ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỌ YÊN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MIN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỌ YÊN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
(NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐƠN VỊ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỌ YÊN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
(NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐƠN VỊ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết qu nghiên cứu của luận văn không
trùng với các công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thọ Yên
Trang 4Cô Khoa Khoa học Chính trị, Phòng Sau đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội và Phòng Khoa học Công nghệ Trường Đại học Sài Gòn
Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến các đơn vị quân đội thuộc miền Đông Nam bộ đã giúp đỡ, cung cấp thông tin bổ ích để tôi hoàn thành luận văn Đặc biệt, sự quan tâm giúp đỡ của Đảng ủy, Ban Giám hiệu, lãnh đạo, chỉ huy Phòng Chính trị thuộc Trường Đại học Trần Đại Nghĩa, đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thọ Yên
Trang 5Lực lượng vũ trang Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cán bộ, chiến sỹ
Xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa cộng sản Sẵn sàng chiến đấu Công tác đảng, công tác chính trị Khoa học công nghệ
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QĐNDVN 10
1.1 Khái niệm về đạo đức 10
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người cán bộ quân đội 15
1.2.1 Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân 15
1.2.2 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư 18
1.2.3 Đoàn kết; yêu thương nhau như anh em ruột thịt 22
1.2.4 Tinh thần quốc tế trong sáng 24
1.2.5 Mưu trí, dũng cảm; kỷ luật tự giác, nghiêm minh 25
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò đạo đức và giáo dục đạo đức
cho đội ngũ cán bộ quân đội 29
1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức 29
1.3.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức 33
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 38
2.1 Khái quát về đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam 38
2.2 Nội dung, con đường và biện pháp GDĐĐ cho đội ngũ cán bộ
QĐNDVN hiện nay 43
2.2.1 Về nội dung giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ QĐNDVN 43
2.2.2 Về con đường và biện pháp cơ bản giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ QĐNDVN hiện nay 44
Trang 72.3 Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của công tác giáo dục
đạo đức cho đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam 48
2.3.1 Những thành tựu của công tác GDĐĐ cho đội ngũ cán bộ QĐNDVN 48
2.3.2 Những hạn chế, yếu kém của công tác GDĐĐ cho đội ngũ cán bộ
QĐNDVN 53
2.3.3 Nguyên nhân 55
Tiểu kết chương 2 60
CHƯƠNG 3: TÍNH TẤT YẾU, YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GDĐĐ
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QĐNDVN HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH 61
3.1 Giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay theo tư tưởng
Hồ Chí Minh là một tất yếu, khách quan 61
3.2 Một số yêu cầu đối với giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội
hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 69
3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng công tác GDĐĐ
cho đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 77
3.3.1 Giải pháp nâng cao nhận thức về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho
đội ngũ cán bộ quân đội 77
3.3.2 Xây dựng môi trường lành mạnh để làm cơ sở xây dựng đạo đức Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ quân đội 87
3.3.3 Đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức cho
đội ngũ cán bộ quân đội theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 90
3.3.4 Phát huy tốt vai trò của các tổ chức, các lực lượng để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội theo tưởng tưởng
Hồ Chí Minh 99
3.3.5 Nâng cao tính tích cực, chủ động, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức
của mỗi cán bộ quân đội 104
Tiểu kết chương 3 109
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [45, tr.309], “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [45, tr.313] Cái tốt hay kém của người cán bộ ở đây bao gồm
cả hai mặt đức và tài, trong đó Người xem đức là “gốc”, là thành tố quan trọng quyết định đến chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của người cán bộ Người nói:
“Cũng như sông thì phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây thì phải có gốc, cây không có gốc thì cây héo Người cách mạng thì phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [45, tr.292]
Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người sáng lập, giáo dục, rèn luyện quân đội ta Trong suốt cuộc đời vĩ đại của mình, Người luôn quan tâm, chăm lo, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ quân đội, đặc biệt về phẩm chất đạo đức Người dạy: “Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng Quân sự giỏi, song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công” [45, tr.259] Vì vậy, Hồ Chí Minh đã dành nhiều công sức chăm lo lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội và chính những yêu cầu đạo đức và tấm gương, đạo đức của Người nay đã trở thành hệ chuẩn mực đạo đức cơ bản của con người Việt Nam mới nói chung và đội ngũ cán bộ quân đội nói riêng
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vai trò của đạo đức trong nhân cách con người, Bộ Quốc phòng - Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên chú trọng giáo dục đạo đức cho mỗi cán bộ, chiến sĩ Coi giáo dục đạo đức cho quân nhân nói chung và cán bộ nói riêng, là cơ sở tạo nên sức mạnh chiến đấu của đơn vị của quân đội và sự phát triển nhân cách của quân nhân; giúp người quân nhân hòa nhập với xã hội, cộng đồng, tạo động lực tinh thần, góp phần thúc đẩy tính tích cực của quân nhân trong trong chấp hành pháp luật, kỷ luật và thực hiện nhiệm vụ theo chức trách Do vậy, 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Quân ủy Trung ương, được nhân dân hết lòng yêu thương, nuôi dưỡng, đùm bọc, quân đội ta đã
Trang 92
không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, xây đắp nên truyền thống vẻ vang của một quân đội anh hùng; là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”
Tuy nhiên, công tác giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ trong quân đội vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm: nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục chưa thực sự phù hợp, ở một số đơn vị việc giáo dục và rèn luyện đạo đức chưa được quan tâm đúng mức, đôi khi còn bị buông lỏng, còn có biểu hiện tự phát, hình thức, Bởi vậy, hiện tượng giảm sút về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ quân đội đã gây ra các hậu quả tiêu cực làm ảnh hưởng đến chất lượng chính trị, đến bản chất và truyền thống cách mạng của quân đội ta, đã thực sự là trở ngại của công cuộc xây dựng quân đội trong thời kỳ mới
Trong bối cảnh hiện nay để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và sức mạnh chiến đấu của quân đội, thực tế tình hình trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải làm tốt công tác giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội Từ đó, góp phần vào thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại
Với lý do trên, tác giả chọn “Giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân
đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên nói chung và thanh niên, cán bộ chủ trì trong quân đội nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài quân đội đề cập ở những khía cạnh
và cấp độ khác nhau, có thể phân thành ba nhóm:
2.1 Các luận án
Hà Huy Thông (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của người cán bộ
quân sự - lý luận và vận dụng, Luận án Tiến sĩ Khoa học triết học, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh Đây là một công trình rất công phu của tác giả Hà Huy Thông Trong Luận án này, tác giả đã phân tích, khái quát, luận giải các quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức đối với người cán bộ quân sự, về những
Trang 103
chuẩn mực đạo đức cơ bản, những yêu cầu đạo đức trong các mối quan hệ đặc trưng của người cán bộ quân sự; nêu lên thực trạng tình hình đạo đức của đội ngũ cán bộ quân sự và các giải pháp để xây dựng đạo đức Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ quân sự
Đặng Nam Điền (2004), Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ
chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới, Luận án Tiến sĩ lịch sử,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Trong Luận án này, tác giả đã làm rõ hơn những vấn đề lý luận chủ yếu về đạo đức và đạo đức cách mạng của người cán
bộ chính trị trong quân đội; phân tích đánh giá đúng thực trạng đạo đức cách mạng
và hoạt động nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chính trị quân đội nhân dân việt Nam giai đoạn 1992-2002 Tác giả đã rất thành công trong việc đề xuất phương hướng, giải pháp để nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ chính trị trong quân đội thời kỳ mới (đến năm 2010)
Phạm Văn Vinh (2005), Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ
chủ trì ở đơn vị cơ sở binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay,
Luận văn Tiến sĩ lịch sử, Học viện Chính trị quân sự Với đề tài này tác giả Phạm Văn Vinh đã làm rõ về đạo đức cách mạng và đạo đức cách mạng của đội ngũ cán
bộ chủ trì ở đơn vị cơ sở Binh chủng hợp thành QĐNDN; tổng kết những kinh nghiệm nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chủ trì ở đơn vị cơ sở Binh chủng hợp thành QĐNDN; dự báo xu hướng biến đổi các giá trị đạo đức cách mạng, xác định phương hướng, giải pháp để nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chủ trì ở đơn vị cơ sở Binh chủng hợp thành QĐNDN
2.2 Các Sách chuyên khảo
Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức cách mạng của người cán bộ quân đội, Nxb Quân đội nhân dân, do các tác
giả Đại tá TS Phạm Văn Nhuận (chủ biên), Đại tá TS Dương Văn Lượng, Thượng
tá Th.S Nguyễn Đức Thắng, Đại úy Nguyễn Hùng Sơn biên soạn Trong cuốn sách này các tác giả đã tập trung làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ quân đội với những quan điểm cơ bản, những phẩm chất và
Trang 114
hình thức, biện pháp cơ bản nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ quân đội Phân tích toàn diện các yếu tố tác động, khẳng định tính cấp thiết nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ quân đội hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng, nội dung nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
TS Đào Duy Quát (2004), Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ
đ ng viên hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia Cuốn sách này là kết quả của Hội thảo
khoa học do Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương chủ trì Cuốn sách tập trung làm rõ: Một số vấn đề lý luận chung; thực trạng về đạo đức, lối sống và công tác giáo dục đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; phương hướng, giải pháp và những kiến nghị về đổi mới công tác giáo dục đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên thời gian tới Đây thực sự là những tư liệu quý, nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, nhất là nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên
Nguyễn Quang Phát (2006), Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về đức - tài
trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, Nxb Quân đội nhân dân Cuốn sách là sự
chuyển tải nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, tài của người cán bộ cách mạng,
đề xuất các nội dung, giải pháp nâng cao đạo đức, phát triển tài năng của đội ngũ cán bộ trong tình hình hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh; tập hợp những một số tác phẩm, bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh bàn về đạo đức
và rèn luyện đạo đức cách mạng và trích văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách mạng
Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự (2007), Chuẩn mực đạo đức quân
nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, do các tác giả Đại
tá TS Phạm Văn Nhuận, Đại tá GS.TS Nguyễn Ngọc Phú biên soạn Cuốn sách đưa đến bạn đọc một số kiến thức chung về đạo đức, chuẩn mực đạo đức quân nhân; quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về chuẩn mực nguyên tắc đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức quân nhân của quân đội ta; nội dung một số đặc điểm phát triển cùng với hệ giải pháp giáo dục, rèn luyện bộ đội theo chuẩn mực
đạo đức quân nhân của quân đội ta trong giai đoạn mới
Trang 125
Tổng cục Chính trị (2009), Giáo trình lý luận giáo dục quân nhân Giáo trình
lý luận giáo dục quân nhân là công trình khoa học của tập thể tác giả Khoa Sư phạm quân sự, Học viện Chính trị do Đại tá TS Nguyễn Văn Phán, Đại tá TS Mai Văn Hóa đồng chủ biên Nội dung giáo trình bao gồm kiến thức lý thuyết và hướng dẫn ứng dụng lý thuyết đó trong thực tiễn, giúp người học phát triển tư duy lý luận và
kỹ năng thực hành, góp phần hình thành, phát triển phẩm chất, nhân cách người quân nhân cách mạng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và chiến đấu của quân đội thời kỳ mới Giáo trình này dùng tài liệu học tập chính thức môn Giáo dục học quân sự trong các học viện, nhà trường quân đội, đồng thời là tài liệu tham khảo của cán bộ,
sĩ quan với tư cách nhà giáo dục
Hồ Chí Minh (2010), Về đạo đức cách mạng, Nxb CTQG, Hà Nội, do tập thể
tác giả PG.TS Lê Văn Yên, PGS.TS Vũ Quang Vinh, TS Nguyễn Duy Quang biên soạn Cuốn sách tập hợp những một số tác phẩm và bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí chống bệnh quan liêu
Vũ Văn Phúc, Ngô Văn Thạo (2011), Những gi i pháp và điều kiện thực
hiện phòng chống suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đ ng viên
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách được biên soạn bởi một tập thể các nhà nghiên cứu, lãnh đạo, quản lý dày dạn kinh nghiệm, do PGS.TS Vũ Văn Phúc và PGS.TS Ngô Văn Thạo đồng chủ biên, cuốn sách làm sáng rõ cơ sở lý luận của việc phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, nêu kinh nghiệm thực tiễn giải quyết vấn đề này của một số nước trên thế giới; làm rõ thực trạng, nguyên nhân của công tác phòng, chống; dự báo những tác động của tình hình quốc tế và trong nước đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên cũng như dự báo xu hướng diễn biến của tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong những năm tới; trên cơ sở đó, đề xuất các mục tiêu, giải pháp mang tính toàn diện, đồng bộ, khả thi và điều kiện cần thiết để thực hiện hiệu quả cuộc đấu tranh khó khăn, lâu dài này Những giải pháp được các tác giả đưa ra là những nhóm giải pháp trong các lĩnh vực, công tác khác nhau, như: giải pháp trong
Trang 136
công tác xây dựng Đảng, giải pháp trong lĩnh vực quản lý nhà nước, giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân dân và xã hội, giải pháp nhằm hạn chế tác động từ bên ngoài đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên
2.3 Các bài báo đăng trên các tạp chí
- Nguyễn Văn Phúc (1999), Về một số gi i pháp xây dựng nhân cách đạo
đức hiện nay, Tạp chí Triết học, số 04, Tr 5-7
Bài viết đề cập tới vấn đề xây dựng nhân cách đạo đức, trước hết cần tính đến những nhân tố cơ bản quy định sự hình thành và phát triển nhân cách đạo đức,
từ đó rút ra những giải pháp khả thi: Nhân tố quyết định nhân cách đạo đức ở tầng sâu nhất là cơ sở lợi ích Sự phát triển nhân cách đạo đức, xét đến cùng, phải thể hiện trong những hành vi đạo đức thực tế Giáo dục và giáo dục đạo đức là một trong những phương thức, giải pháp quan trọng nhất, trực tiếp quyết định sự hình thành, phát triển nhân cách đạo đức
- Hoàng Trung (2000), Vì sao Hồ Chí Minh lại đặc biệt chú trọng đến vấn đề
đạo đức, Tạp chí Triết học, số 04, Tr 19-21
Trong bài viết này tác giả đề cập đến một số nguyên nhân Hồ Chí Minh quan tâm đến vấn đề đạo đức Tác giả khẳng định rằng Hồ Chí Minh thường xuyên dành cho việc xây dựng rèn luyện đạo đức cách mạng - vị trí ưu tiên hàng đầu và bản thân Người là tấm gương sáng nổi bật về đạo đức cách mạng
- Lê Văn Quang (2001), Đạo đức và văn minh - hành trang của Đ ng ta
bước vào thế kỷ XXI, Tạp chí Triết học, số 05, Tr 12-15
Đạo đức và văn minh vừa là các thuộc tính cơ bản nhất của Đảng, vừa là nội lực làm cho Đảng ngày càng vững mạnh Bài viết nhấn mạnh đến hai vấn đề cơ bản sau: Từng cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức, có quyền phải trau dồi đạo đức của người cộng sản Toàn đảng nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực trí tuệ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Đảng văn minh
- Vũ Khiêu (2003), Sự suy thoái về đạo đức và gi i pháp của chúng ta, Tạp
chí Tâm lý học, số 9, tr 9-14
Trang 147
Bài viết đưa ra giải pháp từ phía gia đình nhằm giảm sự suy thoái về đạo đức trong xã hội hiện nay
- Vũ Duy Yên (2008), Nhận thức của công chức nhà nước về đạo đức và
chuẩn giá trị xã hội hiện nay, Tạp chí Tâm lý học, số 6, tr 23-26
