Trước thời kì Bắc Thuộc, xã hội Âu Lạc đã có sự phân hóa đẳng cấp giữa tầng lớp quý tộc và nhân dân công xã, đã có sự phân biệt giữa người giàu kẻ nghèo, là một trong những cơ sở kinh tếxã hội đưa đến sự ra đời của nhà nước, nhà nước Văn LangÂu Lạc vào khoảng thế kỷ VI thế kỷ III tr.CN. Từ khi bị Triệu Đà và tiếp theo là các triều đại khác ở phương Bắc xâm lược và đô hộ, đất nước Văn LangÂu Lạc đã bị nô dịch, biến thành quận huyện của phong kiến Trung Quốc, nhà nước Việt cổ với thiết chế xã hội là chế độ lạc tướng đã bị xoá bỏ.
Trang 1Nhóm 1
TRÍ THỨC VIỆT NAM THỜI KỲ CỔ - TRUNG ĐẠI
MỤC LỤC
I. QUÁ TRÌNH HÌNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG TRÍ THỨC
THỜI KỲ CỔ- TRUNG ĐẠI
1. Trong giai đoạn đầu lịch sử
2. Trong thời kỳ hơn một ngàn năm Bắc thuộc
3. Trong thời kỳ quốc gia độc lập
+ Thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần Hồ ( từ thế kỉ X đến XV) + Thời Lê sơ đến nhà Nguyễn ( từ thế kỉ XV đến XIX)
4. Chính sách đào tạo và sử dụng tri thức ở thời kỳ trung đại
+ Chính sách đào tạo trí thức + Việc sử dụng trí thức
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỘI NGŨ THỜI KỲ CỔ- TRUNG ĐẠI
III. VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRI THỨC THỜI KỲ CỔ- TRUNG ĐẠI
KẾT LUẬN
+ Phân công nhiệm vụ như sau:
- Hà sẽ làm mục 1,2; Hưng sẽ làm mục 3; Phạm Mai sẽ làm mục 4; Toàn sẽ làmmục II và tổng hợp thành bài word; Thủy sẽ làm mục III và kết luận; Thùy Dương
sẽ tổng hợp và gởi cho Dương Dương làm PP và sang sáng chủ nhật là chúng ta
có bài để thuyết trình để học và xem lại kĩ càng
- Bạn nào không hoàn thành đúng hạn thì khi đưa bản đánh giá tính tích cực chogiáo viên sẽ không đc ghi phần này ( vì nhóm mình là nhóm đầu nên phải chuẩn
bị thật chu đáo)
- Gmail Toàn: toanhuynh1995@gmail.com
CHÚC TẤT CẢ CÁC BẠN THÀNH CÔNG !!!
IV. QUÁ TRÌNH HÌNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG TRÍ THỨC
THỜI KỲ CỔ- TRUNG ĐẠI
1. Trong giai đoạn đầu lịch sử
Trang 2Vào thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, 15 bộ lạc sinh sốngtại vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, miền bắc Việt Nam ngày nay thống nhấtlập nên nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên của người Việt Kinh đô đóng tạiPhong Châu (Vĩnh Phú ngày nay) Vua nước Văn Lang, tất cả 18 đời, đều xưng làHùng Vương Thế kỷ thứ 2 trước CN, sau cuộc kháng chiến chống lại quân TầnThủy Hoàng (218-208), nhà nước phong kiến Trung Quốc ở phương Bắc, ThụcPhán lên làm vua nước Văn Lang xưng là An Dương Vương và đổi tên nước thành
Âu Lạc, xây thành ốc ở Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội) làm kinh đô
Vào buổi đầu lịch sử xã hội Việt Nam đã có sự phân hóa đẳng cấp giữa cáctầng lớp, tầng lớp tri thức lúc bấy giờ là những người giúp việc cho vua hay nóicách khác tri thức lúc bấy giờ là những người có học (theo quan điểm của NgườiViệt)
Từ đầu các vua Hùng dựng nước, họ đã xây dựng chính quyền và để củng
cố chính quyền là một bộ máy quan lại (tri thức) giúp đỡ vua
2. Trong thời kỳ hơn một ngàn năm Bắc thuộc
Trước thời kì Bắc Thuộc, xã hội Âu Lạc đã có sự phân hóa đẳng cấp giữatầng lớp quý tộc và nhân dân công xã, đã có sự phân biệt giữa người giàu kẻnghèo, là một trong những cơ sở kinh tế-xã hội đưa đến sự ra đời của nhà nước,nhà nước Văn Lang-Âu Lạc vào khoảng thế kỷ VI- thế kỷ III tr.CN Từ khi bịTriệu Đà và tiếp theo là các triều đại khác ở phương Bắc xâm lược và đô hộ, đấtnước Văn Lang-Âu Lạc đã bị nô dịch, biến thành quận huyện của phong kiếnTrung Quốc, nhà nước Việt cổ với thiết chế xã hội là chế độ lạc tướng đã bị xoábỏ
Những chính sách đô hộ tàn bạo của các đế chế phương Bắc đã làm kìmhãm nghiêm trọng đến sự phát triển của kinh tế-xã hội, văn hóa nước ta.Nhân dân
Âu Lạc từ địa vị làm chủ đất nước của mình đã trở thành kẻ nô lệ của ngoại bang.Quan hệ xã hội bao trùm trong suốt thời Bắc thuộc ở nước Âu Lạc cũ là quan hệgiữa kẻ thống trị ngoại tộc (chính quyền đô hộ) và toàn thể nhân dân lao độngnước ta (nông dân, thợ thủ công và các tầng lớp lao động khác) Về danh nghĩa, tất
cả ruộng đất của nước Âu Lạc đều thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước đô hộ.Người nông dân Âu Lạc phải nộp tô thuế, đi lao dịch cho chính quyền ngoại bang.Chính sách bóc lột nặng nề của chính quyền và bọn quan lại đô hộ đã làm chonhân dân ta nhiều nơi bị phá sản, nghèo đói.Chính quyền đô hộ còn đẩy mạnhchính sách đồn điền, xâm chiếm ruộng đất của các làng xã, bắt nhân dân ta cày
Trang 3cấy, nộp tô.Một thực trạng xã hội dưới thời Bắc thuộc rất đáng chú ý là sự di dân
từ phương Bắc vào đất nước ta ngày càng nhiều
Ngoài bộ máy quan lại phong kiến phương Bắc từ cấp bộ, quận xuống đếnhuyện ngày càng được bổ sung, tăng cường hết sức đông đảo, còn có cả gia đình,
họ hàng, bà con của bọn quan lại đô hộ đã sang lập nghiệp lâu dài ở Âu Lạc cũ Từcuối đời Đông Hán, đầu đời Tam quốc rồi cuối đời Tây Tấn, do loạn lạc ở TrungQuốc, nhiều người Hán đã vượt biên giới sang nước ta làm ăn sinh sống Dựa vàothế lực của chính quyền đô hộ, một số người đã lấn chiếm ruộng đất của các làng
xã, gia nhập hàng ngũ giai cấp bóc lột và thống trị Nhiều nông dân công xã tự do
bị phá sản trở thành nông dân tá điền lệ thuộc các địa chủ Hán tộc Tuy nhiên, dosinh sống lâu dài, trải qua nhiều thế hệ, nhiều quý tộc, quan lại, dân Hán lậpnghiệp ở nước ta đã bị Việt hoá Người Hán Việt hóa ngày càng đông đảo, trởthành một bộ phận của tầng lớp phong kiến bản địa sau này
Tầng lớp hào trưởng địa phương người Việt hình thành từ sự phân hóa xãhội thời Văn Lang-Âu Lạc tiếp tục tồn tại và ngày càng mở rộng thế lực kinh tế dù
bị chính quyền đô hộ chèn ép, khống chế Do sự bất lực của chính quyền đô hộtrong việc kiểm soát các làng xã người Việt, họ vẫn giữ vai trò quan trọng ở địaphương và có uy tín trong nhân dân người Việt Đây cũng là tầng lớp quý tộc bảnđịa có nhiều mâu thuẫn với bọn quan lại và chính quyền đô hộ phương Bắc, cótinh thần dân tộc và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào đấu tranh liên tụccủa nhân dân chống chính quyền đô hộ.Bởi vậy, đây chính là tầng lớp đã đảmnhận và hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo phong trào đấu tranh giành độc lập của nhândân ta, đánh đổ nền đô hộ hơn một nghìn năm, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủcủa dân tộc ở thế kỷ X
Sự chuyển biến xã hội và kết cấu giai cấp của Âu Lạc cũ sau hơn một nghìnnăm đô hộ còn do tác động bởi chính sách của các triều đại phương Bắc, chi phốingày càng sâu hơn vào tổ chức của xã hội cổ truyền người Việt Gần 3 thế kỷ đô
hộ Giao Châu, nhà Đường đã thực hiện nhiều biện pháp như tổ chức lại các đơn vịhành chính theo phương Bắc, chia huyện làm tiểu hương, đại hương, xã lớn, xãnhỏ, sau đó lại bỏ tiểu hương, đại hương mà gọi chung là hương, tất cả có 159hương Nhà Đường lại cho kê khai sổ hộ, định thuế các loại tô, dung, điệu và sau
đó đổi lại là phép lưỡng thuế, cho phép các chính quyền đô hộ cướp đoạt ruộng đấtcủa nhân dân ta làm ruộng công do chính quyền đô hộ quản lý, ban cấp ruộng đất,chức phận cho bọn quan lại cao cấp
Trang 4Những chính sách và biện pháp nói trên thực hiện trong nhiều thế kỷ, rõràng đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân hóa xã hội người Việt.Như vậy là, dưới thời Bắc thuộc, xã hội Việt Nam đã có một sự chuyển biến, đãhình thành một tầng lớp địa chủ ít nhiều có thế lực ở địa phương thuộc nhiềunguồn gốc và xu hướng chính trị khác nhau.Tuy nhiên, đại bộ phận cư dân là nông dân sống trong các làng xã cổ truyền mangtính tự trị.Một bộ phận khác rơi xuống địa vị lệ thuộc hoặc là nông dân lệ thuộccày ruộng nộp tô thuế cho bọn quan lại, hào trưởng địa phương hoặc biến thànhnông nô.
3. Chính sách đào tạo và sử dụng tri thức ở thời kỳ trung đại
3.1 Chính sách đào tạo:
• Hệ thống trường học : gồm trường công và trường tư
- Trường công là trường của triều đình mở tại kinh đô, các tỉnh và các phủ ,huyện đặt dưới quyền cai quản của bộ Lễ và bộ Học
VD: Tại kinh đô trường của triều đình được coi là lớn nhất là trường Quốc Tửgiám ở phía Nam Hoàng Thành được vua Lý Thánh Tông cho cây dựng vào
1070 , là trường đại học xuất hiện vào loại sớm trên thế giới , cho các hoàng tửđến học
- Trường tư mở tại các làng hay tại các tư gia Ngoài hai loại trường được coi làchủ yếu trên , còn 1 loại trường khá thịnh hành trong giai đoạn đầu (trước thờiLý) đó là chùa chiền , mà người dạy là các nhà sư
• Đội ngũ thầy dạy :
- Trong các trường học của Nhà nước , thầy dạy là những người đã đỗ đạt cao ,được bổ dụng vào giáo chức
- Còn ở các trường làng , trường tư gia họ là những người đỗ đạt đã ra làmquan , nhưng bị cách chức hoặc vì lý do nào đó mà cáo quan về Những người
dự thi đỗ đạt thấp hoặc không đỗ đạt lui về dạy học còn gọi là thầy đồ Ngoài
ra còn có các nhà sư có trình độ học vấn cao
• Người học :
- Nhà nước khuyến khích tất cả nam giới thuộc mọi lứa tuổi, tầng lớp giai cấptrong xã hội đều được đi học Nhà nước chỉ giới hạn đồi tượng trong trườnghọc tại trường Quốc Tử giám là nơi chỉ dành riêng cho con quan lớn trong triều
- Con thường dân nếu học xuất sắc cũng được vào học nhưng phải được quanđộc học tỉnh giới thiệu
- Nhà nước cũng giới hạn đối tượng đi thi trong những trường hợp : con làmnghề hát xướng, làm nghịch đàng, có tiếng xấu, người có đại tang
Trang 5• Nội dung học: học Lễ nghĩa trược rối mới đến học kiến thức Tài liệu gồm Tứ
thư, Ngũ kinh và Ngoại thư
- Tứthư: là 4 cuốn sách do học trò của Khổng Tử soạn Đó là Luận ngữ , Mạnh
tử, Đại học, Trung dung
- Ngũ kinh: là 5 cuốn sách do Khổng Tử biên soạn: Kinh Thi, Kinh Thư , Kinh
Xuân Thu , Kinh Dịch , Kinh Lễ
- Ngoại thư: còn gọi là Cổ văn và Sử Trong Sử lại phân ra 2 loại : Sử Bắc và sử
Nam
• Sách học: hầu hết là các sách của Trung Hoa Đến thời Lê Trung Hưng
(1553-1778) mới có 1 sách người Việt biên soạn như Tiết yếu của Bùi Huy Bích
- Nội dung sách thống nhất với nội dung học là nhằm tập cho học trò có đầy đủphẩm chất: hiếu, lễ, nghĩa , trí , tín , dũng
• Thi cử: Nhà nước phong kiến Việt Nam rất chú trọng đến việc thi cử để tuyển
chọn những người hiền tài Khoa cử thời phong kiến có 2 kỳ thi :
- Thi Hương: kỳ thi của 1 tỉnh hay nhiều tỉnh chung 1 trường thi (Thời Lê có 9
trường, thời Nguyễn có 7 trường N1813, Gia Long đặt thêm 2 trường ĐếnN1831 vua Minh Mệnh cho định lại 2 trường ở phía Bắc (trường thi Hà Nội vàtrường thi Nam Định) Thí sinh trúng tuyển trong kỳ thi Hương được chia làm
2 loại:
+ Cống sĩ hay Hương cống: những người này sẽ được dự thi Hội
+ Sính đồ: những người không được thì Hội
Người đỗ đầu thi Hương được tuyên dương giải nguyên.Sau khi đỗ Cử nhâncác vị tân khoa trở về quê hoặc được giới thiệu vào học trường Quốc Tử giám
để một hoặc hai năm sau dự thi Hội.Tuy vậy, cũng có người ra làm quan rồichờ dịp thi Hội
Đến thời Minh Mạng (1820-1840) đổi các danh hiệu Cống sĩ, Hương cốngthành cử nhân và sính đồ thành tú tài
- Thi Hội và thi Đình: Là các kỳ thi để đánh giá tài năng cao nhất nhằm chon
nhân tài cho đất nước Đợt thi chia làm 2 gia đoạn :
+ Giai đoạn1: Kỳ thi Hội dành cho những người đỗ kỳ thi Hương, đã có bằng
cử nhân hay tốt nghiệp trường Quốc Tử Giám
Danh hiệu dành cho những người đỗ kì thi này tùy vào từng triều đại: Thái họcsinh: đời nhà Trần ( từ khoa Nhâm Thìn 1232 đến khoa Canh Thìn 1400) đời
Hồ Qúy Ly Tiến sĩ: có từ khoa Nhâm Tuất (1442) đời Lê Thánh Tông cho tớikhoa thi cuối cùng vào năm 1919 đời Khải Định
+ Giai đoạn 2: thi Đình, 8 tháng sau kỳ thi Hội, những người thi đỗ kỳ thi nàyđược vào thi Đình Tại kỳ thi này, quan trường cáo nhất là Vua là người hỏi thicuối cùng đẩ đánh giá và chọn ra các Trạng nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa
Trang 6Số lượng khoa thi: tính từ khóa thi Nho học đầu tiên ở nước ta được tổ chức
vào năm Ất Mão (1075) đến khoa thi cuối cùng vào năm Kỷ Mùi, khoảng 10thế kỉ , chúng ta đã có hàng nghìn khoa thi Hương , 184 khoa thi Hội , thi Đình Qua các khoa thi đã tuyển chọn lựa ra hàng chục vạn Tú tài , cử nhân vàđược 3360 tiến sĩ , trong đó có 47 Trạng nguyên , 48 Bảng nhãn và 75 Thámhoa
Ngoài ra còn phải kể đến hàng vạn trí thức khác, những người tuy không đỗđạt cao nhưng cũng có học vấn trong xã hội Ví dụ tại khoa thi Hội đầu tiêndưới thời vua Lê Thánh Tông – năm Qúy mùi , niên hiệu Quang Thuận4(1463) đã có 4400 người dự thi , và chỉ lấy đỗ 44 tiến sĩ tứ 1/1000 người dựthi Năm 1446 , số người dự thi Hương tới 30000 người
Năm 1075, khoa thi quốc gia đầu được tổ chức và người đỗ đầu là Lê VănThịnh Về văn, ông đỗ đầu khoa thi Minh kinh bác sĩ và Nho học tam trường
Về võ, ông được tiến cử tới chức Thái sư và giữ vị trí trong 12 năm liền 1096)
(1084-3.2 Về việc sử dụng trí thức :
- Dưới thời phong kiến hầu hết những người trí thức đỗ đạt tùy theo cấp độ khácnhau đều được giữ ngững chức vụ khác nhau trong triều đình, ở các địaphương.Vd: đối với các trạng nguyên, tiến sĩ được sung vào Hàn lâm viện,hoặc giữ các chức thuộc bộ Lại, Lễ, Hình trong triều đình Các cử nhân trở lênthường được bổ làm huấn đạo, giáo thụ vào các cấp huyện phủ …
- Các nhà nước phong kiến Việt Nam đã áp dụng các chế độ khen thưởng vớinhiều hình thức để đãi ngộ nhân tài Từ đời vua Lê Thánh Tông định lệ xướngdanh trọng thể Các vị đổ đại khoa được vua ban áo mũ , ngự tửu , đãi yến tiệc, tổ chức lễ vinh quy cờ lọng đón rước ….Định lệ ai đỗ tiến sĩ được khắc vàobia đá xây dựng ở Quốc Tử giám
Như vậy, Các kỳ thi Nho học ở nước ta bắt đầu từ năm 1075 và kết thúc vào năm 1919với thời gian 845 năm.Trong gần hơn 8 thế kỉ đó đã có nhiều loại khoa thi khác nhau và ởmỗi triều đại lại có những đặc điểm khác nhau, khó có thể nêu ra đầy đủ trong một bàiviết Tuy nhiên cũng có những ưu điểm và nhược điểm nổi bật :
Ưu điểm nổi bật dễ thấy là nghiêm túc, đánh giá khách quan, công minh chính trực và
nhờ đó đã góp phần chủ yếu chọn đúng nhân tài cho đất nước và đề cao sự nghiệp giáodục
Trang 7Nhược điểm của nó là có nhiều cấm kỵ quá khắt khe nên nhiều người có tài không có
điều kiện đem khả năng ra giúp nước, thật đáng tiếc.Bởi vậy việc nghiên cứu để rút ranhững bài học cho thi cử ngày nay thiết nghĩ cũng là cần thiết
Qua thi cử của các triều đại xưa, ta cũng có thể tự hào nước ta là một nước văn hiến, đãđào tạo nên những danh nhân kiệt xuất như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, MạcĐĩnh Chi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Thúc Trực, Phan Bội Châu, Phan ChuTrinh, Nguyễn Khuyến… và những con người ấy cùng bao nhiêu nhà khoa bảng khác đã
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỘI NGŨ THỜI KỲ CỔ- TRUNG ĐẠI
- Trí thức lịch sử Việt Nam có lịch sử hình thành hoàn toàn khác với trí thức ở cácnước phương Tây và các nước phương Đông
Nếu như ở châu Âu có thời kỳ lịch sử khá dài mà các tăng lữ là đại diện củanhững người có học thức, và sau đó là những người giàu có, “ đặc quyền” về laođộng trí óc, nếu như ở Trung Quốc trước kia là đám quan lại có học thức là bộphận cơ bản của tầng lớp trí thức, thì ở Việt Nam, suốt 10 thế kỷ (1075-1919),trong số hang vạn tú tài, cử nhân và trên 3000 nhà khoa bảng có nhiều người đã từđám bình dân mà vươn lên thành những sĩ phu, đại diện cho trí tuệ của dân tộctrong quá trình phát triển của đất nước
- Trí thức Việt Nam có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc rất sâu đậm, luôn luôngắn bó với sự nghiệp giữ gìn nền độc lập của quốc gia, sự thống nhất của đất nước.Suốt trong lịch sử giữ nước, giới trí thức Việt Nam luôn trăn trở trước vận mệnhcủa dân tộc, của nhân dân Tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc đó được thể hiện:
+ Họ luôn gắn bó với nhân dân, có mặt cùng với dân tộc, cùng với nhândân ngay từ những ngày đầu dựng nước và trong suốt những tháng năm giữnước Bằng kiến thức của mình, người trí thức đã góp phần xây dựng nềnvăn hóa vẻ vang, lâu đời của dân tộc, góp phần hướng trí tuệ Việt Nam vàoviệc phòng chống thiên tai, phát triển sản xuất, tạo nên bản sắc phong phú,
đa dạng của nền kinh tế Việt Nam
+ Tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc của người trí thức Việt Nam cònđược thể hiện đặc biệt ở vai trò của họ trong các cuộc chiến đấu vì sựnghiệp bảo vệ đất nước, chống kẻ thù xâm lược phương Bắc và cả trongthời kỳ đất nước bị Pháp đô hộ với tư tưởng bất hợp tác với giặc, hoặc thamgia một cách tích cực vào cuộc khởi nghĩa của quần chúng nhân dân
+ Tinh thần dân tộc của các trí thức Nho học Việt Nam còn được thể hiện ởchỗ là tuy tiếp thu văn hóa Hán, tiếp thu Nho giáo, nhưng họ vẫn giữ đượcbản sắc văn hóa của dân tộc mình Họ học Tứ thư, Ngũ Kinh, Bắc sử theo
Trang 8chương trình Hán học, viết bằng chữ Hán, dung nhiều điển tích lấy từ sáchHán Tuy nhiên, toàn bộ các tác phẩm văn học chữ Hán của trí thức ViệtNam lại khẳng định mạnh mẽ nền độc lập dân tộc, động viên khích lệ lòngyêu nước, tinh thần dân tộc và ý chí chống xâm lược.
Mặc dù còn có những hạn chế nhất định do ảnh hưởng của Nho giáo, nhưngvấn đề đại thể số đông trí thức vẫn phát huy được truyền thống của mình làgắn bó với nhân dân, với thực tiễn, độc lập suy nghĩ và sáng tạo, góp phầnquan trọng vào việc bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc
- Dân tộc Việt Nam là một dân tộc văn hiến, có truyền thống tôn trọng trí thức Cáctriều đại phong kiến Việt Nam nối tiếp nhau ở những mức độ khác nhau đều nhậnthức được vai trò của trí thức đối với sự hưng vong của đất nước
Bài ký để danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) viết:
“ Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao.Nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp.Vì vậy các đấng thánh đế minhvương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài kén chọn kẻ sĩ, vun trồngnguyên khí làm việc đầu tiên.Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia như thế, cho nên quýchuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng”
Từ chỗ nhận thức như vậy, trên thực tế các nhà nước phong kiến đã thihành những chính sách rất thiết thực và hữu hiệu nhằm đào tạo, tập hợp, sử dụngtrí thức vào việc quản lí xã hội, quản lí đất nước, phát triển văn hóa Đó là việc mởtrường lớp, khuyến khích việc học, coi trọng việc tuyển chọn hiền tài thông qua thicử; có chính sách trọng thưởng và chính sách sử dụng đối với người đỗ đạt… Vớinhững chính sách đúng đắn như vậy, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã cóđược một đội ngũ trí thức phát triển khá đông đảo Họ đã có mặt trên tất cả cáclĩnh vực hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước qua các thời kì lịch sử
III. VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRI THỨC THỜI KỲ CỔ- TRUNG
ĐẠI
Người trí thức Việt Nam xuất hiện trong lịch sử như người đại biểu chânchính về tư tưởng và văn hóa, về tài năng và trí tuệ của cả dân tộc Cùng với sựphát triển lịch sử dựng nước và giữ nước, việc sản xuất nông nghiệp, sự hiểu biếtcủa trí thức về tự nhiên, về đời sống xã hội dần dần được nâng cao qua nhiều thờiđại trong công cuộc đấu tranh với thiên nhiên và chống ngoại xâm
Từ thời Văn Lang, Âu Lạc, nước ta đã đạt dược nhiều thành tựu: sản xuấtcông cụ kim khí, trống đồng, làm gốm, chứng tỏ trí tuệ của người Việt trongbuổi đầu dựng nước Lịch sử trí thức Việt Nam bắt đầu từ đó, người trí thức lúcnày chính là bao gồm toàn thể nhân dân lao động
Trang 9Bước vào đêm tối của hơn một ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân vẫn giữ vaitrò như người trí thức, vẫn đại diện cho trình độ văn hóa và tư tưởng, cho tinh thầnđấu tranh và sáng tạo của dân tộc Lúc ấy, cùng với việc truyền bá chữ quốc ngữ,phong kiến Trung Quốc đã áp đặt nền giáo dục ngoại lai và nô dịch nhằm đào tạo
ra một số người có chút ít kiến thức và trình độ Hán học đủ để phục vụ cho bộmáy cai trị Cho nên trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc, trên đất nước ta chưahình thành nên một tầng lớp trí thức riêng biệt của dân tộc
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, chấm dứt ách đô hộ của phongkiến Trung Quốc, trí thức dân tộc có điều kiện phát triển về mặt tư tưởng vàvăn hóa Những người trí thức đầu tiên của nước ta phần nhiều là những nhà
sư, họ đã tham gia vào những hoạt động chính trị và ngoại giao của đất nước
để góp phần củng cố độc lập dân tộc Bước sang thời Lý, tầng lớp trí thức là sưtăng vẫn giữ vị trí quan trọng trong công cuộc dụng nước và giữ nước
Từ thời Lý trở về sau, do yêu cầu xây dựng bộ máy nhà nước hoànchỉnh và phát triển văn hóa dân tộc, nền giáo dục Nho học đã xuất hiện ở nước
ta Việc học hành, thi cử được đẩy mạnh, đào tạo ra đội ngũ trí thức nho họcđông đảo, đảm nhận các chức vụ của chính quyền, thay thế dần các tăng lữ.Trong giai đoạn này, tầng lớp trí thức Việt Nam đã xuất hiện với những kiếnthức và kinh nghiệm của bản thân đã đóng góp nhiều công lao cho sự nghiệpbảo vệ và phát triển đất nước
Trong bảo vệ độc lập dân tộc, trí thức là những người lãnh đạo nhân dânđấu tranh chống xâm lược Trong thời bình, do bất mãn với chính quyền phongkiến thối nát, người trí thức đã đứng lên lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi quyềnlợi cho nhân dân lao động
Trần Quốc Tuấn, nhà quân sự và chính trị thiên tài của dân tộc ta ở thế
kỷ 13, đồng thời là một trí thức có học vấn uyên thâm.Ông đã tổng kết kinhnghiệm những cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta trong nhiều thế kỷ vềtrước và từ đó đã rút ra những kết luận chính xác về quy luật của các cuộcchiến tranh giữ nước
Nguyễn Trãi, nhà trí thức kiệt xuất của Đại Việt ở đầu thế kỷ 15, ôngtinh thông kiến thức đương thời, đồng thời hiểu biết sâu rộng về đời sống xãhội trong và ngoài nước; hiểu thấu nỗi đau khổ và nguyện vọng của nhân dân,nắm được điểm mạnh, điểm yếu của kẻ địch Từ đó, ông đã có những cốnghiến quan trọng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước
Trang 10Bên cạnh đó, còn có rất nhiều tri thức lỗi lạc liên tục xuất hiện như:Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, NguyễnĐình Chiểu,… mỗi người đều góp phần vào nền văn hóa của dân tộc ngàycàng thêm phong phú và rực rỡ.
KẾT LUẬN
Trong mỗi giai đoạn lịch sử tuy khác nhau nhưng có thể thấy trách nhiệmcủa người trí thức đều giống nhau Người trí thức luôn trăn trở trước vận mệnh dântộc, gắn bó mật thiết với nhân dân ngay từ những ngày đầu lập nước
Khi ra làm quan với nhà nước phong kiến, họ giữ gìn đức tính thanh liêm,hết sức làm cho dân giàu nước mạnh.Khi về sống với nhân dân thì họ dạy học, bốcthuốc chữa bệnh.Khi đất nước bị xâm lược, thì họ cùng với nhân dân chiến đấuchống ngoại xâm
Chính sự những đóng góp to lớn của đội ngũ trí thức qua các giai đoàn củalịch sử Việt Nam đã khiến cho đất nước ta “tuy mạnh yếu mỗi lúc khác nhau, songhào kiệt đời nào cũng có”
Kháng chiến chống Pháp
I Khái quát chung
1 Tình hình Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng 8/1945 – 1954
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã đưa nhân dân ta bước sang một kỷ nguyênmới, kỷ nguyên của một nước Việt Nam độc lập tự do và thống nhất Tuy nhiên, Phápkhông từ bỏ ý đồ thống trị nước ta, mà vẫn ngoan cố tìm cách thủ tiêu mọi thành quảcách mạng mà nhân dân ta mới giành được
Chỉ sau mấy ngày độc lập, ở miền Bắc quân Tưởng Giới Thạch của Quốc dânĐảng Trung Hoa đã mượn cớ giải giáp quân đội Nhật tràn vào nước ta Bám theo chúng
là bọn phản động Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng), Việt Cách (Việt Nam cáchmạng đồng minh hội) cam tâm làm tay sai cho địch
Trang 11Ở miền Nam, Quân Pháp và Anh đang ráo riết triển khai bố trí lực lượng nhằmkiểm soát Sài Gòn để chuẩn bị cho chiến dịch đánh chiếm nước ta.Hơn nữa, bọn Việtgian phản động, địa chủ cường hào cũng thừa cơ nổi dậy hoạt động, cam tâm bán nướccầu vinh, làm tay sai cho Pháp Trên lãnh thổ nước ta từ vùng Sơn La, Lào Cai đến mũi
Cà Mau, đầy bóng quân thù
Để tập trung lực lượng chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, Đảng vàChính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thực hiện chủ trương hòa hoãn và nhânnhượng đẩy lùi từng bước âm mưu chính trị, quân sự của quân đội Tưởng và tay sai ởmiền Bắc
Nhưng nhân dân ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới Nhữngngười cầm đầu thực dân Pháp lúc bấy giờ tuy có khác ít nhiều trong vấn đề giải quyết nềnbang giao Việt Pháp, song đều quyết tâm giành lại quyền thống trị ở Việt Nam và toàn bộbán đảo Đông Dương với bất kỳ giá nào Đứng trước tình thế đó, Đảng và Chính phủ ta
đã phát động toàn quốc kháng chiến với tinh thần “thà chết chứ nhất định không chịu mấtnước, nhất định không chịu làm nô lệ”
Nhân dân ta phải trải qua những ngày chiến đấu ác liệt, gian khổ và hy sinh từ lấy
ít đánh nhiều vừa đánh vừa xây dựng, phát triển lực lượng từ yếu đến mạnh, từ nhỏ đếnlớn, từ đánh du kích đến đánh chính quy từ tiến công chiến thuật tiến lên tiến côngchiến dịch, giành thắng lợi từ nhỏ đến lớn dẫn đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vĩđại
Chính phủ Pháp buộc phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnhthổ của Việt Nam , Lào và Cămpuchia, chấp nhận rút quân khỏi 3 nước Thắng lợicủadân tộc ta là do có nhiều nhân tố: có Đảng lãnh đạo, có hậu phương vững mạnh bảo đảm
sự chi viện cho tiền tuyến đánh quân thù Quan trọng hơn cả là sự đoàn kết, kiên quyếtchiến đấu và chiến thắng của tầng lớp nhân dân, trong đó có sự đóng góp của tầng lớp tríthức
II Trí thức tham gia kháng chiến
Trang 12Bên cạnh những tổ chức yêu nước đã nêu của trí thức thì còn một bộ phận kháccũng sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc là tầng lớp sinh viên Họ là những sinh viên ưu tú nhất,
đã công khai, tổ chức ra mắt Tổng hội sinh viên cứu quốc thay cho Hội sinh viên yêu
nước Đứng đầu tổng hội là các đoàn viên trí thức yêu tú như nhà thơ Nguyễn Xuân
Sanh, Lê Văn Giang, Điền Văn Hưng
Bên cạnh sự góp mặt của trí thức vào các tổ chức cách mạng, lực lượng trí thứccòn tham gia vào bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương.Ngày 6-1-1946,cùng với đông đảo cử tri cả nước, trí thức đã nô nức đi bỏ phiếu bầu Quốc hội Tổngtuyển cử vì thế đã thu được những thắng lợi to lớn Tỷ lệ người đi bầu rất cao, trung bình
là 86%, nhiều nơi đạt trên 90%.Những đại biểu do mặt trận Việt Minh giới thiệu đềutrúng cử và giữ vị trí quan trọng, người trẻ tuổi nhất là nhà văn, nhạc sỹ, một cán bộ đoànhoạt động sôi nổi Nguyễn Đình Thi và rất nhiều trí thức yêu nước khác như Hoàng MinhGiám, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Hiến, Trịnh Văn Bính, Phan Kế Toại, Phan Mỹ, Huy Cận,
Hà Văn Lộc, Tố Hữu, đảm nhận các trọng trách ở cơ quan trung ương và các tỉnh
Đầu năm 1946, Đảng chủ trương hình thành Mặt trận thanh niên, Tổng đoàn
thanh niên Việt Nam nhằm tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên là trí thức, công nhân,
nông dân
• Các tổ chức chính trị độc lâp của trí thức
Trước tình hình đất nước có nhiều khó khăn và biến động, nhiệm vụ xây dựng và
bảo vệ chính quyền đã được toàn bộ Đảng dân chủ tuyệt đối chấp hành.Các cơ sở của
Đảng dân chủ có mặt khắp cả ở ba miền Bắc, Trung và Nam với tên tuổi của các nhà tríthức như: Phạm Thiều, Đỗ Đức Dục, Hoàng Văn Đức, Ái Linh, Lưu Văn Lang, NguyễnXuân Bái
Từ ngày toàn quốc kháng chiến, thành viên Đảng dân chủ đã cùng với nhân dânchiến đấu tích cực và bền bỉ Trừ một số nhỏ các phần tử dao động đã từ bỏ cuộc khángchiến, còn lại phần đông trí thức đã càng ngày càng được rèn luyện trong chiến tranh
• Trí thức trong các lực lượng vũ trang
Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, hướng về đồng bào Nam Bộ, sinh viên trí thức cáctỉnh Trung Bộ, Bắc Bộ và thủ đô Hà Nội sôi nổi gia nhập các đội quân “Nam tiến” TỉnhQuảng Ngãi gửi 15.000 chiến sỹ, Huế 3 chi đội, Hà Nam gửi 1 tiểu đoàn cùng 50 cán bộ,Quảng Nam gửi 5 chi đội, Ninh Bình có 3 đại đội, thủ đô Hà Nội gửi 10.000 chiến sỹ{40,60} Phần lớn đoàn quân Nam tiến là thanh niên, sinh viên, trí thức vào sát cánhchiến đấu cùng các chiến sỹ ở An Khê, Nha Trang, Nam và Trung Bộ Riêng thành Đoàn
Trang 13Hà Nội tuyển chọn 2000 đoàn viên lập thành chi đội “Nam tiến” của thủ đô vào chiếnđấu trên chiến trường Buôn Ma Thuật
1.2 Trí thức tham gia kháng chiến trên các vùng tạm chiếm
• Các tổ chức cách mạng
Trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam lần 2, tại Sài Gòn phân bộ Đảng xãhội Pháp tập trung những người Pháp tiến bộ và một số trí thức Việt Nam đã hoạt độngkhá sôi nổi chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa của Pháp tại Đông Dương Ngày 23-9-
1945, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược Sài Gòn, tháng 10 những người Pháptiến bộ phản đối chiến tranh đã lập ra Nhóm Văn hoá Mác xít đóng tại nhà bác sỹPhạm Ngọc Thạch, số 106 Léon Combers Ngay sau khi thành lập, họ đã tuyên bố lậptrường của mình, đăng trên mục “Diễn đàn tự do” của tờ Pari Sài Gòn: nước Pháp phảicông nhận quyền tự do của các dân tộc Đông Dương; đặc biệt là quyền dân tộc tự quyết;phải chống chính sách kỳ thị dân tộc và giai cấp; chỉ có thể trao trả độc lập chính trịhoàn toàn cho Việt Nam như tuyên bố của Hồ chủ tịch và phải có tinh thần hợp tác chânthành với các nước Đông Dương về mọi mặt thì nước Pháp mới cứu vãn được sự có mặtcủa Pháp ở Đông Dương Tiếp đó, họ tiến hành nhiều cuộc hội thảo khác nhau có sựtham gia của nhiều trí thức Việt Nam và một số học giả Pháp để hoan nghênh cuộc cáchmạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam
• Các tổ chức chính trị độc lập của trí thức
Ở các vùng địch chiếm đóng, các tổ chức công đoàn cơ sở đã được bí mật xâydựng Trong suốt những năm chiến tranh, tổ chức này có vai trò quyết định trong việcđộng viên và tổ chức công nhân, trí thức bắt tay nhau cùng sản xuất, phát huy sáng kiến
và cải tiến kỹ thuật
Nhiều trí thức dân chủ đã bỏ mình ở các chiến trường Nam Bộ, Liên khu III nhưĐào Đức Thông, Nguyễn Văn Luyện làm rạng rỡ Đảng, trong sự nghiệp cách mạng củadân tộc Ngay trong lòng địch, Đảng dân chủ không ngừng hoạt động, đặc biệt là ở SàiGòn- Chợ Lớn, Đảng ra sức bồi dưỡng và phát triển cơ sở, vạch mặt các hạng bù nhìnđầy tớ của Pháp- Mỹ, đánh tan ảnh hưởng của chúng trong các tầng lớp nhân dân màĐảng đại diện Bù nhìn Nguyễn Văn Xuân cũng phải thú nhận rằng: các nhóm “chính trị”
do đế quốc và bù nhìn đẻ ra không lôi kéo được ai cả Cuộc đấu tranh của mọi tầng lớpsinh viên, trí thức, công nhân, nông dân ở tất cả mọi nơi đã mở cho Đảng triển vọng hoạtđộng
Trang 14Để chống lại âm mưu của địch dụ dỗ các trí thức và tư sản Việt Nam những nămtiếp theo 1951-1954, ở các vùng bị tạm chiếm, tích cực tuyên truyền chống văn hoá nôdịch, chống chương trình xâm lược kinh tế Mỹ Đảng ra sức vạch rõ tính chất lừa bịp củacác thứ “ chủ nghĩa quốc gia khoa học”, “chủ nghĩa thế giới” do bọn bù nhìn nhập cảngcủa đế quốc Mỹ.
Đảng nêu cao nguy cơ của các nhà tư sản Việt Nam là “cộng tác kinh tế” với đếquốc nghĩa là chung lưng với sói
• Lực lượng vũ trang
Trong những ngày đầu kháng chiến Sáng 23-9-1945, tiếng súng của các tổ chứcđội tự vệ chiến đấu, thanh niên xung phong, công đoàn xung phong cùng quân và dânNam Bộ đã nổ ran khắp nơi trong thành phố Địch đóng giữ các cửa nội ngoại thành,kiểm soát gắt gao người qua lại, bắt giam những ai trả lời ấp úng, bắn chết những ai cógiấy của đoàn thể Cứu quốc Chúng xông vào nhà riêng để bắt các trí thức yêu nước nhưkiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, luật sư Thái Văn Lung (nhưng ông đã trốn thoát) và nhiềutrí thức khác Giặc Pháp còn đốt sạch các xóm nhà lá, nơi chúng cho là có các ổ đềkháng của ta
Trí thức Nam Bộ khắp nơi đều tham gia lực lượng võ trang Họ cùng nhau diễuhành trên đường phố, khi đến Thương Khẩu thì lính Hoàng gia Anh, gốc Ấn Độ nổ súngvào đoàn Người thanh niên đi đầu bị hy sinh và rất nhiều người khác bị thương.Trậnđánh Thương Khẩu là tiếng súng mở màn của quân và dân Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định
có sự tham gia của tầng lớp trí thức trên chiến trường Nam Bộ
Anh chị em trí thức trong đội quyết tử, công đoàn xung phong cùng học sinh, sinhviên tự trang bị vũ khí gậy, dao đánh Pháp.Họ tìm mọi cách để kìm chân địch ở Sài Gòn,nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan lãnh đạo, các tổ chức kháng chiến kịp thời về nôngthôn triển khai cuộc kháng chiến Theo lệnh tản cư kháng chiến, các cơ quan đầu não ởNam Bộ chuyển sang vùng Bình Điền, Bà Vụ, Vườn Thơm, Tân Bửu ở ngoại thành SàiGòn
Sau khi trốn thoát khỏi nanh vuốt của giặc, luật sư Thái Văn Lung tổ chức tập hợpthanh niên yêu nước, cướp súng Pháp, tự võ trang và trở thành một lực lượng võ trang tựgọi là Bộ đội Thái Văn Lung Ở nội thành, ngày 26- 9-1945 Thái Văn Lung bí mật đưalực lượng võ trang từ Thủ Đức đến đánh địch ở Cầu Bông, sau đó đã kết hợp với lựclượng võ trang ở Gò Vấp phục kích địch ở ngã ba Chú Ía, bắn cháy một xe Jeep, tiêu diệtmột số tên lính
Trang 15Cuối tháng 9- 1945, uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ đã họp nhau tại chợĐệm do đồng chí Trần Văn Giàu chủ trì, quyết định thành lập các mặt trận tiền phongvòng ngoài Có 4 mặt trận hình thành, tầng lớp trí thức đã tham gia chiến đấu khá đông.Trong số đó, mặt trận số 1 miền Đông Nam Bộ do giáo viên Nguyễn Đình Thân chỉ huy,lực lượng nòng cốt là bộ đội Thái Văn Lung Mặt trận số 2 miền Tây Nam Bộ doNguyễn Lưu (một trí thức từng phụ trách Công đoàn Sài Gòn) chỉ huy Mặt trận số 3miền Đông Bình Xuyên do Dương Văn Dương, cán bộ Đảng chỉ huy, phụ tá là Từ Văn
Ry một trí thức Công tác công đoàn Mặt trận cuối cùng ở nội thành do Nguyễn Văn Tư(trí thức làm việc tại xưởng Ba Son), lãnh đạo Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ do Chủ tịch
uỷ ban kháng chiến Nam Bộ Trần Văn Giàu chỉ huy
Hình thành chiến trận, bốn mặt bao vây quân thù Ngày 10-10-1945, sau lệnhngừng bắn, lực lượng trí thức võ trang cùng quân dân Sài Gòn-Gia Định đã mở nhiều đợttấn công tiêu diệt giặc Pháp Các trận đánh đã diễn ra ác liệt ở Cầu Bông, Cầu Kiệu, ĐaKao, Tân Định, Hàng Sanh, Gò Vấp, Phú Lâm, An Nhơn, Cầu Tham Lương nhiều tênlính Pháp đã bị tiêu diệt, ta thu được nhiều vũ khí đạn dược trang bị cho mình
Cuối tháng 10-1945 ở Nam Bộ, lực lượng quân Pháp lên tới 10.000 tên, không kểquân Anh, Nhật Chúng đã huy động toàn bộ quân lính có mặt ở đây cùng lính thuỷ phốihợp quân Anh, Nhật chọc thủng phòng tuyến bao vây Sài Gòn của ta
Công tác chuẩn bị cho các lực lượng võ trang được tăng cường Lực lượng tríthức, thành viên của Tổng công đoàn Nam Bộ cũng được bổ sung vào hai bộ phận đội võtrang, bộ phận miền Đông và bộ phận miền Tây Cuối tháng 11, luật sư Lê Đình Chi làmgiao liên đưa đồng chí Nguyễn Thị Bình từ chiến khu An Phú Đông về Thị Nghè để thựchiện công tác thị sát tình hình địch ở nội thành Sài Gòn, nhằm xây dựng các đơn vị chiếnđấu nội thành (tiền thân của ban công tác biệt động thành sau này)
Cùng thời gian này bộ đội Trần Minh Thắng và bộ đội Đào Sơn Tây đóng tại Dĩ
An được thành lập Thành phần chủ yếu của họ là đội ngũ kỹ sư và công nhân xe lửa Dĩ
An Tại Thủ Đức cũng có 4 phiên hiệu võ trang, do luật sư Thái Văn Lung chỉ huy Cũngtrong thời gian này Chính phủ lâm thời quyết định chia cả nước thành 12 chiến khu
2 Trí thức trên mặt trận kinh tế kháng chiến
• Trí thức góp phần giải quyết khó khăn về kinh tế trong thời kỳ 1945- 1946
Đây là thời gian nhân dân cả nước phải đứng trước những khó khăn cực kỳ to lớn
về kinh tế do chính sách bóc lột của thực dân và phong kiến, hậu quả của chiến tranh còn
để lại hết sức nặng nề Hơn nửa số đất ruộng ở nông thôn bị hoang hoá vì nông dân ly
Trang 16tán, công cụ sản xuất bị huỷ hoại.Hàng chục xí nghiệp ở nội thành bị đóng cửa, hàng vạn
người không có việc làm Nguy cơ một nạn đói mới sau nạn đói năm 1945 làm 2 triệuđồng bào chết, đang đe doạ nhân dân từng ngày từng phút
Dù khó khăn nhưng trí thức và nhân dân ta vô cùng phấn khởi, tự hào trước thắnglợi của Cách mạng tháng 8 đã nêu cao tinh thần yêu nước, vừa tích cực học tập và laođộng, vừa tham gia bảo vệ xây dựng chính quyền nhân dân non trẻ với 3 nhiệm vụ lớnnhư: diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm ở khắp ba miền
Hưởng ứng lời kêu gọi “nhường cơm xẻ áo” của Bác Hồ, tổng hội cứu tế và ủyban tối cao về cứu và tiếp tế ra đời Đứng đầu những tổ chức này là những trí thức nổitiếng như Nguyễn Mạnh Hà, Lê Văn Hiến Chỉ tính riêng trong tháng 9-1945 đã có 30ngàn tấn gạo {57,128} được chuyển từ Nam ra Bắc, cứu trợ đồng bào Sự đóng góp lớnlao đó có công lao rất lớn của tầng lớp trí thức
Trí thức còn là lực lượng xung kích trong cuộc vận động xây dựng “Quỹ độc lập” và “Tuần lễ vàng” Dưới sự chỉ đạo của ông Đỗ ĐìnhThiện, một trí thức yêu nước nổi tiếng lúc đó, thanh niên, trí thức đã kiên trì khéo léo vận động, gia đình,
bà con phố phường ủng hộ ngân sách Nhà nước
Đặc biệt là gia đình ông bà trí thức Nguyễn Sơn Hà ở Hải Phòng đã ủng hộ
100 lạng vàng Có người đem cả những vật kỷ niệm như nhẫn cưới, hoa tai góp vào quỹ Anh em trí thức nhiều nơi còn tổ chức diễn kịch và múa lân để lấy tiền ủng hộ vào quỹ.
Với khẩu hiệu “tấc đất tấc vàng” mọi thành phần trong xã hội đã tham gia vào trồng trọt.Họ tận dụng từng miếng đất nhỏ ở ngoại ô, ven đường, ven công viên, các bãi bồi ven đê, để trồng màu và lúa.Hàng ngàn học sinh các trường ở Hà Nội, công nhân, trí thức, nhà văn, nhà báo đã thành lập các đội tăng gia sản xuất.Sau giờ dạy học, giáo viên học sinh tình nguyện ra các vùng ngoại ô, hoặc về vùng nông thôn với nông dân đẩy mạnh sản xuất Nhiều thanh niên, trí thức xung phong đi khai hoang ở Hà Đông, Thái Nguyên Chỉ riêng trong mấy tháng cuối năm 1945, hơn 200 ha đất đã được khai hoang, phục hóa{40,59} Ở miền Nam, tuy không thiếu đói, nhưng các chiến sỹ ngoài mặt trận cũng thi đua trồng thêm hoa màu trên các miệng hố tăng sê để hưởng ứng phong trào cứu đói ở ngoài miền Bắc.
• Trí thức với nhiệm vụ xây dựng kinh tế thời chiến
Trang 17Bước sang thời kỳ mới, toàn quốc kháng chiến, các chính sách kinh tế phải
có sự thay đổi Đảng và Nhà nước ta đã cố gắng điều chỉnh để xây dựng một nền kinh tế thời chiến cho phù hợpxây dựng nền kinh tế có tính chất dân chủ nhân dân,
có khả năng tự cấp, tự túc vừa đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của cuộc kháng chiến, vừa từng bước cải thiện đời sống của quân đội, cán bộ và nhân dân Đảng ta rất chú trọng đến việc đào tạo những nhà kinh tế cho đất nước Vì vậy, từ năm
1948, trường kinh tế Nam Bộ do kỹ sư Kha Vạng Cân, Giám đốc Sở kinh tế đảm nhận, đã mở được 3 khóa, mỗi khoá từ 4-6 tuần, đóng trên địa bàn sông Xoài Rạp
và ở Đốc Binh Kiều trên kênh Nguyền Văn Tiếp với nội dung kinh tế học đại cương, chính sách kinh tế kháng chiến, kinh tế nông lâm nghiệp, chăn nuôi và ngân hàng Phần lớn giảng viên trước đây đã học ở ngành Luật hay Nông lâm ở Hà Nội
và Sài Gòn Ngoài ra còn có các đồng chí: Lê Duẩn, Ung Văn Khiêm, Phạm Ngọc Thuần đến giảng bài về đường lối chính sách của Đảng Tài liệu dạy học được đăng trên tập san Kinh tế kháng chiến, được phổ biến rộng rãi trong toàn quốc Tính đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tập san đã ra được
13 số.Cùng tập san của Bộ công thương, đây là hai tờ báo đầu tiên về kinh tế của chế độ mới ở nước ta.
Ngay từ những năm đầu của cuộc chiến 1947-1948, Hội đồng Chính phủ đã đặt vấn đề cử người đi học về kinh tế nước ngoài để chuẩn bị cho thời kỳ hòa bình Nhiều cán bộ trẻ có văn hóa và trí lực tốt đã được tuyển chọn từ mọi vùng trong cả nước, tập trung tại Việt Bắc để tham gia chương trình này Do phía bên ngoài chưa
có cơ sở đào tạo nào tiếp nhận, nên đội ngũ này đã làm ở Việt Bắc một thời gian cho đến năm 1950, 1951 mới có lớp du học sinh sang Trung Quốc, Liên Xô.
Từ những năm 1948-1949, Chính phủ đã cử một số phái đoàn đi các nước ĐôngNam Á và Châu Âu để giới thiệu về Việt Nam, gặp gỡ Chính phủ và các cơ quan hữuquan của nước ngoài, tìm kiếm sự giúp đỡ, kinh doanh, đầu tư và viện trợ cho nước ta
Trong số những mối liên hệ đó có thể kể đến những công lao đóng góp của các tríthức sau: Ông Phạm Ngọc Thạch (nguyên là Bộ trưởng bộ y tế), được cử làm đặc pháiviên đối ngoại của Chính phủ đi nhiều nước Châu Âu (đặc biệt là Thụy Sỹ), để thiết lậpquan hệ với các nước phương Tây Ông Trần Ngọc Danh được cử làm đại diện cho Chínhphủ ta ở Pháp.Các ông Lê Hy, Nguyễn Đức Quỳ và sau đó là Hoàng Văn Hoan làm đạidiện tại Liên Xô (từ đấy mở ra cho ta những mối quan hệ với các nước Đông Âu).ÔngCao Hồng Lãnh làm đại diện Chính phủ tại Hồng Kông, để liên hệ với các nước Á Châu
Trang 18Ngay từ năm 1946, ông Trần Văn Giàu, đã được Chính phủ cử đi Thái Lan để mua sắmtrang thiết bị cho bộ đội, sau đó ông được cử đi dự hội nghị Á Châu tại Ấn Độ.
Bên cạnh đó đội ngũ trí thức còn có rất nhiều sáng kiến kinh tế quan trọng khácgóp phần to lớn thúc đẩy kinh tế phát triển, phục vụ kháng chiến như sáng kiến khắc phụckhó khăn về nguyên liệu, sáng kiến cải tiến kỹ thuật Ví dụ như: Năm 1949, kỹ sư ĐặngĐinh Vinh ở Nam Trung Bộ đã chế được thứ phân bón ruộng rất tốt Dùng thứ phân bónnày người dân có thể thu hoạch được 5200kg thóc/mẫu tây.{18,13}.Các kỹ sư ở miềnNam cũng chế tạo được thứ giấy làm bằng sợi chuối, tiết kiệm nguyên liệu
3 Trí thức trên các lĩnh vực văn hóa – giáo dục và y tế
Văn hóa:
Văn thơ yêu nước giai đoạn này phát triển khá mạnh mẽ Các nhà văn, nhà thơkhắc sâu lòng căm thù bè lũ cướp nước và bán nước vào các tác phẩm văn học của họ.Nhà thơ, nhà văn cũng đánh giặc bằng ngòi bút của chính mình, động viên thanh niênlên đường đánh giặc Hàng trăm tác phẩm văn học với nhiều thể loại lần lượt ra đời vớilời lẽ sắc bén tố cáo tội ác của bè lũ cướp nước Nhiều nhà văn như Dương Tử Giang, LýVăn Sâm, Thành Nguyên, Quang Dũng, Chính Hữu là những người lính trên mặt trậnvăn học tham gia tích cực vào việc đánh đổ sứ mạng khai hoá văn minh của thực dânPháp, cái văn minh mà thực dân Pháp cố tình sơn phết thật hào nhoáng để tiện bề bìnhđịch nước ta Các đề tài như Nam kỳ tự trị, Phân ly, Việt gian là đối tượng châm biếmcủa văn thơ
Thơ ca phát triển mạnh, cũng rất phong phú với nhiều loại thể loại khác nhau vềngười lính cụ Hồ, về nông thôn Việt Nam, về cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta Đặc biệt, thơ văn trào phúng thời kỳ này phát triển mạnh mẽ và chĩa thẳng vào mặt bọntay sai, ra sức đấu tranh đòi thống nhất Nam Bắc, đòi Pháp phải công nhận nước ViệtNam độc lập thống nhất
Có rất nhiều cuộc thi thơ diễn ra, dù không đều đặn.Nhưng mỗi một cuộc thi đã cónhiều tác phẩm ra đời, động viên tinh thần quần chúng.Báo Cứu Quốc, cơ quan tuyêntruyền tranh đấu của tổng bộ Việt Minh đã đứng ra tổ chức cuộc thi thơ năm 1947
Có rất nhiều tác phẩm nhạc được sáng tác trong giai đoạn này ca ngợi lòng yêunước, thúc giục tinh thần nhân dân cùng đứng lên đánh giặc ngoại xâm Nhiều sáng tác
đoạt giải, trữ tình, sâu lắng và ngợi ca tổ quốc như Vì nhân dân quên mình của Doãn Quang Khải, Hồ chủ tịch của Lưu Hữu Phước, Vượt trùng dương, Dư âm của Nguyễn Văn Tý, Hồ Bắc của Trần Ngọc Xương, Đào Đường của Văn Lương
Trang 19Dù chiến tranh rất ác liệt, nhưng các họa sỹ vẫn tổ chức những buổi triển lãm hộihọa để cho quần chúng nhân dân có dịp thưởng thức Họa sỹ Lê Công Thành, NguyễnTrọng Cát còn đưa cả phòng tranh lưu động đi theo sát bước tiến bộ đội để triển lãm phục
vụ chiến sỹ, đồng bào
Liên tục trong những năm 1952-1954 triển lãm hội họa của các họa sỹ có tên tuổinhư Bùi Xuân Phái, Phan Kế An, Nguyễn Khang, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Sỹ Ngọc đềuđược nhân dân tán thưởng nhiệt liệt
Những nơi bị tạm chiếm giặc càn quét khủng bố thì các lớp học tổ chức bí mật, cóngười canh gác chu đáo Họ báo hiệu ngay khi có nguy hiểm và tất cả giấy bút được giấukín Giáo viên hoặc theo đường bí mật rút ra ngoài hoặc ở lại chống giặc theo hình thứcthích hợp
Có thể nói, đại đa số giáo viên, trí thức trong ngành giáo dục đều xuất thân từ nhàtrường thực dân.Tuy có tiến bộ trong kháng chiến nhưng còn nhiều nhận thức sai lạc vềviệc dạy và học Cuộc cải cách có thực hiện được hay không do con người quyết định Đểgột rửa được tư tưởng sai lầm trong giáo viên và học sinh, ngành giáo dục đã thực hiệncuộc cải cách giáo dục trong kháng chiến Cuộc cải cách giáo dục có 3 nội dung lớn:+ Cải tạo tư tưởng cho giáo viên
+ Đào tạo cán bộ
+ Biên soạn sách và tài liệu giáo dục
Nhờ có chủ trương đúng đắn của cuộc cải cách và sự cố gắng của toàn ngành mà
số trường lớp và số học sinh đã tăng lên nhiều Vùng giải phóng mở rộng đến đâu thì các
Trang 20trường học được xây dựng đến đó gắn liền nhà trường với xã hội, giáo viên và học sinhtham gia mọi mặt đấu tranh của dân tộc Trí thức và giáo viên đã tuyên truyền và vậnđộng nhân dân thực hiện những chính sách lớn của Chính phủ Họ tổ chức những buổibiểu diễn kịch, ca hát, sáng tác ca dao, viết bích báo, phát thanh tin tức, vận động đờisống mới giúp đỡ gia đình thương binh liệt sỹ Giáo viên và học sinh đã học tập đượcngay trong thực tế, góp phần vào công cuộc chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc.
Y tế:
Tại Bắc Bộ, dưới sự chỉ đạo của bác sỹ Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, các cán bộ y
tế đã tham gia kháng chiến dưới mọi hình thức Bác sỹ Nguyễn Viêm Hải phụ trách ban
y tế trong uỷ ban di cư, bác sỹ Nguyễn Văn Phương trong uỷ ban y tế tản cư Mỗi tỉnh cóđồng bào tản cư đều có một bác sỹ phụ trách Ở Nam Bộ người tổ chức trực tiếp là bác sỹNguyễn Văn Hoa ở mặt trận Phú Lâm, bác sỹ Trần Quang Quá phụ trách mặt trận phíaĐông
Ngay từ ngày đầu kháng chiến, tại các trạm y tế dã chiến, các đội ngũ cứu thươngnhanh chóng được thành lập, quy tụ tự nguyện nhiều y bác sỹ yêu nước ở nội thành SàiGòn, Hà Nội Đội ngũ y bác sỹ rất đông đảo, làm việc hết mình như bác sỹ Nguyễn VănTân, Võ Tấn Ca, dược sỹ Bùi Quang Trung, bác sỹ Đặng Văn Ngữ, Hoàng Đình Cầu,Nguyễn Văn Thưởng Họ còn thành lập đoàn y tế theo các đơn vị võ trang rút về cáccăn cứ kháng chiến Vườn Thơm, An Phú Đông, Chiến khu Đ, chiến khu Việt Bắc, liênkhu IV, V
Trong 9 năm kháng chiến, đội ngũ trí thức trong lĩnh vực y tế đã biết kết hợp vàphát huy được nhiều khả năng trong nước kết hợp với việc áp dụng các lý thuyết mới từcác nước dân chủ tiên tiến để tự túc lấy các hoạt động trị bệnh
Thứ nhất là việc bào chế thuốc.Điển hình cây dầu đun được khuyến khích trồngngay trong nước để dùng cất ra tinh dầu không phải mua nguyên liệu dó từ ngoại quốc.Y
sỹ Nguyễn Dược Khôi cán bộ của viện vi trùng học Trung Bộ là một trong những gươnglao động trí óc điển hình
Trong suốt những năm chiến tranh, các bác sỹ như Hoàng Đình Cầu, NguyễnThiện Thành đều cố gắng nghiên cứu cách chữa bệnh theo phương pháp Philatov củaLiên Xô dùng vật liệu sẵn có của ta trong tự nhiên như rau má để chữa bệnh hủi, phù, sốtrét rừng, đau thận, philatov về sản phụ để chữa bệnh hen xuyễn, lao, tê thấp, các bệnhhỗn loạn về dinh dưỡng như rụng tóc, thiếu máu và đặc biệt các bệnh về mắt
III Một số đặc điểm của trí thức
Trang 211 Đội ngũ trí thức dân tộc phát triển
Đội ngũ trí thức nước ta trước Cách mạng tháng 8 chủ yếu được đào tạo từ hainguồn chính Thứ nhất là các trí thức cũ được hình thành trên cơ sở nền giáo dục nhohọc.Thứ hai là bộ phận trí thức mới, trí thức tân học ra đời cùng với sự hình thành và mởrộng của nền giáo dục Pháp ở Việt Nam
Sau Cách mạng tháng 8, Đảng và Chính phủ ta quan tâm đặc biệt đến việc đào tạođội ngũ cán bộ có trình độ học vấn cao cho đất nước Theo chủ trương của Chính phủ vàBác Hồ, ngày 15-11-1945, Bộ Quốc gia Giáo dục quyết định khai giảng tại Hà Nội cáctrường Đại học Y khoa, Cao đẳng khoa học, cao đẳng Công chính, cao đẳng Canh nông,Cao đẳng chuyên môn Thú y, cao đẳng Mỹ thuật, Đại học Văn khoa Ngày tựu trườngthực sự trở thành một ngày hội lớn cho các sinh viên, học sinh cùng nhân dân trên cảnước.Ở Nam Bộ, mặc dù chiến sự ngày càng lan rộng do hành động xâm lược của thựcdân Pháp, nhiều trường trong vùng kiểm soát của ta vẫn được khai giảng một cách trọngthể như trường Sư phạm, Cao đẳng vô tuyến điện, Hàng hải, Đại học Y-Dược và cáctrường Công chánh, Kỹ thuật
Thực dân Pháp sau khi tái chiếm nước ta cũng đã mở lại các lớp: Y (1947), Luật(1948), Khoa học (1949) , đặt tại trụ sở của Đại học Đông Dương trước đây
Năm 1951, được sự giúp đỡ tận tình của Nhà nước Trung Hoa, trung ương Đảng
và Chính phủ ta đã chủ trương thành lập khu Học xá Trung ương để đào tạo cán bộ khoahọc và giáo viên ở Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).Như vậy, trong khángchiến, bên cạnh các trường cao đẳng, đại học trong nước, chúng ta lại có thêm một khuhọc xá đặt ở nước bạn Trung Hoa
Từ năm 1950, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc gửi người đi đào tạo ởnước ngoài Năm 1951, đoàn lưu học sinh (21 người) đầu tiên của nước ta đã được gửisang học tập ở Liên Xô cũ Cuộc kháng chiến càng gần đến ngày thắng lợi thì nhu cầuđào tạo cán bộ chuyên môn các ngành để khôi phục và xây dựng đất nước sau chiến tranhcàng trở nên quan trọng và cấp thiết Vì vậy từ năm 1953-1954 ta đã gửi nhiều đoàn họcsinh đi học ở nhiều nước khác nhau trong khối các nước xã hội chủ nghĩa cũ (Liên Xô,Bungari, CHDC Đức ), chuẩn bị đào tạo đội ngũ cán bộ cho công cuộc xây dựng đấtnước lâu dài
Như vậy, tầng lớp trí thức nước ta sau Cách mạng tháng 8 hình thành từ ba nguồnđào tạo: Đó là đội ngũ trí thức được chính quyền Pháp đào tạo; nguồn đào tạo trong nước
và đội ngũ trí thức được đào tạo ở nước ngoài Tính đến tháng 7-1954, đã có 600 sinhviên đại học và 1520 học sinh trung cấp tốt nghiệp ra trường {38, 146}, phục vụ kháng
Trang 22chiến và kiến quốc Từ ba trung tâm đào tạo khác nhau, chúng ta đã tập hợp được một độingũ trí thức yêu nước có năng lực chuyên môn trên nhiều lĩnh vực khoa học, đây là vốnquý ban đầu để sản sinh ra nhiều lớp cán bộ nhân tài chuyên môn do chính nền giáo dụcđại học của ta đào tạo ra từ đó về sau.
Đặc biệt, Đảng ta rất chú trọng đào tạo đội ngũ giáo viên Năm 1950 có những lớphuấn luyện để bổ túc cho giáo viên xuất sắc cấp dưới lên dạy cấp trên.Đồng thời cũng tổchức những trường sư phạm để đào tạo giáo viên một cách lâu dài.Chúng ta có 4 trường
sư phạm trung cấp, 4 trường sơ cấp, 4 trường sư phạm miền núi đào tạo giáo viên thiểu
số dạy bằng tiếng thiểu số.Tổng số giáo viên mới được đào tạo từ năm 1945 đến 1954 là
3087 giáo viên cấp I, 800 giáo viên cấp II và III Tương tự bậc đại học cũng có 4 trườngvới 89 giáo viên và 1020 sinh viên, so với năm 1950-1951 gấp 4 lần về số trường, 12,7lần về số giáo viên và 6,8 lần về số sinh viên.{5,4}
2 Đội ngũ tri thức trong hoàn cảnh mới bị tác động mạnh và phân hoá một cách sâu sắc
Từ khi tái chiếm nước ta, thực dân Pháp đặc biệt chú ý đến trí thức Việt Nam vàdùng mọi chính sách để thực hiện âm mưu chia rẽ, lôi kéo trí thức Thực tế cho thấy trongsuốt 9 năm kháng chiến, để lôi kéo tầng lớp trí thức, âm mưu của thực dân Pháp có thểgói gọn trong mấy câu: lừa bịp, mua chuộc và khủng bố Đặc biệt khi Mỹ nhảy vào thì
âm mưu đó ngày càng được đẩy mạnh với những thủ đoạn khôn khéo hơn.Sách báo,phim ảnh Mỹ tràn ngập các thành phố tạm chiếm, đầu độc nhân dân và đặc biệt tầng lớptrí thức.Không những thế, đế quốc Mỹ còn thực hiện chương trình cấp học bổng cho một
số sinh viên đưa sang Mỹ học; thúc Pháp tô đậy cho bọn bù nhìn, đội cho lực lượng nàymột vỏ độc lập tinh vi hơn như hình thức cho đi tham dự một vài hội nghị quốc tế, nhằmmục đích lừa bịp nhân dân vùng tạm chiếm và lung lạc nhiều trí thức Đồng thời Mỹ còn
có nhiều mưu mô để mua chuộc sự cộng tác của trí thức Thực dân Pháp và Mỹ đều làm
ra vẻ tôn trọng, ưu đãi trí thức, cho địa vị- trả lương cao, cấp các thẻ đặc biệt để trí thức
có thể mua sữa, mua vải với mức giá rẻ nhất vv
Trước tình hình phức tạp đó, đội ngũ trí thức cũng bị tác động mạnh và phân hoámột cách sâu sắc
Một bộ phận trí thức đã phải ra làm việc cho thực dân Pháp vì sinh kế, hoặc bịcưỡng bách Số trí thức này sống một cách thầm lặng và chờ đợi, quay mặt đi trước hành
vi tội ác của giặc và bọn bù nhìn Nhưng đời sống của những trí thức này rất bấp bênh và
họ có thể bị sa thải bất kỳ lúc nào nên cũng sẵn sàng tham gia kháng chiến khi có điềukiện
Trang 233 Trí thức gắn bó với lợi ích dân tộc và nhân dân
Phần lớn trí thức đã hoà mình vào quần chúng với lời thề: “ Quyết tâm không làmviệc cho Pháp, không đi lính cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không chỉđường cho Pháp ”.Trí thức kiên quyết không tham gia các hoạt động chính trị, không đilàm công cho giặc.Nhiều người chịu đựng cuộc sống cực kỳ thiếu thốn, có “ông giáoxoay sáng bán hàng rong” {31,1} Từ Nguyễn Văn Thinh rồi đến cả Trần Văn Hựu nhiềulần kêu gọi tha thiết mời họ ra “giúp việc nước” nhưng đều không thành công
Ngoài ra, cũng có những trí thức từ bỏ địa vị chức tước, tương lai tươi sáng từngoại quốc trở về phục vụ tổ quốc như kỹ sư Trần Đại Nghĩa, giáo sư toán học Lê VănThiêm, nhà bác học Lương Đình Của, kỹ sư Võ Quý Huân, kỹ sư Võ Đình Huỳnh
Cùng các tầng lớp trí thức ở trong nước, các trí thức của ta sống ở Xiêm, Anh,Pháp, Ấn Độ đều tham gia trong những hội Việt kiều cứu quốc Họ đã nhiều lần gửiđiện văn cho Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh nguyện hết sức ủng hộ Chính phủ vàquyết tâm tranh đấu đến cùng để bảo vệ nền độc lập thống nhất nước nhà Trí thức xa quêhương luôn hướng về Tổ quốc, theo dõi cuộc chiến tranh ở Việt Nam và chỉ chờ có dịpthuận lợi đem hết sức mình phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân
Phần đông trí thức Việt Nam đều rất tích cực tham gia kháng chiến.Nhưng cũng
có một số rất ít trí thức Tây học mà nền văn minh Pháp đã biến họ thành những conngười thân Pháp đi ngược lại với quyền lợi dân tộc như Lê Văn Hoạch, Nguyễn VănThinh, Trần Văn Ân, Nguyễn Tấn Cường, và họ đã phải trả giá đích đáng cho hànhđộng phản dân, hại nước của mình
4 Trí thức chịu ảnh hưởng của tư tưởng Chủ nghĩa Mác – Lê nin
Xuất phát từ tinh thần yêu nước, nhiều trí thức được đào tạo cơ bản, có cuộc sốnggiàu sang phú quý nhưng họ đã từ bỏ cuộc sống tiện nghi, hiện đại nơi đô thành để theoChính phủ và Bác Hồ đi kháng chiến Đội ngũ trí thức yêu nước này đã được giác ngộchủ nghĩa Mác-Lênin, thấu hiểu đường lối của Đảng, đặc biệt là nỗi đau của kẻ mất nướcphải làm nô lệ Họ rất trân trọng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và sẵnsàng hy sinh tất cả để bảo vệ độc lập tự do của đất nước
5 Trí thức hoạt động trên tất cả các lĩnh vực
Trí thức còn tham gia và tham gia rất tích cực vào các lực lượng võ trang trên cácchiến trường từ Bắc vào Nam Văn nghệ sỹ, bác sỹ, giáo viên cũng lên đường ra trận,tham gia các chiến dịch, theo sát bước chân người lính xung kích, theo các đoàn dâncông, các đội thanh niên xung phong ra hỏa tuyến
Trang 24Tầng lớp trí thức cũng là những người đi đầu trong các lĩnh vực phát minh, sángchế ở tất cả mọi lĩnh vực y tế, giáo dục, kinh tế Trí thức đưa ra những sáng kiến khắcphục khó khăn về nguyên liệu như thuốc nổ, các hóa chất, gang, thép, thuốc ho vàsốt Trí thức là người đưa ra những sáng kiến cải tiến kỹ thuật như cấy lúa một giảnh,trồng ngô hai vụ xen kẽ làm tăng năng suất lương thực, chữa bệnh bằng phương phápPhilatov của Liên Xô, nghiên cứu thay thế thuốc chữa bệnh tây y bằng đông y tiết kiệmđược tiền bạc và thời gian cho nhân dân, đáp ứng được nhu cầu của cuộc kháng chiến.
IV Vai trò của trí thức
1 Xây dựng bộ máy nhà nước
Các trí thức trong bộ máy cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương đã gópphần đưa ra các quyết sách giúp Đảng và Chính phủ giải quyết được rất nhiều khó khăntrong thời chiến Cụ thể hóa những chính sách kinh tế (lập ra ban kinh tế chính phủ, sángkiến đúc và in tiền, tăng gia sản xuất ), chính sách giáo dục (biên soạn lại sách giáokhoa, thành lập cơ quan bình dân học vụ ) Nhờ đó, Chính phủ đã ban hành hàng trămsắc lệnh, nghị định, thông tri để chỉ đạo, điều hành kháng chiến, góp phần đẩy nhanhcuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng
Danh sách cán bộ trung ương là trí thức ngày một đông như các Bộ trưởng, thứtrưởng, chánh và phó văn phòng, chánh phó giám đốc, trưởng phó phòng và các chức vụtương đương Tính đến giữa năm 1948 có khoảng 178 người / 262 người là trí thức ở cácngành luật (26), giáo viên (11), bác sỹ (15), kỹ sư (23) {19,4} đảm nhận trọng tráchquan trọng trong Chính phủ Học vị tiến sỹ, thạc sỹ ở các ngành có 9 người, chủ yếu làgiáo dục{19,6} Điều đó chứng tỏ đội ngũ trí thức của ta ngày càng lớn mạnh về số lượngcũng như chất lượng, chiếm vai trò quan trọng trong việc điều hành, chỉ đạo kháng chiếnđến thắng lợi
2 Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc
Trí thức hóa thân thành những diễn viên đi suốt các vùng miền, phục vụ bộ đội vànhân dân.Tuy chưa có nhiều tác phẩm đặc sắc, thật hoàn chỉnh nhưng những màn kịchkháng chiến là những tác phẩm đầu tiên của kịch nói cách mạng Việt Nam Mặc dù làmvăn hóa, nhưng những người trí thức này đã cùng leo dốc, vượt đèo, hành quân với bộđội Dù khó khăn đến đâu, thiếu ăn hay ở sát đồn địch buổi biểu diễn vẫn được diễn ratức khắc, rộn ràng, phấn khích không kém gì một buổi biểu diễn quy mô, nhiệt tình củangười nghệ sỹ không hề thay đổi Họ rất gần gũi với thực tế đa dạng, bộn bề thô mộc vàtươi tắn của cuộc sống chiến đấu, nghệ thuật diễn xuất của họ chân thực và sinh động làm