1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐƯỜNG lối CÁCH MẠNG của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM (1)(1)

13 398 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 48,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện quốc sách này Đảng ta đã đề ra những chủ trương, đường lối đối với đất nước với mục tiêu là đến 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa thông

Trang 1

MỞ ĐẦU

Công nghiệp hóa hiện đại hóa là chiến lược dài hạn của Việt Nam

Đảng ta đã đề ra quốc sách: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công CNXH” Để thực hiện quốc sách này Đảng ta đã đề

ra những chủ trương, đường lối đối với đất nước với mục tiêu là đến 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa thông qua việc phát triển giáo dục

và khoa học công nghệ

NỘI DUNG

1 Trong giáo dục và đào tạo

a Đường lối sau đổi mới từ 1986 đến 2011.

- Năm năm đầu sau Đại hội VI (1986 - 1991):

 Hoàn cảnh: Sau 30 năm chiến tranh cực kỳ khốc liệt, đất nước khủng hoảng về kinh tế - xã hội, trường lớp xuống cấp, giáo viên bỏ trường, học sinh bỏ lớp

 Mục tiêu của đường lối giáo dục được Đảng đề ra là: “ Giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách XHCN của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội Sự nghiệp giáo dục nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý kinh tế và xã hội.”

Kết quả: Đến cuối kế hoạch 5 năm (1986 - 1990) tình hình giáo dục đã dần dần ổn định,

trở lại phát triển, trong một chừng mực nhất định, đã bắt nhịp với phát triển kinh tế - xã hội Nhiệm kỳ thứ hai (1991 - 1996) của thời kỳ đổi mới đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình cách mạng Việt Nam - là thời gian chấm dứt cuộc khủng hoảng kinh tế -

xã hội, tạo đà mới cho sự nghiệp giáo dục

- Từ năm 1991 và những năm tiếp theo:

Đại hội VII của Đảng tiếp tục xác định cụ thể hơn “Mục tiêu giáo dục - đào tạo nhằm

nâng cao dân trí và nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có trí thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, có tinh thần yêu nước, yêu CNXH Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện, có năng lực chuyên sâu, có ý thức và có khả năng tụ tạo việc làm trong nền kinh tế nhiều thành phần.”

Trang 2

Hội nghị trung ương Đảng lần 4 đề ra 12 chủ trương chính sách và biện pháp lớn nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Tuy nhiên, giáo dục vẫn còn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém cả về chất lượng và hiện

quả Để khắc phục tình trạng đó, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) đã

nêu lên quan điểm và phương hướng giáo dục với các nội dung chính:

- Phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cả quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục

và đào tạo

- Giáo dục gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước và xu hướng thời đại

- Đa dạng hóa hình thức đào tạo, thực hiện công bằng trong giáo dục, cải tiến chất lượng dạy và học

- Chú trọng giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng HCM

- Củng cố và phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và những vùng khó khăn

Bước sang thế kỷ XXI tình hình thế giới có nhiều biến đổi Khoa học công nghệ

có những bước tiến nhảy vọt Nền kinh tế tri thức ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Toàn cầu hóa kinh tế là một

xu hướng khách quan lôi kéo ngày càng nhiều nước tham gia

Trước tình hình đó, đại hội X đã đưa ra một số nội dung chính cho giáo dục

như sau:

- Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá"

- Chăm lo phát triển giáo dục mầm non

- Củng cố thành tựu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học

- Tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế

- Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục

- Sửa đổi chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; ngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục

Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1-2011):

Đại hội XI của Đảng khẳng định giáo dục theo đường lối đổi mới:

Thứ nhất, sứ mệnh của giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân

Trang 3

lực, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam.

Thứ hai, phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu

Thứ ba, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển

Thứ tư, phương châm phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa

Thứ năm, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học suốt đời

Đảng ta kiên trì đường lối phát triển giáo dục theo triết lý giáo dục Hồ Chí Minh, tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học của nhân dân ta

b Đường lối phát triển giáo dục trong 2011 – 2020

Đổi mới quản lí giáo dục

-Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ và toàn diện -Đẩy mạnh cải cách hành chính, thống nhất đầu mối quản lý và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục

-Bảo đảm dân chủ hóa, thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá người dạy

-Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, xây dựng khung trình độ quốc gia về giáo dục

-Phân loại chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và đại học theo các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia

-Thực hiện quản lý theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục và quy hoạch phát triển nhân lực của từng ngành, địa phương

-Tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục

-Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông

Phát triển đội ngũ cán bộ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục

-Củng cố, hoàn thiện hệ thống đào tạo giáo viên, đổi mới căn bản và toàn diện nội dung

và phương pháp đào tạo

-Đảm bảo từng bước có đủ giáo viên thực hiện giáo dục toàn diện theo chương trình giáo dục mầm non và phổ thông

-Chuẩn hóa trong đào tạo, chú trọng nâng cao đạo đức nghề nghiệp

-Thực hiện các chính sách ưu đãi về vật chất và tinh thần

Trang 4

Đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục:

-Chú trọng nội dung giáo dục đạo đức, pháp luật, thể chất, quốc phòng - an ninh và các giá trị văn hóa truyền thống; giáo dục kỹ năng sống, giáo dục lao động và hướng nghiệp học sinh phổ thông

-Đổi mới chương trình, tài liệu dạy học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học Phát triển các chương trình đào tạo đại học theo hai hướng: nghiên cứu và nghề nghiệp ứng dụng

-Phát triển các chương trình giáo dục thường xuyên, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông

-Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tích cực, tự giác, chủ động Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng

-Thực hiện định kỳ đánh giá quốc gia về chất lượng học tập của học sinh phổ thông

Tăng nguồn lực đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục

-Tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm đối với Nhà nước, người học và xã hội; đảm bảo nguồn lực tài chính cho một số cơ sở giáo dục Việt Nam

-Đảm bảo tỷ lệ chi cho giáo dục trong tổng ngân sách nhà nước từ 20% trở lên Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục được tập trung ưu tiên cho giáo dục phổ cập; giáo dục

ở những vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách xã hội -Đầu tư ngân sách nhà nước có trọng điểm, không bình quân dàn trải cho các cơ sở giáo dục công lập, đầu tư đến đâu đạt chuẩn đến đó

-Có cơ chế, chính sách quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong đầu tư phát triển đào tạo nhân lực, đặc biệt đào tạo nhân lực chất lượng cao và nhân lực thuộc ngành nghề mũi nhọn Quy định trách nhiệm của các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội

-Triển khai các chính sách cụ thể để hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục đại học, dạy nghề và phổ thông ngoài công lập

Tăng cường gắn đào tạo với sử dụng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu xã hội

-Khuyến khích doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước mở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học

Trang 5

-Quy định trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các bộ, ngành, địa phương; giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp

-Gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và sản xuất Nâng cao năng lực của các cơ sở nghiên cứu khoa học

Tăng cường hỗ trợ phát triển giáo dục đối với các vùng khó khăn, dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách xã hội

-Xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm đảm bảo bình đẳng về cơ hội học tập, hỗ trợ

và ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo nhân lực cho vùng khó khăn

-Có chính sách ưu đãi đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn

-Phát triển giáo dục từ xa, giáo dục nghề nghiệp, mở rộng hệ thống dự bị đại học Phát triển hệ thống cơ sở giáo dục

-Tăng đầu tư cho giáo dục đặc biệt;

Phát triển khoa học giáo dục

-Ưu tiên nghiên cứu cơ bản về khoa học giáo dục;

-Phát triển mạng lưới cơ sở nghiên cứu khoa học giáo dục Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục

-Triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về khoa học giáo dục; thực hiện tốt chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng

Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục.

-Tăng chỉ tiêu đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước Khuyến khích và hỗ trợ công dân Việt Nam đi học tập và nghiên cứu ở nước ngoài

-Khuyến khích các cơ sở giáo dục trong nước hợp tác với các cơ sở giáo dục nước ngoài -Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư

ở nước ngoài đầu tư, tài trợ cho giáo dục Xây dựng một số trường đại học, trung tâm nghiên cứu hiện đại

c.Thực trạng của quá trình phát triển giáo dục và đào tạo ở Việt Nam

Thành tựu và nguyên nhân:

- Cơ sở vật chất, kỹ thuật của các trường được nâng cao,

- Mạng lưới giáo dục tương đối ổn định

Trang 6

- Phần lớn học sinh, sinh viên có năng lực tiếp thu nhanh các kiến thức, nhất là khoa học

tự nhiên và công nghệ thông tin

Hạn chế và nguyên nhân:

- Chất lượng, hiệu quả giáo dục tuy có nhiều chuyển biến nhưng nhìn chung còn thấp

- Cơ cấu đào tạo còn chưa hợp lý, mất cân đối về bậc học, ngành nghề, vùng lãnh thổ

- Việc giáo dục đạo đức, chính trị trong trường học chưa được quan tâm đúng mức

- Các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục, đào tạo còn nhiều và vẫn chưa được khắc phục

- Giáo dục vùng sâu, vùng xa tuy phát triển nhưng vẫn còn nhiều khó khăn

- Chi phí học tập còn cao so với thu nhập người dân

- Cơ chế đào tạo, đãi ngộ người làm khoa học, nhân tài còn kém

Chưa có sự đầu tư đúng mức

Giải pháp và kiến nghị:

- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp giảng dạy

- Đào tạo liên thông giữa các bậc học, thực hành linh hoạt, tạo nhiều cơ hội cho người học

- Chú trọng bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài

- Có cơ chế gắn kết, hiệu quả giữa trường đại học với cơ sở nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp

- Hoàn thiện hệ thống đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục

- Thực hiện xã hội hóa giáo dục

- Tăng cường đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là miền núi, vùng đồng bào thiểu số, hải đảo

- Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục

- Tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới

Trang 7

2 Khoa học và công nghệ

a) Khoa học và công nghệ trong những năm đầu tiên.

Khoa học và công nghệ đóng một vai trò quan trọng, là một trong những yếu tố hàng đầu thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia Ở Việt Nam, ngay trong thời

kì kháng chiến, Đảng và nhà nước ta cũng đã rất chú trọng đến phát triển khoa học công nghệ trong nước Qua từng giai đoạn, Đảng ta đã đề ra những chủ trương, đường lối khác nhau:

 Giai đọan 1958-1975:

Trong thời kì này, Đảng và chính phủ ta có quan tâm đến Khoa học kĩ thuật nhưng chưa định rõ đường lối, phương châm, nhiệm vụ cho các hoạt động khoa học kĩ thuật, chưa có sự lãnh đạo, quản lí tập trung, thống nhất đối với công tác khoa học kĩ thuật Để tiến lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam cần phải thực hiện 3 cuộc cách mạng lớn đó là: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng kĩ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa Để thực hiện thành công ba cuộc cách mạng đó, chúng ta phải ra sức phát triển khoa học và kỹ thuật, đưa nhanh các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, đời sống và quốc phòng, mau chóng xây dựng một nền khoa học và kỹ thuật tiên tiến đủ sức tiếp thu được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và tự mình giải quyết được những vấn đề của đất nước

 Giai đoạn 1976-1985:

Trước yêu cầu to lớn và cấp bách về phát triển khoa học và kỹ thuật trong giai đoạn mới, Hội đồng Chính phủ đã quyết định tách khối nghiên cứu ra khỏi Uỷ ban để thành lập Viện Khoa học Việt Nam (Nghị định 118-CP ngày 20/5/1975) nhằm tạo điều kiện tăng cường đồng thời cả hai lĩnh vực nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và quản lý khoa học - kỹ thuật

Theo đó Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 4 đã làm cho các cấp lãnh đạo coi trọng công tác khoa học và kỹ thuật hơn Hệ thống các cơ quan tư vấn và quản lý khoa học và kỹ thuật được hình thành và củng cố, hoạt động đúng chức năng và ngày càng có nền nếp, có hiệu quả Phương thức quản lý khoa học và kỹ thuật có chuyển biến tốt theo hướng vừa tăng cường các công cụ pháp chế và kế hoạch vừa bước đầu sử dụng đòn bẩy kinh tế trong cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật

 Giai đoạn 1986-2000: thông qua nghị quyết của Đảng (đại hội lần VII)

Phát triển đồng bộ khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, hướng vào thực hiện các chức năng cơ bản:

Trang 8

- Xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, cho Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cho các chính sách và kế hoạch lớn

-Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu những thành tựu mới của thế giới Chú trọng các vấn đề thuộc khoa học nhân văn

- Làm đòn xeo phát triển lực lượng sản xuất, từng bước hiện đại hoá đất nước Hướng trọng tâm vào nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

- Cải tạo, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất hiện có, cải tiến, hiện đại hoá công nghệ truyền thống; xây dựng có trọng điểm một số hướng công nghệ hiện đại: điện tử và tin học, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, các dạng năng lượng mới, công nghệ chế biến tiên tiến; hình thành một số ngành công nghiệp và dịch vụ

có trình độ công nghệ cao

- Kết hợp chặt chẽ với giáo dục và đào tạo, không ngừng nâng cao tiềm lực trí tuệ của dân tộc, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến đủ sức giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra

 Giai đoạn 2001-2010: thông qua nghị quyết của Đảng (đại hội lần VIII):

Tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công nghệ thực sự trở

thành động lực phát triển đất nước

Đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực hoạt động khác, thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ so với các nước tiên tiến trong khu vực

Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với các ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp, không gây ô nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động

Phát huy tính sáng tạo, tính dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ

Qua các giai đoạn, Đảng ta đã khẳng định vai trò lớn lao của việc phát triển khoa học công nghệ ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước.Tuy nhiên, Khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội, chưa bám sát yêu cầu phát triển của đất nước, chưa có các công trình, sản phẩm mang tính đột phá Tiềm lực khoa học và công nghệ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, có nguy cơ tụt hậu ngày càng xa với khu vực và thế giới Quá trình đổi mới cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ còn lúng túng và nhiều vướng mắc Thị trường khoa học và công nghệ còn sơ khai, chậm phát triển Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ thiếu trọng tâm, trọng điểm, chưa tạo được hiệu quả nổi bật

b) Khoa học và công nghệ hiện nay:

Hiện nay cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển với những bước tiến nhảy vọt, đưa thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên công nghệ thông tin và kinh tế tri thức Khoa học công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế

Trang 9

-xã hội, Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định khoa học và công nghệ có vai trò đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (1-2011) đã thông qua những Văn kiện quan trọng mang tầm định hướng, chiến lược, vạch ra đường lối, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội…, trong đó có vấn đề khoa học và công nghệ

Đại hội XI của Đảng cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong khoa học, công nghệ:

“Khoa học, công nghệ chưa thực sự trở thành động lực thúc đẩy, chưa gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Thị trường khoa học, công nghệ còn sơ khai, chưa tạo sự gắn kết có hiệu quả giữa nghiên cứu với đào tạo và sản xuất kinh doanh Đầu tư cho khoa học, công nghệ còn thấp, sử dụng chưa hiệu quả Trình độ công nghệ nhìn chung còn lạc hậu, đổi mới chậm.”

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát

triển năm 2011) đã vạch rõ những định hướng lớn về phát triển khoa học, công nghệ

trong thời kỳ mới với những quan điểm cơ bản dưới đây:

“- Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc

độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế

- Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới

- Phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ gắn với phát triển văn hóa và nâng cao dân trí

- Tăng nhanh và sử dụng có hiệu quả tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới

- Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ.”

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020, Đại hội XI của Đảng đã

khẳng định mục tiêu chiến lược phát triển khoa học, công nghệ: “Khoa học và công nghệ

đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đến năm 2020, có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ …đạt trình độ tiên tiến, hiện đại.”

Trang 10

Để thực hiện mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, một trong những khâu

đột phá chiến lược được Đại hội XI của Đảng xác định là: “Gắn kết chặt chẽ phát triển

nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”

Trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ mà phát triển kinh tế tri thức; xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ thông tin, công nghệ tự động, nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, dựa nhiều vào tri thức Phát huy và

sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tri thức trong nước và khai thác tốt nhất tri thức của nhân loại

Ngành Khoa học và Công nghệ, chính quyền các cấp xây dựng và triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ

Đội ngũ các nhà khoa học và toàn xã hội với quyết tâm chính trị cao, kết hợp chặt chẽ hoạt động khoa học, công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức vì mục tiêu cao cả: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

c) Thực trạng của khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay.

(1) Thành tựu

Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của đảng và sự quản lí của nhà nước

khoa học và công nghệ nước ta đã có những bước tiến tích cực Trải qua vài thập

kỉ xây dựng và phát triển, đến nay nước ta đã có một tiềm lực khoa học và công

nghệ đáng kể:

 Năm 2003 lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ tương đối đông đảo với trên 1,

4 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng, 30 nghìn cán bộ có trình độ trên đại học( trong đó có hơn 13 nghìn tiến sĩ ) và khoảng 2 triệu công nhân kĩ thuật

 Chúng ta xây dựng được một mạng lưới với khoảng 1050tổchức khoa học và công nghệ thuộc mọi thành phần kinh tế trong đó có hơn 405 tổ chức ngoài nước [ tạp c

hí công sản -số 29]

 Năm 2004 có 280 đề tài được hoàn thành, các ứng dụng và phát triển công nghệ th ông tin được đẩy nhanh qua các đề án 95, 112,47

 Hệ phần mềm dùng chung và mạng truyền số liệu chuyên dùng

phục vụ các cơ quan Đảng và Chính phủ cũng đang triển khai thí điểm

 Có 115 trung tâm dữ liệu của cán bộ ngành được triển khai xây dựng đồng thời, tiế

p tục xây dựng các khu công nghiệp cao [ thông tin kinh tế

Ngày đăng: 23/04/2016, 19:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w