- Trần Thông (11/5/2011), Nâng cao hiệu qu công tác giáo dục đạo đức, lối
sống cho cán bộ, đ ng viên từ chi bộ, http://www.xaydungdang.org.vn
- Đặng Nam Điền (19/06/2011), Quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho bộ
đội, http://www.qdnd.vn
- Hoàng Chí Bảo (19/02/2012), Chống suy thoái - vấn đề trọng tâm, xuyên
suốt, cấp bách nhất, http://www.qdnd.vn
- Nguyễn Đức Thắng (10/10/2012), Góp phần nhận diện suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức lối sống, http://www.tapchicongsan.org.vn
- Kim Oanh (25/02/2013), giáo dục đạo đức lối sống trong gia đình,
http://baothanhhoa.vn
- Nguyễn Thanh Hải (30/6/2013), Phòng chống suy thoái đạo đức trong cán
bộ, đ ng viên theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, http://www.xaydungdang.org.vn
- Nguyễn Văn Vinh (8/7/2013), Bồi dưỡng và rèn luyện nghĩa vụ đạo đức
quân nhân cho sĩ quan trẻ, http://www.xaydungdang.org.vn
Trên đây là những thành tựu rất quan trọng mà các nhà khoa học đã đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu về việc bồi dưỡng, phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và quân nhân quân đội nhân dân Việt Nam Những thành tựu này là cơ sở quan trọng để tác giả tiếp tục nghiên cứu và lấy
đó làm những gợi ý quan trọng cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của
Trang 158
tác giả đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng ghi nhận, nhiều gợi mở suy nghĩ mới
mẻ đã xuất hiện và nhiều giải pháp sâu sắc đã được đề xuất thời gian qua … Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu, hoặc chưa được nghiên cứu một cách cụ thể, thấu đáo nhằm kịp thời đáp ứng những yêu cầu cấp bách đang đặt ra
của thực tiễn đời sống Chẳng hạn đề tài: Giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ
quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp cận dưới góc
độ chính trị học cho đến nay chưa có công trình nào được công bố Chính vì lẽ đó, phù hợp với nhu cầu và nhiệm vụ công tác, tác giả chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức trong Quân đội nhân dân Việt Nam, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về đạo đức, vai trò của đạo đức và giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ trong quân đội
- Đánh giá đúng thực trạng công tác giáo dục đạo đức trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu: Giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội
nhân dân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
* Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu ở một số đơn vị miền Đông Nam bộ
- Thời gian: Thời kỳ 1986 - 2012
Trang 169
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của đề tài: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lê nin, tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam về đạo đức và giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội trong giai đoạn hiện nay
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chính: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với các phương pháp cụ thể là: logic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; trừu tượng và cụ thể; đồng thời, còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu phối hợp của Chính trị học,
Xã hội học, Văn hóa học, Sử học…
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ một vấn đề về lý luận về đạo đức, giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam
- Làm rõ thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam thông qua nghiên cứu, khảo sát một số đơn vị quân đội ở miền Đông Nam bộ
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Tác giả hy vọng những luận chứng của mình về mặt lý luận và những giải pháp đề xuất có thể vận dụng vào thực tiễn công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức để không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Đồng thời, luận văn này có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy về giáo dục học quân sự trong các học viện, nhà trường quân đội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương 9 tiết
Trang 1710
CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1.1 Khái niệm về đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức đã xuất hiện rất sớm trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại
Thuật ngữ “đạo đức” theo tiếng Latinh là mos (moris) - lề thói (moralis nghĩa
là liên quan với lề thói, đạo nghĩa Còn luân lý được xem như đồng nghĩa với đạo đức, có gốc tiếng Hy Lạp là ethicos - lề thói, tập tục Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất hiện sớm, được biểu hiện
trong quan niệm về đạo và đức của họ Đạo có nghĩa là con đường, đường đi,
đường sống của con người trong xã hội Đạo đức, lối sống theo Từ điển Tiếng Việt,
có thể hiểu tổng quát: là những chuẩn mực, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với sự nghiệp, đối với nhau và đối với xã hội, là sản phẩm quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể, với cộng đồng xã hội
Trong quá trình phát triển của đạo đức học, hiện nay có thể hiểu đạo đức một cách khái quát như sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên
tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho
phù hợp với lợi ích của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội
Đạo đức là một phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức phản ánh tồn tại xã hội và đời sống đạo đức xã hội Theo đó, chế độ kinh tế - xã hội và các quan hệ kinh tế - xã hội khách quan là nguồn gốc của những quan điểm đạo đức, nói cách khác, với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội quyết định
Chức năng cơ bản nhất của đạo đức là điều chỉnh hành vi của con người bằng chuẩn mực và quy tắc theo yêu cầu của xã hội, nhằm đảm bảo lợi ích chung
Trang 1811
của xã hội hay lợi ích cơ bản của giai cấp đề ra chuẩn mực và quy tắc đạo đức Chuẩn mực đạo đức là một loại chuẩn mực xã hội Đó là quy tắc hành vi của con người trong quan hệ với người khác, trong đời sống xã hội Căn cứ vào những chuẩn mực ấy, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện
và ác, về cái không được làm (vô đạo đức) và cái nghĩa vụ phải làm Đời sống xã hội có nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người, song điều chỉnh của đạo đức luôn mang tính tự giác của cá nhân, từ sự thôi thúc, thức tỉnh của lương tâm và bằng dư luận xã hội Đây chính là một trong những đặc trưng cơ bản của đạo đức
Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp sâu sắc Đạo đức giai cấp phản ánh và bảo vệ địa vị, lợi ích của từng giai cấp Ph Ăngghen chỉ rõ: “Và vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức luôn luôn là đạo đức của giai cấp, hoặc nó biện hộ cho sự thống trị và vì lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc khi giai cấp bị trị đã trở lên khá mạnh thì nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp bức” [20, tr.199,200]
Sự tác động của ý thức xã hội, trong đó đạo đức là một bộ phận quan trọng
thúc đẩy sự vận động của xã hội theo hai khuynh hướng hoặc kìm hãm hoặc thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Một xã hội có bản chất tốt đẹp là cơ sở để tạo ra
một nền đạo đức tiên tiến Đồng thời nền đạo đức tiên tiến góp phần thúc đẩy xã
hội phát triển Ngược lại, một xã hội do giai cấp lỗi thời, lạc hậu thống trị sẽ gây ra
sự suy đồi, làm băng hoại giá trị đạo đức xã hội và khi đó đạo đức của giai cấp thống trị sẽ kìm hãm sự vận động, phát triển của xã hội Như vậy, một hình thái kinh tế - xã hội lỗi thời, lạc hậu, đòi hỏi phải được thay thế bởi hình thái kinh tế -
xã hội tiến bộ hơn, đạo đức tiên tiến cũng xuất hiện, phát triển ngay trong hình thái
kinh tế - xã hội lỗi thời, lạc hậu đó; nó đối lập với đạo đức của giai cấp thống trị lạc
hậu, thúc đẩy cuộc đấu tranh để ra đời hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn
Lịch sử tư tưởng của nhân loại đã để lại không ít quan niệm về đạo đức, nhưng nó bị chi phối bởi thế giới quan và lợi ích của giai cấp thống trị Những học thuyết đạo đức trước C.Mác, về cơ bản được xây dựng trên cơ sở đạo đức tôn giáo
Trang 1912
