp.

Chiến lược này được sử dụng khi doanh thu từ các sản phẩm hiện tại sẽ có khảnăng bị ảnh hưởng nếu đưa vào sản xuất các sản phẩm không liên quan do cácdoanh nghiệp, mặc dù sản xuất sản phẩm mới, nhưng vẫn sử dụng các kênh phânphối đang có đến với các khách hàng đang có Ví dụ trong trường hợp của TH TrueMilk với sản phẩm chính ban đầu là sữa tươi Do doanh thu của doanh nghiệp khichỉ tập trung vào sữa tươi là không cao với sự cạnh tranh gay gắt, TH True Milk đãphải ra quyết định sản xuất ra sản phẩm mới mà vẫn có thể sử dụng những gì doanhnghiệp đang có và không gây ảnh hưởng đến sản phẩm chính là sữa tươi Bên cạnh

đó, điều quan trọng là sản phẩm mới này có thể là một công cụ vừa mang lại doanhthu cho doanh nghiệp, vừa giúp tăng trưởng doanh số bán hàng cho sản phẩm hiệntại là sữa tươi Do đó, sữa chua TH True Milk ra đời

1.2.3.4 Đa dạng hóa tổ hợp – đa dạng hóa sản phẩm không liên quan

Các doanh nghiệp hướng vào thị trường hoàn toàn mới với sản phẩm mới, ngànhnghề mới Để làm được điều này, các doanh nghiệp cần có sự vững mạnh về khảnăng quản lý lần khả năng tài chính để có thể gánh vác được mức độ “rủi ro” khi rơivào vị trí non trẻ trong một thị trường mới nhưng không kém sự cạnh tranh

Tuy nhiên, chiến lược này cũng được coi là bổ sung thêm hoạt động kinh doanhmới không liên quan đến hoạt động kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp

Trang 22

1.3 Tổng quan tài liệu phân tích ảnh hưởng của đa dạng hóa sản phẩm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.1 Tổng quan các tài liệu nước ngoài

Bắt đầu từ bài viết của Gort năm 1962 Đa dạng hóa và hội nhập các ngành tại

Mỹ, đã có rất nhiều nghiên cứu từ các góc nhìn khác nhau về mối quan hệ giữa đa

dạng hóa sản phẩm và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong nhiều thập kỷqua và rất khó để có thể tổng quát hết tất cả các nghiên cứu này Tuy vậy, kết quảcủa các bài nghiên cứu còn có nhiều tranh cãi và không thể đưa đến một kết luậnthống nhất

Nhiều bài nghiên cứu áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để đưa ra các bàikết quả khác nhau và khó kết luận Để xét về mối quan hệ giữa đa dạng hóa sảnphẩm và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu đã chọn ra mộtchỉ số khá phổ biến để đo lường là lợi nhuận công ty theo kỳ nhất định

Trong bài nghiên cứu của Weston và Mansinghka năm 1971, nghiên cứu củaChristensen và Montgomery năm 1981, và của Montgomery năm 1985 đều chorằng không có mối liên hệ đáng kể giữa hai yếu tố này mặc dù họ đã sử dụng nhiềuthông số lợi nhuận ròng của hơn 500 doanh nghiệp

Những bài viết đưa ra tác động tích cực của đa dạng hóa đến lợi nhuận của công

ty cho thấy rằng đa dạng hóa sản phẩm là một biến tích cực góp phần tăng trưởnglợi nhuận và thoát ra khỏi tình trạng trì trệ hiện tại của doanh nghiệp Ví dụ nhưMichel và Shaked đã đưa ra kết quả ảnh hưởng tích cực trong bài nghiên cứu năm

1984

Trong khi đó, kết quả Berger và Ofek đưa ra năm 1995 và bài viết của Denis vàA.Sarin trong tạp chí tài chính kinh tế năm 1997 cho rằng đó là ảnh hưởng tiêu cực.Đầu tư cho đa dạng hóa sản phẩm không đúng cách được coi là nguyên nhân chínhdẫn đến tác động tiêu cực đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

