Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, bởi toàn cầu hóa là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất thì không ngừng lớn mạnh đó là quy luật chung nhất cho mọi thời đại, mọi chế độ xã hội. Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, hội nhập nền kinh tế quốc tế đang trở thành một xu thế khách quan với hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới.Theo xu thế chung của Thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không phải là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như sau này. Hội nhập kinh tế quố tế vừa là thời cơ đồng thời cũng là thách thức đối với Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa
Trang 1MỤC LỤC
A.LỜI MỞ ĐẦU 1
B.NỘI DUNG 2
I Toàn cầu hóa 2
1 Khái niệm chung về toàn cầu hóa 2
2 Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hóa kinh tế 2
3 Quá trình diễn ra toàn cầu hoá kinh tế 2
4 Những mặt tích cực, tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế 3
4.1.Tích cực của quá trình toàn cầu hóa 3
4.2.Tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế 5
II Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 5
1.Hội nhập kinh tế quốc tế 5
1.1.Khái niệm hội nhập kinh tế 5
1.2.Các vấn đề của hội nhập kinh tế 6
1.3.Đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế 7
2 Tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam 7
3.Tình hình Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 9
4.Tác đông của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam 13
5.Thành tựu và hạn chế trong hội nhập kinh tế quốc tế của việt Nam 15
5.1.Những thành tựu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 15
5.2.Hạn chế của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 17
III.Giải pháp đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam 18
C.TỔNG KẾT 22
Tài liệu tham khảo: 23
Trang 2Vì vậy em xin lựu chọn đề tài: “ Toàn cầu hóa và quá trình hội nhập kinh tếquốc tế của Việt Nam”
Trang 3B.NỘI DUNG
I Toàn c u hóa ầu hóa.
1 Khái niệm chung về toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trongnền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữacác quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v trênquy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như đượcdùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mạihay "tự do thương mại" nói riêng Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy cácdòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹthuật, công nghệ, thông tin, văn hoá
2 Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hóa kinh tế
Một là, sự phát triển của lực lượng sản xuất; quá trình chuyên môn hóa,
hợp tác hóa sản xuất và phân công lao động đã vượt khỏi tầm tay của từngnước
Hai là, sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, nhất là sự phát
triển nhảy vọt về thông tin liên lạc, giao thông, đặc biệt là sự ra đời của côngnghệ thông tin
Ba là, nhu cầu mở mang thị trường, xuất khẩu tư bản, sự di cư ồ ạt về lao
động Bốn là, sự hòa hợp và tham gia rộng rãi vào các hoạt động quốc tế củacác quốc gia, đặc biệt là các nước thứ ba
Năm là, sự phát triển và phổ cập của kinh tế thị trường và cơ chế thị
trường
Sáu là, Sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức quốc tế
về thương mại và tài chính, sự hình thành các hệ thống tài chính, ngân hàngquốc tế, tạo ra khối lượng giao dịch tiền tệ, hàng hóa khổng lồ
3 Quá trình diễn ra toàn cầu hoá kinh tế.
Toàn cầu hóa kinh tế nảy sinh rất sớm và dần dần phát triển, để rồi tạo ranhững bước phát triển nhảy vọt như hôm nay Ngay từ đầu thế kỷ XVI - XVII– XVIII với sự giao thương giữa các quốc gia, đã hình thành dần các nhân tốquốc tế hóa kinh tế Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã khẳng định: “Đại côngnghiệp đã tạo ra thị trường thế giới Thay cho tình trạng cô lập trước kia của
Trang 4các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệphổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc” Toàn cầu hóa kinh tế khởinguồn từ trao đổi thương mại, dần dần phát triển sang nhiều lĩnh vực khác nhưsản xuất, dịch vụ, đầu tư, môi trường, xã hội Nó thu hút tất cả các nền kinh tếcủa các quốc gia, không phân biệt giàu, nghèo, phát triển hay chưa phát triển,quốc gia lớn và cả quốc gia bé, các nước có chế độ chính trị khác nhau Toàncầu hóa kinh tế làm cho các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia gắn bó vớinhau, phụ thuộc vào nhau, tác động lẫn nhau Thông qua toàn cầu hóa mà nềnkinh tế các nước tạo ra những lợi thế mới để thúc đẩy lực lượng sản xuất, kỹthuật công nghệ phát triển từ đó làm cho nền kinh tế của từng nước có thể vượtqua các thế yếu của mình mà tạo ra lợi thế mới và thế mạnh mới Nhưng ngượclại toàn cầu hóa cũng có thể làm cho nền kinh tế của từng nước, từ chỗ có lợithế so sánh, từ chỗ có thế mạnh lại trở thành nền kinh tế yếu kém, không có lợithế, nếu bỏ lỡ thời cơ Toàn cầu hóa kinh tế cũng dẫn đến xu thế khu vực hóakinh tế Khu vực hóa kinh tế thực chất là sự tập hợp lực lượng của các nền kinh
tế khu vực để hỗ trợ nhau tạo ra sức mạnh của từng khu vực kinh tế thích ứngvới toàn cầu hóa kinh tế Hiện tượng này chính là sự thể hiện sinh động, đadạng mà thống nhất của toàn cầu hóa Chúng ta có thể kể ra đây rất nhiều khuvực kinh tế như : ASEAN, Đại Tây Dương, EU, Bắc Phi, APEC, FTAA, Ấn
Độ Dương Xu thế toàn cầu hóa kinh tế được thể chế hóa thành nhiều vănbản mang tính quốc tế như các công ước, hiệp định quốc tế và được tổ chứcthành các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính - tiền tệ Đây là một quá trìnhđấu tranh gay gắt kéo dài của các nền kinh tế của các quốc gia, giữa nướcnghèo và nước giàu nhằm vừa bảo vệ lợi ích kinh tế của quốc gia mình vừa hòathuận để cùng phát triển, cạnh tranh và sinh tồn
4 Những mặt tích cực, tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế
4.1.Tích cực của quá trình toàn cầu hóa.
Một là, toàn cầu hoá kinh tế thúc đẩy tự do hoá mậu dịch phát triển Nhìn
lại tình hình buôn bán của các nước trên thế giới hiện nay, hầu như không còntồn tại tình trạng thị trường đơn nhất ngay cả ở cường quốc kinh tế phát triển.Giờ đây, hầu như thị trường nội địa của các nước đều gắn với thị trường thếgiới, là bộ phận của thị trường thế giới Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nướccũng như ngành ngoại thương đóng vai trò rất lớn đối với tăng trưởng tổng sảnlượng quốc nội (GDP) Năm 2004, mức độ phụ thuộc của GDP Mỹ vào ngànhngoại thương tới 25,9%, năm 2005, mức độ phụ thuộc của GDP Trung Quốcvới ngành ngoại thương và buôn bán đối ngoại tới 61% Do tính phụ thuộc vào
Trang 5ngành ngoại thương ngày càng cao, nên mức độ tự do hoá mậu dịch của cácnước trong khu vực Đông Nam Á cao hơn của các nước ở Mỹ Latinh Bởi vì,tới nay sự phát triển kinh tế của các nước Mỹ Latinh chủ yếu dựa vào nội thu,trong khi nhân tố nhu cầu nước ngoài thấp hơn nhiều so với các nước Đông Á.
Hai là,toàn cầu hoá kinh tế đã đẩy mạnh tiến trình quốc tế hoá lưu chuyển
vốn, có lợi cho tự do hoá đầu tư Từ năm 2001 tới 2003, mặc dù đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) giảm sút rất lớn, nhưng bắt đầu từ năm 2004 đã có dấuhiệu tăng trưởng trở lại Theo “Báo cáo đầu tư năm 2005” do Hội nghị pháttriển mậu dịch Liên hợp quốc công bố, tổng số FDI trên toàn thế giới đã lên tới
648 tỷ USD, tăng 2% so với năm 2003 Điều này cho thấy xu thế đầu tư quốc
tế giảm sút từ năm 2001 tới 2003 đã được ngăn chặn và bắt đầu gia tăng trở lạitrên thế giới Năm 2004, các nước Phương Tây đã tiếp nhận FDI trị giá khoảng
380 tỷ USD, giảm 14% so với năm 2003 Trong khi đó, FDI ở các nước đangphát triển tăng 40%, với tổng giá trị 233 tỷ USD Rõ ràng nếu không có toàncầu hoá kinh tế thì không thể quốc tế hoá vốn và di chuyển dễ dàng từ nướcnày qua nước khác Toàn cầu hoá kinh tế chẳng những thúc đẩy FDI tăng lên
mà ở mức độ lớn đã thúc đầy tự do hoá đầu tư Mấy năm qua, do môi trườngđầu tư được cải thiện, xu thế lưu thông tự do đầu tư đã tăng lên rõ rệt “Báo cáocủa Hội nghị mậu dịch Liên Hợp quốc” năm 2004 cho biết hai nước có FDI đổvào nhiều nhất là Mỹ và Anh, trong đó Mỹ tiếp nhận tới 96 tỷ USD và nướcAnh tới 78 tỷ USD Mặc dù các nước đang phát triển đã ra sức mở cửa thịtrường vốn của mình và đưa ra nhiều chính sách ưu đãi đối với đầu tư nướcngoài, nhưng do cơ chế và thị trường còn nhiều khâu yếu kém, nên trình độ tự
do hoá tiền vốn của các nước đang phát triển kém hơn nhiều so với các nướcphát triển Đây chính là vấn đề mà các nước đang phát triển cần nghiên cứu vàhoàn thiện để tận dụng được cơ hội tốt của toàn cầu hoá
Ba là, toàn cầu hoá kinh tế đã “bật đèn xanh” cho tự do hoá lưu chuyển
tiền tệ Trong điều kiện ngày nay, mọi tổ chức ngân hàng, tài chính, tiền tệ vàthị trường chứng khoán của các nước đều phải phát triển theo xu thế toàn cầuhoá Nếu ra đời xu thế này, thì không thể nói tới tự do hoá lưu chuyển tiền vốn
Ba thị trường chứng khoán nổi tiếng là New York, London và Tokyo giờ đây
đã len lỏi tới khắp nơi trên thế giới đề thu hút tiền vốn Thông qua việc khôngngừng điều chỉnh tỷ giá hối đoái, những đồng tiền như USD, Euro và đồngFranc của Thuỵ Sĩ đều trở thành đồng tiền dự trữ và có thể tự do lưu hành ởcác nước Tóm lại, tiền tệ được tự do lưu hành như hiện nay rõ ràng do tácđộng mạnh mẽ của tiến trình toàn cầu hoá
Trang 6Bốn là, toàn cầu hoá đã thúc đẩy phát triển sản xuất xuyên quốc gia Mấy
năm qua, đặc điểm nổi bật nhất của sản xuất xuyên quốc gia là sản xuất của cáccông ty xuyên quốc gia mở rộng mạnh mẽ ra các nước Đầu năm 1994, Khuvực mậu dịch tự do Bắc Mỹ vừa mới khởi động, các công ty xuyên quốc giacủa Mỹ đã nhân cơ hội này thành lập một loạt công ty con ngay gần biên giớiMehico Những công ty này đã lợi dụng nguyên vật liệu, tài lực, vật lực của địaphương sản xuất hàng hoá giá rẻ đưa về thị trường nội địa Mỹ Mấy năm qua,hầu hết các công ty xuyên quốc gia lớn của Mỹ và các nước trên thế giới đềutới Trung Quốc lập văn phòng hoặc trụ sở công ty để tiến hành sản xuất kinhdoanh ngay tại Trung Quốc
4.2.Tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế.
Một là, toàn cầu hóa kinh tế làm nảy sinh nhiều vấn đề cho xã hội con
người Bên cạnh những mặt tốt, mặt tích cực, nó gây ra không biết bao nhiêuđiều tiêu cực, gây ra những hậu quả khôn lường
Hai là, không phải những quốc gia nào cũng khai thác, tận dụng được các
mặt tích cực của toàn cầu hóa mà chỉ có các nước phát triển mới thụ hưởngđược những lợi thế đó Toàn cầu hóa đã khoét sâu thêm hố ngăn cách giàunghèo, làm trầm trọng thêm sự bất công xã hội trong từng nước và giữa cácnước với nhau
Ba là, toàn cầu hóa tạo cơ hội mở rộng thị trường, tạo ra sự canh tranh gay
gắt song là cuộc chay đua không cân sức giữa các nước giàu, các tập đoàn tưbản khổng lồ với các nước kém phát triển Trong cuộc chạy đua đó, chắc chắncác nước đang và kém phát triển sẽ bị thua thiệt
Bốn là, toàn cầu hóa cũng tạo ra nguy cơ làm biến dạng hoặc mất đi bản
sắc dân tộc, mất độc lập tự chủ của các quốc gia, đồng thời nó cũng tạo ra khảnăng quốc tế hóa các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội
=>Toàn cầu hóa kinh tế, mặc dù đến nay vẫn có những quan điểm trái ngược nhau nhưng rõ ràng là 1 xu thế phát triển của thời đại không thể khác được Chỉ những quốc gia nào bắt kịp xu thế này, biết tận dụng cơ hợi, vượt qua thách thức mới có thể đứng vững và phát triển Cự tuyệt hay khước từ toàn cầu hóa kinh tế tức là tự gạt mình ra ngoài lề của sự phát triển.
Trang 7II Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1.Hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.Khái niệm hội nhập kinh tế.
Hội nhập kinh tế là một xu thế vận động tất yếu của các nền kinh tế trên thếgiới gắn với quá trình toàn cầu hóa và khu vực do dưới tác động của cuộc cáchmạng khoa học -công nghệ.Đối với các nước công nghiệp hội nhập kinh tếquốc tế là quá trình chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế trithức Đối với các nước đang và chập phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế là giảipháp để khai thác có hiệu quả các nguồn lực phát triển bên ngoài, tránh tìnhtrạng tụt hậu
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổchức hợp tác kinh tế khu vực và tòa cầu trong đó các nước thành viên chịu sựràng buộc theo những quy định chung của cả khối
1.2.Các vấn đề của hội nhập kinh tế
Hội nhập kinh tế nhằm giải quyết 6 vấn đề chủ yếu:
-Đàm phán cắt giảm thuế quan, tiến tới thực hiện thuế suất bằng 0 đối với hànghoá xuất nhập khẩu
-Giảm thiểu, tiến tới loại bỏ các hàng rào phi thuế quan gây cản trở đối vớihoạt động thương mại Những biện pháp phi thuế phổ thông (như giấy phép,tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh kiểm dịch ) cần được chuẩn mực hoá theo cácquy định chung của WTO hoặcác các thông lệ quốc tế và khu vực khác
- Giảm thiểu các hạn chế đối với các hoạt động dịch vụ Tức là tự do hoá hiệnnay có khoảng 12 nhóm dịch vụ được đưa vào đàm phán, từ dịch vụ tư vấngiáo dục, tin học đến các dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thôngvận tải
-Giảm thiểu các trở ngại đối với hoạt động đầu tư quốc tế Giảm thiểu các hạnchế đối với đầu tư để mở đường hơn nữa cho tự do hoá thương mại
-Điều chỉnh các quy định và công cụ của chính sách thương mại khác Điềuchỉnh chính sách quản lý thương mại theo những quy tắc và luật chơi chungquốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến giao dịch thương mại , như thủ tụchải quan, quyền sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh Tại các diễn đàn quốc tế
Trang 8và khu vực hiện nay, việc điều chỉnh và hài hoà các thủ tục hành chính liênquan đến giao dịch thương mại được gọi là hoạt động thuận lợi hoá thương mại-Phát triển các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế….trên toàn cầu.Triển khai cáchoạt động hợp tác kinh tế, văn hoá, xã hội…nhằm nâng cao năng lực của cácnước trong quá trình hội nhập
1.3.Đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tể được thể hiện chủ yếu ở các khía cạnh sau đây:
- Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫnnhau giữa các nền kinh tế quốc gia và phần còn lại của thế giới.Nó là quá trìnhvừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh lẫn nhau rất phức tạp, đặc biệt là đấutranh của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích của quốc gia và vì một trật
tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lí của các cường quốc kinh tế và cáccông ty xuyên quốc gia
- Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình giảm thiểu và xóa bỏ từng bước vàtừng phần các rào cản thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo xu hướng
tự do hóa thương mại, đầu tư, taì chính…
- Hội nhập kinh tế quốc tế một mặt, tạo ra những điều kiện thuận lợi mớicho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; mặt khác, buộc các doanhnghiệp phải tiến hành đổi mới để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
- Hội nhập kinh tế quốc tế là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mớicho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng kinh tế trên cở sở sự pháttriển của lực lượng sản xuất và việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồnlực trọng nước và quốc tế
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho hoạt dộng điều chỉnh chínhsách ở các quốc gia đồng thời cũng gây sức ép buộc các quốc gia phải đổi mới
và hoàn thiện thể chế kinh tế, đặc biệt là chính sách, pháp luật và phương thứcquản lý
- Hội nhập kinh tế quốc tế là sự mở rộng quá trình khai thác, phân bổ và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển trong và ngoài nước, tạo điềukiện mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý
- Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình mà các doanh nghiệp tham gia vàochuỗi giá trị toàn cầu trong các khâu như nghiên cứu- thiết kế, thử nghiệm, sảnxuất, phân phối, dịch vụ sau bán hàng
Trang 92 Tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
Trong khoảng hai thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế thế giới
có bước phát triển vượt bậc, với đặc điểm cơ bản là: Tốc độ tăng trưởng nhanh
và khá ổn định; lạm phát được kiềm chế, tỷ lệ thất nghiệp giảm Nhưng từ giữanhững năm 70 đến đầu thập kỷ 80 (thế kỉ XX) “thế giới đang trải qua một trongnhững cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử của mình” Từ thập
kỷ 80, toàn cầu hoá là hiện tưởng nổi bật và là xu thế khách quan của nền kinh
tế thế giới Mỗi nước trong quá trình phát triển không thể tách rời sự tác độngcủa thị trường khu vực và thế giới Liên kết kinh tế và hội nhập trở thành một
xu thế tất yếu của thời đại
Thực trạng nền kinh tế Việt Nam trước 1986 là một nền kinh tế kém pháttriển Đặc biệt trong những năm 1976-1980, kinh tế tăng trưởng chậm chạp,thậm chí có năm giảm sút.Giai đoạn 1981-1985, nền kinh tế tăng trưởng nhanhhơn, nhưng tình hình kinh tế bất ổn do lạm phát nghiêm trọng Vì vậy đặt racho Việt Nam phải hội nhập kinh tế quốc tế để tranh thủ vốn công nghệ để cóthể đi tắt đón đầu vươn lên trở thành 1 nền kinh tế mạnh của khu vực Ngay khibước vào công cuộc đổi mới, Đại hội VI của Đảng đã nhận định: “Trên thế giớiđang hình thành một thị trường” (khác với trước đó ta thường nhấn mạnh trênthế giới có hai thị trường vận hành theo các quy luật riêng) Cương lĩnh củaĐảng được thông qua tại Đại hội VII có đánh giá rằng, “nền sản xuất vật chất
và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tớinhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc” Đại hội IX lần đầu tiên đềcập khái niệm “toàn cầu hóa kinh tế”, coi đó là một xu thế khách quan, lôi cuốnngày càng nhiều nước tham gia…Đại hội X khẳng định lại “Toàn cầu hóa kinh
tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng,gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang pháttriển." Là một bộ phận cấu thành của thế giới, nước ta không thể không tínhđến và đứng ngoài xu thế đó Trên thực tế nền kinh tế nước ta gắn kết khá chặtchẽ với kinh tế thế giới cả ở “đầu vào” lẫn “đầu ra” Để duy trì tốc độ tăngtrưởng tương đối cao, nước ta cần số vốn đầu tư không nhỏ song vốn trongnước lại có hạn nên riêng trong 5 năm qua đã phải huy động khoảng 30% nhucầu vốn từ bên ngoài (cả FDI lẫn ODA) và nhập khẩu một lượng đáng kể máymóc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu Do thu nhập của các tầng lớp dân cư cònthấp và cần có ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất, nhiều hànghóa làm ra phải tiêu thụ tại thị trường bên ngoài, do đó kim ngạch xuất khẩucủa nước ta chiếm tới trên 60% giá trị GDP (nếu tính cả giá trị xuất nhập khẩuthì chúng chiếm trên 130% GDP, so với Trung Quốc tỷ lệ đó chỉ khoảng 57%).Với nhận thức và nhu cầu nói trên, suốt mấy chục năm qua Đảng ta luôn luôn
Trang 10nhấn mạnh yêu cầu mở rộng sự hợp tác kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu,tranh thủ vốn, công nghệ từ bên ngoài Đại hội IX lần đầu tiên đã nêu kháiniệm “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” và tháng 11/2001 Bộ Chính trị Trungương Đảng đã thông qua nghị quyết riêng là Nghị quyết 07/NQ-TW về hộinhập kinh tế quốc tế Cũng theo tinh thần đó Đại hội X bổ sung thêm ý “tíchcực” sau ý “chủ động” hội nhập kinh tế quốc tế nhằm nhấn mạnh thêm quyếttâm hội nhập Ngày 05-02-2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đãban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách lớn đểnền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổchức Thương mại thế giới” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của ĐảngCộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳphát triển mới, trong đó có chủ trương rất quan trọng là “chủ động và tích cựchội nhập quốc tế” Từ “hội nhập kinh tế quốc tế” của các kỳ đại hội trước,chuyển sang “hội nhập quốc tế” một cách toàn diện là một phát triển quantrọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta tại Đại hội XI Ngày 10-4-2013, BộChính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế Đây làvăn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất nhận thứctrong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới Nghị quyết
đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực,đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng vàtái cơ cấu nền kinh tế Gần đây nhất trong Đại hội lần thứ XII của Đảng, vấn đềhội nhập như thế nào để vừa đảm bảo quyền và lợi ích của doanh nghiệp, ngườilao động và cả nền kinh tế Việt Nam mà không bỏ lỡ những cơ hội mà hộinhập mang lại là vấn đề được Nghị quyết của các Hội nghị trung ương 12, 13,
14 nhắc đến nhiều trước thềm Đại hội XII của Đảng.Có thể thấy, hội nhậpchính là vấn đề được các đại biểu tham dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIIcũng như các kỳ Hội nghị Trung ương đặc biệt quan tâm Bởi lẽ, các Hiệp địnhThương mại tự do thế hệ mới không chỉ mang lợi cơ hội cho doanh nghiệp,người lao động và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, mà còn đặt chúng ta trước rấtnhiều thách thức mới
3.Tình hình Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Việt Nam đang tích cực tham gia và phát huy vai trò thành viên trong các
tổ chức kinh tế quốc tế Với tư cách là thành viên của các tổ chức kinh tế quốctế: WTO, ASEAN, APEC, ASEM, TPP, Việt Nam đã đang nỗ lực thực hiệnđầy đủ, nghiêm túc các cam kết và tích cực tham gia các hoạt động trongkhuôn khổ các tổ chức này Cụ thể như sau:
* Trong khuôn khổ tổ chức thương mai thế giới (WTO)
Trang 11- Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sáchthương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, việc cải cách này thể hiện
ở các cam kết đa phương về pháp luật và thể chế cũng như các cam kết mở cửathị trường hàng hoá, dịch vụ
- Việt Nam đã thực hiện đúng các cam kết đa phương và các cam kết mởcửa thị trường hàng hoá, dịch vụ cũng như các biện pháp cải cách đồng bộnhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong giai đoạn ta hộinhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu
- Là thành viên của WTO, ta đã cố gắng tham gia tích cực các cuộc đàmphán trong khuôn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt Namcó liênquan đến Việt Nam như nông nghiệp, công nghiệp, sở hữu trí tuệ, trợ cấp thủysản và chương trình hỗ trợ thương mại của WTO…
- Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho phiên rà soát chính sách thươngmại lần đầu tiên của Việt Nam, dự kiến diễn ra trong khoảng thời gian đầu năm2013
* Trong khuôn khổ hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN)
- Sau 21 năm tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN,1995-2011), mối quan hệ hợp tác khu vực giữa Việt Nam với ASEAN ngàycàng phát triển toàn diện và có tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội vàchính trị của Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễnđàn hợp tác khu vực và thế giới Đối với Việt Nam, ASEAN luôn là đối tácthương mại và đầu tư lớn nhất (riêng năm 2009, ASEAN là nhà đầu tư lớn thứ
2 của Việt Nam, sau Hoa Kỳ)
- Việc thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng nhằm xây dựng Cộngđồng ASEAN vào năm 2015 đã đóng góp thiết thực cho việc cải thiện môitrường luật pháp trong nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài, cũng như làm cơ sở, làm tiền đề giúp Việt Namtham gia các khuôn khổ hợp tác song phương và đa phương khác
- Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chủ tịch luân phiên của ASEANvào năm 2010, trong năm 2011, Việt Nam đã tích cực tham gia các chươngtrình hợp tác nhằm thực hiện Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Cho tới nay,Việt Nam là một trong số các nước có tỷ lệ thực hiện cao các biện pháp và sángkiến đề ra trong Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN
Trang 12-Sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam nỗ lực thực hiện đầy đủ mọi camkết và trách nhiệm của một nước thành viên, chủ động đưa ra những sáng kiếnnhằm thúc đẩy hợp tác khu vực, hoàn thành nhiều trọng trách trước Hiệp hội.Việt Nam tiếp tục mở rộng quan hệ nhiều mặt, trên nhiều tầng nấc trong khuônkhổ đa phương và song phương, đóng góp thiết thực vào quá trình hợp tác liênkết ASEAN hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015với ba trụ cột chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội.
* Trong khuôn khổ hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC)
- Đối với Việt Nam, Diễn đàn APEC có ý nghĩa hết sức quan trọng.APEC là khu vực dành viện trợ phát triển lớn nhất, chiếm tới 65% tổng số vốnđầu tư nước ngoài, 60% giá trị xuất khẩu, 80% giá trị nhập khẩu, và 75% tổng
số khách du lịch quốc tế tới Việt Nam Hầu hết các đối tác chiến lược quantrọng và các đối tác kinh tế - thương mại hàng đầu của ta là các nền kinh tếthành viên của APEC
- Kể từ khi trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn APEC năm
1998, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc các cam kết hợp tác của APEC nhưBáo cáo về Chương trình Hành động Quốc gia hàng năm, thực hiện Chươngtrình Hành động tập thể, các kế hoạch hợp tác về thuận lợi hoá thương mại, đầutư Việt Nam đã tích cực tham gia và đóng góp thúc đẩy hợp tác APEC Nổibật là nước ta đảm nhiệm thành công vai trò chủ tịch APEC năm 2006, với việcđăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao 14, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tếAPEC 18 và hơn 100 sự kiện, đưa ra triển vọng dài hạn về hướng tới mục tiêuhình thành Khu vực thương mại tự do của toàn khu vực châu Á - Thái BìnhDương (FTAAP), Chương trình Hành động Hà Nội về thực hiện các Mục tiêuBô-gô và các biện pháp cải cách tổng thể, tạo nên những động lực mới cho hợptác APEC Việt Nam là một trong những thành viên chủ động đề xuất và thamgia nhiều sáng kiến mới, với hơn 70 sáng kiến ở hầu hết mọi lĩnh vực (thươngmại, đầu tư, đối phó với tình trạng khẩn cấp, y tế, chống chủ nghĩa khủng bố,
…) và đã đảm nhiệm nhiều vị trí chủ chốt trong APEC (Phó Chủ tịch Ủy banThương mại và đầu tư năm 2006, Chủ tịch Nhóm công tác doanh nghiệp vừa
và nhỏ năm 2006, Chủ tịch Ủy ban Quản lý ngân sách năm 2007, Phó Chủ tịchNhóm công tác Y tế nhiệm kỳ 2009 - 2010, Chủ tịch Nhóm công tác về đối phóvới tình trạng khẩn cấp nhiệm kỳ 2012 - 2013) Việt Nam đã đề xuất và triểnkhai thành công sáng kiến đầu tiên của APEC về tìm kiếm và cứu hộ trên biển;đồng thời, tổ chức một số hoạt động khác như Cuộc họp Nhóm chuyên giaAPEC lần thứ 40 về công nghệ năng lượng mới và có thể tái tạo (Hà Nội, tháng4-2013), Hội thảo về hòa mạng thủy điện và điện tái tạo (Hà Nội, tháng 4-