1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Giáo trình môn học phân tích hoạt động kinh doanh phần 1

76 547 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 810,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Phân tích hoạt động kinh doanh Operating activities analysis là môn nghiên cứu quá trình sản xuất kinh doanh, bằng những phương pháp riêng kết hợp với các lý thuyết kinh tế và

Trang 1

GIÁO TRÌNH

MÔN HỌC: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG NGHỀ

Tháng 8 năm 2014

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải có lãi Nhưng hoạt động kinh doanh luôn luôn có những sự biến đổi do những biến động về tình hình kinh tế chính trị xã hội Muốn kinh doanh có hiệu quả yêu cầu các doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành phân tích các hoạt động phân tích kinh tế

Phân tích kinh tế là một hệ thống liên quan đến nghiên cứu các mối quan hệ phụ thuộc của các hoạt động kinh tế dựa trên các tài liệu nghiên cứu Thông tin kinh tế nhằm đánh giá đúng đắn, khách quan, tìm hiểu việc thực hiện các chỉ tiêu

kế hoạch của Nhà nước cũng như của công ty Vạch rõ xu hướng phát triển và quy luật phát triển của các hiện tượng kinh tế, những khả năng tiềm tàng chưa được sử dụng từ đó đề ra các biện pháp quản lý tốt Thông qua việc phân tích và thường xuyên phân tích hoạt động kinh tế có tác dụng nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, của xã hội, của công ty, thông qua việc phân tích kinh tế thường xuyên có tác dụng ngăn ngừa khuynh hướng cục bộ không lành mạnh, phổ biến những kinh nghiệm tiên tiến, mở rộng sản xuất

Qua tài liệu phân tích giúp các doanh nghiệp thấy được mặt mạnh, mặt yếu của mình mà chỉ đạo sản xuất cũng như quản lí tài chính của xã hội được thực hiện một cách có hiệu quả Chính vì vậy phân tích kinh tế có vai trò hết sức quan trọng trong việc chỉ đạo và lãnh đạo kinh tế

Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh bao gồm 6 chương:

Chương I: Khái quát chung của phân tích hoạt động kinh doanh

Chương II: Phân tích môi trường kinh doanh, thị trường và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

Chương III: Phân tích tình hình sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp Chương IV: Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm

Chương V: Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Chương VI: Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp

Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót, đặc biệt trước quá trình đổi mới và phát triển của đất nước Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn nữa

Yên Bái, tháng 8 năm 2014

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU……….……….2

MỤC LỤC………3

Chương I: KHÁI QUÁT CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 6

1 Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh 6

1.1 Khái niệm ……… 6

1.2 Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh 6

1.3 Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh 8

1.4 Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh 10

1.5 Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh 11

2 Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh 11

2.1 Phương pháp so sánh 11

2.2 Phương pháp liên hệ cân đối……… 14

2.3 Phương pháp phân tích chi tiết 16

2.4 Phương pháp loại trừ……… 16

3 Tổ chức và phân loại phân tích hoạt động kinh doanh 21

3.1 Các loại hình phân tích hoạt động kinh doanh 21

3.2 Tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh 21

Câu hỏi và bài tập chương I ……… 23

Chương II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH, THỊ TRƯỜNG VÀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP……… 26

1 Chức năng và vai trò của doanh nghiệp……… 26

1.1.Khái niệm về doanh nghiệp 26

1.2 Các loại hình doanh nghiệp………… 26

1.3 Chức năng của doanh nghiệp………… 34

1.4 Vai trò của doanh nghiệp……… 35

2 Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp 35

2.1 Phân tích môi trường vi mô 35

2.2 Phân tích môi trường vĩ mô…… 38

3 Phân tích thị trường……….44

3.1 Ý nghĩa của phân tích thị trường………… 44

3.2 Nội dung của phân tích thị trường……… 45

4 Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp……… 48

4.1 Yêu cầu và căn cứ khi xây dựng chiến lược kinh doanh 48

4.2 Nội dung của chiến lược kinh doanh………… 49

5 Lựa chọn và quyết định chiến lược kinh doanh……… 50

5.1.Những nguyên tắc thẩm định và đánh giá chiến lược kinh doanh 50

5.2 Tiêu chuẩn thẩm định và đánh giá chiến lược kinh doanh 50

5.3 Phương pháp lựa chọn quyết định chiến lược kinh doanh 50

Câu hỏi ôn tập chương II 50

Trang 4

Chương III

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT CỦA

DOANH NGHIỆP 52

1 Phân tích tính cân đối của các yếu tố sản xuất………… 52

1.1 Ý nghĩa……… 52

1.2.Nhiệm vụ……… 52

2 Phân tích tình hình sử dụng lao động 53

2.1 Phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động 53

2.2 Phân tích tình hình tăng (giảm) năng suất lao động……… …56

2.3 Phương hướng nâng cao năng suất lao động……….62

3 Phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định……… 62

3.1 Phân tích tình hình trang bị kỹ thuật tài sản cố định……… 63

3.2 Phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định……….…… 66

4 Phân tích tình hình sử dụng nguyên vật liệu 69

4.1 Phân tích hiệu suất sử dụng nguyên vật liệu 69

4.2 Phân tích thường xuyên tình hình cung cấp nguyên vật liệu… ……… 70

4.3 Phân tích định kỳ tình hình cung cấp nguyên vật liệu………….……… 73

Câu hỏi và bài tập chương III ……… …73

Chương IV PHÂN TÍCH CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM 77

1 Ý nghĩa, nội dung phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 77

1.1 Ý nghĩa 77

1.2 Nội dung……… 83

2 Đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của toàn bộ sản phẩm hàng hóa 84

2.1 Đánh giá tình hình biến động giá thành đơn vị 84

2.2 Đánh giá tình hình biến động tổng giá thành 85

3 Phân tích chi phí cho 1000đ sản phẩm hàng hóa……… 85

3.1 Đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch chỉ tiêu chi phí 1000đ giá trị sản phẩm hàng hóa……… 85

3.2 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí tính trên 1000đ giá trị sản phẩm hàng hóa ……… 87

3.3 Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố, rút ra nhận xét và kiến nghị…… 88

4 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hạ thấp giá thành của sản phẩm so sánh được……….90

4.1 Xác định nhiệm vụ hạ giá thành của sản phẩm so sánh được 90

4.2 Xác định tình hình thực tế hạ giá thành của những sản phẩm có thể so sánh được 91

4.3 Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của sản phẩm so sánh được……….92

4.4 Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến mức hạ và tỷ lệ hạ giá thành của sản phẩm so sánh được………93

Trang 5

Câu hỏi và bài tập chương IV ……… ………93

Chương V PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH 96

1 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 96

1.1 Phân tích kết quả khối lượng sản xuất 96

1.2 Phân tích tình hình đảm bảo chất lượng sản phẩm 96

2 Phân tích kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hóa 99

2.1 Nhiệm vụ và ý nghĩa của tiêu thụ sản phẩm hàng hóa 99

2.2 Đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp ……… 100

2.3 Các nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp……… 101

3 Phân tích điểm hòa vốn 102

3.1 Khái niệm về điểm hòa vốn…… 102

3.2 Phương pháp xác định điểm hòa vốn 102

3.3 Đồ thị điểm hòa vốn………104

Câu hỏi và bài tập chương V ………104

Chương VI PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 108

1 Mục tiêu, ý nghĩa và công cụ phân tích báo cáo tài chính……….108

1.1 Khái niệm 108

1.2 Ý nghĩa……… 108

1.3 Nhiệm vụ, nội dung và công cụ phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp 109

2 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp 116

2.1 Đánh giá chung……… 116

2.2 Phân tích cơ cấu tài sản……… 118

2.3 Phân tích cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp………120

3 Phân tích các tỷ số tài chính chủ yếu……… 120

3.1 Các tỷ số kết cấu……… 120

3.2 Các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán 121

3.3 Các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán các khoản phải thu 122

3.4 Các tỷ số phản ánh tốc độ chu chuyển vốn hàng hóa của doanh nghiệp .122

3.5 Các tỷ số phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động kinh doanh………124

3.6 Phân tích khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp……… 125

Câu hỏi và bài tập chương VI 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….……….131

Trang 6

Chương I KHÁI QUÁT CHUNG CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

1 KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, Ý NGHĨA CỦA PHÂN TÍCH HĐKD

1.1 Khái niệm

Phân tích hoạt động kinh doanh (Operating activities analysis) là môn nghiên cứu quá trình sản xuất kinh doanh, bằng những phương pháp riêng kết hợp với các lý thuyết kinh tế và các phương pháp kỹ thuật khác nhằm đến việc phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh và những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, phát hiện những quy luật của các mặt hoạt động trong doanh nghiệp dựa vào các dữ liệu lịch sử, làm cơ sở cho các dự báo và hoạch định doanh nghiệp

Để quản lý doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp không những phải tổ chức hạch toán kinh doanh một cách chính xác mà còn phải tích cực tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh Cùng với kế toán và các khoa học kinh tế khác, phân tích hoạt động kinh là một trong những công cụ đắc lực để quản lý và điều hành có hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp

Tiền thân của phân tích hoạt động kinh doanh là công việc có tính xem xét đơn giản một số chỉ tiêu tổng quát dựa trên dữ liệu của bảng tổng kết tài sản còn gọi là phân tích kế toán hay kế toán nội bộ do sự đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu quản lý, sự mở rộng về quy mô cũng như xu hướng đi vào chiều sâu và chất lượng của các hoạt động doanh nghiệp, phân tích hoạt động kinh doanh với nội dung, đối tượng phạm vi và phương pháp nghiêu cứu riêng biệt, tất yếu trở thành một khoa học độc lập và ngày càng hoàn chỉnh

Phân tích hoạt động kinh doanh hướng đến thị trường không phải nhằm xây dựng những kế hoạch một cách máy móc, cứng nhắc mà là công cụ phục vụ cho những quyết định ngắn hạn và dài hạn, đòi hỏi chủ động, linh hoạt ngay cả đối với các mặt hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp mục tiêu của phân tích hoạt động kinh doanh vì thế tương đồng với các môn học mới xuất hiện chừng vài thập niên trở lại đây – chủ yếu ở các nước phát triển, như: kế toán quản trị – management accounting; phân tích báo cáo tài chính – the analysis of financial statements, quản trị tài chính – financial management

1.2 Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh

Phân tích hoạt động kinh doanh nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh – một hiện tượng kinh tế xã hội đặc biệt Để phân tích tổng hợp đánh giá hiện tượng này phân tích hoạt động kinh doanh hướng tới những kết quả sản xuất kinh doanh

cụ thể

Trang 7

Kết quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp bao gồm kết quả của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh cũng như kết quả của từng khâu, từng giai đoạn, từng hoạt động kinh doanh (cung cấp, sản xuất, tiêu thụ, hoạt động sản xuất kinh doanh chính, hoạt động sản xuất kinh doanh phụ…) Kết quả sản xuất kinh doanh được biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế Các chỉ tiêu kinh tế là sự xác định

về nội dung và phạm vi của kết quả sản xuất kinh doanh Mỗi chỉ tiêu có thể có nhiều giá trị tùy thuộc vào thời gian và địa điểm cụ thể Những giá trị cụ thể này được gọi là trị số của chỉ tiêu Chỉ tiêu kinh tế có nhiều loại như:

- Chỉ tiêu số lượng – Phản ánh quy mô của kết quả hay điều kiện sản xuất kinh doanh

- Chỉ tiêu chất lượng – phản ánh hiệu suất, hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng các yếu tố

Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt được là do sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau Nhân tố có thể là nguyên nhân hay điều kiện ảnh hưởng tới kết quả sản xuất kinh doanh

Nhân tố cũng bao gồm nhiều loại: nhân tố số lượng, nhân tố chất lượng, nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực, nhân tố có thể định lượng được, nhân tố không thể định lượng được, nhân tố thuận, nhân tố nghịch, nhân tố chủ quan (bên trong) phản ánh nỗ lực của bản thân doanh nghiệp, nhân tố khách quan (bên ngoài) Nhân tố chủ quan là những nhân tố phụ thuộc vào trình độ quản lý của doanh nghiệp, đó là:

- Trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất bao gồm các yếu tố cơ bản như lao động, vật tư, máy móc thiết bị và các yếu tố quản lý (quản lý, kế hoạch, tổ chức, giám sát và kiểm tra)

- Trình độ khai thác những nhân tố khách quan

Nhân tố khách quan có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Loại nhân tố này liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội mà doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Các nhân tố này có thể xác định được mức độ ảnh hưởng và định lượng được, nhưng cũng có nhiều nhân tố không thể xác định được cụ thể mức độ ảnh hưởng của chúng, tức là chỉ có thể định tính Các nhân tố khách quan có thể là:

- Vị trí địa lý, kinh tế nơi doanh nghiệp đóng trụ sở sản xuất kinh doanh

- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nơi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh

- Các luật lệ, chế độ, chính sách kinh tế - xã hội nơi doanh nghiệp hoạt động

- Tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng trong lĩnh vực ngành nghề sản xuất

Trang 8

kinh doanh của doanh nghiệp

Doanh nghiệp chỉ có thể nhận thức tác động của các nhân tố khách quan để khai thác, vận dụng chúng sao cho có lợi đối với doanh nghiệp

Sự phân biệt giữa chỉ tiêu kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng trong phân tích kinh tế chỉ có ý nghĩa tương đối và chúng có thể chuyển hóa cho nhau Ví dụ như sản lượng sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ là chỉ tiêu đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, nhưng lại là nhân tố khi phân tích lợi nhuận về tiêu thụ sản phẩm hàng hóa

Như vậy có thể nói đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế là kết quả sản xuất kinh doanh, cụ thể biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế gắn liền với các nhân tố ảnh hưởng

1.3 Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh

a Phân tích hoạt động kinh tế là cơ sở để ra các giải pháp quản lý có căn cứ khoa học

Đứng trên giác độ khoa học, phân tích hoạt động kinh tế là một môn khoa học độc lập, đứng trên góc độ quản lý là một khâu của quá trình quản lý

Một trong những phương hướng quan trọng trong của việc hoàn thiện quản

lý các doanh nghiệp là nâng cao tính có căn cứ của các giải pháp được chấp nhận Bất kỳ một giải pháp nào trong quản lý chỉ có thể được chấp nhận trên cơ sở phân tích thông tin về tình hình đối tượng quản lý Phân tích giúp cho các doanh nghiệp

có thể đi sâu vào quá trình sản xuất, phát hiện và sử dụng những khả năng tiềm tàng, lựa chọn các phương án tối ưu của các giải pháp Như vậy, để quản lý tốt hoạt động sản xuất kinh doanh, để nâng cao tính có căn cứ của các giải pháp quản

lý được chấp nhận cần thiết phải tiến hành thường xuyên và có chất lượng công việc phân tích kinh tế Có thể nói vai trò to lớn trong việc chấp nhận các giải pháp quản lý có căn cứ khoa học thuộc về phân tích kinh tế

Vai trò của phân tích hoạt động kinh tế cũng được nâng cao trong điều kiện

cơ chế thị trường khi mà quyền hạn và trách nhiệm của các doanh nghiệp được mở rộng, tạo điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp lựa chọn các giải pháp quản lý, đảm bảo cho các doanh nghiệp có phương hướng hiệu quả hơn, cụ thể hơn để thực hiện các mục tiêu dự kiến kế hoạch và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

b Qua phân tích hoạt động kinh tế có thể đánh giá tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Để có thể quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, cần thiết phải biết được quá trình sản xuất diễn ra như thế nào và kết quả ra sao Thông qua phân tích hoạt động kinh doanh có thể đánh giá tổng hợp, khách quan tình hình sản xuất kinh

Trang 9

doanh của doanh nghiệp về mặt sản xuất kinh doanh, tài chính Hiện nay các doanh nghiệp thực hiện hạch toán kinh doanh, đây là một quá trình bắt đầu từ việc tìm hiểu nhu cầu thị trường, xây dựng kế hoạch phương án sản xuất kinh doanh, tổ chức phương án sản xuất kinh doanh cho đến việc phân tích và đánh giá kết quả đạt được của phương án sản xuất kinh doanh đã thực hiện Qua phân tích có thể vạch ra mặt mạnh, mặt kém, các nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó có căn cứ đúng đắn cho việc đề ra các biện pháp nhằm cải tiến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

c Phát hiện và khai thác những khả năng tiềm tàng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trong hệ thống quản lý sản xuất kinh doanh, vị trí, vai trò của phân tích hoạt động kinh doanh được xác định như phương pháp phát hiện những khả năng tiềm tàng trong sản xuất và đề ra những biện pháp để sử dụng chúng Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh phần lớn phụ thuộc vào việc phát hiện những khả năng tiềm tàng và thực hiện như thế nào Khả năng tiềm tàng luôn sẵn có trong doanh nghiệp

- Các khả năng tiềm tàng hết sức đa dạng và luôn thay đổi về mức độ bởi vì việc sử dụng khả năng tiềm tàng này sẽ làm xuất hiện những điều kiện để tiếp tục khai thác những khả năng tiềm tàng khác, do đó việc khai thác chúng gần như là vô tận

d Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi

ro

Để kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, đồng thời dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, để vạch ra chiến lược kinh doanh cho phù hợp Ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp như vật tư, tiền vốn…doanh nghiệp còn phải quan tâm phân tích các điều kiện tác động ở bên ngoài như thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh….Trên

cở sở phân tích trên, doanh nghiệp dự đoán các rủi ro có thể xảy ra và có kế hoạch phòng ngừa trước khi xảy ra

Trang 10

1.4 Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh

Đánh giá giữa kết quả thực hiện được so với kế hoạch hoặc so với tình hình thực hiện kỳ trước, các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành hoặc chỉ tiêu bình quân nội ngành và các thông số thị trường Nhiệm vụ trước tiên của phân tích hoạt động kinh doanh là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kết quả đạt được so với mục tiêu

kế hoạch hoặc định mức đã đặt ra để khẳng định tính đúng đắn và khoa học của các chỉ tiêu đã xây dựng trên một số mặt chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh Ngoài quá trình đánh giá trên, phân tích cần xem xét đánh giá tình hình chấp hành các quy định, các thể lệ thanh toán trên cơ sở tôn trọng pháp luật của nhà nước đã ban hành và các thông lệ trong kinh doanh quốc tế Thông qua quá trình kiểm tra đánh giá người ta có cơ sở định hướng để nghiên cứu sâu hơn ở các bước sau, nhằm làm rõ các vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm

Xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm ra nguyên nhân gây

ra các mức độ ảnh hưởng đó Biến động của các chỉ tiêu là do ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố gây nên Do đó phải xác định trị số của các nhân tố và tìm nguyên nhân gây nên biến động của trị số nhân tố đó Ví dụ: Khi nghiên cứu tình hình thực hiện định mức giá thành sản phẩm, ta phải xác định trị số gây nên biến động giá thành Căn cứ vào khoản mục chi phí xác định số của khoản mục nào là chủ yếu; chi phí nguyên vật liệu; chi phí lao động hay chi phí sản xuất chung? Nếu là chi phí nguyên vật liệu thì do lượng nguyên vật liệu hay do giá nguyên vật liệu Nếu là

do lượng nguyên vật liệu tăng lên thì do khâu quản lý? Do thiết bị cũ hay do tình hình định mức chưa hợp lý…?

Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những tồn tại yếu kém của quá trình hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả chung chung, mà cũng không chỉ dừng lại ở chỗ xác định nhân tố và tìm nguyên nhân, mà phải từ cơ sở nhận thức đó phát hiện những tiềm năng cần được khai thác, và những chỗ còn tồn tại yếu kém nhằm đề xuất giải pháp phát huy thế mạnh và khắc phục những tồn tại của doanh nghiệp của mình Phân tích những nhân tố nội tại và khách quan đã ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch

Phân tích hiệu quả các phương án kinh doanh hiện tại và các dự án đầu tư dài hạn;

Xây dựng kế hoạch dựa trên kết quả phân tích Quá trình kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh là để nhận biết tiến độ thực hiện và những nguyên nhân sai lệch xảy ra, ngoài ra còn giúp doanh nghiệp phát hiện những thay đổi có thể xảy ra tiếp theo Nếu như kiểm tra và đánh giá đúng đắn nó có tác dụng giúp cho doanh nghiệp điều chỉnh kế hoạch và đề ra các giải pháp tiến hành trong tương lai Định kỳ doanh nghiệp phải tiến hành kiểm tra và đánh giá trên mọi khía

Trang 11

cạnh hoạt động, đồng thời căn cứ vào những điều kiện tác động bên ngoài như môi trường kinh doanh hiện tại và tương lai để xác định vị trí của doanh nghiệp đang đứng ở đâu, các phương án xây dựng chiến lược kinh doanh có còn thích hợp không? Nếu không phù hợp thì cần phải điều chỉnh kịp thời

Phân tích dự báo, phân tích chính sách và phân tích rủi ro trên các mặt hoạt động của doanh nghiệp

Lập báo cáo kết quả phân tích, thuyết minh và đề xuất biện pháp quản trị các báo cáo được thể hiện bằng lời văn, bảng biểu và các loại đồ thị hình tượng thuyết phục

1.5 Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh

- Phù hợp với đối tượng nghiên cứu, nội dung chủ yếu của phân tích hoạt động kinh doanh là:

- Phân tích các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh như: Sản lượng, sản phẩm, doanh thu bán hàng, giá thành, lợi nhuận

- Các chỉ tiêu kết quả kinh doanh được phân tích trong quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động, tiền vốn, vật tư, đất đai…

- Để thực hiện nội dung trên, phân tích kinh doanh cần xác định các đặc trưng về mặt lượng của các quá trình hoạt động (Số lượng, kết cấu, quan hệ, tỷ lệ…) nhằm xác định xu hướng và nhịp độ phát triển, xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của các quá trình kinh doanh, tổ chức và trình độ chặt chẽ của mối liên hệ giữa kết quả kinh doanh với các điều kiện (yếu tố) sản xuất kinh doanh

2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

2.1 Phương pháp so sánh

Để phương pháp này được phát huy hết tính chính xác và khoa học, trong quá trình phân tích cần thực hiện đầy đủ ba bước sau:

Bước 1: Lựa chọn các tiêu chuẩn để so sánh

Trước hết chọn chỉ tiêu của một kỳ làm căn cứ để so sánh, được gọi là kỳ gốc Tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà lựa chọn kỳ gốc so sánh cho thích hợp Nếu:

Kỳ gốc là năm trước: muốn thấy đuợc xu hướng phát triển của đối tượng phân tích

Kỳ gốc là năm kế hoạch (hay là định mức): Muốn thấy được việc chấp hành các định mức đã đề ra có đúng theo dự kiến hay không

Kỳ gốc là chỉ tiêu trung bình của ngành (hay khu vực hoặc quốc tế): Muốn

Trang 12

Kỳ gốc là năm thực hiện : Là chỉ tiêu thực hiện trong kỳ hạch toán hay kỳ báo cáo

Bước 2: Điều kiện so sánh được

Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được đem

so sánh phải đảm bảo tính chất so sánh được không gian và thời gian

- Về thời gian: Các chỉ tiêu phải được tính trong cùng một khoảng thời gian hoạch toán như nhau (cụ thể như cùng tháng, quý, năm….) và phải đồng nhất trên

cả ba mặt

+ Cùng phản ánh nội dung kinh tế

+ Cùng một phương pháp tính toán

+ Cùng một đơn vị đo lường

- Về không gian: Các chỉ tiêu kinh tế cần phải được quy đổi về cùng quy mô tương tự như nhau (cụ thể là cùng một bộ phận phân xưởng, một ngành )

Bước 3: Kỹ thuật so sánh

Để đáp ứng cho các mục tiêu so sánh người ta thường sử dụng các kỹ thuật so sánh sau:

- So sánh bằng số tuyệt đối: Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích

so với kỳ gốc, kết quả so sánh này biểu hiện khối lượng, quy mô của các hiện tượng kinh tế

- So sánh bằng số tương đối: Là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc số tuyệt đối/ Số kỳ kế hoạch Kết quả so sánh này biểu hiện tốc

độ phát triển, mức độ phổ biến của các chỉ tiêu kinh tế

Ví dụ: Có số liệu tại một doanh nghiệp sau:

Bảng phân tích biến động các khoản mục

Số tương đối (%)

Trang 13

So sánh tình hình thực hiện (TH) so với kế hoạch (KH):

+ Doanh thu : Đạt 130%, vượt 30% (30 triệu đồng)

+ Giá vốn hàng bán: Đạt 132,5%, vượt 32,5% (26 triệu đồng)

+ Chi phí hoạt động: Đạt 131%, vượt 31% (3,720 triệu đồng)

+ Lợi nhuận: Đạt 103,5%, vượt 3,5% ( 0,280 triệu đồng)

Ta hãy cùng phân tích tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu để có kết luận cuối cùng:

+ Tỷ suất lợi nhuận kế hoạch:

Mặt khác, tỷ trọng của chi phí so với doanh thu qua 2 kỳ như sau:

Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh là xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến động của chi tiêu phân tích (ngân sách tăng lên, giá thành

100.000

80000 + 12.000

x 100% = 92%

106.000 + 15.720 130.000

x 100% = 93,63%

Trang 14

mô của chỉ tiêu phân tích

Các phân tích trên được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực phân tích như: Phân tích lao động, vật tư, tiền vốn, lợi nhuận…

2.2 Phương pháp liên hệ cân đối

Là phương pháp dùng để phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố mà giữa chúng có sẵn mối liên hệ cân đối và chúng là nhân tố độc lập Một lượng thay đổi trong mỗi nhân tố sẽ làm thay đổi trong chỉ tiêu phân tích đúng một lượng tương ứng

Những liên hệ cân đối thường gặp trong phân tích như: tài sản và nguồn vốn, cân đối hàng tồn kho, đẳng thức quá trình kinh doanh, nhu cầu vốn và sử dụng vốn…

Ví dụ: Dùng phương pháp liên hệ cân đối, phân tích các nhân tố nội tại ảnh hưởng đến giá trị hàng tồn kho cuối kỳ qua số liệu sau:

Ta có liên hệ cân đối

Tồn ĐK + Nhập trong kỳ = Xuất trong kỳ + Tồn CK

=> Tồn CK = Tồn ĐK + Nhập trong kỳ - Xuất trong kỳ

(Q) (a) (b) (c)

Gọi Q là chỉ tiêu cần phân tích

a,b,c là các nhân tố có liên hệ độc lập ảnh hưởng đến chỉ tiêu cần phân tích

Ta có đối tượng phân tích (∆Q)

Tồn kho CK1 – Tồn kho CK0 = 80.000 – 50.000 = 30.000

∆Q = Q1 – Q0 = ∆a - ∆b - ∆c

Trang 15

cơ cấu tài chính hiện tại và việc sử dụng nguồn tài chính đó mang lại hiệu quả như thế nào để từ đó có những dự báo cho thời gian tới

Bảng phân tích các khoản mục bảng cân đối kế toán

Đầu kỳ Cuối kỳ Chênh lệch

2 Lợi nhuận chưa phân phối 150 220 +70

Nhìn chung tổng tài sản cũng như nguồn vốn cuối kỳ tăng 110 triệu so với đầu năm, như vậy quy mô hoạt động ở doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể

Trang 16

+ Về mặt tài sản: Chủ yếu tăng do tài sản cố định tăng 110 triệu, sau đó là các khoản phải thu tăng 20 triệu, còn đầu tư dài hạn giảm 40 triệu + Về mặt nguồn vốn: Chủ yếu tăng do lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tăng 70 triệu và nợ dài hạn tăng 60 triệu, còn nợ ngắn hạn giảm 20%

Sử dụng phương pháp cân đối để phân tích, với sự cân đối giữa tài sản và nguồn vốn ta thấy, doanh nghiệp đã giảm các khoản đầu tư dài hạn, tăng nợ vay dài hạn để đầu tư cho TSCĐ, kết quả hoạt động trong năm doanh nghiệp đã tăng lợi nhuận sau thuế chưa phân phối là 70 triệu đồng

2.3 Phương pháp phân tích chi tiết:

Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo những hướng khác nhau Thông thường trong phân tích, phương pháp chi tiết được thực hiện

theo những hướng sau:

- Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: Mọi kết quả hoạt động biểu hiện trên các chỉ tiêu đều bao gồm nhiều bộ phận Chi tiết các chỉ tiêu theo các bộ phận cùng với sự biểu hiện về lượng của các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả đạt được Với ý nghĩa đó, phương pháp chi tiết theo bộ phận cấu thành được sử dụng rộng rãi trong

phân tích mọi mặt kết quả hoạt động

- Chi tiết theo địa điểm: Phân xưởng, đội, tổ… thực hiện các kết quả hoạt động được ứng dụng rộng rãi trong phân tích hoạt động trong các trường hợp sau:

+ Một là: Đánh giá kết quả thực hiện hoạch toán hoạt động nội bộ Trong trường hợp này, tùy chỉ tiêu khoán khác nhau có thể chi tiết mức thực hiện khoán ở các đơn vị có cùng nguồn vốn như nhau Chẳng hạn nếu khoán chi phí (riêng chi phí vật chất hoặc chi phí nói chung) trên một đơn vị sản phẩm hoặc công việc, nếu

áp dụng cách khoán gọn thì chỉ tiêu cần chi tiết là mức lợi nhuận bình quân trên một đồng vốn hoặc một lao động…

+ Hai là: Phát hiện các đơn vị tiên tiến hoặc lạc hậu trong việc thực hiện các môi trường hoạt động Tùy mục tiêu đề ra có thể chọn các chỉ tiêu chi tiết phù hợp

về các mặt: năng suất, chất lượng, giá thành…

+ Ba là: Khai thác các khả năng tiềm tàng về sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn, đất đai… trong kinh doanh

2.4 Phương pháp loại trừ

Trong phân tích kinh doanh, nhiều trường hợp cần nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh nhờ phương pháp loại trừ Loại trừ là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác Chẳng hạn, số lợi nhuận thu được trong kinh doanh một loại hàng hóa dịch vụ nào đó có thể quy về ảnh hưởng của 2 nhân tổ

- Lượng hàng bán ra tình bằng đơn vị tự nhiên (cái, chiếc, suất ăn…) hoặc

Trang 17

đơn vị trọng lượng (tấn, tạ, kg…) hay khối lượng dịch vụ hoàn thành (m2 xd, tấn/km, người/km vận chuyển)…

- Suất lợi nhuận trên một đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ

Cả 2 nhân tố này đồng thời ảnh hưởng -> lượng lợi nhuận Để nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố khác Muốn vậy, có thể trực tiếp dựa vào mức biến động ở từng nhân tố hoặc dựa vào phép thay thế lần lượt từng nhân tố Đó chính là 2

phương pháp: “Thay thế liên hoàn và số chênh lệnh”

a Phương pháp thay thế liên hoàn

Là phương pháp mà ở đó các nhân tố lần lượt được thay thế theo một trình tự nhất định để xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu cần phân tích (đối tượng phân tích) bằng cách cố định các nhân tố khác trong mỗi lần

thay thế

Bước 1: Xác định công thức

Là thiết lập mối quan hệ của các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích qua một công thức nhất định Công thức gồm tích số các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích

Ví dụ:

Doanh thu = Giá bán x Sản lượng tiêu thụ

↓ ↓ (Nhân tố) (Nhân tố) Chi phí NVL trực tiếp = SL sản xuất x Lượng NVL tiêu hao x đơn giá NVL ↓ ↓ ↓

(Nhân tố) (Nhân tố) (Nhân tố) Khi xác định công thức cần thực hiện theo một trình tự nhất định từ nhân tố sản lượng đến nhân tố chất lượng nếu có nhiều nhân tố lượng hoặc nhiều nhân tố chất thì sắp xếp nhân tố chủ yếu trước và nhân tố thứ yếu sau

Bước 2: Xác định các đối tượng phân tích

So sánh số thực hiện với số liệu gốc chênh lệch có được đó chính là đối tượng phân tích

Gọi Q là chỉ tiêu cần phân tích

a,b,c là trình tự các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích

=> PT: Q = a.b.c

- Đặt Q1 là chỉ tiêu kỳ phân tích => Q1 = a1.b1.c1

- Đặt Q0 là chỉ tiêu kỳ kế hoạch => Q0 = a0.b0.c0

Trang 18

Q1 - Q0 = ∆Q Mức chênh lệch giữa kỳ thực hiện và kỳ gốc, đây cũng là đối tượng cần phân tích

∆Q = a1.b1.c1 - a0.b0.c0

Bước 3: Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố

Thực hiện theo trình tự các bước thay thế (lưu ý: nhân tố đã thay ở bước trước phải được giữ nguyên cho các bước thay thế)

+ Thay thế bước 1 (cho nhân tố a)

Số giờ lao động cho một sản phẩm 8 giờ 7 giờ

Đơn giá ngày giờ công 2000 đồng 2500 đồng

Yêu cầu: Hãy phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chi phí nhân công trực

tiếp

Lời giải:

* Xác định công thức

Gọi + Q0, Q1 Là sản lượng sản phẩm sản xuất kỳ kế hoạch và kỳ TH

+ H0, H1 là số giờ lao động cho 1 sản phẩm kỳ KH và kỳ TH + P0, P1 là đơn giá một giờ công của kỳ KH và kỳ TH

Trang 19

+ C0, C1 là chi phí nhân công trực tiếp kỳ KH và kỳ TH + ∆C là đối tượng cần phân tích

Vây ta có:

C0 =Q0.H0.P0 = 1000 x 8 x 2000 = 16.000.000 (đồng)

C1= Q1 H1.P1 = 1.200 x 7 x 2.500 = 21.000.000 (đồng)

∆C = C0- C1 = 21.000.000 – 16.000.000 = 5.000.000 (đồng)

Tính các mức ảnh hưởng của các nhân tố

- Thay thế bước 1 (cho nhân tố Q)

Q1.H1.P1 = C1 = 21.000.000 (đồng)

Mức độ ảnh hưởng của nhân tố P

∆P = Q1.H1.P1 - Q1.H1.P0 = 21.000.000 – 16.800.000 = 4.200.000 (đồng) Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố

3.200.00) + (-2.400.000) + 4.200.000 = 5.000.000 (đồng

Bước 4: Tìm nguyên nhân thay đổi các nhân tố

Nếu do nguyên nhân chủ quan từ doanh nghiệp thì phải có biện pháp để khắc phục những nhược điểm, thiếu xót để kỳ sau thực hiện tốt hơn

Bước 5: Đưa ra các biện pháp khắc phục những nhân tố chủ quan ảnh

hưởng không tốt đến chất lượng kinh doanh và đồng thời củng cố xác định phương hướng cho kỳ sau

Trang 20

+ Việc sắp xếp trình tự các nhân tố phải từ nhân tố sản lượng đến nhân

tố chất lượng trong thực tế việc phân biệt rõ ràng giữa nhân tố sản lượng và nhân tố chất lượng là không dễ dàng

b.Phươ ng pháp số chênh lệch

Thực chất của phương pháp này là trường hợp đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn Phương pháp này cũng thực hiện đầy đủ các bước như vậy, tuy chỉ khác điểm sau:

Khi xác định nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích thay vì ta tiến hành thay thế số liệu mà sẽ dùng số chênh lệch của từng nhân tố để tính ảnh hưởng của từng nhân tố

Ví dụ: (Lấy số liệu Ví dụ phương pháp thay thế liên hoàn)

+ Ảnh hưởng của nhân tố sản lượng

Như vậy: Phương pháp số chênh lệch chỉ có thể thực hiện được khi các nhân

tố có quan hệ bằng tích số và thương số đến chỉ tiêu phân tích mà thôi

* Chú ý: Nếu có các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích trong kỳ gốc và TH

Kỳ KH: A0B0C0D0

Kỳ TH: A1B1C1D1

Trang 21

Ta có: Ảnh hưởng của nhân tố A = (A1- A0)B0C0D0

Ảnh hưởng của nhân tố B= A1(B1-B0)C0D0

Ảnh hưởng của nhân tố C = A1B1(C1-C0)D0Ảnh hưởng của nhân tố D = A1B1C1(D1-D0)

3 TỔ CHỨC VÀ PHÂN LOẠI PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 3.1 Các loại hình phân tích hoạt động kinh doanh

Để quản lý kinh doanh, cần kết hợp nhiều loại hình phân tích trong tổ chức phân tích, cần biết cặn kẽ ý nghĩa và đặc tính của từng loại hình

a Căn cứ vào thời điểm phân tích

- Phân tích trước: Là phân tích khi chưa tiến hành hoạt động như phân tích dự

án, kế hoạch, dự toán … Các bản luận chứng, các bản thuyết trình về hiệu quả các

dự án, kế hoạch … là những hình thức cụ thể của các loại hình phân tích này

- Phân tích hiện hành: Là phân tích đồng thời với quá trình kinh doanh nhằm xác minh tính đúng đắn của các dự án, kế hoạch, dự toán… và điều chỉnh kịp thời những điểm bất hợp lý trong các bản dự án, kế hoạch đó

- Phân tích sau: Là phân tích kết quả thực hiện toàn bộ dự án kế hoạch hay dự toán… nhằm đánh giá toàn bộ dự án, kế hoạch hay dự toán đó…

b Căn cứ vào thời kỳ tiến hành

- Phân tích thường xuyên (ngày): Là căn cứ vào tài liệu hạch toán và các tài liệu khác hàng ngày, hàng tuần, nghiên cứu phát hiện những mặt chênh lệch so với

kế hoạch về mức độ, tiến độ, để có biện pháp khắc phục

- Phân tích định kỳ: Được tiến hành vào các thời gian đã định, nhằm đánh giá tất cả hoặc từng mặt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong suốt thời gian đã định

c Căn cứ vào nội dung phân tích

- Phân tích toàn bộ: Việc phân tích sẽ nghiên cứu tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp và các đơn vị trong doanh nghiệp

- Phân tích từng phần: Là việc nghiên cứu từng mặt hoạt động của doanh nghiệp, từng loại chi phí, từng vấn đề về hoạt động và tổ chức

3.2 Tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh

a Tổ chức lức lượng phân tích hoạt động kinh doanh

Trong bộ máy quản lý doanh nghiệp thường không có những bộ phận chức năng làm tất cả các công việc về phân tích hoạt động kinh doanh Trong điều kiện đó, một mặt cần kết hợp chức năng từng bộ phận để phân công rõ trách

Trang 22

nhiệm từng phòng, ban, bộ phận Đồng thời cần có những bộ phận trung tâm và thành lập hội đồng phân tích làm tham mưu cho giám đốc về phân tích, hướng dẫn Cụ thể, lực lượng phân tích đó có thể được tổ chức như sau:

- Bộ phận thông tin kinh tế nghiệp vụ hàng ngày gồm cán bộ thống kê hoặc cán bộ kinh doanh kiêm nhiệm có nhiệm vụ thông tin nhanh các chỉ tiêu tiến độ

và chất lượng công việc hàng ngày tại các đơn vị kinh doanh (phân xưởng, đội, cửa hàng, khách sạn…)

- Các bộ phận chức năng đảm nhiệm các công việc xử lý các tài liệu thu thập được phù hợp với lĩnh vực công tác của mình kể cả phân tích trước, phân tích hiện hành, phân tích sau…

Ví dụ: Bộ phận kế toán tài vụ có nhiệm vụ phân tích tất cả các vấn đề về vốn, từ kế hoạch tài chính, dự toán chi phí đến tiến độ huy động, sử dụng các loại vốn và định kỳ đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp… bộ phận nhân sự có nhiệm vụ phân tích toàn bộ các vấn đề tương ứng về lao động, việc làm… Bộ phận vật tư, thiết bị có nhiệm vụ phân tích toàn bộ các vấn đề tương

tự về vật tư của doanh nghiệp …

- Hội đồng phân tích của doanh nghiệp có nhiệm vụ giúp giám đốc toàn bộ công tác tổ chức, phân tích hoạt động kinh doanh từ việc xây dựng nội quy, quy trình phân tích đến hướng dẫn thực hiện quy trình và tổ chức hội nghị phân tích

b Xây dựng quy trình tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh

* Đặt kế hoạch phân tích là xác định trước về nội dung, phạm vi thời gian

và cách tổ chức phân tích

- Nội dung phân tích cần xác định rõ các vấn đề được phân tích: Có thể toàn

bộ hoạt động kinh doanh hoặc chỉ một vấn đề cụ thể Đây là cơ sở xác định đề cương cụ thể để tiến hành phân tích

- Phạm vi phân tích có thể là toàn đơn vị hoặc một vài đơn vị được chọn làm điểm để phân tích Tùy yêu cầu và thực tiễn quản lý mà xác định nội dung và phạm vi phân tích thích hợp

- Thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm cả thời gian chuẩn bị

và thời gian tiến hành công tác phân tích

- Trong kế hoạch phân tích cần phân công trách nhiệm các bộ phận trực tiếp

và phục vụ công tác phân tích cùng các hình thức hội nghị phân tích nhằm thu thập nhiều ý kiến, đánh giá đúng thực trạng và phát hiện đầy đủ tiềm năng cho phấn đấu đạt kết quả cao trong kinh doanh

* Sưu tầm và kiểm tra tài liệu

Tài liệu làm căn cứ phân tích thường bao gồm:

Trang 23

- Các văn kiện của các cấp Bộ Đảng có liên quan đến hoạt động kinh doanh

- Các nghị quyết, chỉ thị của chính quyền các cấp và các cơ quan quản lý cấp trên có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Các tài liệu kế hoạch, dự toán, định mức

- Các tài liệu hạch toán

- Các biên bản hội nghị, các biên bản sự kiện có liên quan

- Ý kiến của tập thể lãnh đạo trong đơn vị (kể cả các đơn khiếu tố - nếu có) Kiểm tra tài liệu cần tiến hành trên nhiều mặt:

- Tình hợp pháp của tài liệu (trình tự lập, ban hành, người lập, cấp có thẩm quyền ký duyệt…)

- Nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu

- Tính chính xác của việc tính và ghi các con số

- Các đánh giá đơn vị các chỉ tiêu giá trị

Phạm vị kiểm tra giới hạn ở các tài liệu trực tiếp làm căn cứ phân tích mà cả các tài liệu khác có liên quan, đặc biệt là các tài liệu gốc

* Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích

Tùy nội dung phân tích, tùy nguồn tài liệu sưu tầm được và các loại hình phân tích, cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tích phù hợp

Tùy phương tiện phân tích và trình độ sử dụng tài liệu phân tích, hệ thống chỉ tiêu cũng như từng phân hệ được thể hiện khác nhau, có thể bằng sơ đồ khối thường dùng cho chương trình cho máy tính hay bảng phân tích hoặc biểu đồ

* Viết báo cáo và tổ chức hội nghị phân tích

Báo cáo phân tích là bảng tổng hợp những đánh giá cơ bản cùng những tài liệu chọn lọc để minh họa rút ra từ quá trình phân tích Đánh giá cùng minh hoạ cần nêu rõ cả thực trạng và tiềm năng cần khai thác Từ đó nêu rõ được phương hướng và biện pháp phấn đấu trong thời kỳ tới

Báo cáo phân tích cần được trình bày trong hội nghị phân tích để thu thập ý kiến đóng góp và thảo luận cách thực hiện các phương hướng, biện pháp đã nêu trong báo cáo phân tích

Trang 24

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP CHƯƠNG 1

1 Trình bày và phân tích vị trí, chức năng của phân tích hoạt động kinh doanh?

2 Trình bày đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh?

3 Trình bày các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh?

4 Trình bày các giai đoạn cơ bản của tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh?

5 Giả định tại công ty X có tài liệu sau:

Sản lượng tiêu thụ (cái) 100 95

Giá bán bình quân đơn vị (đồng) 10.000 12.500

Yêu cầu: Hãy xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến doanh thu bán

hàng theo 2 phương pháp thay thế liên hoàn và số chênh lệch

6 Giả định tại công ty Y có tài liệu sau:

KH 100.000 400.000 300.000 200.000

TH 150.000 450.000 250.000 350.000

Yêu cầu: Bằng phương pháp liên hệ cân đối, hãy tính mức độ ảnh hưởng của

từng nhân tố đến chỉ tiêu hàng xuất bán trong kỳ

7 Có tài liệu chi phí vật liệu để sản xuất sản phẩm tại một doanh nghiệp như sau:

Số sản phẩm sản xuất (cái) 1000 1200

Mức tiêu hao vật liệu (kg) 10 9,5

Đơn giá vật liệu (đ) 500 550

Yêu cầu: Dùng phương pháp thích hợp xác định mức ảnh hưởng của từng

nhân tố đến việc biến động tổng chi phí vật liệu giữa thực hiện so với kế hoạch

Trang 25

Chương II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH, THỊ TRƯỜNG VÀ CHIẾN

LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1 CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm về doanh nghiệp

Trong đời sống kinh tế xã hội, doanh nghiệp là một thực thể kinh tế - xã hội,

có tư cách chủ thể pháp lý độc lập, thực hiện chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận Trên thực tế, doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: Cửa hàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng…

Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Có nhiều định nghĩa về tổ chức có thể nêu ra một vài định nghĩa như sau

- Tổ chức là một nhóm người, mà một số hoặc tất cả các hoạt động của họ được phối hợp với nhau

- Tổ chức là sự tập hợp nhiều người một cách có hệ thống để hoàn thành những mục tiêu cụ thể

Khái niệm: Tổ chức là một tập hợp nhiều người mang tính chất tự giác có ý thức về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm thực hiện mục tiêu chung cụ thể

1.2 Các loại hình doanh nghiệp

a Doanh nghiệp nhà nước

Điều 1 Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 quy định: Doanh nghiệp nhà nước là

tổ chức kinh tế nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước:

- Đặc điểm thứ nhất: doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân

Doanh nghiệp nhà nước đáp ứng đầy đủ 4 yếu tố của Điều 84 Bộ luật dân sự

2005, cụ thể: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập

- Đặc điểm thứ hai, doanh nghiệp nhà nước có thẩm quyền kinh tế bình đẳng với các doanh nghiệp khác và hạch toán kinh tế độc lập trong phạm vi vốn do nhà

Trang 26

nước quản lý

Doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện nay có tư cách pháp nhân, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn nhà nước giao cho Tức là nhà nước không còn bao cấp như trước đây mà các doanh nghiệp phải tự bù đắp những chi phí, tự trang trải mọi nguồn vốn đồng thời làm tròn nghĩa

vụ với nhà nước xã hội như các doanh nghiệp khác Trong chức năng kinh doanh thì hạch toán kinh tế là hoạt động cơ bản, thường xuyên để xác định hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh

- Đặc điểm thứ ba, hình thức tổ chức của doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới các hình thức sau: Công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên

b Doanh nghiệp tư nhân

Điều 141 Luật doanh nghiệp 2005 quy định:

- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

- Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào

- Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân có những đặc điểm sau đây :

Thứ nhất: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và đầu tư: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp mà tất cả tài sản thuộc về một chủ sở hữu duy nhất; người chủ này là một cá nhân, một con người cụ thể Cá nhân này vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng là người quản lý hoạt động của doanh nghiệp tư nhân Cá nhân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành quản lý doanh nghiệp, song chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân

Thứ hai: Vốn của doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tư nhân tự khai, chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ khai báo chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ: số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác Đối với vốn bằng tài sản khác cũng phải ghi rõ loại tài sản, số lượng, giá trị còn lại của mỗi loại tài sản Toàn bộ vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản thuê, được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân đều được phải ghi chép đầy đủ vào sổ kế tóan và báo cáo tài chính của doanh nghiệp tư nhân Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền

Trang 27

tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc tăng, giảm vốn đầu tư của của chủ doanh nghiệp phải được ghi chép vào sổ kế toán Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư

đó đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đó khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh

Thứ ba: Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản

nợ đến hạn của doanh nghiệp Trách nhiệm vô hạn nghĩa là chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình mà không có sự phân biệt tài sản trong kinh doanh và tài sản ngoài kinh doanh Tài sản trong kinh doanh

là những tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài sản ngoài kinh doanh là những tài sản tiêu dùng hàng ngày như: xe máy, nhà cửa, không đưa vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ tư: Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành chứng khoán để huy động vốn trong kinh doanh

Thứ năm: Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân

c Hợp tác xã

Điều 1 Luật Hợp tác xã năm 2003 quy định: Hợp tác xã là một tổ chức kinh

tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia Hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hợp tác

xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ

và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật

Đặc điểm của hợp tác xã:

- Thứ nhất, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế Hợp tác xã được thành lập để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nhất trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ như tất cả mọi loại hình doanh nghiệp khác Mục tiêu lợi nhuận dễ dàng đạt được hơn khi có nhiều cá nhân chung vốn, góp sức tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

- Thứ hai, hợp tác xã do cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân thành lập (gọi chung

là xã viên) Đối với cá nhân phải là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Cán bộ, công chức được tham gia hợp tác xã với tư cách

Trang 28

lý, điều hành hợp tác xã Đối với hộ gia đình, hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung cùng đóng góp công sức để họat động kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia Đối với pháp nhân, pháp nhân có thể trở thành xã viên của hợp tác xã theo quy định của Điều lệ hợp tác xã Khi tham gia hợp tác xã, pháp nhân phải cử người đại diện có đủ điều kiện như đối với các cá nhân tham gia

- Thứ ba, người lao động tham gia hợp tác xã vừa góp vốn vừa góp sức Góp vốn là việc xã viên Hợp tác xã khi tham gia hợp tác xã phải góp vốn tối thiểu là số tiền hoặc giá trị tài sản, bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu các phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật và các loại giấy tờ có giá khác được quy ra tiền mà xã viên bắt buộc phải góp khi gia nhập hợp tác xã Góp sức là việc xã viên tham gia xây dựng hợp tác xã dưới các hình thức trực tiếp quản lý, lao động sản xuất, kinh doanh, tư vấn và các hình thức tham gia khác

- Thứ tư, hợp tác xã là tổ chức có tư cách pháp nhân, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn điều lệ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế hoạt động tự chủ Tính tự chủ của hợp tác xã được thể hiện ở chỗ nó là doanh nghiệp tự hạch toán, lời ăn lỗ chịu, khi tiến hành kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề và lĩnh vực đã đăng ký Hợp tác xã đáp ứng đầy đủ bốn điều kiện về pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân

sự 2005, đồng thời Điều 1 Luật hợp tác xã cũng khẳng định, hợp tác xã là tổ chức

có tư cách pháp nhân

d Công ty cổ phần

Theo Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005, công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệ

- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp quy định của pháp luật

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân

- Số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa

- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán

- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh

Đặc điểm của công ty cổ phần:

- Thứ nhất: Về vốn của công ty Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau hoặc gọi là cổ phần Mỗi cổ phần được thể hiện dưới dạng văn bản (chứng chỉ do công ty phát hành), bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty gọi là cổ phiếu Giá trị mỗi cổ

Trang 29

phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hay nhiều cổ phần Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng việc mua cổ phần Mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần

- Thứ hai: Về thành viên của công ty Trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải

có ba thành viên tham gia công ty cổ phần

- Thứ ba: Về trách nhiệm của công ty Công ty cổ phần chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty Các cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã góp vào công ty (đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu) Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

- Thứ tư: Về phát hành chứng khoán Công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác để huy động vốn

- Cuối cùng là chuyển nhượng phần vốn góp (cổ phần) Cổ phần của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các cổ phiếu của công ty cổ phần được coi là hàng hoá, được mua, bán, chuyển nhượng tự do theo quy định của pháp

e Công ty trách nhiệm hữu hạn:

Theo Luật doanh nghiệp 2005 công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên (Điều 38 Luật doanh nghiệp 2005), là doanh nghiệp, trong đó: Thành viên của công ty có thể

là tổ chức, cá nhân Số lượng thành viên công ty không vượt quá 50 Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp Phần vốn của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại Điều 43,44,45 của Luật Doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành

cổ phần

* Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên:

- Thứ nhất: Về vốn của công ty Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng hoặc không bằng nhau Công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty; các thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào công

ty

- Thứ hai: Về thành viên của công ty Trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải

có từ hai thành viên và tối đa không quá 50 thành viên tham gia công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ

Trang 30

- Thứ ba: Về phát hành chứng khoán Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên không được quyền phát hành cổ phần để huy động vốn Phần vốn góp của các thành viên công ty được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật Đối với công

ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (Điều 63 Luật doanh nghiệp 2005), là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu công

ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp Công ty có tư cách pháp nhân kể

từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được phát hành cổ phần

*Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:

- Thứ nhất: Về chủ sở hữu công ty do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức có tư cách pháp nhân

và phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi vốn điều lệ

- Thứ hai: Về phát hành chứng khoán Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên một thành viên không được phát hành cổ phần để huy động vốn trong kinh doanh

- Thứ ba: Về chuyển nhượng vốn góp Việc chuyển nhượng vốn góp được thực hiện theo quy định của pháp luật

f Công ty hợp danh

Bản chấp pháp lý của công ty hợp danh Đối với các nước trên thế giới, công ty hợp danh được pháp luật ghi nhận là một loại hình đặc trưng của công ty đối nhân, trong đó có ít nhất chia thành viên (đều là cá nhân và là thương nhân) cùng tiến hành hoạt động thương mại (theo nghĩa rộng) dưới một hãng chung (hay hội danh) và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty Theo Luật Doanh nghiệp 2005 quan niệm về công ty hợp danh ở nước ta hiện nay

có một số quan điểm khác với cách hiểu truyền thống về công ty hợp danh Theo

đó công ty hợp danh được định nghĩa là một loại hình doanh nghiệp, với những đặc điểm pháp lý cơ bản sau:

- Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh); Ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn

- Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty

- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

- Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Trang 31

- Trong quá trình hoạt động, công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Như vậy, nếu căn cứ vào tính chất thành viên và chế độ chịu trách nhiệm tài sản, thì công hợp danh theo Luật Doanh nghiệp có thể được chia thành hai loại: Loại thứ nhất là những công ty giống với công ty hợp danh theo pháp luật các nước, tức là chỉ bao gồm những thành viên hợp danh (chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty); Loại thứ hai là những công ty có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn (chịu trách nhiệm hữu hạn) và cũng là một loại hình của công ty đối nhân Có thể thấy, khái niệm công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam có nội hàm của khái niệm công ty đối nhân theo pháp luật các nước Với quy định về công ty hợp danh, Luật Doanh nghiệp đã ghi nhận sự tồn tại của các công ty đối nhân ở Việt Nam Thành viên công ty hợp danh bao gồm:

Thứ nhất là thành viên hợp danh Công ty hợp danh bắt buộc phải có thành viên hợp danh (ít nhất là hai thành viên) Thành viên hợp danh phải là cá nhân Trách nhiệm tài sản của các thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của công ty

là trách nhiệm vô hạn và liên đới Chủ nợ có quyền yêu cầu bất kỳ thành viên hợp danh nào thanh toán các khoản nợ của công ty đối với chủ nợ Mặt khác, các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình (tài sản đầu tư vào kinh doanh và tài sản dân sự) Thành viên hợp danh là những người quyết định sự tồn tại và phát triển của công ty cả về mặt pháp

lý và thực tế Trong quá trình hoạt động, các thành viên hợp danh được hưởng những quyền cơ bản, quan trọng của thành viên công ty, đồng thời phải thực hiện những nghĩa vụ tương xứng để bảo vệ quyền lợi của công ty và những người liên quan Các quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh được quy định trong Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty Tuy nhiên để bảo vệ lợi ích của công ty, pháp luật quy định một số hạn chế đối với quyền của thành viên hợp danh như: Không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty khác (trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại); không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành nghề kinh doanh của công ty đó; không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp nhận của các thành viên hợp danh còn lại

Trong quá trình hoạt động, công ty hợp danh có quyền tiếp nhận thêm thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn Việc tiếp nhận thêm thành viên phải được Hội đồng thành viên chấp thuận Thành viên hợp danh mới được tiếp nhận vào công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty (trừ khi có thoả thuận khác) Tư cách thành viên công ty của thành viên hợp danh chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

Trang 32

- Thành viên chết hoặc bị toà án tuyên bố là đã chết, mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự

- Tự nguyện rút khỏi công ty hoặc bị khai trừ khỏi công ty Khi tự nguyện rút khỏi công ty hoặc bị khai trừ khỏi công ty trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên, thành viên hợp danh vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty đã phát sinh trước khi đăng ký việc chấm dứt tư cách thành viên đó với cơ quan đăng ký kinh doanh

Thứ hai là thành viên góp vốn: Công ty hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên góp vốn có thể là tổ chức hoặc cá nhân Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Là thành viên của công ty đối nhân, nhưng thành viên góp vốn hưởng chế

độ trách nhiệm tài sản như một thành viên của công ty đối vốn Chính điều này là

lý do cơ bản dẫn đến thành viên góp vốn có thân phận pháp lý khác với thành viên hợp danh Bên cạnh những thuận lợi được hưởng từ chế độ trách nhiệm hữu hạn, thành viên góp vốn bị hạn chế những quyền cơ bản của một thành viên công ty Thành viên góp vốn không được tham gia quản lý công ty, không được hoạt động kinh doanh nhân danh công ty Pháp luật nhiều nước còn quy định nếu thành viên góp vốn hoạt động kinh doanh nhân danh công ty thì sẽ mất quyền chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty Các quyền và nghĩa vụ cụ thể của thành viên góp vốn được quy định trong Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty

g Công ty liên doanh

Công ty liên doanh là công ty do hai hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Việt Nam

Đặc điểm của công ty liên doanh:

Thứ nhất, công ty liên doanh là công ty do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập, nhưng ít nhất phải có một bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài và một bên

là công ty của Việt Nam Nếu không có một bên là cá nhân, tổ chức nước ngoài thì không gọi là công ty liên doanh được

Thứ hai, vốn của công ty liên doanh một phần thuộc sở hữu của bên hoặc các bên nước ngoài Còn một phần thuộc sở hữu của bên hoặc các bên Việt Nam, Trong mọi trường hợp, phần vốn góp của các bên nước ngoài không được thấp hơn 30% vốn điều lệ của công ty liên doanh trừ trường hợp pháp luật quy định

Thứ ba, công ty liên doanh được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh là chủ yếu Trên cơ sở hợp đồng liên doanh, công ty phải xây dựng điều lệ công ty

h Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài

Trang 33

Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài là công ty có vốn đầu tư nước ngoài

mà ở trong đó có các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư toàn bộ vốn để thành lập

và hoạt động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật

Đặc điểm của công ty có 100% vốn nước ngoài:

Ngoài những đặc điểm của công ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty 100% vốn nước ngoài có những đặc điểm như sau:

- Thứ nhất: Công ty 100% vốn nước ngoài có thể do một tổ chức, một cá nhân hoặc có thể do nhiều tổ chức, nhiều cá nhân nước ngoài đầu tư vốn thành lập và hoạt động

- Thứ hai: Vốn và tài sản của công ty hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài

- Thứ ba: Công ty 100% vốn nước ngoài hoàn toàn do người nước ngoài quản lý và

tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình Nhà nước Việt Nam chỉ quản lý “vòng ngoài” thông qua việc cấp giấy phép đầu tư và kiểm tra việc chấp hành pháp luật Việt Nam, chứ không can thiệp vào việc tổ chức quản lý nội bộ công ty.

1.3 Chức năng của doanh nghiệp

Mỗi một doanh nghiệp có một lĩnh vực sản xuất kinh doanh riêng Do đó chức năng cụ thể của mỗi doanh nghiệp sẽ phụ thuộc cụ thể vào từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó

Tuy nhiên, vẫn nổi bật lên hai chức năng cơ bản của doanh nghiệp đó là:

- Chức năng sản xuất hàng hóa thực hiện dịch vụ: Đây là chức năng cơ bản của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào Mỗi doanh nghiệp muốn duy trì sự tồn tạo và phát triển đều cần phải tiến hành các hoạt động, tùy theo mục đích của từng doanh nghiệp mà các hoạt động đó có thể là sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ

+ Dịch vụ ăn uống, giải khát

+ Dịch vụ viễn thông, internet…

- Chức năng của một đơn vị phân phối: Hàng hóa sản xuất ra cần phải tiêu thị đến tay người tiêu dùng Có nhiều cách để doanh nghiệp chuyển thông tin người

Trang 34

tiêu dùng nhưng để chuyển sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì cần phải có một

hệ thống (kênh) phân phối

Ví dụ: Từ nào của mọi ngôn ngữ được phổ cập trên toàn thế giới? Đó là từ OK Thế còn từ nào được phổ cập thứ nhì? Câu trả lời không có nhiều người biết, đó chính là từ Coca Cola! Yếu tố nào giúp Coca thành công rực rỡ như vậy (với giá trị thương hiệu gần 70 ty USD trong 2 năm liền) Câu trả lời nằm tại kênh phân phối bất kỳ ở đâu người tiêu dùng cần ở đó có Coca

1.4 Vai trò của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần (vào) quyết định phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu tăng thu ngân sach và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo…

Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến dịch chuyển các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh

tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng địa phương

Doanh nghiệp phát triển đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của CNH – HĐH đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữa vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập

Có thể nói vai trò của doanh nghiệp không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hóa các vấn

đề xã hội, Ví dụ: Doanh nghiệp phát triển nhiều lao động có việc làm, có thu nhập Đời sống người dân được cải thiện, nhu cầu về sản phẩm có lương cao hơn, nhu cầu về giải trí cũng nhiều lên… liên quan đến các vấn đề xã hội

2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Phân tích môi trường vi mô

Phân tích môi trường giúp doanh nghiệp thấy được mình đang gặp những vấn

đề gì để thích nghi và có sự thay đổi phù hợp Môi trường của doanh nghiệp là tập hợp những yếu tố tác động đến doanh nghiệp cần phải chú ý khi xác định chiến lược kinh doanh

Doanh nghiệp kinh doanh trong 3 môi trường: môi trường bên trong doanh nghiệp, môi trường gần sát với doanh nghiệp là môi trường xa doanh nghiệp là môi trường vĩ mô

Trang 35

Môi trường vi mô là những lực lượng những yếu tố có quan hệ trực tiếp với từng doanh nghiệp và tác động đến từng khả năng phục vụ khách hàng của nó

a Phân tích khách hàng

Khách hàng là yếu tố quan trọng nhất trong môi trường vi mô vì họ là người

đề đạt yêu cầu, mong muốn họ là người lựa chọn tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp là người đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Các loại khách hàng:

- Người tiêu dùng là người mua sắm và tiêu dùng những sản phẩm và dịch

vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu và ước muốn cá nhân

- Người trung gian: Là các cá nhân tổ chức kinh tế mua hàng để bán hàng kiếm lời

- Người sản xuất là các cá nhân, các tổ chức mua hàng nguyên vật liệu để tiếp tục gia công chế biến

- Đảng chính phủ mua hàng phục vụ công tác quản lý để phân tích khách hàng có hiệu quả thì doanh nghiệp phải tổ chức những buổi điều tra hay tổ chức nghiên cứu về nhu cầu của khách hàng, từ đó mới có thể đưa ra từng biện pháp cụ thể đơn vị mỗi nhóm khách hàng

Ví dụ: Qua điều tra các nhà sản xuất biết sinh viên ít tiền, rất nhạy cảm với giá cả nhưng lại rất thích quà có ý nghĩa sáng tạo Họ còn biết sẽ bán được nhiều hàng về dịp đặc biệt: Noel, Valetime, mùng 8/3, 20/11… từ đó tạo ra những món quà đơn giản, hợp túi tiền sinh viên

Bitis bán hàng sang Lào, thông qua một công ty XNK ban đầu do tính hiếu

kỳ mà người dân Lào mua rất nhiều sản phẩm của Bitis… Sau đó Bitis không nghiên cứu đến màu sắc của sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến người Lào, họ không thích màu tím, với họ màu tím tượng trưng cho sự tan vỡ -> hàng không bán được

b Phân tích đối thủ cạnh tranh

Trong kinh doanh tất cả các doanh nghiệp, tổ chức hầu như không có cơ may hoạt động trong môi trường mà không hề có một sự cạnh tranh nào Tức là doanh nghiệp nào cũng phải đương đầu với ít nhất một đối thủ cạnh tranh “ thương

Môi trường

vĩ mô Môi trường trong doanh nghiệp

Trang 36

Có nhiều quan niệm sai về đối thủ cạnh tranh Nhiều bạn cho rằng trong cùng ngành bất cứ ai sản xuất kinh doanh sản phẩm, dịch vụ giống tương tự nhau như bạn được gọi là đối thủ cạnh tranh, cũng có người quan niệm rằng những đối thủ đang ở phía trước mới là đối thủ cạnh tranh mà quên đi rằng đằng sau hàng loạt đối thủ khác đang rút dần khoảng cách với bạn Vậy chúng ta hiểu đối thủ cạnh tranh thế nào cho đúng? Để câu trả lời doanh nghiệp của bạn là ai? Bạn đang đứng ở đâu trong ngành?

Ví dụ: Doanh nghiệp A sản xuất mặt hàng B, theo thang điểm 10 thì doanh nghiệp A đạt điểm 5 như vậy đối thủ cạnh tranh sẽ đạt 3,4,6,7 điểm

Việc phân tích đối thủ cạnh tranh mục tiêu là việc hết sức quan trọng và trả lời được 4 câu hỏi sau:

- Đối thủ cạnh tranh của bàn là những ai? Đó là bất kỳ doanh nghiệp nào có thể thỏa mãn được những nhu cầu các khách hàng của bạn ở hiện tại và tương lai

- Họ muốn gì? Đối thủ cạnh tranh khác nhau sẽ có những mục tiêu khác nhau

Có đối thủ sẽ tập trung vào những lợi nhuận ngắn hạn, có đối thủ lại tập trung vào việc giành thị phần lâu dài

- Họ có thể làm gì?

- Họ sẽ làm gì? Để trả lời 2 câu hỏi này, bạn phải đánh giá khả năng cũng như điểm mạnh, điểm yếu của họ (mô hình SWOT) -> dự đoán và đưa ra biện pháp

c Phân tích các nhà cung ứng và đối tác

Những nhà cung ững là những công ty kinh doanh và những người cá thể cung cấp cho công ty và các đối thủ cạnh tranh các nguồn vật tư cần thiết để sản xuất ra những mặt hàng cụ thể hay dịch vụ nhất định

Ví dụ: Để sản xuất xe đạp, doanh nghiệp phải mua thép, nhôm, vỏ xe, líp, đệm

và các vật tư khác Ngoài ra doanh nghiệp còn phải mua sức lao động, thiết bị, nhiên liệu, điện năng, máy tính … cần thiết để cho nó kinh doanh

Những sự kiện xảy ra trong môi trường “người cung ứng” có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động Marketting của doanh nghiệp Những người quản trị Marketing phải chú ý theo dõi cả các mặt hàng cung ứng, bởi vì việc tăng giá các vật tư mua về có thể phải nâng giá sản phẩm Thiếu một chủng loại vật tư nào đó, bãi công, và những sự kiện khác có thể làm rối loạn về cung ứng khiến hợp đồng không được giao đúng hẹn Trong ngắn hạn sẽ bỏ lỡ những khả năng tiêu thụ và trong kế hoạch dài hạn sẽ làm mất đi thiện cảm của khách hàng đơn vị doanh nghiệp

d Phân tích công chúng trực tiếp

Công chúng trực tiếp là một nhóm bất kỳ tỏ ra quan tâm thực sự hay có thể quan tâm đến những tổ chức có ảnh hưởng đến khả năng đạt tới những mục tiêu

đề ra của nó

Công chúng trực tiếp có thể hoặc là hỗ trợ hoặc lầ chống lại nỗ lực của doanh nghiệp nhằm phục vụ thị trường Công chúng tích cực là nhóm quan tâm tới doanh

Trang 37

nghiệp với thái độ thiện chí (ví dụ: những nhà hảo tâm) Công chúng không mong muốn là nhóm mà doanh nghiệp cố gắng thu hút sự chú ý của họ, những buộc phải

để ý đến họ nếu họ xuất hiện (ví dụ: nhóm người tiêu dùng tẩy chay)

Các loại công chúng trực tiếp của doanh nghiệp thường là:

- Giới tài chính: có khả năng ảnh hưởng đến đảm bảo nguồn vốn của doanh nghiệp Công chúng trực tiếp cơ bản trong giới tài chính là ngân hàng, các công ty đầu tư, các công ty môi giới của Sở giao dịch chứng khoán, cổ đông

- Công ty trực tiếp thuộc các phương tiện thông tin: báo chí, phát thanh, truyền hình

- Công chúng trực tiếp thuộc các cơ quan nhà nước Ban lãnh đạo doanh nghiệp phải nhất thiết chú ý đến tất cả những gì xảy ra ở trong lĩnh vực nhà nước

- Công chúng trực tiếp địa phương (những người dân sống ở khu vực đó)

- Quần chúng đông đảo không phải là một lực lượng có tổ chức đơn vị doanh nghiệp những hình ảnh của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng xấu dưới con mắt quần chúng

- Công chúng trực tiếp nội bộ: công nhân viên chức, nhà quản trị, ủy viên hội đồng,… khi công nhân viên chức có thái độ tốt đơn vị công ty thì thái độ tốt đó của họ sẽ lan truyền ra các nhóm công chúng trực tiếp khác

2.2 Phân tích môi trường vĩ mô

Đây là những yếu tố thuộc về ngoại cảnh xa doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chúng, doanh nghiệp không làm thay đổi những yếu tố này được Môi trường này gồm sáu lực lượng cơ bản sau: yếu tố nhân khẩu, yếu tố kinh tế, yếu tố tự nhiên, yếu tố khoa học kỹ thuật, yếu tố chính trị và yếu tố văn hóa

a Môi trường chính trị- pháp luật

- Chính trị

Chính trị là yếu tố đầu tiên mà các nhà đầu tư, nhà quản trị các doanh nghiệp quan tâm phân tích để dự báo mức độ an toàn trong các hoạt động tại các quốc gia, các khu vực nơi mà doanh nghiệp đang có mối quan hệ mua bán hay đầu tư Các yếu tố như thể chế chính trị, sự ổn định hay biến động về chính trị tại quốc gia hay một khu vực là những tín hiệu ban đầu giúp các nhà quản trị nhận diện đâu là cơ hội hoặc đâu là nguy cơ của doanh nghiệp để đề ra các quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh trên các khu vực thị trường thuộc phạm vi quốc gia hay quốc tế Yếu tố chính trị là yếu tố rất phức tạp, tuỳ theo điều kiện cụ thể yếu tố này sẽ tác động đến

sự phát triển kinh tế trong phạm vi quốc gia hay quốc tế Các nhà quản trị chiến lược muốn phát triển thị trường cần phải nhạy cảm với tình hình chính trị ở mỗi khu vực địa lý, dự báo diễn biến chính trị trên phạm vi quốc gia, khu vực, thế giới

để có các quyết định chiến lược thích hợp và kịp thời

- Luật pháp

Trang 38

Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hay không lành mạnh hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố pháp luật và quản lý nhà nước về kinh tế Việc ban hành

hệ thống luật pháp có chất lượng là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh chân chính, có trách nhiệm Tuy nhiên nếu hệ thống pháp luật không hoàn thiện cũng sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường kinh doanh gây khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Pháp luật đưa ra những quy định cho phép, không cho phép hoặc những đòi hỏi buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong hệ thống luật pháp như thuế, đầu tư sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ như Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông ra đời cho phép mọi thành phần kinh tế được tham gia cung cấp các dịch vụ chuyển phát thư

đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp xâm nhập vào lĩnh vực cung cấp các dịch vụ Bưu chính nhưng lại tạo nguy cơ cho VNPT khi phải đối mặt với ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt

Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải hiểu rõ tinh thần của luật pháp và chấp hành tốt những quy định của pháp luật, nghiên cứu để tận dụng được các cơ hội từ các điều khoản của pháp lý mang lại và có những đối sách kịp thời trước những nguy cơ có thể đến từ những quy định pháp luật tránh được các thiệt hại do sự thiếu hiểu biết về pháp lý trong kinh doanh

- Chính phủ:

Chính phủ có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ và các chương trình chi tiêu của mình Trong mối quan hệ với các doanh nghiệp chính phủ vừa đóng vai trò là người kiểm soát, khuyến khích, tài trợ, quy định, ngăn cấm, hạn chế vừa đóng vai trò khách hàng quan trọng đối với doanh nghiệp (trong chương trình chi tiêu của chính phủ)

và sau cùng chính phủ đóng vai trò là nhà cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp như cung cấp thông tin vĩ mô, các dịch vụ công cộng khác Để tận dụng được cơ hội, giảm thiểu nguy cơ các doanh nghiệp phải nắm bắt cho được những quan điểm, những quy định, ưu tiên những chương trình chi tiêu của chính phủ và cũng phải thiết lập một quan hệ tốt đẹp, thậm chí có thể thực hiện sự vận động hành lang khi cần thiết nhằm tạo ra 1 môi trường thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp

b.Môi trường kinh tế

Đây là một yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà quản trị Sự tác động của các yếu tố của môi trường này có tính chất trực tiếp và năng động hơn so với một số các yếu tố khác của môi trường tổng quát Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe doạ khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng tiềm tàng đến các chiến lược của doanh nghiệp Có rất nhiều các yếu tố của môi trường

Ngày đăng: 23/04/2016, 19:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân tích biến động các khoản mục - Giáo trình môn học phân tích hoạt động kinh doanh  phần 1
Bảng ph ân tích biến động các khoản mục (Trang 12)
Bảng phân tích các khoản mục bảng cân đối kế toán - Giáo trình môn học phân tích hoạt động kinh doanh  phần 1
Bảng ph ân tích các khoản mục bảng cân đối kế toán (Trang 15)
Bảng tình hình sản xuất sản phẩm - Giáo trình môn học phân tích hoạt động kinh doanh  phần 1
Bảng t ình hình sản xuất sản phẩm (Trang 18)
Bảng  phân  tích  năng  suất  lao  động  của  công  nhân  sản  xuất  trong  doanh  nghiệp - Giáo trình môn học phân tích hoạt động kinh doanh  phần 1
ng phân tích năng suất lao động của công nhân sản xuất trong doanh nghiệp (Trang 58)
Bảng phân tích tình trạng kỹ thuật của tài sản cố định - Giáo trình môn học phân tích hoạt động kinh doanh  phần 1
Bảng ph ân tích tình trạng kỹ thuật của tài sản cố định (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w