Ngoài ra, bài nghiên cứu về các doanh nghiệp của quốc gia đang phát triển củaL.Nachum năm 2004 cùng bài về các hãng sản xuất quốc gia Anh của Grant vàJammine và Thomas năm 1988 đưa ra mô hình của mối quan hệ là đồ thị dạng chữ

Trang 23

U ngược Đây được coi là cái nhìn rõ ràng và chính xác hơn cả, được nhiều ngườithừa nhận Theo đó, kết quả kinh doanh của công ty sẽ tăng dần cho đến mức tối ưu

có thể, phụ thuộc vào các yếu tố khác như trình dộ quản lý, công nghệ kỹ thuật,mức vốn đầu tư…, và rồi bắt đầu giảm dần do chi phí kiểm soát và hợp tác cũngnhư cơ hội sụt giảm để đạt được mức quy mô kinh tế

Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn đang không ngừng cố gắng tìm hiểu vềmối quan hệ bản chất giữa đa dạng hóa nói chung cũng như đa dạng hóa sản phẩmnói riêng và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Bên cạnh đó còn là nỗ lựcnghiên cứu các nhân tố tác động phụ khác có thể ảnh hưởng đến bản chất sự tácđộng này

1.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở trong nước

Các nhà nghiên cứu trong nước hiểu được rằng đa dạng hóa sản phẩm có đóngmột vai trò nhất định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nên đã có một sốnghiên cứu nhưng vẫn chưa đưa ra một kết quả thống nhất và tổng quan cho cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam mà chỉ đưa ra các mô hình phù hợp với mộtcông ty hay doanh nghiệp nhất định Các bài viết chủ yếu là các khóa luận của cácsinh viên nghiên cứu về đa dạng hóa sản phẩm ở một chuyên ngành nhất định nhưngân hàng, bảo hiểm, du lịch hay về chiến lược đa dạng hóa sản phẩm như một giảipháp cho một số doanh nghiệp cụ thể như Apple, tập đoàn Sony, nước ép trái câyCông ty Cổ phần Thăng Long, Công ty Tân Hồng Hà…Phương pháp nghiên cứuđược sử dụng chủ yếu là các phương pháp định tính, nghiên cứu rõ tình hình công

ty và áp dụng một số các bài học lịch sử về đan dạng hóa để đưa ra các giải phápphát triển phù hợp

Mọi kết quả đều cho thấy nếu các doanh nghiệp có chính sách thích hợp về định

vị danh mục sản phẩm của mình cùng với hiểu biết nhất định về các yếu tố trong vàngoài doanh nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm là một chiến lược có tính hiểu quả để ápdụng, mang đến phần tăng doanh thu và lợi nhuận đáng kể cho doanh nghiệp

Trang 24

Bảng 1.1 Tóm tắt một số nghiên cứu định lượng tác động của PD tới P

J.F Weston & S.K Mansinghka 1971 Tests of the efficiency performance of

Corporate economic performance:

Diversification strategy versus marketstructure

Không có kết quả

R M Grant, A P Jammine, and H Thomas 1988 Diversity, diversification, and profitability

among british manufacturing companies

Tác động chữ Ungược

of developing country firms

Tác động chữ Ungược

Nguồn : Tác giả tự tổng hợp

Trang 25

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨN ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM

2.1 Khái quát về các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

Trước tiên, để hiểu rõ về vai trò của đa dạng hóa sản phẩm đối với kết quả kinhdoanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, chúng ta cần phải có một hiểu biếtnhất định về khái niệm các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung cũng như quy định về cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam nói riêng

