1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ebook kỹ thuật trồng một số giống lạc và đậu tương mới trên đất cạn miền núi phần 2

27 477 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một bệnh có thể do nhiều loài ký sinh gay ra.Nhin chung đựa vào đặc điểm gây hại và triệu chứng có thể chia bệnh hại lạc thành các nhóm sau: * Các bệnh gáy héo và chết cảy: Có nhiều nguy

Trang 1

Chú ý: Không nên thu hoạch đậu tương khi còn ẩm ướt và trời sắp mưa, không phơi được cây đậu tương ngay vì đậu rất dễ

bi hỏng nhanh trong nhà Hạt đậu tương được phơi khô trên nong, mía, cót đến khi hạt có độ ấm 12%, nhặt sạch hạt sâu, lép

va bao quan trong chum vo

C SAU, BENH CHINH HAI LAC, DAU TUONG

VA BIEN PHAP PHONG TRU

I SÂU, BỆNH HẠI LẠC VÀ BIỆN PHAP PHONG TRỪ

1 Bệnh hại chính:

Tập đoàn bệnh bại lạc ở Việt Nam khá phong phú với khoảng 30 loại bệnh khác nhau Trong số các bệnh hại lạc có 9 loại được xác định là phố biến và có tác hại đáng k kể bao gồm: héo xanh, đốm đen, BỊ sắt, đốm nâu, thối đen cố rễ, thối trắng thân, mốc xám, mốc vàng và thối quả Các ký sinh gây bệnh là nấm, vi khuẩn, vi rút và tuyến trùng Qua nghiên cứu nguyên nhân và triệu chứng bệnh thấy răng một số ký sinh có thể pay hai ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau và bộ phận bị hại khác nhau của cây lạc va gay ra các triệu chứng khác nhau Một bệnh có thể do nhiều loài ký sinh gay ra.Nhin chung đựa vào đặc điểm gây hại và triệu chứng có thể chia bệnh hại lạc thành các nhóm sau:

* Các bệnh gáy héo và chết cảy: Có nhiều nguyên nhân gây

ra hiên tượng héo và chết cây:

- Bénh héo xanh do vi khudn Ralstonia solanacearum gay ra

- Các bệnh héo và chết cây do nhiều loại năm gây ra với nhiều triệu chứng khác nhau gồm:

+ Bệnh chết rạp cây con do các nấm: Aspergilus niger, Sclerotium rolfsii, Rhizoctonia solani, Fusarium spp

+ Bệnh thối đen cô rễ (Aspergilus miger)

+ Bénh théi trang than (Sclerotium rolfsii)

+ Bệnh mốc xám (Botrytis cinerea)

Trang 2

1 Bệnh héo xanh vi khuẩn:

Héo xanh vị khuẩn là một trong những bệnh phổ biến ở các vùng trồng lạc và ở các địa phương thường gọi với các tên khác nhau như chết ẻo, chết rút, chết nhát hoặc chết lui Ở nhiều địa

phương thường có sự nhầm lẫn giữa bệnh héo xanh do vi khuẩn

Bây ra với các bệnh nấm gây héo và chết cây khác như thối đen

cố rễ và thối trắng thân Đây là một khó khăn trong công tác phòng trừ bởi lẽ nguyên nhân gây bệnh khác nhau thì biện pháp phòng trừ cũng phải khác nhau

Mức độ nhiễm bệnh héo xanh phụ thuộc vào đất và hệ thống cây trồng Ty lệ bệnh thường cao nhất trên đất đốc, đất đồi sau

đó đến đất bãi ven sông chuyên màu, rồi đến đất chuyên màu và thấp nhất là trên đất luân canh với lúa nước Trên một chân đất mức độ bệnh thường trầm trọng nếu trồng 2 vụ lac/nam và nhẹ nếu được luân canh với lúa nước Về mức độ, trên đất đồi tỷ lệ bệnh có thể tới 1O - 60% nếu trồng 2 vụ lạc liên tiếp một năm và

5 - 35% nếu trồng một vụ lạc /năm Mức độ bénh trên đất bãi ven sông chuyên màu, đất nội đồng chuyên màu có thể biến động từ O- 15%

Triệu chứng bệnh héo xanh vi khuẩn thường xuất hiện sau

khi trồng 2 - 3 tuần Dấu hiệu đầu tiên của bệnh là một vài lá ở phía trên tái đi hơi rủ xuống hoặc xoăn nhẹ Lúc đầu cây có thể phục hồi về ban đêm khi trời râm mát, giai đoạn sau đó bộ lá và thân cây bị héo nhanh chóng, bộ lá héo rủ xuống nhưng vẫn giữ màu xanh Cuối cùng cây bị khô héo nhưng vẫn đứng không đổ, Đôi với những cây già hơn hoặc giống bị nhiễm thì quá trình héo điễn ra từ từ và thường bị bệnh ở cành bên Thính thoảng cây bị nhiễm bênh không biểu hiện rõ triệu chứng Hiện tượng héo diễn ra một cách từ từ và cuố: cùng toàn bộ cây có thể bị héo và chết

Những đặc điểm chủ yếu để phân biệt cây bị héo xanh do vi

khuẩn với cây bị các bệnh nấm khác gây héo là khi cây bị héo xanh vi khuẩn thì bộ lá bị héo rủ xuống nhưng vẫn giữ được

Trang 3

màu xanh , Nếu các bệnh nấm gây héo thì lá héo rủ xuống và bị

úa vàng Trên đồng ruộng cây bị bệnh thối đen cổ rễ ở phần thân sát mặt đất thường có lớp bào tử màu đen như bột bồ hóng, nho Jén cây sẽ bị đứt ở phần cố rễ Trong trường hợp cây bị thối trăng thân có thể nhận thấy rõ ràng có lớp sợi nấm màu trang va các hạch nấm màu vàng nâu Khi nhổ lên cây cũng dễ bị đứt ở phần cuối thân gần mặt đất Ngược lại, nếu cây bị héo xanh thì

có thể nhố cây bệnh cùng toàn bộ rễ chính lên không bị đứt

Vi khuẩn gây héo xanh có phạm vi ky viủ rộng, ngoài lạc còn pây bệnh cho cà chua, cà tím, khoai tây, thuốc lá, ving Trong so nam ndi cha vi khuan Ralstonia solanacearum gây héo xanh, vi khuẩn gây héo xanh lạc thuộc noi | Day IA noi cé phạm vị ký chủ rộng, lây nhiễm các cây họ cà ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới

Kết quả nghiên cứu ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam cho thấy các nguồn bệnh héo xanh ở các vùng trồng lạc ở nước ta có hai chủng sinh học (biovar) khác nhau là biovar

3 và biovar 4, trong đó biovar 3 chiếm đa số

Sử dụng gi6ng kháng bệnh là một trong những giải pháp quan trọng và cc nhiều triển vọng để kiểm soát bênh và hạn chế tác hại của bệnh Tuy nhiên do sự tiến hoá của ký sinh, các giống kháng bệnh, đặc biệt là bệnh héo xanh vi khuẩn rất nhanh

bị mất tính kháng Cho đến nay trên thế giới người ta thấy trong

số các cây bị bệnh héo xanh vi khuẩn, cây lạc mang gen kháng

bệnh ổn định nhất Một số giống kháng bệnh được phát hiện

cách đây hơn nửa thế kỷ vẫn được gieo trồng và tỏ ra kháng bệnh bền vững Hiện nay ở nước ta giống Gié Nho quan, KPS13, MD7 có thời gian sinh trưởng I15 - 120 ngày vụ xuân 100 - 1Ø2 ngày vụ thu đông, rất phù hợp với các tỉnh trồng lạc ở nước

ta MD7 có thân lá gọn, phát triển cân đối, sinh trường khoẻ, chống chịu bệnh lá trung bình, bệnh thối quà khá, bệnh héo xanh cao, chịu được các diều kiện bất thuận, thích ứng rộng và

Trang 4

cố tiểm năng năng suất cao (3,5 - 4 tấn/ha) đã được phát triển mạnh ở các vùng, đặc biệt là vùng đất cạn, đồi và vùng thường xuyên có dịch bệnh

Biện pháp hữu hiệu nhất để phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn là dùng giống kháng bệnh, luân canh lạc với lúa nước và không trồng hai vụ lạc một năm trên cùng một thửa ruộng Những nghiên cứu sử dung thuốc hoá học để trừ bệnh này cho đến nay chưa có hiệu quả

Trên chân đất có nguồn bệnh nặng cần phải luân canh cây trồng với các cây không cùng ký chủ của vi khuẩn như: lúa, ngô, mía, thời gian tốt nhất là 3 - 4 năm

Vệ sinh đồng ruộng thu lượm cây bệnh và vùng đất xung quanh đốt hoặc đào hố sâu để chôn vùi cây bệnh

- Thối trắng thân (Sclerofiwm rolfsti): Cây bị bệnh thối trắng thân có thể dễ dàng nhận thấy có lớp sợi nấm màu trắng và các hạch nấm nhỏ màu vàng nâu Khi nhổ lên cây cũng bị đứt ở phần cuốt thân sát mặt đất Loại nấm này có thể gây bệnh cho

cây ở giai đoạn quả phát triển làm cây bị chết và quả bị thối,

- Chét vang (Fusarium spp va Rhizoctonia solani): Bénh làm cho cây con chết vàng từ từ, ở phần gần gốc thân biến màu nâu

và có thể có lớp vỏ thân cây hơi bị nứt

Bệnh gây chết cây con ở tất cả các vùng trồng lạc với ty lệ bệnh khác nhau, thường từ 1- 25%, bệnh hại nặng ở các ruộng lạc có ẩm độ cao và trồng nhiều vụ lạc/năm

Trang 5

Các bệnh này chủ vếu lan truyền qua đất và hạt

- Bệnh gỉ sắt (Pucciua arachidis): Triệu chứng bệnh là những mụn nhỏ màu gi sắt xuất hiện ở phía đưới của mặt lá và ở các lá ở phía dưới trước Bào từ xuất hiện ở trên vết bệnh có màu hơi nâu đỏ Khi bệnh nặng các vết bệnh phù gần kín mặt đưới

lá, những tầng lá ở phía dưới có màu nâu và bị héo Mặc dù bệnh nặng lá bệnh có thể khô héo nhưng không rụng

- Bệnh đốm nâu: Tác nhân gây bệnh là nấm Cercopora

arachidicola (Berk va Cuụrt) Vết bệnh có đường kính I - 20mm

dạng hơi tròn đến không cố định, màu nâu đậm xung quanh có viên vàng Bào từ được hình thành trên vết bệnh ở mặt trên của

lá Bệnh thường xuất hiện 4 - 5 tuần sau trồng

Trang 6

Trên đồng ruộng bệnh đốm nâu thường xuất hiện sớm hơn

bệnh đốm đen và gi sắt, nhưng cả ba bệnh đều có thể xuất hiện

4 - 6 tuần sau gieo Bệnh phát triển mạnh từ sau giai đoạn ra hoa, tạo quả - chín Đốm đen gây hiện tượng rụng lá, trong khi

đó lá bị bệnh gỉ sắt đù rất nặng chỉ bị khô héo nhưng không rụng Khi trên cùng một lá có đồng thời cả hai bệnh thi trong trường hợp bệnh đốm đen phát triển mạnh lá bị rạng hàng loạt Nguồn lây nhiễm ban đầu là Conidia được sinh ra trực tiếp từ những sợi năm trên tàn dư cây trồng trong đất và được chuyển lên những lá ở gần mật đất do mưa gió và côn trùng Nhiệt độ từ

25 - 30°C và ẩm độ không khí cao thích hợp cho sự xâm nhiễm

phát triển của bệnh Chính vì vậy ở miền Bắc trong vụ thu đông đốm đen và gi sắt phát triển gây hai nang hon so với vụ Xuân

- Phòng trừ bệnh: Thiệt hại do bệnh đốm lá và gi sắt gây ra khác nhau ở các vùng, ở các mùa trồng và ở trên các giống kháng, nhiễm khác nhau Trong trường hợp các bệnh lá phát triển sớm (trước 70 ngày sau gieo) ở các vùng thường xuyên bị bệnh gây hại thì việc sứ dụng thuốc hoá học dé phòng trừ bệnh

là cần thiết Có thể phun thuốc trước hoặc sau khi thấy triệu chứng bệnh xuất hiện Các loại thuốc được sử dụng như: Anvil 5SC liều lượng Llit/ha phun 1 - 3 lan/vu, Daconil 200 SC (1,5

lit/ha) Til super 300 ND 0,1 - 0,2 lit/ha

Dùng giống kháng hệnh: Việc sử dụng các giếng có khả năng chống chịu trung bình đã làm chậm thời gian xuất hiện bệnh trên đồng ruộng, kìm hãm tốc độ phát triển của bệnh, hạn chế lượng nguôn bệnh, tạo điều kiện giảm số lần phun thuốc

đến mức tối thiểu va trong đa số trường hợp nong dan không cần

phun thuốc, nã¡,2 suất lạc không bị giảm

Vì nguồn bệnh ban đầu chủ yếu do tàn dư cây trồng có trong đất nên việc vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch làm thức ăn gia súc hoặc đốt hoặc cày vùi sâu sẽ có tác dụng hạn chế bệnh Luân canh cây trồng hoặc kéo dài thời gian cách ly giữa hai

vụ lạc sẽ hạn chế được nguồn bệnh ban đầu Lạc trồng liên tục trên mội ruộng 2 vụ ở miền Bắc bị bệnh lá năng hơn so với lạc

Trang 7

trồng luân canh với lúa nước và các cây trồng khác Xen canh lạc với ngô có tác dung hạn chế sự phát triển của bệnh

4 Bệnh hại qua và hat:

Bệnh thối quả là bênh khá phổ biến và gây tác hại đáng kể ở

nhiều vùng trồng lạc nước ta Bệnh do nhiều loại nấm gây ra như: Sclerotiuwu rofsit, Fusarium spp, Phythium, Aspergitus niger, Aspergilus flavus Triệu chứng của bệnh rất khó nhận

biết trước Trên đồng ruộng cây lạc có thể vẫn phát triển bình

thường nhưng khi nhổ lén thì có nhiều quả bị bệnh Những nghiên cứu về bệnh thối quả ở nước ta cho đến nay chưa nhiều Bệnh mốc vàng hạt do nấm A flavus gay ra la bệnh được tất

cả các nước trồng lạc cũng như các nước tiêu thụ lạc quan tâm, bởi lẽ nấm gây hại chủ yếu trên hạt và tiết ra độc tố aflatoxin có khả năng gây ung thư và nhiều bệnh khác cho người và động

Vật

Kết quả nghiên cứu ở trong nước gân đây cho thấy nấm Aflavus thường tấn công vào hạt lạc từ trên đồng ruộng Ngay sau khi thu hoạch đã có tới 66% số mẫu thu thập bị nhiễm với tỷ

lê hạt bị bệnh từ I- 30% Ở miền Bắc hạt lạc thu hoạch vụ xuân

bị nhiễm bệnh nặng hơn vụ thu, lạc vụ thu đông bị nhiễm với tỷ

lệ thấp nhất ở thời điểm thu hoạch Lạc trồng trên đất gò đồi chuyên màu không cố tưới bị nhiễm nặng nhất (10 - 12% số hạt

bị bệnh), sau đó đến lạc trồng trên đất bãi ven sông không tưới (6,7 - 8,5%) và ít bệnh nhất là lạc trồng trên đất luân canh có tưới (2,5 - 3,0%) Hạt thu hoạch muộn có tỷ lệ hạt bị nhiễm

A flavus cao hon lac thu s6m Để phòng trừ bệnh mốc vàng cần phải ứng dung các biện pháp tổng hợp nhằm ngăn ngừa, hạn chế

sự xâm nhiễm của nấm từ trên đồng ruộng và ngăn chặn sự phát triển lây lan ở giai đoạn sau thu hoạch và bảo quản:

- Điều chính thời vụ gieo hợp lý để thu hoạch lạc vào thời

tiết nắng ráo

Trang 8

- Tránh gây chấn thương cho cây và quả lạc trong quá trình chăm sóc, làm cỏ và thu hoạch

- Bón thạch cao hoặc vôi bột vào giai đoạn lạc đâm tia

- Giữ đất đủ ẩm ít nhất một tháng trước khi thu hoạch

- Thu hoạch lạc đúng độ chín, loại những cây bệnh

- Sau khi nhồ tách quả và phơi ngay càng sớm càng tốt cho

đến khi độ 4m dat 9% (lấy tay xoa chóc vỏ lụa hạt là được),

- Loại bỏ quả sâu bệnh, chấn thương, quá già Bảo quản lạc

trong điều kiện khó ráo, mát mẻ

2 Một số sâu chính hại lạc

Thành phần sâu hại lạc rất phong phú với 51 loài được phát hiện gây hại lạc ở miền Bắc, 30 loài ở miền Nam Phần lớn các loài sâu hại lạc nói trên hoạt động và gây hại ngoài đồng, có 4 loài gây hại trong kho ở miền Bắc và 2 loài gây hại trong kho ở miền Nam Ở miền Bác các loài gây hai đáng kể nhất là sâu khoang (Spondotera litura), sau duc hoa va qua dau (Maruca testulalis), sau xanh (Helicoverpa armigera), bo phan (Benusia

sp), ray xanh (Empoasea motti}, bo tri (Scitothrip dossalis), rép

(Aphis araccivota sp) Phan lén cdc loài sâu này là đa thực, ngoài lạc còn gây hai cho nhiều cây trồng khác như ngô, rau,

đậu, bông Do vậy chúa»ø có thể từ các cây trong khác chuyền

sang lạc hoặc từ lạc chuyển sang gây hại các cày khác

1 Sau khoang:

Đây là sâu hại nghiêm trọng nhất trên lạc ở nước ta Sâu trưởng thành thường xuất hiện sau khi lạc mọc I5 - 2Ô ngày Bướm đẻ trứng thành từng ổ màu nâu nhạt ở mặt trên của lá, sau

2 - 3 ngày trứng nở thành sâu non và phát tán rất nhanh Sâu non tuổi nhỏ màu xanh nhạt, lớn lên màu xanh đậm và khác với sâu xanh là có các châm đen đậm vùng ngực và thường có các vết nhỏ sáng màu dọc hai bên thân Nhộng màu nâu đỏ đưới đất gần gốc cây

Trang 9

Sâu khoang có phạm vi ký chủ rộng, gây hại trên lạc, ngô, bóng, rau, đậu Khi còn nhỏ sâu gặm lá, đặc biệt là lá non để lại vết trắng Sâu tuổi lớn ăn trụi lá làm cho nhiều ruộng trước khi thu hoạch chỉ còn trơ lại thân và cành Sâu hại nặng nhất từ tạo quả đến vào chắc Ở miền Bắc, sâu khoang thường đạt đỉnh cao

về mật độ vào nửa đầu tháng năm

Sâu khoang thích đẻ trứng trên lá hướng đương nên có thể dùng hướng đương trồng xen với lạc, để dẫn dụ sâu khoang đẻ

trứng rồi thu trứng hoặc phun thuốc trên hướng đương để tiêu

điệt sâu

2 Sâu xanh:

Là loại sâu hại phố biến trên lạc, ngô, rau, đậu đỗ , bướm có màu nâu tối đẻ trứng riêng rẽ trên các lá non và nụ hoa Về hình thái sâu non rất giống với sâu khoang nhưng không có những chấm đen ở vùng ngực Đa số sâu non có màu xanh xám, nhưng

cũng có thể có màu khác như hồng, xanh đen hoặc đen hoàn

toàn Sâu non ban ngày không ẩn nấp trong đất, Ở các vùng trồng lạc nước ta sâu xanh xuất hiện sớm từ khi có 3 - 4 lá Mật

độ sâu xanh tăng dan và đạt cao điểm vào giai đoạn sau ra hoa, tạo quả

3 Bọ trĩ:

Bọ trĩ gây hại trên lạc sau khi cây mọc L0 - 1Š ngày ở cả vụ

xuân và vụ thu Bọ trĩ sống tập trung ở búp và các lá non chưa

mở Bọ trĩ sinh sản và gây hại rất mạnh, lúc đầu thấy những vết xước trắng trên những lá non mớt mở Khi bị hại năng lá chuyển sang màu xanh vàng, nâu sáng, có ánh bạc trên mặt lá dưới Lá

bi hai tro nén day va don hon, co rtm quần queo Nếu bị hại nặng cây còi cọc, bộ lá tàn Iui ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng Bo trĩ sinh sản mạnh nhất ở nhiệt độ trên dưới 25°C Lạc vụ xuân ở miền Bắc vào thời kỳ ra hoa, đâm tia, nắng hạn kéo đài có tỷ lệ diện tích lá bị hại rất cao, đặc biệt là ở các vùng trồng lạc không

Trang 10

có điều kiện thâm canh cao Ngoài tác hại trực tiếp, bọ trĩ còn là nguyên nhân truyền bệnh vì rút chết chồi - một bệnh nguy hiểm đối với lạc ở các nước châu À

4 Rây xanh:

Ray non va rầy trưởng thành hút dịch cây từ gân và cuống lá, ray non gảy hại nhiều hơn rầy trưởng thành Biểu hiện của sự gây hại ban đầu là các điểm trắng trên gân lá, sau đó xuất hiện các vùng biến vàng hình chữ "v" với diện tích tăng dần có thể chiếm gần hết cả lá Trong điều kiện bị hại nặng đầu lá vàng và khô héo hàng loạt gọi là hiện tượng "cháy rầy" Ở miễn Đắc ray xanh gày hại chủ yếu ở giai đoạn lạc đâm tia trở đi trong vụ xuân Vụ thu lạc bị hại nặng hơn vụ xuân Mưa nhiều với độ ẩm cao, thời tiết ấm áp thích hợp cho rầy xanh phát triển Các giống lạc khác nhau về mức độ nhiễm bọ trĩ và rầy xanh LO8 là giống

có khả nãng kháng khá với các sâu chích hút này Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng Gaucho (3,5 g ai/kg hạt) có tác dụng hạn chế bọ trĩ và rầy xanh ở giai đoạn cây con tốt

3 Quy trình phòng trừ tổng hợp sâu, bénh hai lac

- Sử dụng giống kháng sâu bệnh, hoặc ít bị nhiễm, đặc biệt ở các vùng đất đồi, đất bãi ven sông, đất chuyên màu không luân canh với lúa nước Tuỳ từng địa phương, chân đất, nên chọn trồng giống lạc thích hợp

- Trước khi gieo trồng dọn vệ sinh đồng ruộng nhất là những nơi trồng liên tục 2 vụ lạc/năm Thu gom tàn dư cây lạc bón cho lúa hoặc cày vùi sâu trong đất

- Chọn những hạt lạc đẹp loại bỏ hạt có vỏ lụa biến màu, có vết loang xám Xử lý hạt giống trước khi gieo bàng thuốc trừ nấm TMTD 0,3% hoặc Rovral 0,3%để phòng trừ các bệnh lan truyền qua hạt và nguồn bệnh từ đất gây chết cây (chú ý ở chân đất có nguồn bệnh)

Trang 11

- Khi gieo giữ đất đủ độ ẩm để hạt nảy mầm, mọc nhanh khỏi mặt đất, tránh được sự xâm nhiễm của nấm bênh vào lá mầm, cổ rễ

- Sử dụng cây hướng dương làm cây dẫn dụ để thu hút các loài sâu khoang, sâu xanh đến đẻ trứng Định kỳ kiểm tra, thu

để tiêu điệt ð trứng và sâu non Có thể gieo hạt hướng dương đã ngàm no nước cùng với gieo lạc mật độ 2 - 3 cây/mỶ

- Ở từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lạc cần theo đõi chặt chẽ để biết mật độ sâu hại đã đến ngưỡng phòng trừ

+ Khi cây con 2 - 6 lá trong vụ xuân chú ý phòng trừ sâu xám an lá, cắn cây gây khuyết cây (vào sáng sớm, chiều tối) Bắt bàng tay hoặc phun thuốc trừ sâu khi cây ở tuổi nhỏ

+ Chú ý phòng trừ bọ trĩ, rây xanh, rệp là các loại sâu chích hút ở giai đoạn cây con

+ Theo đõi sâu ăn lá ở giai đoạn ra hoa, quả phát triển Chỉ phun thuốc trừ sâu khi mật độ sâu hại đạt đến ngưỡng phòng trừ (để bảo vệ thiên địch của sâu hạt): bọ trĩ 5 con/búp ở giai đoạn cây 30 ngày sau mọc, rầy xanh 5 - 10 con/cay ở 30 ngày sau mọc sâu ăn lá 20 - 25% điện tích lá bị hại ở 4Õ ngày sau mọc, rệp 1Ö con/búp và 100% cây bị bệnh

-O những nơi thường bị bệnh hại lá nặng và trên giống nhiễm vào năm thời tiết thuận lợi cho bệnh phát triển thì phải phun thuốc phòng bệnh ở giai đoạn bệnh mới phát sinh 35 - 40 ngay sau gieo và phun lần 2 khi quả hình thành phát triển bằng thuốc trừ bệnh

- Thu hoạch lạc đúng lúc, tránh thu muộn để hạn chế bệnh hại quả và nấm bệnh mốc vàng (Aspergilus flavus) Thu hoạch xong vặt quả phơi càng sớm càng tốt đến khi độ ẩm đạt 9%

- Lạc dùng làm giống không nên phơi trực tiếp dưới nắng gắt trên nên sân gạch hay xi măng, tốt nhất phơi trên nia cót Loại bỏ những củ xấu, sâu bệnh, quá già, bảo quản trong thùng,

chum hoặc bao hai lớp để nơi thoáng mái

Trang 12

II SÂU, BỆNH HẠI ĐẬU TƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

1 Bệnh hai đậu tương

Tập đoàn bệnh hại trên đậu tương rất phong phú Những bệnh hại chủ yếu gồm gỉ sảt, sương mai, đốm chấm vi khuẩn,

thán thư, đốm tím, lở cô rễ, vi rút Ngoài ra cờn có nhiều loại

bệnh khác gây hại như đốm nâu, đốm đen, phấn trắng, thối hạt, chết héo

1 Bệnh gỉ sắt đâu tương:

Bệnh do nấm Phakopsora pachyrluzi Sydow Saw gây ra GI sắt là loại bệnh gây tác hại lớn nhất đối với đậu tương ở nước ta Bệnh gây hại nặng trên lá, thân, cuống quả va qua Ban đầu ở mật dưới lá vết bệnh hình thành dưới đạng những chấm nhỏ màu vàng trong, đường kính 0,2 - 0,3 đến Imm Sau đó vết bệnh nối lên trên mặt lá có màu vàng nâu, biểu bì lá nát ra để lộ ổ bào tử

có màu nâu vàng Bệnh xuất hiện ban đầu ở những lá già phía dưới gần mặt đất và phát triển dần lên các bộ phận cây ở phía

trên

Trong vụ đông xuân thời tiết thuận lợi cho bệnh phát triển, ổ bào tử thường lớn, vết bệnh to và nhiều hơn vụ hè thu Cây bị bệnh khiến lá sớm bị vàng, hàm lượng diệp lục giảm nhanh chóng, quang hợp bị giảm sút nghiêm trọng và làm năng suất đậu tương rất thấp, thậm chí thất thu

Nấm tồn tại trong đất và tàn dư cây và là nguồn bệnh lây lan

từ Vụ trước sang vụ sau

Bénh gi sat phát sinh và gây hại quanh năm Ở các tỉnh miền

Bắc bệnh gây hại nặng nhất trong vụ xuân Cao điểm của bệnh

thường vào tháng 3 - 4 khi nhiệt do khong khi 18 - 30°C va cay

Trang 13

đậu tương có 5 lá kép đến thu hoạch Bệnh có thể kéo đài đến thang 5 va lam cay rụng lá hàng loạt

Hầu hết các giống đậu tương đang trồng ở nước ta đều bị nhiém bénh với mức độ khác nhau Nhìn chung các giống ngắn ngày bị bệnh nặng hơn giống dài ngày Hiện nay ĐT-2000 là giống mới được chọn tạo có khả năng kháng bệnh rất cao và rất thích hợp gieo trồng trong vụ xuân thay cho giống V74 bị nhiễm bệnh nặng

Biện pháp phòng trừ:

- Dùng giống kháng bệnh (ĐT-2000) để trồng trong vụ xuân

- Luân canh đậu tương với cây hoà thao va thu don tan dư

2 Bệnh sương mai:

Bệnh sương mai là một trong những bệnh hại phổ biến ở nhiều vùng trồng đậu tương nước ta Bệnh gây tác hại đáng kể làm vàng khô lá, giảm quang hợp, làm rụng lá và làm ảnh hưởng tới năng suất đậu tương Tác nhân pây bệnh là năm Peronospora manshurica (Naoum) syd

Bệnh hại các bộ phận lá, thân, quả nhưng bại lá là chủ yếu Trén lá bệnh đầu tiên xuất hiện những chăm nhỏ màu xanh vàng

và xám dần Khi vết bệnh lớn dần sẽ có hình đa giác, hình đạng không cố định Vết bệnh rải rác trên lá, nhưng thường ở đọc các gân lá, siai đoạn cuối có màu nâu vàng và khô cháy Mật dưới vết bệnh có lớp mốc trắng xám, hơi xốp là các cành bào tử của nấm gây bệnh Bên trong các quả bị bệnh cũng có lớp nấm möc trắng hạt bị lếp

Ngày đăng: 23/04/2016, 19:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm