1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LÝ THUYẾT tài CHÍNH CHƯƠNG 3 : TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

34 405 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 66,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.2.tổ chức tài chính doanh nghiệp 3.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức TCDN 3.2.1.1. Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, ở nước ta hiện nay có các loại hình doanh nghiệp sau đây: Doanh nghiệp nhà nước. Công ty cổ phần. Công ty trách nhiệm hữu hạn. Công ty hợp danh. Doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các loại hình doanh nghiệp khác nhau chi phối đến việc tổ chức, huy động vốn cũng như việc phân chia lợi nhuận cũng khác nhau. Chẳng hạn, doanh nghiệp nhà nước được Ngân sách nhà nước đầu tư vốn toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ ban đầu. Ngoài vốn nhà nước đầu tư, doanh nghiệp được quyền huy động vốn dưới các hình thức phát hành trái phiếu, vay vốn, nhận góp liên doanh… nhưng không thay đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp. Việc phân phối lợi nhuận sau thuế được thực hiện theo quy định của chính phủ. Đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn là do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra, cũng có thể huy động thêm từ bên ngoài dưới hình thức đi vay. Loại doanh nghiệp này không được phép phát hành một loại chứng khoán nào trên thị trường để tăng vốn. Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền sở hữu và sử dụng của chủ doanh nghiệp. Còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì vốn điều lệ của công ty là do các thành viên đóng góp. Trong quá trình hoạt động vốn có thể tăng nên nhờ kết nạp thêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hoặc đi vay bên ngoài nhưng không được phép phát hành chứng khoán. Việc phân chia lợi nhuận sau thuế do các thành viên quyết định, mức lợi nhuận các thành viên nhận được phụ thuộc vào vốn đóng góp…

Trang 1

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH

CHƯƠNG 3 : TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

3.2.tổ chức tài chính doanh nghiệp

3.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức TCDN

3.2.1.1 Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp

Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, ở nước ta hiện nay có các loại hình doanh nghiệp sau đây:

- Doanh nghiệp nhà nước

- Công ty cổ phần

- Công ty trách nhiệm hữu hạn

- Công ty hợp danh

- Doanh nghiệp tư nhân

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Các loại hình doanh nghiệp khác nhau chi phối đến việc tổ chức, huy động vốn cũng như việc phân chia lợi nhuận cũng khác nhau Chẳng hạn, doanh nghiệp nhà nước được Ngân sách nhà nước đầu tư vốn toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ ban đầu Ngoài vốn nhà nước đầu tư, doanh nghiệp được quyền huy động vốn dưới các hình thức phát hành trái phiếu, vay vốn, nhận góp liên doanh… nhưng không thay đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp Việc phân phối lợi nhuận sau thuế được thực hiện theo quy định của chính phủ Đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn là do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra, cũng có thể huy động thêm từ bên ngoài dưới hình thức đi vay Loại doanh nghiệp này không được phép phát hành một loại chứng khoán nào trên thị trường để tăng vốn Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền

sở hữu và sử dụng của chủ doanh nghiệp Còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạnthì vốn điều lệ của công ty là do các thành viên đóng góp Trong quá trình hoạt động vốn có thể tăng nên nhờ kết nạp thêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hoặc đi vay bên ngoài nhưng không được phép phát hành chứng khoán Việc phân chia lợi nhuận sau thuế do các thành viên quyết định, mức lợi nhuận các thành viên

Trang 2

nhận được phụ thuộc vào vốn đóng góp…

3.2.1.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh

Tổ chức tài chính doanh nghiệp còn dựa vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh Mỗi ngành kinh doanh có đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật riêng Những đặc điểm đó đã ảnh hưởng đến cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp (ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến vốn cố định chiếm tỷ trọng khác nhau trong tổng số vốn kinh doanh); ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn (tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp sản xuất chậm hơn tốc độ luân chuyển vốn của các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

có tính chất thời vụ khác với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh liên tục…)

3.2.1.3 Môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp Do đó, việc tổ chức tài chính doanh nghiệp phải tính đến tác động của môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh bao gồm: sự ổn định về kinh tế, thị trường, lãi suất, cơ sở

hạ tầng của nền kinh tế, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, chính sách kinh tế, tài chính của nhà nước… Sự ổn định của nền kinh tế sẽ tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế biến động có thể gây nên những rủi ro cho kinh doanh, những rủi ro đó ảnh hưởng tới các khoản chi phí đầu tư, ảnh hưởng nhu cầu về vốn, ảnh hưởng tới thu nhập của doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế phát triển cũng ảnh hưởng đến tiết kiệm chi phí trong kinh doanh…

Thị trường, gia cả, lãi suất đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thị trường tài chính, thị trường hàng hoá phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài cũng như mua vật tư, thiết bị bán hàng hoá của doanh nghiệp được dễ dàng

Giá cả, lãi suất đều ảnh hưởng tới sự tăng giảm về chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy động vốn vay

Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp không ngừng cải

Trang 3

tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ đảm bảo cho sản phẩm của doanh nghiệp tồn tại

và phát triển, đứng vững trong cạnh tranh Từ đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốnđầu tư lớn và chọn hướng đầu tư thích hợp…Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp (như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế, chính sách tín dụng và lãi suất, chính sách ngoại hối, chế độ khấu hao…) phùhợp với môi trường tài chính vĩ mô sẽ ổn định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển, khuyến khích các doanh nghiệp tích tụ vốn, sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả

3.2.2 Nguyên tắc tổ chức tài chính doanh nghiệp

Tổ chức tài chính của doanh nghiệp không những chỉ dựa vào các nhân tố trên mà còn phải quán triệt đầy đủ các nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất: Nguyên tắc tôn trọng luật pháp

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu chung của các doanh nghiệp là đều hướng tới lợi nhuận Vì lợi nhuận tối đa mà các doanh nghiệp có thể kinh doanh với bất

cứ giá nào có thể phương hại tới lợi ích quốc gia, đến lợi ích của các doanh nghiệp khác Do đó, song song với bàn tay vô hình của nền kinh tế thị trường phải có bàn tay hữu hình của nhà nước để điều chỉnh nền kinh tế Nhà nước đã sử dụng hàng loạt các công cụ như luật pháp, chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả… để quản lý vĩ

mô nền kinh tế Các công cụ đó một mặt tạo điều kiện kích thích mở rộng đầu tư, tạo môi trường kinh doanh, mặt khác tạo ra khuôn khổ luật pháp kinh doanh rất chặt chẽ Vì vậy, nguyên tắc hàng đầu của tổ chức tài chính doanh nghiệp là phải tôn trọng luật pháp Doanh nghiệp phải hiểu luật để đầu tư đúng hướng – nơi được nhà nước khuyến khích (như giảm thuế, tài trợ tín dụng…)

Thứ hai: Nguyên tắc hạch toán kinh doanh

Hạch toán kinh doanh là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định tới sự sống còn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Yêu cầu tối cao của nguyên tắc này là lấy thu bù chi, có doanh lợi Nó hoàn toàn trùng hợp với mục tiêu của

cácdoanh nghiệp là kinh doanh để đạt được lợi nhuận tối đa Do có sự thống nhất

đó nên hạch toán kinh doanh không chỉ là điều kiện để thực hiện mà còn là yêu cầubắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nếu như không muốn doanh nghiệp bị phá sản Thế nhưng hạch toán kinh doanh chỉ có thể được phát huy tác dụng trong

Trang 4

môi trường đích thực là nền kinh tế hàng hoá mà đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường và doanh nghiệp được tự chủ về mặt tài chính, tự chủ trong kinh doanh Doanh nhiệp được quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình, chủ động lựa chọn ngành nghề, địa bàn đầu tư, hình thức đầu tư kinh doanh, góp vốn vào cácdoanh nghiệp khác; lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn, chủ động tìm kiếm thị trường khách hàng và ký kết hợp đồng; tuyển thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; chủ động áp dụng phương thức quản lý khoa học hiện đại

để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh Mục tiêu hiệu quả kinh tế phải được coi là mục tiêu bao trùm chi phối hoạt động tài chính của doanh nghiệp

Thứ ba: Nguyên tắc giữ chữ tín

Giữ chữ tín không chỉ là một tiêu chuẩn đạo đức trong cuộc sống đời thường mà còn là nguyên tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh nói chung và trong tổ chức tài chính doanh nghiệp nói riêng Trong thực tế kinh doanh cho thấy, kẻ làm mất chữ tín, chỉ ham lợi trước mắt sẽ bị bạn hàng xa lánh Đó là nguy cơ dẫn đến phá sản

Do đó trong tổ chức tài chính doanh nghiệp để giữ chữ tín cần tôn trọng nghiêm ngặt các kỉ luật thanh toán, chi trả các hợp đồng kinh tế, các cam kết về góp vốn đầu tư, và phân chia lợi nhuận Mặt khác để giữ chữ tín doanh nghiệp cũng cần mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ, cải tiến kĩ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm để luôn giữ được giá trị của nhãn hiệu hàng hoá của doanh nghiệp

Thứ tư: Nguyên tắc an toàn phòng ngừa rủi ro

Đảm bảo an toàn, phòng ngừa rủi ro bất trắc cũng được coi là nguyên tắc quan trọng trong kinh doanh nói chung và tổ chức tài chính doanh nghiệp nói riêng Đảm bảo an toàn là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu kinh doanh có hiệu quả Nguyên tắc an toàn cần được quán triệt trong mọi khâu của công tác tổ chức tài chính doanh nghiệp: an toàn trong việc lựa chọn nguồn vốn, an toàn trong việc lựa chọn đối tác đầu tư liên doanh, an toàn trong việc sử dụng vốn…An toàn

và mạo hiểm trong kinh doanh là hai thái cực đối lập nhau Mạo hiểm trong đầu tư thường phải chấp nhận nhiều rủi ro lớn, nhưng cũng thường thu được lợi nhuận cao

và ngược lại Điều này đòi hỏi các nhà tài chính phải có những quyết sách đúng đắn trong các thời cơ thích hợp để lựa chọn phương án đầu tư vừa đảm bảo an toàn, vừa mang lại hiệu quả cao Ngoài các giải pháp lựa chọn phương án an toàn

Trang 5

trong kinh doanh, cần thiết phải tạo lập quỹ dự phòng (quỹ dự trữ tài chính) hoặc tham gia bảo hiểm Mặt khác, việc thành lập công ty, hình thức phát hành cổ phiếu cũng là biện pháp vừa để tập trung vốn, vừa để san sẻ rủi ro cho các cổ đông nhằm tăng độ an toàn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp.

3.3 Những nội dung chủ yếu của của hoạt động tài chính doanh nghiệp

3.3.1 Vốn kinh doanh

- Khái niệm Vốn kinh doanh : là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản

hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời

- Đặc trưng của Vốn kinh doanh:

+ Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các

bước tiếp theo của quá trình kinh doanh

+ Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp l à một quỹ tiền tệ đặc biệt vì nó có quá trình tạo lập, bổ sung, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ và nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích tích lũy

+ Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có tr ước khi diễn ra hoạt động sản

xuất kinh doanh

+ Vốn kinh doanh phải đạt tới mục ti êu sinh lời và vốn luôn thay đổi hình thái biểu hiện vừa tồn tại dưới hình thái tiền vừa tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình, nhưng kết thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền

3.3.2 Nguồn vốn kinh doanh

Vốn đầu tư của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn khác nhau:

nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả

- Nguồn vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh

Trang 6

Khi doanh nghiệp mới được thành lập thì nguồn vốn chủ sở hữu hình

thành vốn điều lệ do chủ doanh nghiệp, các nh à đầu tư góp vốn, được sử

dụng để đầu tư, mua sắm các loại tài sản của doanh nghiệp Cách thức huy động nguồn vốn chủ sở hữu đối với các loại h ình doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau, tùy theo đó là công ty c ổ phần, doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước

Trong quá trình hoạt động, nguồn vốn chủ sở hữu được bổ sung từ kết

quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Vai trò của nguồn vốn chủ sở hữu đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:

+ Tạo điều kiện thuận lợi cho chủ doanh nghiệp chủ động ho àn toàn

trong sản xuất

+ Giúp chủ doanh nghiệp có cơ sở để chủ động và kịp thời đưa ra các

quyết sách quyết định trong kinh doanh để đạt đ ược các mục tiêu của doanh nghiệp mà không phải tìm kiếm và phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ

- Hạn chế của nguồn vốn chủ sở hữu :

Nguồn vốn chủ sở hữu thường bị hạn chế về quy mô nên không đáp ứng

mọi nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh

Việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu không chịu sức ép về chi phí sử

dụng vốn và có thể thiếu sự kiểm tra, giám sát hoặc t ư vấn của các chuyên gia, các

tổ chức như trong sử dụng nguồn vốn đi vay, do đó có thể hiệu quả sử dụng vốn không cao

Trang 7

- Các khoản nợ phải trả: là nguồn vốn mà doanh nghiệp khai thác, huy

động từ các chủ thể khác qua vay nợ, thu ê mua, ứng trước tiền hàng… mà doanh nghiệp được quyền sử dụng tạm thời trong một thời gian sau đó phải hoàn trả cho chủ nợ

Theo tính chất và thời hạn thanh toán gồm có các loại:

+ Nợ ngắn hạn: là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả cho chủ nợ

trong một thời hạn ngắn, bao gồm các khoản nh ư: vay ngắn hạn; phải trả cho người bán, người nhận thầu; người mua trả tiền trước; thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước; các khoản phải trả, phải nộp khác…

+ Nợ dài hạn: là các khoản vốn mà doanh nghiệp nợ các chủ thể khác

trên một năm mới phải hoàn trả, bao gồm vay dài hạn cho đầu tư phát triển, nợ thuê mua tài sản cố định, phát hành trái phiếu

+ Nợ khác: là các khoản phải trả như nhận ký quỹ, ký cược dài hạn, các

khoản chi phí phải trả khác

- Vai trò của nguồn vốn nợ phải trả trong quá tr ình sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp:

+ Việc huy động các nguồn vốn n ày là rất quan trọng đối với doanh

nghiệp để đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh

+ Thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng vốn tiết kiệm v à hiệu quả vì nguồn

vốn này phải chịu sức ép về chi phí sử dụng vốn vay, thời hạn hoàn trả

+ Tạo điều kiện cho doanh nghiệp tranh thủ chiếm dụng sử dụng các

khoản nợ phải trả trong thời hạn cho phép, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp

và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh

Trang 8

- Hạn chế của nguồn vốn nợ phải trả:

+ Doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn vốn vay, tốn kém về chi phí, về

thời gian

+ Trong trường hợp không tính toán chính xác v à thận trọng, hiệu quả

kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bị ảnh h ưởng bởi lãi suất tiền vay

3.3.3 Quản lý và bảo toàn vốn kinh doanh của doanh nghiệp

* Vốn cố định của doanh nghiệp

- Khái niệm : Vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn

bộ tài sản cố định (TSCĐ) của doanh nghiệp

TSCĐ của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng

dài, có chức năng là tư liệu lao động

- Phân loại TSCĐ : Tài sản cố định của doanh nghiệp chia th ành ba loại:

+ TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể như nhà

xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải trực tiếp hoặc giá n tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+ TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể như

chi phí để mua bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả

+ TSCĐ thuê tài chính: là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của các

công ty cho thuê tài chính

- Đặc điểm TSCĐ :

+ Trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ không thay đổi hình thái

Trang 9

hiện vật ban đầu và TSCĐ có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh

doanh

+ Năng lực sản xuất của TSCĐ bị giảm dần do chún g bị hao mòn Có hai loại hao mòn: Hao mòn hữu hình là hao mòn có liên quan đến việc giảm giá trị sử dụng củaTSCĐ và hao mòn vô hình là hao mòn có liên quan tới việc mất giá của TSCĐ

- Đặc điểm của vốn cố định:

+ Vốn cố định tham gia nhiều chu kỳ sản xu ất sản phẩm và chuyển dần

từng phần vào giá thành sản phẩm tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định

+ Vốn cố định được thu hồi dần từng phần tương ứng với phần hao mòn

của tài sản cố định, đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được thu hồi về đủ thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển

+ Vốn cố định được bù đắp (thu hồi) bằng biện pháp khấu hao, tức l à

trích lại phần giá trị hao mòn của tài sản cố định Tiền trích lại đó h ình thành nên quỹ khấu hao Quỹ khấu hao dùng để duy trì năng lực sản xuất bình thường của TSCĐ và dùng để tái sản xuất toàn bộ TSCĐ

- Quản lý và bảo toàn vốn cố định :

+ Quản lý vốn cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý h ình thái hiện

vật của nó là các TSCĐ của doanh nghiệp hay quản lý vốn cố định bao hàm cả quản lý về mặt giá trị và quản lý mặt hiện vật của nó

+ Quản lý mặt giá trị của vốn cố định là quản lý quỹ khấu hao do đó, cần

phải đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định một cách thường xuyên và chính xác, tạo cơ sở cho việc xác định mức khấu hao hợp lý để thu hồi vốn, cần phải lựa chọn

Trang 10

phương pháp khấu hao thích hợp để đảm bảo thu hồi vốn nhanh và bảo toàn được vốn.

+ Quản lý mặt hiện vật của vốn cố định là quản lý TSCĐ do đó, cần phải

phân loại TSCĐ theo những tiêu thức khác nhau (phân loại theo hình thái biểu hiện, theo mục đích sử dụng, theo công dụng kinh tế, theo t ình hình sử dụng)

để từ đó xác định trọng tâm của công tác quản lý

+ Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không chỉ giữ nguy ên hình thái

vật chất mà phải duy trì thường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó

+ Trong quá trình sử dụng, doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ, không

làm mất tài sản cố định, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo d ưỡng nhằm duy trì

và nâng cao năng lực họat động của TSCĐ, không để TSCĐ hư hỏng trước thời hạn quy định

+ Phải bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị, duy trì được sức mua của vốn

cố định ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu t ư ban đầu bất kể sựbiến động của giá cả, tỷ giá hối đoái, tiến bộ khoa học kỹ thuật

* Vốn lưu động của doanh nghiệp

- Khái niệm : Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản lưu

động (TSLĐ) của doanh nghiệp phục vụ cho quá tr ình kinh doanh của doanh nghiệp

- Tài sản lưu động của doanh nghiệp bao gồm:

+ Tài sản lưu động sản xuất (nguyên, nhiên vật liệu; bán thành phẩm; sản

phẩm dở dang )

+ Tài sản lưu thông (thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, vốn

Trang 11

trong thanh toán ).

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động sản xuất và tài sản

lưu động lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục

- Đặc điểm của tài sản lưu động:

+ Tài sản lưu động chỉ tham gia vào từng chu kỳ sản xuất của doanh

nghiệp

+ Tài sản lưu động bị tiêu dùng hoàn toàn trong việc chế tạo ra sản

phẩm và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu

- Đặc điểm của vốn lưu động :

+ Vốn lưu động chuyển một lần toàn bộ giá trị vào giá thành sản phẩm

mới được tạo ra

+ Vốn lưu động được thu hồi một lần toàn bộ sau khi bán hàng đi thu tiền về và lúc

đó kết thúc vòng tuần hoàn của vốn

- Quản lý Vốn lưu động :

+ Phải quản lý vốn lưu động trên tất cả các hình thái biểu hiện

+ Phải tiến hành phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức khác nhau:

+ Phân loại theo vai trò của từng loại vốn lưu động trong sản xuất kinh

doanh gồm vốn lưu động ở khâu dự trữ, khâu sản xuất v à khâu lưu thông

+ Phân loại theo hình thái biểu hiện gồm vốn vật tư hàng hóa và vốn bằng tiền.+ Phân loại theo quan hệ sở hữu hoặc theo nguồn h ình thành

Từ đó giúp cho doanh nghiệp xác định đúng trọng điểm và quản lý vốn

Trang 12

hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.

3.3.4 Chi phí kinh doanh, giá thành sản phẩm

- Khái niệm Chi phí sản xuất kinh doanh : Chi phí sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các hao phí về vật chất và lao động mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định

- Vai trò của quản lý chi phí trong doanh nghiệp :

+ Quản lý chặt chẽ chi phí sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí từ đó hạ

giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận

+ Quản lý chi phí sẽ giúp doanh nghiệp tính đ ược giá thành sản phẩm

một cách chính xác để đưa ra giá bán đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp mà vẫn

có lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

+ Quản lý và sử dụng hiệu quả chi phí sẽ hạn chế và ngăn chặn được

những khoản chi phí không hợp lý, chống l ãng phí và các hiện tượng tiêu cực

- Khái niệm Giá thành sản phẩm: Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

là biểu hiểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn

thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại hoặc mội khối lượng sản phẩm nhất định.-Vai trò của Giá thành sản phẩm trong quản lý các hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp :

+ Giá thành là thước đo mức chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của

doanh nghiệp, là căn cứ để xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh

+ Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát

Trang 13

tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả các biện pháp tổ chức,

kỹ thuật

+ Giá thành là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chính

sách giá cả đối với từng loại sản phẩm

- Biện pháp hạ giá thành sản phẩm :

+ Áp dụng những thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật v à công nghệ

vào sản xuất

+ Tổ chức lao động và sử dụng con người một cách hợp lý

+ Bố trí hợp lý các khâu sản xuất, hạn chế sự l ãng phí nguyên liệu, giảm

thấp tỷ lệ sản phẩm hỏng

+ Tổ chức sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu, tránh

những tổn thất trong sản xuất

3.3.5 Doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp

- Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm:

+ Doanh thu hoạt động kinh doanh là toàn bộ khoản doanh thu về tiêu thụ

sản phẩm hàng hoá dịch vụ Đây là bộ phận chủ yếu trong tổng doanh thu của doanh nghiệp

+ Doanh thu từ các hoạt động tài chính bao gồm các khoản thu từ hoạt

động liên doanh, liên kết, tiền lãi cho vay, mua bán chứng khoán và các

nghiệp vụ đầu tư tài chính khác

+ Doanh thu bất thường là những khoản doanh thu không mang tính chất

thường xuyên, như thu về nhượng bán tài sản cố định, vật tư ứ đọng; các

Trang 14

khoản được bồi thường, các khoản nợ vắng chủ

- Vai trò của Doanh thu đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp:

+ Doanh thu là nguồn quan trọng để đảm bảo trang trải các khoản chi phí

sản xuất kinh doanh, đảm bảo thực hiện quá tr ình tái sản xuất giản đơn cũng như tái sản xuất mở rộng

+ Doanh thu là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đối với Nh à

nước, đối với khách hàng đối với các cổ đông tham gia các hoạt động liên doanh, + Doanh thu là một trong những chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp và có những quyết định phù hợp

- Biện pháp để tăng doanh thu:

+ Quan tâm đến chất lượng sản phẩm vì chất lượng sản phẩm, cần mở

rộng các hoạt động tiếp thị nhằm tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận

+ Xác định một giá bán hợp lý, linh hoạt để tác động v ào cầu, kích thích

tăng cầu của người tiêu dùng để tăng doanh thu tiêu thụ

+ Đẩy nhanh tốc độ thanh toán, giảm bớt các khoản nợ phải thu, xử lý tốt

những khoản nợ nần

+ Trong phân phối lợi nhuận cần giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích

giữa doanh nghiệp, người lao động và Nhà nước và phải dành phần lợi nhuận để lạithích đáng cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp

- Khái niệm Lợi nhuận : Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền

Trang 15

chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp đ ưa lại.

- Lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm : Lợi nhuận từ hoạt động kinh

doanh, Lợi nhuận từ hoạt động khác như hoạt động liên doanh, liên kết, các hoạt động thuộc các dịch vụ tài chính

- Vai trò của Lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh:

+ Lợi nhuận là mục tiêu, là đòn bẩy kinh tế quan trọng đối với hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị tr ường

+ Lợi nhuận là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp

+ Lợi nhuận là nguồn tích lũy cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội

- Phân phối lợi nhuận:

Lợi nhuận của doanh nghiệp được phân phối theo trình tự sau:

+ Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho Nhà nước

+ Bù các khoản lỗ năm trước không được trừ vào lợi nhuận trước thuế

+ Nộp tiền thu sử dụng vốn NSNN (nếu có) Nay khoản này theo thông

tư số 30/2002 TT-BTC ngày 27/3/2002 Nhà nước không thu mà doanh nghiệp để lại bổ sung vốn của doanh nghiệp

+ Trả các khoản tiền bị phạt, bồi thường do vi phạm pháp luật Nhà nước

+ Trừ các khoản chi phí thực tế đã chi nhưng không được tính vào chi

phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế

+ Trả lợi tức cổ phần, chia lãi cho các đối tác góp vốn liên doanh (nếu

Trang 16

+ Còn lại trích lập các quỹ chuyên dùng của doanh nghiệp như: quỹ dự

phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi

Sau khi trích lập quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi theo mức quy định nếu

còn thì bổ sung vào quỹ đầu tư phát triển

CHƯƠNG 4 : BẢO HIỂM

4.1 Những vấn đề chung về Bảo hiểm

- Khái niệm Bảo hiểm: Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn với quá

trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố bảo hiểm, bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội diễn rabình thường

- Vai trò của Bảo hiểm : Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động bảo hiểm có vai

trò hết sức to lớn Vai trò đó được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

+ Bảo hiểm góp phần bảo toàn vốn sản xuất kinh doanh và ổn định đời

sống của người tham gia bảo hiểm Bảo hiểm đảm bảo nhu cầu an to àn về mặt vật chất và tài chính trước rủi ro cho các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, cá nhân như rủi ro cháy, động đất, trộm cắp,… Đây là tác dụng chính và chủ yếu của hoạt động bảo hiểm

+ Bảo hiểm góp phần phòng tránh, hạn chế tổn thất, đảm bảo an to àn

cho sản xuất và đời sống Các tổ chức và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tổ chức các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất; tổ chức thực hiện các biện pháp đề phòng có hiệu quả nhất, nhằm giảm thấp mức tổn thất xảy ra; khuyến khích người

Trang 17

tham gia bảo hiểm làm tốt công tác đề phòng, hạn chế tổn thất bằng cách giảm phí bảo hiểm.

+ Bảo hiểm góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội Bảo

hiểm hoạt động với tư cách là các tổ chức tài chính trung gian, một tụ điểm tài chính quan trọng trong thị trường tài chính để đầu tư (ngắn hạn hoặc dài hạn) cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

- Phân loại các hình thức Bảo hiểm : có các loại Bảo hiểm sau:

Căn cứ vào mục đích hoạt động của các tổ chức quản lý quỹ bảo hiểm,

Bảo hiểm bao gồm Bảo hiểm có mục đích kinh doanh và Bảo hiểm không có mục đích kinh doanh

+ Bảo hiểm có tính chất kinh doanh : là các tổ chức, công ty bảo hiểm

tiến hành cung cấp dịch vụ bảo hiểm, tìm kiếm lợi ích kinh tế nhất định trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm và đổi lại họ có doanh thu từ phí bảo hiểm do người tham gia bảo hiểm trả

+ Bảo hiểm không có mục đích kinh doanh : là loại Bảo hiểm nhằm mục

đích tương hỗ giữa các thành viên tham gia bảo hiểm Nguyên tắc hoạt động của các tổ chức bảo hiểm này là cân đối giữa thu và chi, bảo toàn và phát triển vốn gópcủa các thành viên

- Theo phương thức xử lý rủi ro, hoạt động bảo hiểm được chia thành

các hoạt động tự bảo hiểm và hoạt động chuyển giao, phân tán rủi ro

+ Phương thức tự bảo hiểm: là việc các tổ chức, cá nhân, các doanh

nghiệp thành lập các quỹ dự trữ riêng để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra đối với quá trình sản xuất và đời sống của mình

+ Phương thức chuyển giao, phân tán rủi ro : là việc người tham gia bảo

Ngày đăng: 24/04/2016, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w