2.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ - SMEs

Hiện nay, mỗi tổ chức đều có các khái niệm khác nhau về SMEs cũng như cácquốc gia có quy định khác nhau về SMEs Dựa theo quy mô có thể phân loại doanhnghiệp thành doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa, nhỏ và siêu nhỏ Trong đó, việc xác địnhcác tiêu chí và định mức để đánh giá quy mô của một SME – định nghĩa khái niệm doahnghiệp vừa và nhỏ có sự khác biệt ở các tổ chức và quốc gia trên thế giới Đối với cácquốc gia có trình độ phát triển cũng như thể chế kinh tế-xã hội riêng biệt trong từng giaiđoạn cụ thể thì các quy định về SMEs khó có nhiều điểm tương đồng Ngay trong cùngmột quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể được thay đổi theo thời gian vì sự phát triểncủa doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó Bên cạnh đó, mỗi ngành nghề khác nhau cũng có các tiêu chí phân loại khác nhau Việcđưa ra các chỉ tiêu rõ ràng để định nghĩa khái niệm SMEs một cách hợp lý là rất quantrọng vì nó không chỉ trợ giúp cho công tác quản lý và môi trường hoạt động của thànhphần kinh tế này điều mà còn hỗ trợ chính phủ và xã hội có những chính sách và hoạtđộng đóng góp to lớn đến sự phát triển của SMEs Các tiêu chí phổ biến nhất được nhiềuquốc gia sử dụng là: số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm,tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp

Và sau đây là một số định nghĩa cũng được coi là tiêu chí phân loại doanh nghiệpcủa một số tổ chức thế giới tiêu biểu về SMEs:

Trang 26

Thứ nhất, theo Ngân hàng Thế giới WB, các doanh nghiệp vừa và nhỏ được định

nghĩa qua hai yếu tố tổng tài sản và số lao động trong doanh nghiệp Cụ thể, doanhnghiệp nhỏ có số lao động từ 10 -50 người và có dưới 3 triệu USD tổng tài sản; doanhnghiệp vừa có số lao động 50 – 300 người và có dưới 15 triệu USD tổng tài sản

Bảng 2.1 Định nghĩa SMEs theo WB

Nguồn: The Industry Policy 1999

Thứ hai, theo Cộng đồng chung Châu Âu EU, các chỉ tiêu phân loại doanh nghiệp

bao gồm số lao động và doanh thu của doanh nghiệp, hoặc được tính theo tổng bảng cânđối kế toán theo như bảng dưới đây với đơn vị Euro Doanh nghiệp nhỏ được xác địnhvới số lao động dưới 50 người, có doanh thu hoặc tổng bảng cân đối kế toán dưới 10 triệuEuro Doanh nghiệp vừa có số lao động dưới 250 người, doanh thu dưới 50 triệu Eurohoặc tổng bảng cân đối kế toán dưới 43 triệu Euro

Bảng 2.2 Định nghĩa SMEs theo EU

Loại doanh nghiệp Số lao động

(người)

Doanh thu (triệu Euro) hoặc

Tổng bảng cân đối kế toán (triệu Euro)

Doanh nghiệp nhỏ < 50 < 10 < 10

Doanh nghiệp vừa < 250 <50 < 43

Nguồn : ec.europa.eu

Thứ ba, theo Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC), các

nền kinh tế thành viên APEC hầu hết đều đưa tiêu chí lao động làm chuẩn để định nghĩakhái niệm SMEs Doanh nghiệp vừa có số lao động từ 20-99 người và doanh nghiệp nhỏ

có số lao động từ 5-9 người

Và dưới đây là bằng tổng kết về tiêu chí phân loại SMEs ở một số quốc gia trênthế giới:

Trang 27

Bảng 2.3 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia

Quốc gia Phân loại doanh nghiệp vừa

A NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN

Nhật

- Đối với ngành sản xuất

- Đối với ngành thương mại

- Đối với ngành dịch vụ

1-3001-1001-100

B NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

C NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI

Vừa

1-249250-999

Không quy định Không quy định

Vừa

50-100101-500

Không quy định Không quy định

Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999; 3)

Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000.

Trang 28

Trong các nền kinh tế hiện nay, SMEs tồn tại với một vai trò vô cùng quan trọng,

là một đối tượng doanh nghiệp đặc trưng của một nền kinh tế Nó không chỉ tạo ra một tỷ

lệ GDP đáng kể cho quốc gia mà còn góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội,tận dụng và khai thác tốt các tiềm năng và nguồn lực tại chỗ Vì vậy, để có được một nềnkinh tế phát triển theo kỳ vọng thì các chuyên gia và các nhà kinh tế không thể bỏ quaviệc hỗ trợ SMEs phát triển

2.1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

2.1.2.1 Quy định về doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam phân loại và xác định quy mô của các doanh nghiệp trongnước dựa vào tiêu chí vốn và lao động Cụ thể theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày30/6/2009 của Chính phủ, doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập,

đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinh doanh hoặc sốlượng lao động bình quân hàng năm được quy định như sau:

Bảng 2.4 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Lao động (người)

Lao động (người)

Vốn (VND)

Lao động (người)

Vốn (VND)

I Nông, lâm, thủy sản

đến 200 ≤ 20 tỷ

Trên 200đến 300

Trên 20 tỷđến 100 tỷ

II Công nghiệp, xây

Trên 10đến 200 ≤ 20 tỷ

Trên 200đến 300

Trên 20 tỷđến 100 tỷIII Dịch vụ

đến 50 ≤ 10 tỷ

Trên 50đến 100

Trên 10 tỷđến 50 tỷ

Nguồn : Tổng cục thống kê 2.1.2.2 Tổng quan sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2006 –

2011 tại Việt Nam

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã, đang trở thành một bộ phận kinh tế quan trọngtrong nền kinh tế Việt nam Các doanh nghiệp này có đóng góp không nhỏ vào tổng thu

Trang 29

nhập quốc dân và là một phương tiện hữu ích thu hút các dòng vốn trong và ngoài nướccho hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là mộtnguồn đào tạo ra được lượng lớn đội ngũ lao động và doanh nhân có kiến thức và taynghề ngày càng được nâng cao và cải thiện Không chỉ đóng góp đáng kể vào sự pháttriển kinh tế của đất nước, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn tạo ra hơn một triệu việc làmmới mỗi năm và con số này đang được tăng lên cho số lao động phần lớn chưa qua đàotạo, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội.

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tính đến ngày31/12/2011, Việt Nam có tổng số 543.963 doanh nghiệp đăng ký thành lập theo luậtdoanh nghiệp và trong đó có 324.691 doanh nghiệp hoạt động theo thống kê của tổng cụcthống kê, với số vốn tổng cộng khoảng 6 triệu tỷ đồng Trong tổng số doanh nghiệp đó

đó, theo tiêu chí để phân loại doanh nghiệp theo quy mô vốn và lao động đã được ghi rõ

ở phần trên, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cả 3 khu vực là 316.941 doanhnghiệp, chiếm khoảng 97,6% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, chủ yếu là các doanhnghiệp tư nhân Các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng 51% lao động xã hội và đóng góphơn 40% GDP cả nước Nếu tính cả 133.000 hợp tác xã, trang trại và khoảng 3 triệu hộkinh doanh cá thể thì khu vực này đóng góp tới 60% vào cơ cấu GDP

Trang 30

Nguồn : Tổng cục thống kê

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ có đóng góp quan trọng và tăng khá nhanh đốivới ngân sách nhà nước trong những năm vừa qua Năm 2006, các doanh nghiệp vừa vànhỏ đã đóng góp hơn 45 nghìn tỷ đồng vào ngân sách quốc gia và đến năm 2011, con sốnày đã lên đến 177,8 nghìn tỷ đồng

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn phát triển nhanh về số lượng Cụthể, số doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2011 tăng gấp gần 2,64 lần so với năm 2006, bìnhquân trong giai đoạn 6 năm 2006 - 2011 mỗi năm tăng 21,4% Nổi bật nhất là năm 2007,

là năm đầu tiên tính từ mốc thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), nền kinh tế trong và ngoài nước đã được chứng kiến sự phát triển đặc biệt mạnh

mẽ của đội ngũ các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ về số lượng mà còn về hiệu quảđầu tư Cũng trong năm 2007, theo thống kê, có khoảng gần 50.000 doanh nghiệp đăng

ký thành lập mới với số vốn khoảng 400.000 tỷ đồng điều này đã tạo lập cơ sở vữngchắc, để năm 2010, tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam đạt được con số 500.000 doanh

Trang 31

nghiệp Mặc dù năm 2011 được xem là một năm tương đối “đại hạn” với nguyên nhân từcuộc khủng hoảng kinh tế nhưng cả nước vẫn có tới 77.548 doanh nghiệp thành lập mới,với tổng vốn đăng ký là 513.000 tỷ đồng Riêng tại TPHCM, năm 2011 đã có 24.413doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 182.344 tỷ đồng Mặc dù doanh nghiệpsiêu nhỏ chiếm tỷ trọng tương đối lớn (66,8% tổng số doanh nghiệp vừa và nhỏ), nhưngkhối doanh nghiệp này lại đóng góp không nhiều về số lao động việc làm và đặc biệttrong giai đoạn từ 2006 đến 2011, doanh nghiệp siêu nhỏ hầu như kinh doanh không cólãi Cụ thể, năm 2011 doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ tạo được 21% lao động việc làm, tổngthu nhập của người lao động chỉ chiếm 17,1%, doanh thu chiếm 24,5% và đóng góp chongân sách nhà nước chỉ chiếm 14,5% tổng đóng góp của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ(Nguồn: tổng cục thống kê).

VCCI cho biết đầu năm 2014, cả nước có 764.374 doanh nghiệp đăng ký thành lậptheo Luật doanh nghiệp, trong đó có 391.547 doanh nghiệp đang hoạt động Trong 10tháng của năm có thêm 60.023 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký352.000 tỉ đồng So với cùng kỳ năm trước, số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm6,5% nhưng số vốn tăng 9,5%.Trong số các doanh nghiệp đang hoạt động, tỉ lệ doanhnghiệp ngoài nhà nước chiếm 96% Các doanh nghiệp có quy mô lớn chỉ chiếm 2%, sốdoanh nghiệp có quy mô vừa cũng ở mức tương tự, còn lại 96% là doanh nghiệp có quy

mô nhỏ và siêu nhỏ Riêng doanh nghiệp siêu nhỏ (theo tiêu chí có dưới 10 lao động)chiếm tới 67%

Sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong 20 năm đổi mới của Việt Nam tínhđến nay là vô cùng to lớn Các doanh nghiệp tư nhân đã xác lập được vị thế trong côngcuộc chấn hưng nền kinh tế đất nước Điều này không chỉ đúng ở Việt Nam mà ngay cảcác nước trong khu vực và thế giới Dù quy mô còn nhỏ, với số vốn còn ít ỏi nhưng cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt ở khu vực tư nhân, có hiệu quả đầu tư cao hơn rấtnhiều so với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Để tạo 1 đơn vị giá trị GDP, khu vực kinh tế tư nhân chỉ cần 3,74 đơn vị đầu tư, trongkhi khu vực nhà nước cần 8,28 đơn vị và doanh nghiệp khu vực FDI cần 4,99 đơn vị.Doanh thu trên tổng số tài sản khu vực tư nhân cũng cao hơn các khu vực khác Trong

Trang 32

khi doanh nghiệp tư nhân có số vốn 1 tỷ đồng tài sản tạo ra 1,18 tỷ đồng doanh thu thìkhu vực doanh nghiệp Nhà nước chỉ tạo ra 0,80 tỷ đồng và khu vực có vốn đầu tư nướcngoài tạo ra 0,89 tỷ đồng.

Việt Nam không chỉ có đội ngũ lao động chăm chỉ, khéo léo; một đội ngũ doanh nhân nhanh nhạy, sáng tạo mà còn có cả một tiềm lực tài nguyên phong phú Với lợi thế sẵn

có, Việt Nam sẽ vượt qua giai đoạn khó khăn khi những tiềm lực phát triển kinh tế trong dân được khơi dậy và được tổ chức tốt – đây là nhận định chung của hầu hết các chuyên

gia hàng đầu trong nước và quốc tế (theo http://www.bacninh.gov.vn)

Nhận định này xuất phát từ nhiều hành động thực tế của các tổ chức, doanh nghiệp vàdoanh nhân Việt Nam và biểu hiện rõ nét nhất khi những đoàn thể, cá nhân này vượt quađược mọi khó khăn và thách thức Ví dụ như, tính từ năm 2008 đến nay, khi cuộc khủng

Trang 33

hoảng tài chính xảy ra và vốn vay từ các ngân hàng ở nên thắt chặt, khó khăn hơn nhiều,các doanh nghiệp đã tự cứu mình bằng cách tìm đến nhiều nguồn vốn khác nhau để hợptác phát triển và thoát ra khỏi khủng hoảng Từ trong khó khăn, đã xuất hiện nhiều doanhnhân có cách làm mới, cách nghĩ mới, họ quan niệm “đã làm doanh nhân thì không thểngồi chờ phép màu” Chính vì quan điểm đúng đắn đó, họ không chỉ trụ vững tại thịtrường trong nước mà còn tăng lượng hàng xuất khẩu sang các nước, tạo thêm công ănviệc làm cho người lao động, mang đến sự thành công không nhỏ cho bản thân doanhnghiệp mà còn cho nền kinh tế cả nước.

2.2 Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp có thể được đo lường bằng nhiều yếu tốkhác nhau như chỉ số quay vòng vốn (tính bằng tổng doanh thu/tổng nguồn vốn) hoặchiệu suất sinh lời trên doanh thu (được tính bằng tổng lợi nhuận trước thuế/tổng doanhthu, phản ánh hiệu quả khi tạo ra 1 đồng doanh thu thì thu được bao nhiêu % lợi nhuận).Tuy nhiên, chỉ tiêu này chưa có ý nghĩa cuối cùng đối với các doanh nghiệp Điều mà cácdoanh nhân quan tâm và đánh giá là hiệu quả kinh doanh, mối quan hệ so sánh giữa kếtquả kinh doanh đạt được trong một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định với chi phí bỏ

ra để đạt được kết quả đó Nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào hữu hạn

để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Kết quả kinh doanh của daonh nghiệp và chiphí bỏ ra được nhắc đến ở trên cũng như khả năng phân bổ đúng và hợp lý các nguồn lựcchịu tác động trực tiếp và gián tiếp của rất nhiều các nhân tố khác nhau với các mức độkhác nhau, do đó nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, ta có thể chia nhân tố ảnhhưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như sau :

2.2.1 Các nhân tố khách quan

2.2.1.1 Nhân tố môi trường quốc tế và khu vực

Môi trường quốc tế và khu vực gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động mở rộng thịtrường tiêu thụ sản phẩm và hoạt động trên thị trường các nguồn lực đầu vào của doanhnghiệp Để nhận biết được một môi trường tốt hay không cần xem xét nhiều yếu tố như

Trang 34

các xu hướng chính trị trên thế giới, các chính sách bảo hộ và mở cửa của các nước trênthế giới, tình hình chiến tranh, sự mất ổn định chính trị, tình hình phát triển kinh tế củacác nước trên thế giới Một môi trường tốt và ổn định về cả kinh tế và chính trị góp phầngiúp các doanh nghiệp trong khu vực tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thuậnlợi góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ví dụ như tình hình chính trị vàkinh tế tương đối ổn định của các nước Đông Nam Á trong mấy năm vừa qua cùng sựhợp tác hài hòa cùng phát triển giữa Việt Nam và nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới

đã làm cho hiệu quả sản xuất của nền kinh tế trong nước tăng lên đáng kể

2.2.1.2 Nhân tố môi trường trong nước

Các yếu tố thuộc môi trường trong nước bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội

và các điều kiện sinh thái môi trường tự nhiên đóng góp một phần không nhỏ đến hiệuquả kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước

Thứ nhất, môi trường chính trị - luật pháp được cho là nền móng cơ bản cho sự phát

triển của các doanh nghiệp nói chung Môi trường chính trị ổn định luôn luôn là tiền đềcho việc phát triển và mở rộng các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức cánhân trong và ngoài nước Các hoạt động đầu tư này lại tác động trở lại ảnh hưởng đếnhiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Môi trường pháp lý bao gồm luật,các văn bản dưới luật, các quy trình quy phạm kỹ thuật sản xuất tạo ra một hành lang chocác doanh nghiệp hoạt động, các hoạt động của doanh nghiệp Có thể nói luật pháp lànhân tố kìm hãm hoặc khuyến khích sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, do đóảnh hưởng trực tiếp tới các kết quả cũng như hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh

doanh của các doanh nghiệp Thứ hai, môi trường kinh tế chính là không gian rộng lớn

cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động Các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độtăng trưởng nền kinh tế quốc dân, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người làcác yếu tố tác động trực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp Nếu tốc độ tăng trưởngnền kinh tế quốc dân cao, các chính sách của Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệpđầu tư mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát được giữ mứchợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp pháttriển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngoài ra, các hỗ trợ từ địa phương,

Trang 35

các chính sách thuế, chính sách lãi suất và các thủ tục hành chính thuận lợi là một yếu tốlớn thúc đẩy sự phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, đồngthời cũng mang lại một số lợi ích nhất định góp phẩn ổn định môi trường trong nước như

hỗ trợ ngân sách nhà nước, tăng tổng sản phẩm quốc dân, nâng cao hình ảnh và vị thế

nước nhà trong con mắt bạn bè quốc tế…Thứ ba, các điều kiện tự nhiên như các loại tài

nguyên khoáng sản, vị trí địa lý, khí hậu, ảnh hưởng tới chi phí sử dụng nguyên vậtliệu, nhiên liệu, năng lượng, ảnh hưởng tới mặt hàng kinh doanh, năng suất chất lượngsản phẩm, ảnh hưởng tới cung cầu sản phẩm do tính chất mùa vụ do đó ảnh hưởng tớihiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong vùng Hơn nữa, tình trạng môitrường của khu vực, các vấn đề về xử lý phế thải, ô nhiễm và các ràng buộc xã hội về môitrường, đều có tác động nhất định đến chi phí kinh doanh, năng suất và chất lượng sảnphẩm Một môi trường trong sạch thoáng mát sẽ trực tiếp làm giảm chi phí kinh doanh,nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao hiệu

quả sản xuất kinh doanh Thứ tư, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quyết định sự phát triển

của nền kinh tế cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp Một cơ sở hạ tầng tốt sẽtạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thông tin thị trường, tiếp cận các nguồn lực đầuvào và kênh thông tin đến các khách hàng, đó chính là hệ thống đường xá, giao thông, hệthống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia ảnhhưởng tới chi phí kinh doanh, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng huy động và sử dụngvốn, khả năng giao dịch thanh toán của các doanh nghiệp Kết quả là ảnh hưởng rất lớn

tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thứ năm, môi trường khoa học kỹthuật công nghệ cũng là một yếu tố quan trọng Tình hình phát triển khoa học kỹ thuậtcông nghệ và khả năng ứng dụng của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất trênthế giới cũng như trong nước ảnh hưởng tới trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổimới công nghệ của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm

2.2.1.3 Nhân tố môi trường ngành

Các yếu tố môi trường ngành ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các doanhnghiệp vừa và nhỏ bao gồm cạnh tranh, sản phẩm thay thế trên thị trường và bản thân mắtxích trước – nhà cung ứng, và sau – khách hàng, của doanh nghiệp

Ngày đăng: 24/04/2016, 11:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] D. J. Denis, D. K. Denis, and A. Sarin. (1997). Agency problems, equity ownership, and corporate diversification. The Journal of Finance, vol. 52, pp. 135-160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agency problems, equity ownership,and corporate diversification
Tác giả: D. J. Denis, D. K. Denis, and A. Sarin
Năm: 1997
[2] H. K. Christensen and C. A. Montgomery, 1981, Corporate economic performance:Diversification strategy versus market structure, Strategic Management Journal, vol.2, pp. 327-343 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate economic performance:"Diversification strategy versus market structure
[3] J. F. Weston and S. K. Mansinghka, 1971, Tests of the efficiency performance of conglomerate firms, The Journal of Finance, vol.26, pp. 919-936 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tests of the efficiency performance ofconglomerate firms
[4] Kotler, P. &amp; Sidney J. Levy., 1969, Broadening the Concept of Marketing, Journal of Marketing, January 1969, Vol. 33, Issue 1, pp.10-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Broadening the Concept of Marketing
[5] Kotler, P. ,1967, Marketing Management: Analysis, Planning and Control, Englewood Cliffs, N.J., Prentice-Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing Management: Analysis, Planning and Control
[6] L. Nachum. , 2004, Geographic and industrial diversification of developing country firms. Journal of Management Studies, vol. 41, pp. 273-294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Geographic and industrial diversification of developingcountry firms
[7] P. G. Berger and E. Ofek., 1995, Diversification's effect on firm value. Journal of Financial Economics, vol. 37, pp. 39-65.Tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diversification's effect on firm value
[8] Lê Thị Bích Ngọc (2007), Giáo trình Quản trị chiến lược, Học viện Bưu chính Viễn thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị chiến lược
Tác giả: Lê Thị Bích Ngọc
Năm: 2007
[9] Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam, 2011, Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Cần Thơ, Tạp chí Khoa học số 2011:19b, trang 122-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quảhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Cần Thơ
[10] Phan Thị Minh Lý, 2011, Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thừa Thiên Huế, Tạp chí khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 2(43) năm 2011.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thừa Thiên Huế

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu trúc sản phẩm ( 5 product levels) - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Hình 1.1. Cấu trúc sản phẩm ( 5 product levels) (Trang 10)
Bảng 2.1. Định nghĩa SMEs theo WB - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Bảng 2.1. Định nghĩa SMEs theo WB (Trang 26)
Bảng 2.3. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Bảng 2.3. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia (Trang 27)
Bảng 2.4. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam                          Quy mô - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Bảng 2.4. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam Quy mô (Trang 28)
Bảng 3.1. Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Bảng 3.1. Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính (Trang 42)
Bảng 3.2. Thống kê mô tả biến - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Bảng 3.2. Thống kê mô tả biến (Trang 43)
Bảng 3.3. Ma trận tính tương quan giữa các biến của mô hình - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Bảng 3.3. Ma trận tính tương quan giữa các biến của mô hình (Trang 45)
Bảng 3.4. Kết quả hồi quy của mô hình STT Biến Hệ số hồi quy P-value Các hệ số khác - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Bảng 3.4. Kết quả hồi quy của mô hình STT Biến Hệ số hồi quy P-value Các hệ số khác (Trang 46)
Bảng dưới đây sẽ cho thấy kết quả hồi quy mô hình được thực hiện thông qua chương trình STATA. - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Bảng d ưới đây sẽ cho thấy kết quả hồi quy mô hình được thực hiện thông qua chương trình STATA (Trang 46)
Bảng 3.5. Kết quả hồi quy robust của mô hình STT Biến Hệ số hồi quy P-value Các hệ số khác - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Bảng 3.5. Kết quả hồi quy robust của mô hình STT Biến Hệ số hồi quy P-value Các hệ số khác (Trang 49)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w