hoặc đạo đức duy tâm, siêu hình Khi bàn về đạo đức tôn giáo, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: Đối với những ai suốt đời vẫn lao động và sống trong cảnh thiếu thốn, tôn giáo dạy họ phải sống theo tinh thần cam chịu và nhẫn nhục trong cuộc sống dưới trần gian, bằng cách làm cho họ hy vọng sẽ được đền đáp khi lên thiên đường Còn đối với những kẻ sống bằng lao động của người khác, tôn giáo dạy họ hãy làm điều thiện ở thế gian, biện hộ một cách rất rẻ tiền cho toàn bộ cuộc đời bóc lột của chúng, và bán rẻ cho chúng những tấm thẻ để lên thiên đường của những người hạnh phúc [97, tr.170] V.I.Lênin cũng phê phán mọi thứ đạo đức duy tâm, siêu hình khác, Ông coi đó là thứ đạo đức phản động theo nghĩa là không còn khả năng phản ánh xu thế của tiến bộ xã hội mà trái lại, cản trở sự phát triển lịch sử, đi ngược lại lợi ích của nhân loại tiến bộ "Tất cả những thứ đạo đức, xuất phát từ những quan niệm ở ngoài nhân loại, ở ngoài các giai cấp, chúng ta đều bác bỏ Chúng ta nói rằng đấy chỉ là lừa bịp, dối trá, nhồi sọ công nhân và nông dân để mưu lợi ích riêng cho bọn địa chủ và bọn tư bản" [99, tr.367]
Trong điều kiện lịch sử mới V.I.Lênin đã bảo vệ, bổ sung, phát triển và hoàn thiện đạo đức học mácxít, nâng nó lên tầm cao mới, thiết thực phục vụ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN V.I.Lênin đã xây dựng một kiểu đạo đức mới, đạo đức của giai cấp công nhân và khẳng định “Chúng ta nói rằng, đạo đức của chúng ta là hoàn toàn phụ thuộc vào lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản Đạo đức của chúng ta là những lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mà ra” “Cuộc đấu tranh giai cấp còn tiếp tục và nhiệm vụ của chúng ta là làm cho tất cả mọi lợi ích phụ thuộc vào cuộc đấu tranh này Và đạo đức cộng sản của chúng ta phải phục tùng cuộc đấu tranh này Chúng ta nói rằng, đạo đức đó là những gì góp phần phát huy xã hội của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới, của những người cộng sản” [99, tr.369]
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta Người đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, là tấm gương suốt đời phấn đấu cho lý tưởng cộng sản, vì sự nghiệp giải
Trang 2013
phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng dân tộc Công đức lớn lao của Người là để lại cho Đảng ta, dân tộc ta một di sản văn hóa tinh thần vô cùng quý giá Trong đó, những tư tưởng về đạo đức có giá trị bền vững và sức mạnh diệu kỳ
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng
Đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đạo đức hoàn toàn mới về chất, đó là đạo đức của những con người được tự do, được giải phóng, khơi dậy những giá trị cao đẹp của con người, hướng con người tới “chân”, “thiện”, “mỹ” Hồ Chí Minh, chỉ rõ đạo đức cách mạng, không phải là đạo đức thủ cựu “Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [45, tr.292]
Đạo đức cách mạng hoàn toàn đối lập với đạo đức phong kiến, tư sản So sánh bản chất, mục đích đạo đức cũ do giai cấp bóc lột đặt ra với đạo đức mới, đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh khái quát: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời” [47, tr.220] Đạo đức cách mạng, bắt nguồn từ bản chất cách mạng và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được thể hiện trong cuộc đấu tranh xoá bỏ giai cấp bóc lột, chế độ bóc lột, xây dựng chế độ XHCN, xã hội tự do, bình đẳng, bác ái Đạo đức cách mạng, là sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị nhằm giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại Đạo đức cách mạng, còn bắt nguồn từ bản chất ưu việt của chế độ XHCN, một chế độ xã hội mới, tiến bộ, trong đó con người được tự do, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của đạo đức cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển chế độ mới - chế độ XHCN Sự nghiệp đó rất vẻ vang nhưng cũng rất nặng nề, đầy khó khăn gian khổ, đòi hỏi phải có những người
Trang 2114
thực sự cách mạng Theo người, đạo đức cách mạng là "nền tảng", là" cái gốc", là tiêu chuẩn đầu tiên của người cách mạng, đó là động lực thúc đẩy người cách mạng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới
có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [45, tr.292], “có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc” [51, tr.602]; “khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa” [51, tr.603]
Khi khẳng định đạo đức là "cái gốc" của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ tách rời giữa đạo đức và tài năng Đạo đức cách mạng được Người đạt trong mối quan hệ biện chứng với tài năng trong cả nhận thức và hoạt động thực tiễn, tạo thành một thể thống nhất, một động lực bên trong thúc đẩy người cách mạng phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Người chỉ rõ: "Có tài phải có đức
Có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước Có đức mà không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai" [50, tr.345,346]
Như vậy yêu cầu khách quan của nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi người cán bộ cách mạng phải có đức đồng thời phải có tài, phải vừa "hồng" vừa "chuyên" Đó là điều kiện cơ bản quyết định đảm bảo cho người cán bộ cách mạng thể hiện rõ vai trò và hoàn thành chức năng xã hội của họ là người tổ chức và lãnh đạo nhân dân làm cách mạng
Trong quá trình trực tiếp tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã dày công đào tạo các thế hệ cách mạng vừa "hồng”, vừa "chuyên", trở thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khoá VIII đã nêu
ra những tiêu chuẩn chung nhất và cụ thể đối với từng loại cán bộ, đó chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng về sự thống nhất giữa đức và tài theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Trang 22thắng lợi mọi nhiệm vụ Họ phải quyết đoán, dám chịu trách nhiệm và có trách
nhiệm rất cao trước sinh mạng của các cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền Họ phải chăm
lo việc giáo dục, rèn luyện bộ đội, quan tâm tới đời sống vật chất, tinh thần của cán
bộ, chiến sĩ, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi cùng đồng đội Chính vì thế phẩm chất đạo đức của người cán bộ quân đội có vị trí vai trò rất quan trọng, vừa thể hiện rõ đặc trưng “nghề nghiệp” của họ, vừa phản ánh những yêu cầu, những tiêu chí chung về đức tài của người cán bộ cách mạng Chính vì vậy, nắm vững và nghiêm túc thực hiện các quan điểm của Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức cơ bản của người cán bộ quân đội là cơ sở để người cán bộ quân đội rèn luyện ý chí và năng lực hành động cách mạng, xứng đáng là lực lượng tin cậy, công cụ sắc bén của Đảng, Nhà nước và là con, em yêu quý của nhân dân
1.2.1 Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân
Trung, hiếu vốn là những phẩm chất quan trọng hàng đầu của đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam và phương Đông Từ quan niệm “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa, bổ sung, phát triển những phẩm chất đạo đức ấy với nhiều nội dung mang giá trị mới, tạo nên sự biến đổi về chất, hình thành nên phẩm chất đạo đức mới
Trước kia, “trung” là “Trung quân, ái quốc”, yêu cầu mọi thần dân phải trung thành với vua, phải yêu nước, gắn chặt hai yêu cầu đó với nhau, có trung với vua mới là yêu nước Khắt khe hơn, Nho giáo còn yêu cầu “Trung thần bất sự nhị quân”, người tôi chỉ phụng sự một triều đại quân vương, bất chấp chiều đại ấy, ông
Trang 23“vua - tôi, cha - con” có ý nghĩa hạn hẹp sang phản ánh mối quan hệ rộng lớn hơn, khẳng định thái độ trách nhiệm chính trị và nghĩa vụ đạo đức của mỗi người dân đối với đất nước, với hạnh phúc của nhân dân, đó là “trung với nước, hiếu với dân” Nội dung mới, chất lượng mới nhưng Hồ Chí Minh vẫn tiếp thu, kế thừa, phát triển những tinh hoa của truyền thống Người nói “Cái gì cũ mà xấu, thì ta bỏ Cái gì cũ
mà tốt, thì ta phải phát triển thêm Thí dụ: ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước” [45, tr.113]
Trung với Đảng, cũng là trung thành với Tổ quốc, dân tộc, bởi Đảng là tổ chức tiền phong của giai cấp, của dân tộc, lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của dân tộc, của đất nước Một khi con đường cứu nước không có con đường nào khác phải là con đường cách mạng vô sản, thì “Trung với nước” cũng là trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó các mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng con người gắn chặt với nhau Chủ nghĩa yêu nước dưới
sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành chủ nghĩa yêu nước XHCN Chỉ có kiên định con đường cách mạng XHCN mới có độc lập, tự do thực sự, mới không còn áp bức, bất công xã hội, không còn lạc hậu, đói nghèo
Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân là nghĩa vụ đạo đức cao quý của mỗi người dân Việt Nam yêu nước Nhưng trước hết là nghĩa vụ đạo đức của mỗi đảng viên, cán bộ đối với Tổ quốc và nhân dân Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhân là nhân dân”, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân” [50, tr.453]; nước là của dân, còn dân là chủ nhân của đất nước Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, phải ra sức phấn đấu để
Trang 2417
thực hiện, hoàn thành bằng được mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, thì mới xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân
Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng, của dân tộc, Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Người đặc biệt quan tâm, chăm lo giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong quân đội và Người căn dặn cán bộ, chiến
sĩ “Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới Phải trung với nước Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào” [44, tr.170] Ngày 22/12/1964, nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập QĐNDVN Bác nói: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” [54, tr.435] Trung với nước, trung với Đảng biểu hiện hiện ở tinh thần “quyết chiến quyết thắng”, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, ở lời thề “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”
Hồ Chí Minh có nhiều bài nói, bài viết sâu sắc để giáo dục cán bộ, chiến sĩ quân đội tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện Người khẳng định, trong xã hội mới địa vị cao nhất là nhân dân Người coi nhân dân là cha mẹ của bộ đội Nhân dân được giác ngộ cách mạng, được tổ chức là nền tảng chính trị của quân đội, của chế độ Người nói “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội Cán bộ phải dạy cho đội viên biết kính trọng dân, thương yêu giúp đỡ dân” Quân đội chiến đấu vì nhân dân chứ không phải “cứu tinh” của nhân dân Người nói: “Phải nhớ rằng dân
là chủ Dân như nước, mình như cá Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết Phải làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt làm quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ” [44, tr.116] “Mình đánh giặc là
vì dân Nhưng mình không phải là cứu tinh của dân; mà mình có trách nhiệm phụng
sự nhân” [47, tr.76] Hơn nữa, hiếu với dân còn bắt nguồn từ tư tưởng của Người về xây dựng LLVT là “người trước, súng sau”, “Muốn có đội quân vũ trang, phải có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã, nên phải làm ngay, sao
Trang 2518
cho đội quân chính trị ngày càng đông Phải có quần chúng giác ngộ chính trị tự nguyện vác súng thì mới thắng được” [1, tr.120]
Thực hiện lời dạy của Người, mối quan hệ quân dân không chỉ “nhất trí” hay
“một ý chí”, bộ đội không chỉ tuyên truyền vận động nhân dân ủng hộ, giúp đỡ mình, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đoàn kết nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ mà chủ yếu là phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, chiến đấu quên mình để bảo vệ nhân dân, mang lại độc lập tự do cho nhân dân, đồng thời phải thương yêu, kính dân, mang lại độc lập, tự do cho nhân dân, nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho chế độ, cho quân đội, để thực hiện tốt lời thề danh dự của quân nhân “kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân, không lấy của dân, không dọa nạt dân, không quấy nhiễu dân” Đó
là những nội dung cơ bản quyết định tính nhân dân trong bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta - một quân đội của dân, do dân, vì dân
Trung với nước, Trung với Đảng, Hiếu với dân đã trở thành phẩm chất đạo đức hàng đầu định hướng hoạt động cách mạng của mỗi cán bộ, chiến sỹ Đó là cơ
sở tạo thành niềm tin vững chắc và sức mạnh to lớn để người cán bộ quân đội luôn hoàn thành chức trách, nhiệm vụ Đảng, Nhà nước giao
1.2.2 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Đây là những phẩm chất đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách thường xuyên nhất vì nó gắn với hoạt động hàng ngày của mọi người Hồ Chí Minh đã phủ định biện chứng những khái niệm cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của đạo đức phương Đông và đạo đức truyền thống Việt Nam, đưa cần, kiệm, liêm, chính trở thành nội dung căn bản của đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở mọi người tích cực trau dồi đức tính “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; không được bỏ sót một đức tính nào, cũng như trời có bốn mùa, đất có bốn phương vậy Người nhấn mạnh: “Thiếu một mùa, thì không thành trời Thiếu một phương, thì không thành đất Thiếu một đức, thì không thành người” [46, tr.117]
Mỗi chữ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư đã được Hồ Chí Minh giải thích rất rõ, rất cụ thể, dễ hiểu đối với mọi người:
Trang 2619
Cần: là cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao;
lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ cần nhận thức sâu sắc rằng “Nước ta còn nghèo Muốn sung sướng thì phải có tinh thần tự lực cánh sinh, cần cù lao động Phải cố gắng sản xuất Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta Trong xã hội, không có nghề nào thấp kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ” [53, tr.69]
Kiệm: là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của
nước, của bản thân mình Tiết kiện khác với bủn xỉn, “xem nhẹ đồng tiền to bằng cái nống” Hồ Chí Minh dạy cần và kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người “Cần mà không kiệm, thì làm chừng nào xào chứng ấy” Cũng như một cái thùng to không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy hết từng ấy, không lại hoàn không “Kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển được Mà vật gì
đã không tiến tức là thoái” [46, tr.122]
Liêm: “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm
một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”, “Không tham địa vị Không tham tiền tài Không tham sung sướng Không ham người tâng bốc mình… Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ” Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là liêm, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ liêm có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải LIÊM Cán bộ phải thực hành chữ liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân” [45, tr.126,127] Người đã sớm cảnh báo về nguy cơ tham nhũng của cán bộ, công chức: “Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân dân Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu” [45, tr.123]
Chính: “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”, chính là thiện, tà là ác Đối
với mình thì không tự cao, tự đại Luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm
Trang 2720
điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điểu dở của bản thân mình: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới; luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn Đối với công việc, biết để việc công, việc nước lên trên việc tư, việc nhà Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm; việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh Mỗi ngày cố gắng làm một việc lợi cho nước, cho dân
Chí công vô tư: Về thực chất, là sự tiếp nối cần, kiệm, liêm, chính: “Khi làm
bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau” Phải đặt lợi ích của tập thể, của nhân dân, của cách mạng lên trên lợi ích cá nhân, chống chủ nghĩa cá nhân Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh khác nhau, là một thứ trở lực trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, không chỉ nguy hiểm với cá nhân mà với cả một dân tộc
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư có quan hệ mật thiết với nhau Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư; ngược lại đã chí công vô tư, một lòng
vì nước, vì dân, vì Đảng, thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính, và
có được nhiều đức tính tốt khác
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những phẩm chất đạo đức có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển mỗi cá nhân con người, đối với mỗi cán bộ, đảng viên và cả đối với một dân tộc
Với cán bộ quân đội, Người thường nhắc nhở: “Muốn giữ vững nhân cách tránh khỏi hủ hoá, thì phải luôn thực hành bốn chữ mà Bác thường nói, đó là: Cần, kiệm, liêm, chính” [49, tr.47] “Cần, kiệm, liêm, chính của ta là đạo đức của người
quân nhân cách mạng Các chú phải thực hiện đạo đức đó” [47, tr.220] Theo Hồ
Chí Minh chỉ khi nào mà người cán bộ quân đội tích cực giáo dục, tuyên truyền, hướng dẫn bộ đội cũng thực hiện như mình, như vậy mới là cần, kiệm, liêm, chính hoàn toàn.Người nói, với quân đội phải siêng tập, siêng đánh cho nên phải cần Binh sỹ phải tiết kiệm đạn dược, mỗi viên đạn, một quân thù, nên phải kiệm Mỗi người đều phải trong sạch, không tham lam, không đem của công dùng vào việc tư,
Trang 2821
cho nên phải liêm” [45, tr.112] Nhưng Bác cũng dạy: “Tiết kiệm không phải là ép
bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải
là tiêu cực” [47, tr.352]
Hồ Chí Minh còn chỉ rõ những phẩm chất đạo đức cụ thể ở mỗi ngành nghề trong quân đội ta: Với cán bộ hậu cần, Bác căn dặn nhiệm vụ chính của cán bộ cung cấp là phụng sự đại đa số bộ đội nên phải thương yêu săn sóc họ Cán bộ cung cấp càng phải làm kiểu mẫu cần, kiệm, liêm, chính; phải thấy trước, lo trước Phải có sáng kiến và phải tháo vát Phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính Đối với quân y, đạo
đức cách mạng là: "Lương y như từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời
phải là một người mẹ hiền" Người lái xe phải "Yêu xe như con, quý xăng như
máu”.v.v
Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào quân đội và Người đã nêu một yêu cầu rất cao: “Phải làm sao cho trong quân đội ta không có tham ô, lãng phí”[50, tr.629].Muốn thực hiện được điều đó, trước hết phải kiên quyết khắc phục hiện tượng quan liêu, " Vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng,
có kỷ luật mà không nắm vững Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha
hồ tham ô, lãng phí "[47, tr.357]. Người rất chú ý nhắc nhở cán bộ, đảng viên, nhất
là những người có chức vụ, quyền hành phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Cán bộ phải thực sự là "công bộc",
"đầy tớ" của dân, không đua chen nhau chạy cấp bậc, chức vụ để "làm quan phát tài”, không thu vén cá nhân, lấy của dân làm của tư, tham ô, hối lộ, hủ hóa
Yêu cầu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư không bao giờ cũ, bởi nó thiết thực đối với mỗi con người như cơm ăn, nước uống, khí thở hàng ngày Thực hiện đúng tư tưởng đó của Hồ Chí Minh, trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại ngày nay đòi hỏi cán bộ quân đội phải thật sự thấm nhuần lời dạy cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của Người Mỗi cán bộ quân
Trang 2922
đội phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nhân cách của mình; yên tâm công tác, yêu quý công việc, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao
1.2.3 Đoàn kết, yêu thương nhau như anh em ruột thịt
Tư tưởng đoàn kết, yêu thương con người của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ những giá trị đạo đức truyền thống nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam như: “Bầu ơi thương lấy bí cùng”, “Thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”,
“Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” đã được Người kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, phát triển lên một trình độ mới Theo Hồ Chí Minh,
đoàn kết, yêu thương nhau như anh em ruột thịt là một trong những phẩm chất đạo
đức cao đẹp nhất, là đạo đức gốc của người quân nhân cách mạng
Nhận rõ đoàn kết là nguồn sức mạnh vô địch, do vậy Hồ Chí Minh đã thường xuyên nhắc nhở bộ đội: “Đoàn kết là sức mạnh nhất của ta Phải đoàn kết nội bộ,
giữa cán bộ và chiến sĩ” [50, tr.489] Phân tích sâu sắc giá trị đạo đức của đoàn kết trong quân đội, Người nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ: “Các chú cần phải đoàn kết hơn
nữa, đoàn kết chặt chẽ giữa chiến sĩ với nhau, giữa cán bộ với nhau, giữa chiến sĩ và cán bộ, giữa quân và dân Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi Nói tóm lại: Giữ vững và phát triển đạo đức cách mạng của Quân đội nhân dân” [49, tr.117]
Tình thương yêu đồng chí, đồng đội của người cán bộ quân đội theo Hồ Chí Minh, là tình cảm rộng lớn Được thể hiện trong mối quan hệ đồng chí, đồng đội; ở tình cảm của người cán bộ quân đội dành cho nhân dân; thể hiện với mọi người xung quanh Tình cảm đó còn mở rộng tới cả những người từng có sai lầm khuyết điểm nhưng đã nhận rõ khuyết điểm sai lầm và cố gắng sửa chữa và đặc biệt là cả đối với những người lầm đường lạc lối đã hối cải, những kẻ thù đã bị thương, bị bắt hoặc đã chịu quy hàng Người căn dặn: " Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải
Trang 3023
giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới "[55, tr.672]
Hồ Chí Minh còn ân cần căn dặn: "Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không
có quần chúng, thì không làm gì được Bởi vậy cần phải thương yêu đội viên Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên Bộ đội chưa có ăn, cán bộ không được kêu mình đói Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng"[47, tr.76]
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn luôn theo sát, nắm vững và căn dặn riêng từng
đối tượng cán bộ, mà trước hết là những cán bộ quân - chính: "Người đội trưởng,
người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành"[46, tr.458]
Đối với người cán bộ chính trị, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc”, do vậy người cán bộ chính trị phải thực sự là trung tâm đoàn kết, “linh hồn” của đơn vị, phải luôn làm kiểu mẫu về mọi mặt cho quần chúng noi theo, dìu dắt quần chúng tiến bộ, trưởng thành Chính vì vậy Người đặt
ra những yêu cầu rất cao đối với người cán bộ chính trị Người căn dặn: " Tư cách
của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt” "Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc" "Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn Chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội, Phải làm sao cho bộ đội được dân tin, dân phục, dân yêu” "[45, tr.484] Cả với người tướng, cũng nhận được ở Người những lời chỉ dẫn quý báu trong quan hệ với
bộ đội là "thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ” [45, tr.594]
Trang 3124
Tính chất khắc nghiệt của môi trường hoạt động quân sự luôn đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải đoàn kết, yêu thương nhau như ruột thịt Chỉ có như vậy, trước những khó khăn, thử thách khắc nghiệt của nhiệm vụ chiến đấu, bộ đội mới có đủ sức mạnh để vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao
1.2.4 Tinh thần quốc tế trong sáng
Tinh thần quốc tế trong sáng là yêu cầu phẩm chất đạo đức nhằm vào mối quan hệ rộng lớn, là sự mở rộng quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Hồ Chí Minh ra phạm vi toàn nhân loại, vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia, dân tộc, thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản: “bốn phương vô sản đều là anh em” Sự đoàn kết
ấy là nhằm thực hiện những mục tiêu lớn của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; là hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc Chủ nghĩa quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng Theo Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều đóng góp vào thắng lợi chung của phong trào cách mạng thế giới
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chú ý giáo dục, hướng dẫn nhân dân, nhất là cán bộ, chiến sỹ quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế nặng nề và vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng Những tư tưởng sâu sắc về tinh thần quốc tế vô sản vô
tư, trong sáng của Người đã trở thành giá trị, chuẩn mực đạo đức cách mạng để cán
bộ, chiến sỹ trong quân đội luôn ghi nhớ thực hiện Theo Hồ Chí Minh: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình” [48, tr.105] Lời căn dặn đó của Người là
tư tưởng sâu sắc có giá trị đạo đức mẫu mực trở thành phương châm hành động của mỗi người cách mạng Người còn luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sỹ quân đội phải luôn biết ơn sự giúp đỡ quốc tế lớn lao của nhân dân, chính phủ và quân đội các nước anh em đã cùng sát cánh chiến đấu với quân đội ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tinh thần quốc tế vô sản cao cả, nhiều cán bộ, chiến sỹ tình nguyện Việt
Trang 3225
Nam đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, vượt mọi khó khăn, tham gia chiến đấu công tác nhiều năm liền trên các chiến trường Lào và Campuchia, viết nên những trang sử truyền thống sáng ngời về đạo đức cách mạng của người cán bộ, chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam: “Quân đội ta có tinh thần yêu nước chân chính, lại có tinh thần quốc tế cao cả” Trong đó, đội ngũ cán bộ quân đội là những người luôn đi tiên phong trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao đẹp đó
Hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần quốc tế vô sản cao cả trong sáng thuỷ chung vẫn là phương châm, phương hướng trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là trong điều kiện hiện nay khi chúng ta đã và đang thực hiện chủ trương của Đảng về đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, với tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tinh thần yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế vô sản cao cả, giúp bạn là tự giúp mình là phẩm chất đạo đức, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta
1.2.5 Mưu trí, dũng cảm; kỷ luật tự giác, nghiêm minh
Trải qua thực tiễn chiến đấu và xây dựng, biết bao thế hệ CBCS của quân đội
ta đã dũng cảm chiến đấu hy sinh quên mình, tu dưỡng rèn luyện hoàn thiện nhân cách quân nhân theo chuẩn mực đạo đức của người quân nhân cách mạng mà Hồ Chí Minh nhiều lần biểu dương khen ngợi Hồ Chí Minh là người am hiểu những quan điểm, tư tưởng cơ bản của đạo đức Nho giáo, từ đó Người đã vận dụng một cách linh hoạt vào xây dựng những bảng giá trị đạo đức cách mạng phù hợp với từng đối tượng, trong đó có quân đội ta
Trí - dũng là những phẩm chất quan trọng, đặc biệt cần thiết với người quân nhân cách mạng, mà trước hết là người cán bộ chỉ huy quân sự; đảm bảo họ có đủ bình tĩnh, sáng suốt, quyết đoàn, xử lý kịp thời, chính xác các tình huống, nhất là ngoài mặt trận để dành được thắng lợi Chính vì vậy Người luôn yêu cầu cán bộ quân đội phải rèn luyện toàn diện các phẩm chất đạo đức trong nhân cách người cán
bộ quân đội, đó là: Trí - Tín - Nhân - Dũng - Liêm - Trung Người dạy: “Một cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng Quân sự giỏi, song nếu không có đạo đức cách
Trang 33Trí: là trí tuệ, người cán bộ không ngừng trau dồi tri thức, nâng cao trí tuệ
mới hoàn thành nhiệm vụ Người cán bộ phải có giác ngộ chính trị hơn quần chúng
Hồ Chí Minh giải thích tài năng trước hết phải có “trí” là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng, biết địch biết mình, biết người tốt thì nâng
đỡ, biết người xấu thì không dùng, biết cải tốt của mình mà phát triển lên, biết cái xấu của mình để mà tránh Người có trí phải có óc sáng tạo, ham học, ham tiến bộ Theo Người, đối với người cán bộ quân đội trong bất luận hoàn cảnh nào cũng cần
có mưu trí, đây là một phẩm chất của người cán bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, xử lý các tình huống, giành chiến thắng v.v , nếu không có mưu trí, sáng tạo, người cán bộ quân đội sẽ thụ động và thất bại trước các tình huống, các nhiệm vụ
Dũng: là phải có lòng dũng cảm trong mọi việc Vì đại nghĩa sẵn sàng chấp
nhận hy sinh không quan ngại, phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều; là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh Phải có kế hoạch, phải kiên quyết làm ngay, dù hiểm nguy cũng không lùi bước Nhân dịp kỷ niệm 3 năm ngày thành lập quân đội, Hồ Chí Minh đã có thư khen và yêu cầu: "Vệ quốc quân, dân quân du kích phải luôn luôn phát triển cái kỷ luật nghiêm như sắt, cái tinh thần vững như đồng, cái chí khí quật cường tất thắng, cái đạo đức: Trí, dũng, liêm, trung của Giải phóng quân"[45, tr.371] Tinh thần chiến đấu hy sinh quên mình của CB,CS quân đội ta là yếu tố làm nên biết bao kỳ tích của một quân đội nhân dân “bách chiến, bách thắng” Bác đã từng khen ngợi quân đội ta “vì tướng sĩ ta dũng cảm Tuy khí giới ta còn kém, kinh nghiệm ta còn ít, nhưng lòng kiên quyết, chí hy sinh của tướng sĩ ta đã lập những chiến công oanh liệt, vẻ vang có thể nói là kinh trời động đất" [45, tr.179] Đối với
Trang 34Kỷ luật quân sự đòi hỏi người quân nhân tính tập trung, chính xác, tinh thần chấp hành triệt để vô điều kiện, tự chủ, kịp thời, nhanh chóng thực hiện tốt nhất mệnh lệnh, chỉ thị của người chỉ huy Khi nói về ý nghĩa của kỷ luật với tư cách là một phương tiện quan trọng nhằm nâng cao năng lực chiến đấu của quân đội, V.I.Lênin viết: “Nếu suy nghĩ đến cùng, do nguyên nhân sâu xa mà có được cái kỳ tích lịch sử là một nước suy yếu, bị kiệt quệ và lạc hậu lại chiến thắng được những nước hùng cường nhất thế giới, thì chúng ta thấy nguyên nhân đó là chế độ tập trung, kỷ luật và tinh thần hy sinh chưa từng có” [98, tr.279]
Kế thừa một cách khoa học, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, trong quá trình giáo dục, rèn luyện Quân đội ta, Hồ Chí Minh luôn dày công chăm lo, rèn luyện và giáo dục quân nhân trong mọi lĩnh vực, nhất là tính kỷ luật Bác chỉ rõ: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua” [50, tr.537] hay “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm Vì vậy, kỷ luật phải nghiêm minh” [47, tr.483] Trong nội dung xây dựng kỷ luật quân đội, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ phải chăm lo xây dựng kỷ luật tự giác, nghiêm minh Kỷ luật ấy phải xuất phát từ tính tự giác, tự nguyện của từng cá nhân
và của cả tập thể Song Bác, cũng chỉ rõ những yêu cầu: “Triệt để thi hành mệnh lệnh cấp trên”; "Quân lệnh như sơn", nghĩa là lệnh cấp trên đã ra thì vô luận thế nào
cũng phải làm Không nên hiểu lầm dân chủ Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi Nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện Phải cấm chỉ những hành động tự do quá trớn ấy” [46, tr.457]
Trang 3528
Đối với Hồ Chí Minh, để có kỷ luật tốt, trước tiên phải nâng cao trình độ tri thức về mọi phương diện cho cán bộ, chiến sĩ Trong một lá thư gửi bộ đội, Bác dạy: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn Võ như tay phải, văn như tay trái của quân nhân Muốn biết thì phải thi đua học…” [46, tr.61]
Trong công tác giáo dục kỷ luật quân sự, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho sĩ quan, đặc biệt là cán bộ chủ trì đơn vị Nói chuyện với đại biểu quân đội nhân dịp Tết Đinh Dậu, Bác nhắc nhở: “Trong quân đội cách mạng, cán bộ gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”
Về phương pháp thực hành kỷ luật, Bác nhấn mạnh việc dùng vũ khí phê bình và tự phê bình trong việc quản lý và duy trì chấp hành kỷ luật Bác dạy:
“Người cán bộ muốn tốt thì phải có đạo đức cách mạng, phải biết phê bình và tự phê bình, phải biết kỷ luật” Phương pháp nêu gương được Bác coi là biện pháp hữu hiệu để hướng dẫn các hành vi về đạo đức và ý thức tổ chức kỷ luật cao Trước hết
là sự gương mẫu về hành vi kỷ luật của cán bộ, sĩ quan Theo Bác: “Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện tập lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm gương”
Để duy trì kỷ luật, thưởng và phạt là quan trọng và cần thiết nhằm động viên trong mọi người giữ nghiêm kỷ luật Trong Quốc lệnh tháng 1-1946, Bác yêu cầu:
“Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì không giữ vững kỷ luật Thưởng phạt nghiêm minh là cần thiết”
Một phương pháp quản lý và thực hành kỷ luật có hiệu quả nhất theo lời dạy của Bác, là từng người phải tự giác chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật nghiêm của quân đội, mệnh lệnh chỉ thị của người chỉ huy Bác nhắc nhở cán bộ:
“Phải khiêm tốn, nghiêm chỉnh Phải giữ gìn tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng… Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm ngày càng nhiều… Mình phải tự đấu tranh với mình”
Trang 3629
Những tư tưởng của Người về xây dựng quân đội nói chung và tư tưởng về
kỷ luật quân sự nói riêng luôn là kim chỉ nam cho quá trình nhận thức và thực hiện các nhiệm vụ của quân đội ta trong suốt chặng đường 70 năm qua
Tóm lại, Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng xây dựng nền đạo đức cách
mạng Việt Nam Sinh thời, Người thường xuyên chăm lo giáo dục, rèn luyện, xây dựng quân đội ta về mọi mặt, xứng đáng là một Quân đội nhân dân Anh hùng, tuyệt đối trung thành với Đảng, nguyện chiến đấu hy sinh quên mình vì độc lập tự do của
Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân Người luôn có những chỉ dẫn quý báu, chăm
lo xây dựng, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của người quân nhân cách mạng có
đủ cả đức và tài, trong đó đức phải là "gốc" Những yêu cầu của Người về giáo dục, rèn luyện đạo đức của người quân nhân cách mạng, từ lâu đã trở thành hệ thống chuẩn mực đạo đức quân nhân của quân đội ta Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ kế tiếp nhau trong quân đội lấy đó tu dưỡng, rèn luyện, đối chiếu bản thân, kịp thời phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, tự hoàn thiện mình đáp ứng với yêu cầu mới, ngày càng cao của Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức và giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội
1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức
Việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng Tư tưởng về đạo đức của Người đã đề cập một cách toàn diện, phạm vi bao quát rất rộng, với nhiều đối tượng khác nhau: Công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức học sinh, sinh viên trong
đó, Người đặc biệt quan tâm đến đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên Người chỉ rõ: Cán bộ, đảng viên chính là “những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng
không thể thực hiện được” Điều mà Người đặc biệt nhấn mạnh đó là “vai trò của
đạo đức đối với người cán bộ, đảng viên”
Điều đó được thể hiện: Đạo đức của người cán bộ là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới uy tín, thanh danh của Đảng, có sức cảm hóa, thuyết phục, tập hợp,
Trang 3730
phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân nhằm thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng Người cho rằng, người cán bộ phải có đạo đức cách mạng vì cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” Đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn xã hội, đội ngũ cán bộ thường
là những người có trọng trách trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nếu không thường xuyên chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức thì rất dễ dẫn tới nguy cơ quan liêu, xa rời quần chúng, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng tới uy tín, thanh danh của Đảng, gây tổn hại đến lòng tin của nhân dân đối với chế độ ta Song Người cũng chỉ rõ đảng viên, cán bộ cũng là người; nhưng
đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì nước, vì dân, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt, sửa bỏ những tính xấu Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó, còn tính xấu của một cán bộ có hại đến Đảng đến nhân dân Chính vì lẽ đó, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người
đã dầy công giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên về đạo đức Trong bản Di chúc
để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, trước hết Người nói về Đảng, vấn đề đạo đức được đặc biệt nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên
và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh
đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" [55, tr.611,612]
Thực tiễn cuộc sống đã khẳng định, nhân dân tin theo Đảng, trước hết tin vào
tư cách, đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước mặt
quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ Cộng sản mà ta được họ yêu mến
Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” [46, tr.16] Bên cạnh đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đạo đức là cái “gốc” của người cách mạng, là cơ sở, điều kiện cơ bản để người cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng vẻ vang của mình Người ví, đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối Người khẳng định: “Cũng như sông thì
Trang 3831
có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi
mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [45, tr.292]
Theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp vẻ vang, nhưng cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài, gian khổ Đối với người cán bộ cách mạng cần phải có đức cách mạng mới kiên định, vững vàng trong mọi hoàn cảnh, lúc gian khổ, khó khăn, thất bại cũng không sờn lòng, khi thuận lợi thành công cũng không kiêu căng, tự mãn Người còn chỉ rõ: “làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi xa được Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành
được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [51, tr.601]
Đạo đức cách mạng là yếu tố quyết định sự vững vàng, kiên định, nghị lực giúp vượt qua mọi khó khăn, thách thức để xây dựng thành công CNXH, Hồ Chí Minh thường nhắc đội ngũ cán bộ muốn xây dựng CNXH phải có con người thấm nhuần đạo đức XHCN Đó là con người phát triển toàn diện cả phẩm chất và năng lực, cả đạo đức và tài năng Bởi lẽ trên thực tế, một người cán bộ đảng viên có đạo đức, có tâm huyết với sự nghiệp cách mạng thì nhất định họ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện để có được kiến thức, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, còn người cán bộ có tài năng mà không có đạo đức thì tài năng đó cũng không được trọng dụng, có thể mai một Coi trọng đạo đức nhưng Người không bao giờ xem nhẹ tài năng; đây là một thể thống nhất trong nhân cách của người cán bộ, đảng viên Chính vì vậy trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hết sức coi trọng cả đức và tài của đội ngũ cán bộ Người khẳng định: “Có tài phải có đức Có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai” [50, tr.345]
Đội ngũ cán bộ quân đội là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ của Đảng và nhà nước Do vậy vai trò của đạo đức cũng tác động, ảnh hưởng tới đội ngũ cán bộ
Trang 3932
quân đội, như đối với toàn bộ đội ngũ cán bộ nói chung, và được thể hiện tiêu biểu
ở một số điểm sau:
Thứ nhất, đạo đức của người cán bộ quân đội là phẩm chất nền tảng trong
nhân cách của người quân nhân cách mạng Đạo đức của người cán bộ quân đội
góp phần tạo nên bản lĩnh của người cán bộ quân đội; hoàn thiện nhân cách người
quân nhân cách mạng kiểu mẫu, suốt đời phấn đấu hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đấu tranh cho độc lập dân tộc và CNXH Sự giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội chuyển thành ý thức và hành vi đạo đức tạo nên sự thống nhất giữa các phẩm chất trong nhân cách là cơ sở tạo nên sức mạnh tinh thần vô địch của quân đội ta Kết quả điều tra xã hội học đối với cán bộ có 60% tổng số ý kiến được hỏi cho rằng,
đạo đức Hồ Chí Minh góp phần tạo nên bản lĩnh của người cán bộ quân đội
Thứ hai, đạo đức của người cán bộ quân đội ta với hệ thống các nguyên tắc,
quy tắc, giá trị, chuẩn mực đạo đức đặc trưng của nó luôn giữ vai trò to lớn trong điều chỉnh và định hướng ý thức và hành vi đạo đức của mỗi tập thể, quân nhân, tạo
cơ sở thúc đẩy tính tích cực phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao của mỗi tập thể, cá nhân đó Đạo đức là một trong hai phương thức cơ bản có chức năng điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức của con người bằng công cụ đặc trưng là dư luận xã hội, tập thể quân nhân và xuất phát từ lương tâm, sự tự nguyện, tự giác của mỗi quân nhân truớc yêu cầu của xã hội, quân đội Mỗi cán bộ quân đội ý thức sâu sắc về nghĩa vụ và quyền lợi của mình, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên, trước lợi ích của bản thân để giải quyết Kết quả điều tra xã hội học đối với cán bộ quân đội có 78% tổng số ý kiến được hỏi cho rằng, đạo đức Hồ Chí Minh có ý nghĩa chỉ đạo, định hướng suy nghĩ và hành động
Thứ ba, đạo đức của người cán bộ quân đội có vai trò to lớn tham gia vào
nâng cao nhận thức đúng đắn các giá trị đạo đức cơ bản của quân đội ta, tạo nên tính tích cực, sức bền vững của nhân tố tinh thần thúc đẩy tính tích cực hoạt động của quân nhân trong các hoàn cảnh chiến đấu, công tác có nhiều khó khăn, thách thức Thông qua giáo dục, mỗi cán bộ quân đội hiểu được sâu sắc nội dung, ý
Trang 4033
nghĩa, giá trị đạo đức của các công việc mà quân đội, người chiến sĩ cách mạng cần thực hiện; hiểu được nội dung giá trị đạo đức cũng như cách thức, biện pháp cần thực hiện mang lại hiệu quả Kết quả điều tra xã hội học đối với cán bộ quân đội có 56% tổng số ý kiến được hỏi cho rằng, đạo đức Hồ Chí Minh thúc đẩy quá trình tự
tu dưỡng để hoàn thiện nhân cách người cán bộ quân đội
Thứ tư, đạo đức của người cán bộ quân đội còn trực tiếp góp phần giải quyết
đúng đắn các mối quan hệ xã hội phong phú theo các tiêu chí, chuẩn mực đạo đức
của người cán bộ quân đội đã được tích lũy trong học tập, nghiên cứu, tu dưỡng,
rèn luyện và trải nghiệm thực tiễn chiến đấu, công tác, lao động sản xuất phong phú Qua đó, làm cho những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người quân nhân trở thành nếp sống, định hướng hoạt động tự giác của mỗi quân nhân, của các đơn vị trong toàn quân được duy trì thành nền nếp
Thứ năm, hoạt động của người cán bộ quân sự là hoạt động có tính nêu gương
rất cao Nghĩa là, mọi hành vi đạo đức của người cán bộ quân sự, đều có ảnh hưởng tới phẩm chất của các chiến sĩ và tình hình đạo đức của đơn vị Đặc điểm hoạt động
đó, đòi hỏi người cán bộ quân đội phải luôn luôn mẫu mực trong lời nói và việc làm Chỉ có mẫu mực về đạo đức, thì mới có uy tín cao trong đơn vị Hơn nữa, có
uy tín cao trong đơn vị lại là một đòi hỏi khách quan, đối với người cán bộ ở mọi cấp Người cán bộ quân đội nếu gây ra sự nghi ngờ về tư cách đạo đức, thì dù có kiến thức chính trị và quân sự cao bao nhiêu, tài năng tổ chức xuất sắc bao nhiêu, cũng khó hoàn thành được nhiệm vụ Trong thư gửi Hội nghị Chính trị viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt” [45, tr.484] Kết quả điều tra xã hội học đối với cán bộ quân đội có 80% tổng số ý kiến được hỏi cho rằng, đạo đức
Hồ Chí Minh tạo nên uy tín của người cán bộ quân đội
1.3.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức
Theo từ điển Tiếng Việt năm 1992: "Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó,