Tăng trưởng kinh tế :Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế
Trang 1Đánh giá chất lượng tăng trưởng Việt Nam
I Bền vững tốc độ
Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế :Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP
hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế
Tăng trưởng kinh tế bền vững là khái niệm hiện đại để xác định mục tiêu và
các nhân tố tốt cho một nền kinh tế nhờ tăng trưởng bền vững Theo đó, tăng trưởng không chỉ hiểu đơn thuần là tăng thu nhập bình quân đầu người, mà phải gắn với phát triển bền vững, chú trọng tới cả ba nhân tố: kinh tế, xã hội và môi trường Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, tăng thu nhập cần phải gắn với tăng chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và xóa đói nghèo Tăng trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ quá cao mà chỉ cần cao ở mức hợp lý nhưng bền vững
Đánh giá tăng trưởng ở việt nam về tốc độ và bền vững
1 Đánh giá tổng quát
Giai đoạn 2001-2006
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1999 ở Đông Á đã ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trong khu vực này không riêng quốc gia nào trong khu vực , Việt Nam cũng chịu phải ảnh hưởng của đợt khủng hoảng đó, năm 2000-2001 chính phủ việt nam đã tung ra những gói trợ cứu nhằm ổn định tình hình kinh tế thời bấy giờ , phần nào đó đã xoa dịu đi những ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế , tuy nhiên những dư âm của nó và những thiếu xót trong chính sách bắt đầu phát huy tác dụng ngược gây ra nhiều bất lợi cho nền kinh tế sau này
Năm 2001 đánh dấu thế kỉ mới của nhân loại , thế kỉ 21 Thời đại mới cho nền kinh tế việt nam , từ năm 2001 – 2006 vẫn còn dư âm của đợt khủng hoảng nền kinh tế việt nam vẫn còn trong trạng thái gò bó tốc độ phát triển có tăng lên rõ nét thống kê số liệu cho thấy tốc độ tăng trưởng việt nam năm 2001 đạt 6.89% tăng đều nhưng chậm đến năm 2005 cột mốc cho thấy những chuyển biến tích cực của việc gia nhập WTO năm 2005 tăng trưởng kinh tế đạt 8.4% đây là mức
Trang 2tăng trưởng cao nhất trong vòng 9 năm qua kể từ năm 1997 , so với Đông Á thì tốc độ tăng trưởng của Việt Nam đứng thứ 2 chỉ sau Trung Quốc , tuy nhiên cái giá trị của nó lại thấp hơn rất nhiều , điều đó cho thấy có sự tích cực nhưng vẫn phần nào đó ảm đạm của nền kinh tế
Nhìn chung trong giai đoạn này khái niệm tăng trưởng bền vững vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ nên các chính sách phát triển vẫn còn sơ khai Nhưng nền kinh tế phát triển đã phần nào đó ổn định bền vững
Giai đoạn 2007- đến nay
Kể từ khi chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO nền kinh tế việt nam bắt đầu suy giảm do sự mở rộng thị trường , đặt ra vấn đề cạnh tranh mạnh mẽ của việt nam trên thị trường quốc tế có phần nào đó yếu thế
vì chất lượng sản phẩm của chúng ta không đạt yêu cầu và thiếu sự đa dạng , năm 2008 lạm phát kỉ lục 23% cao nhất trong 20 năm đây là một con số báo động cho sự suy giảm của nền kinh tế , thị trường xuất khẩu dần bị thu hẹp , dòng vốn chảy vào việt nam hạn chế do tính chất nghiêm trọng của đợt suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 cộng thêm những chính sách sai lầm của đợt khủng hoảng năm 1999 bắt đầu lộ ra những điểm yếu sơ hở của nền kinh tế Việt Nam
Năm 2009 lạm phát bắt đầu bùng nổ trở lại kinh tế suy thoái nhanh chóng , sự tụt dốc của thị trường xuất khẩu , thị trường chứng khoán …
Năm 2010 có sự phục hồi trở lại của nền kinh tế bằng những chính sách kích thích điều tiết kinh tế của chính phủ , năm 2010 đánh dấu bước đầu của sự phát triển rõ nét nền kinh tế Việt Nam , các dòng vốn đầu vư FDI ODA bắt đầu chảy vào mạnh mẽ , nền kinh tế bắt đầu nhộn nhịp tăng lên , tốc độ tăng trưởng năm này đạt 6.5% tuy có thấp hơn so với những năm trước nhưng giá trị chất lượng của nó đã tăng lên
Vấn đề đặt ra trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng Việt Nam đi đôi với vấn đề cạnh tranh thị trường quốc tế
2 Sự bền vững của kinh tế việt nam
Sự tăng trưởng bền vững về kinh tế được xây dựng trên cơ sở tạo lập và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô Kinh nghiệm quốc tế do nhiều nghiên cứu thực
Trang 3hiện đã chỉ ra rằng, nhiều quốc gia cho dù sớm gia nhập danh sách các nước có thu nhập trung bình,song mắc vào“bẫy thu nhập trung bình” thậm chí ở nấc thấp do không duy trì được tăng trưởng bền vững bởi những bất ổn vĩ mô Tăng trưởng kinh tế kiểu “giật cục” (cónhững năm tăng cao song có những năm lại bị sụt giảm mạnh về tăng trưởng) do môi trường vĩ mô không ổn định là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho những nước này bị mắc trong bẫy thu nhập trung bình ở mức thấp Đây là vấn đề nổi cộm nhất của Việt Nam
Về ngân sách nhà nước, trong nhiều năm qua Việt Nam luôn trong tình trạng thâm hụt do nhu cầu tăng đầu tư phát triển Mức thâm hụt đã tăng từ 22 nghìn tỉ đồng năm 2000 lên 40,7 nghìn tỉ đồng vào năm 2005, và 113,1 nghìn tỉ đồng vào năm 2010 Xét theo tỉ lệ so với GDP, mức thâm hụt ngân sách nhà nước hầu như đều đáp ứng được quy tắc vàng, tức là không vượt quá 5% Trong suốt giai đoạn 2000-2006, mức thâm hụt ngân sách nhà nước đều ở khá sát, song không vượt mức 5% so với GDP (theo giá hiện hành) Chỉ từ năm 2007 trở đi , mức thâm hụt ngân sách biến động nhiều hơn.Thậm chí trong năm 2009 và
2010, mức thâm hụt ngân sách so với GDP lần lượt là 6,9% và 5,6% Cũng do tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài, Việt Nam cũng buộc phải vay nợ nhiều hơn Chỉ riêng nợ nước ngoài đã đạt tới 29 tỉ USD vào năm 2010, tăng đáng kể
so với mức 9,4 tỉ USD vào năm 2002 Tỉ lệ nợ công so với GDP cũng tăng nhanh, đạt tới 51,6% vào năm2010
Đối với cán cân vãng lai, nhập siêu hàng hóa của Việt Nam có xu hướng tăng liên tục cho đến năm 2008 Đây cũng là nguyên nhân chính khiến cán cân vãng lai liên tục chịu thâm hụt, thậm chí mức thâm hụt tăng nhanh trong một
số năm Nhập siêu hàng hóa mới chỉ ở mức 1,2 tỉ USD vào năm 2001, song
đã tăng mạnh và đạt gần 5,1 tỉ USD vào năm 2006 Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhập siêu hàng hóa còn tăng nhanh hơn, lần lượt đạt tới 14,2 tỉ USD và
18 tỉ USD trong các năm 2007 và 2008 Trong những năm sau đó, cùng với tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và các chính sách kiềm chế nhập siêu,
Trang 4nhập siêu giảm xuống còn 12,9 tỉ USD vào năm 2009 và 12,4 tỉ USD năm
2010 Tốc độ tăng nhập siêu bình quân ở mức gần 30,0%/năm trong giai đoạn 2000-2006, đã tăng tới 88,7%/năm trong các năm 2006-2008, sau đó giảm khoảng 17,1%/năm trong giai đoạn 2008-2010 Diễn biến tăng nhập siêu - đặc biệt là trong thời kỳ hậu WTO - chủ yếu là do mất cân đối nghiêm trọng giữa đầu tư và tiết kiệm trong nước
Như vậy, cho dù có sự nhìn nhận nghiêm túc hơn đối với ổn định kinh tế
vĩ mô trong những năm gần đây, song mục tiêu này còn chưa được đánh giá đúng mức Trong nhiều trường hợp, mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô vẫn xếp sau mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế cao và ổn định Ngay cả khi xác định
ưu tiên kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, chấp nhận mức tăng trưởng thấp hơn, thì Chính phủ vẫn chưa xác định được mức giảm tăng trưởng đến đâu là chấp nhận được, docòn nhiều hệ lụy về việc làm, phá sản doanh nghiệp, v.v… Trong khi đó, tăng trưởng lại dựa nhiều vào đầu tư, đặc biệt là đầu tư công, nên tăng trưởng cao sẽ gây sức ép đối với thâm hụt NSNN và qua
đó là ổn định kinh tế vĩ mô Chính ở đây, môi trường kinh tế vĩ mô còn tiềm
ẩn rủ iro, ảnh hưởng đến tăng trưởng của nền kinh tế trong dài hạn
Yếu tố thứ hai quyết định đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế là khả năng xử lý các rủi ro vĩ mô khi nó xuất hiện Các nghiên cứu và thảo luận chính sách chỉ ra rằng năng lực xử lý một khi cú sốc vĩ mô xảy ra ở Việt Nam còn nhiều yếu kém Các chính sách ứng phó thường không kịp thời, có tính giật cục, nhiều khi không nhất quán theo thời gian và phối hợp chính sách còn khá hạn chế Một số vấn đề mangtính cơ cấu như sự độc lập của Ngân hàng Trung ương và chuyên môn hóa quá trình hoạch định chính sách tiền tệ cũng được nêu trong một số nghiên cứu như là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu lực của các phản ứng chính sách
Thực tế trong những năm đầu sau khi mới gia nhập WTO, ViệtNam đã gặp phải nhiều rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô chưa từng hiện hữu trước đây Chẳng hạn, giá hàng hóa thế giới tăng cao trong điều kiện nền kinh tế khá mở đối với
Trang 5nhập khẩuvà chưa phát triển được các biện pháp hạn chế nhập khẩu phù hợp với quy định của WTO Một loại rủi ro khác đi kèm với các dòng vốn nước ngoài (cả trực tiếp và gián tiếp) vào ồ ạt, trong khi tỉ giá được neo (thiếu linh hoạt) và khả năng giám sát tài chính còn bất cập Bản thân những áp lực lạm phát dồn tụ từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào đầu tư công và tăng trưởng tín dụng cũng chỉ hiện hữu trong các năm sau 2007 Chính vìvậy ,trong thời gian đầu, các cơ quan hoạch định chính sách dường như gặp lúng túng khi ứng phó với các loại rủi ro này Việc tăng cung ứng tiền đồng để mua lại ngoại tệ
từ các dòng vốn vào trong giai đoạn2007-2008, song không thực hiện hiệu quả các biện pháp trung hòa hóa khiến cung tiền tăng trưởng mạnh chính là hệ quả của sự lúng túngấy
Chính vì sự thiếu thắt chặt nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài , cộng thêm sự thiếu định hướng trong đầu tư bằng ngân sách khiến cho nền kinh tế trở lên rắc rối , vấn
đề nợ xấu nợ công vẫn tiếp tục diễn ra cho tới thời điểm này như một vấn đề quen thuộc của nền kinh tế việt nam , chính vì thế sự bền vững trong tài chính còn là một dấu hỏi lớn đến bao giờ mới giải quyết dứt điểm những vấn đề đó
Nông nghiệp là ngành tạo ra giá trị ổn định nhưng lại thiếu sự đầu tư , quá mải miết vào các ngành công nghiệp dẫn tới sự bão hòa thiếu hiệu quả , năng suất lao động thấp , chất lượng sản phẩm thiếu cạnh tranh
NHẬN XÉT : từ những kết quả phân tích trên cho thấy rằng từ năm 2001 đến nay nền kinh tế việt nam phát triển với tốc độ chậm lại thiếu sự định hướng đột phá cho tương lai , nền kinh tế chưa thật sự ổn định và phát triển bền vững
II Cấu trúc tăng trưởng đầu vào
Trang 6Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sự đóng góp của 3 yếu tố: Sự tăng thêm của vốn đầu tư phát triển; sự tăng thêm của số lượng lao động đang làm việc
và sự tăng lên của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP)
Trong 3 yếu tố trên, TFP có vai trò quan trọng hàng đầu, được nhận diện dưới 4 góc độ:
(1) Nếu tăng vốn, tăng số lượng lao động là có giới hạn, thì tăng TFP là yếu tố gần như vô hạn, vì nó liên quan đến trí tuệ của con người
(2) Nếu tăng vốn, tăng số lượng lãi suất thường có hiệu ứng phụ (bất ổn vĩ mô, lạm phát, công ăn việc làm…), thì tăng TFP gần như không gây hiệu ứng phụ (3) Tăng TFP là yếu tố quan trọng nhất để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ số lượng sang chất lượng, từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, phát triển bền vững
(4) Tăng tỷ trọng đóng góp của TFP sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh, không những chống được nguy cơ tụt hậu xa hơn mà còn góp phần chuyển nền kinh tế lên đẳng cấp mới, vị thế mới trong quan hệ so sánh với quốc tế
Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ, tuy vậy khoảng cách giữa Việt Nam với các nước phát triển vẫn còn khá xa, vì vậy cần có nhiều nỗ lực để thu hẹp khoảng cách này
Trong ba yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế là tốc độ tăng cua vốn, lao động và TFP, vốn có tốc độ tăng cao nhất với tốc độ bình quân giai đoạn 2006-
2010 là 11,67%; giai đoạn 2011-2014 là 7,52% Tốc độ tăng của lao động giai đoạn 2006-2010 là 2,78%; giai đoạn 2010-2014 là 1,97% TFP có tốc độ tăng chậm nhất, giai đoạn 2006-2010 là -0,27% và giai đoạn 2011-2014 là 1,44% Xét về xu hướng đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng kinh tế, giai đoạn 2006-2010, đóng góp của tăng vốn vào tăng trưởng kinh tế là 80%, tăng lao động đóng góp 26%, còn tăng TFP đóng góp -5,8% Tuy nhiên đến giai đoạn 2011-2013 thì đã có sự thay đổi rõ rệt, đóng góp của tăng vốn là 55,6%; đóng góp của tăng lao động là 22,3% và đóng góp của TFP tăng lên đến 22,1% Giai đoạn 2011-2014 đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế là 25,8%
Trang 7Nhìn chung đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế cũng như tốc độ tăng TFP của Việt Nam vẫn còn thấp nhưng Việt Nam là một nước đang phát triển nên tăng cường vốn vẫn đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên để tăng trưởng kinh tế một cách bền vững và gia tăng khả năng bắt kịp các nước phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới thì Việt Nam cần tập trung thúc đẩy năng suất thông qua phát triển khoa học công nghệ, kỹ thuật, chất lượng lao động…
Nhận thức được vai trò quan trọng của TFP, Nhà nước ta đã đề ra mục tiêu về TFP và những chỉ tiêu liên quan
Một số chỉ tiêu về TFP và các chỉ tiêu liên quan (đơn vị tính: %)
1 Tỷ trọng đóng góp của TFP (1) 30-32 và (2)
35
(1) đến 2015, (2) đến 2020
2 Tỷ lệ lao động đang làm việc được
đào tạo
(1) 50 và (2) 70
3 Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ
cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ
cao trong giá trị sản xuất công nghiệp
40
4 Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị 20
5 Tốc độ tăng giá trị giao dịch thị
trường KH-CN
15
6 Cán bộ KH-CN nghiên cứu và phát
triển
11
Trước hết là nền kinh tế nước ta phát triển theo chiều rộng, khi tăng trưởng GDP dựa vào vốn lên tới quá 3/4 còn TFP là chỉ tiêu chất lượng, nhưng chỉ đóng góp 1/4 Dù mục tiêu về đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP của Việt Nam đến
2015 và 2020 không cao (còn thấp xa so với Hàn Quốc), nhưng việc thực hiện không dễ dàng
Việt Nam tuy có lượng lượng lao động đông đảo nhưng vẫn đang tăng nhanh, trong khi đó tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng GDP thấp, chỉ chiếm trên dưới 25% Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp (năm 2013 tính theo giá thực tế
Trang 8đạt 68,4 triệu đồng/người, tương đương với 3.277 USD/người, trong đó, nhóm ngành nông, lâm nghiệp-thủy sản có tỷ trọng lao động đang làm việc lớn nhất lên đến 46,8%, còn thấp hơn, chỉ đạt 26,8 triệu đồng/người, tương đương 1.284 USD/người) Việt Nam tuy thiếu vốn đầu tư do tích lũy nội bộ còn thấp, nhưng
tỷ trọng đóng góp của yếu tố vốn chiếm quá nửa vào tốc độ tăng GDP Hiệu quả đầu tư còn thấp Mặc dù hệ số ICOR của thời kỳ 2011-2013 thấp hơn của thời
kỳ 2006-2010 (5,4 lần so với 6,2 lần), nhưng vẫn còn rất cao so với mức trung bình của các nước tới 2-3 lần
Về tỷ lệ lao động đang làm việc được đào tạo, theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo (bao gồm
cả những người trưởng thành từ thực tế hoặc được đào tạo nhưng chưa có bằng cấp của hệ thống giáo dục-đào tạo theo quy định) rất cao, lên đến 49% năm
2013 và mục tiêu năm 2014 là 52% - gần như chắc chắn sẽ vượt mục tiêu đề ra
Về tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao trong giá trị sản xuất công nghiệp, đây là chỉ tiêu rất quan trọng, phản ánh trình độ khoa học-công nghệ của sản xuất công nghiệp, là ngành động lực và đầu tàu tăng trưởng kinh tế Việt Nam, là tiêu chí thể hiện là nước công nghiệp hay không Đây cũng là chỉ tiêu rất khó xác định, chưa được đưa vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và hiện chưa tính được để đánh giá mục tiêu Tuy nhiên, với mục tiêu chiếm tới 40% toàn ngành công nghiệp thì không phải là thấp và không dễ đạt được
Về tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị với mục tiêu 20%/năm, tức là chưa đến 5 năm đã phải thay đổi toàn bộ thiết bị công nghệ mới, cũng tức là chưa đến 5 năm đã phải khấu hao hết giá trị của số thiết bị công nghệ đã đầu tư trước đây Đây là một chỉ tiêu thường áp dụng đối với các công nghệ công nghiệp phát triển, còn đối với các nước đang phát triển thì đó là chỉ tiêu rất cao
Đối với Việt Nam, do lo ngại giá thành cao, các doanh nghiệp thường kéo dài thời gian khấu hao, nên phải giảm tỷ lệ khấu hao, chỉ bằng một nửa con số trên Tuy nhiên, nếu không tăng tốc độ đổi mới công nghệ thiết bị như mục tiêu đã đề
Trang 9ra, thì trình độ công nghệ-thiết bị ngày càng tụt hậu, sẽ tác động tiêu cực đến khả năng cạnh tranh
Về tốc độ tăng giá trị giao dịch thị trường khoa học-công nghệ, với mục tiêu được đề ra là 15%/năm Đây là chỉ tiêu quan trọng trong điều kiện nền kinh tế nói chung và khoa học-công nghệ nói riêng đã chuyển sang cơ chế thị trường, phải được thị trường đánh giá qua tốc độ tăng giá trị giao dịch thị trường khoa học-công nghệ Tốc độ tăng của chỉ tiêu này cao hơn tốc độ tăng của GDP là cần thiết và đúng hướng, bởi khoa học-công nghệ là động lực của tăng trưởng kinh
tế Tuy nhiên, đây là chỉ tiêu cần được cụ thể hóa bằng chỉ tiêu kế hoạch để cụ thể hóa mục tiêu và cũng chưa được đưa vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia để đánh giá thực hiện
Về số cán bộ khoa học-công nghệ nghiên cứu và phát triển tính trên 1 vạn dân theo mục tiêu là 11 người Đây là yếu tố quan trọng, bởi cán bộ khoa học công nghiệp nghiên cứu và phát triển là lực lượng nòng cốt
III Cấu trúc theo đầu ra.
1 Tiêu dùng cá nhân:
Tiêu dùng tiếp tục là nhân tố cơ bản duy trì tốc độ tăng trưởng
Mặc dù theo đà công nghiệp hóa, tỷ trọng tích luỹ trong tổng cầu (tổng cầu gồm tiêu dùng cuối cùng, tích luỹ tài sản và xuất khẩu) có xu hướng tăng lên nhưng tiêu dùng vẫn luôn luôn là thành phần quan trọng nhất trong tổng cầu vì
nó chiếm tỷ trọng cao nhất; đến nay vẫn hơn 70% GDP trong khi tích lũy chỉ chiếm khoảng 28%
Chính sách mở rộng - thắt chặt cầu liên tiếp được áp dụng luân phiên với quy mô ngày càng lớn từ năm 2006 đến 2012, làm cho tỷ lệ tăng trưởng kinh tế
và lạm phát đều biến động khá mạnh.Tuy nhiên từ năm 2013, đặc biệt năm
2014, điều hành chính sách của Chính phủ đã có bước thay đổi ngoạn mục và khá quyết liệt
Trang 10Dữ liệu về tiêu dùng chứa các tín hiệu hỗn hợp Dựa theo thống kê chính thức, cầu tiêu dùng có dấu hiệu đi lên khỏi trạng thái trì trệ nhất vào năm 2011 Khối lượng hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng năm 2014 tăng 6,3%, còn chi tiêu GDP cho tiêu dùng cuối cùng tăng 6,2%
2 Chi tiêu của chính phủ:
Bảng 2: Thu chi và cân đối ngân sách nhà nước (tỷ đồng)
Năm Tổng thu Tổng thu Tốc độ tăng Tổng chi Tổng chi Tốc độ tăng
(Nguồn : Tổng cục thống kê)
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2014 ước tính đạt 814,1 nghìn tỷ đồng, bằng 104% dự toán năm
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2014 ước tính đạt 968,5 nghìn tỷ đồng, bằng 96,2% dự toán năm
Nhận xét:
3 Chi cho đầu tư:
Đầu tư vừa là nhân tố cung, vừa là nhân tố cầu, và cũng là nhân tố chính tạo ra tốc độ tăng trưởng khá cao của nền kinh tế nước ta trong nhiều năm qua nhờ tỷ lệ đầu tư trên GDP đã tăng lên rất nhanh và liên tục đứng ở mức rất cao Việc phát triển kinh tế thị trường và đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa đã tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn ra làm giàu, đóng góp vào quá trình phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy một khi vốn đầu tư đã trở nên quá dồi dào thì hiệu quả sử dụng vốn sẽ giảm xuống, tất yếu dẫn tới việc phải điều chỉnh lại chiến lược đầu tư