Phần I: KHÁI QUÁT CHUNG BỂ TRẦM TÍCH CỬU LONGChương I: Đặc điểm địa lí tự nhiên , kinh tế nhân văn Chương II: Lịch sử nghiên cứu địa chấtPHẦN II: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT LÔ 091 Chương I: Địa tầng Chương II: Cấu Kiến tạoChương III: Hệ thống dầu khíPHẦN III: THIẾT KẾ GIẾNG KHOAN TÌM KIẾM TRÊN CẤU TẠO GT1XChương I:Cơ sở địa chất giếng khoan GT 1XChương II: Tính toán và thiết kế giếng khoan GT1XChương III: Dung dịch khoanChương IV: Nghiên cứu địa chất, địa vật lý giếng khoanChương V: Nghiên cứu địa chất, địa vật lý giếng khoanChương VI: Dự toán kinh tếChương VII: An toàn lao động và bảo vj môi trườngChương VIII: Kết luận kiến nghị, tài liệu tham khảoKết luận và kiến nghị.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
Trang 2Dầu khí là sản phẩm vô cùng quan trọng không thể thiếu cho mọi quốc gia, đồng thời là mặt hàng chiến lược trên toàn cầu Trong các ngành công nghiệp đang phát triển ở Việt Nam thì ngành công nghiệp dầu khí đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp và đáp ứng nhu cầu về năng lượng ngày càng cao của đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đặc biệt việc phát triển ngành công nghiệp dầu khí không những đảm bảo về nhu cầu năng lượng, mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân sách quốc gia mà quan trọng hơn nó còn mở ra hướng phát triển mạnh mẽ cho các ngành công nghiệp liên quan như công nghiệp hóa chất, dịch vụ
Các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay cùng với hàng loạt các phát hiện mỏ có trữ lượng thương mại được công bố trong những năm gần đây đã khẳng định thềm lục địa Việt Nam có tiềm năng dầu khí hấp dẫn lôi kéo khá nhiều công ty dầu khí nước ngoài đầu tư vào Việt nam Trong các bể dầu khí của Việt nam thì Cửu Long là bể dầu khí lớn và quan trọng nhất của Việt nam đóng góp 30% trữ lượng và khoảng 95% sản lượng khai thác dầu khí hiện nay Lô 09-1 nằm về phía Tây Nam bể Cửu Long có tiềm năng dầu khí lớn và là đối tượng quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Hiện nay các mỏ dầu khí lớn như Bạch Hổ, Rồng,…đã đi vào những giai đoạn khai thác cuối, vì vậy đòi hỏi các công ty, xí nghiệp trực thuộc ngành phải đẩy mạnh việc nghiên cứu tìm ra các mỏ mới Sau khi phát hiện các cấu tạo mới để đánh giá xem cấu tạo đó có khả năng đưa vào khai thác hay không cần phải khoan các giếng khoan thẩm lượng.
Chính vì lý do đó nên em đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng dầu khí Lô 09-1 và thiết kế giếng khoan tìm kiếm thăm dò GT-1X trên, cấu tạo Gấu Trắng, lô 09-
1, bể Cửu Long” Mục đích của đồ án là từ các kết quả thu được sau khi khoan giếng khoan tìm kiếm, đánh giá và thiết kế giếng khoan thẩm lượng cho cấu tạo Nội dung của đồ án được chia thành các phần sau:
Phần I: KHÁI QUÁT CHUNG BỂ TRẦM TÍCH CỬU LONG
Chương I: Đặc điểm địa lí tự nhiên , kinh tế nhân văn
Chương II: Lịch sử nghiên cứu địa chất
PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT LÔ
09-1
Chương I: Địa tầng
Chương II: Cấu- Kiến tạo
Chương III: Hệ thống dầu khí
PHẦN III: THIẾT KẾ GIẾNG KHOAN TÌM KIẾM TRÊN CẤU
TẠO GT-1X
Trang 3Chương II: Tính toán và thiết kế giếng khoan GT-1X
Chương III: Dung dịch khoan
Chương IV: Nghiên cứu địa chất, địa vật lý giếng khoan
Chương V: Nghiên cứu địa chất, địa vật lý giếng khoan
Chương VI: Dự toán kinh tế
Chương VII: An toàn lao động và bảo vj môi trường
Chương VIII: Kết luận kiến nghị, tài liệu tham khảo
Kết luận và kiến nghị
Sau 3 tháng nỗ lực hết mình để hoàn thành đồ án, em xin gửi lời cảm ơn chân thành
tới thầy giáo KS Phan Anh Tuấn cùng tập thể các thầy cô giáo trong Bộ môn
Địa Chất Dầu, Trường Đại học Mỏ - Địa Chất những người trực tiếp hướng dẫn
và tạo điều kiện tốt nhất giúp em hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới KS Lê Minh Hiếu – Ban Tìm Kiếm
Thăm Dò - VSP và những người giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt quátrình thực tập tại đây
Do hạn chế về mặt chuyên môn cũng như về thời gian nên đồ án tốt nghiệp của emkhông tránh khỏi những thiếu sót, vậy rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáocũng như các bạn để đồ án của tôi được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2015
Vũ Đức Cảnh
MỤC LỤCM
Ở ĐẦ U MỤC L Ụ C
DANH MỤC HÌNH VẼ TRONG ĐỒ ÁN
Trang 4DANH M Ụ C B Ả NG BI Ể U TRONG ĐỒ ÁN
Phần I: KHÁI QUÁT CHUNG BỂ TRẦM TÍCH CỬU LONG CHƯƠNG I : Đặc điểm địa lí tự nhiên, kinh tế nhân văn 1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
Vị trí địa lí
Đặc điểm địa hình Đặc điểm thủy văn
1.2 Đặc điểm kinh tế nhân văn
Đặc điểm giao thông vận tải
Đặc điểm kinh tế xã hội
Các yếu tố thuận lợi và khó khăn với công tác tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí
Chương II:Lịch Sử nghiên cứu địa chất Lịch sử tìm kiếm thăm dò
Giai đoạn trước năm 1975
Giai đoạn từ năm 1976- 1979
Giai đoạn từ năm 1980- 1988
Giai đoạn từ năm1989 đến nay
Phần II: Đặc điểm cấu trúc địa chất lô 09-1
Chương I: Đặc điểm địa tầng
Đá móng trước kanozoi Trầm tích kanozoi
Chương II: Đặc điểm cấu, kiến tạo
2.1 CÁC HỆ THỐNG ĐỨT GÃY
2.2 phân chia mô tả các đơn vị địa tầng
2.3 phân tầng cấu trúc
2.4 lịch sử phát triển địa chất
2.4.1 thời kỳ trước tách giãn
2.4.2 thời kỳ đồng tách giãn
2.4.3 thời kỳ sau tách giãn
Chương III:Hệ thống dầu khí
3.5.2 Đá sinh
35.2.1 Độ phong phú vật chất hữu cơ
3.5.2.2 Loại vật chất hữ cơ và môi trường tích tụ
Trang 53.5.2.3 Độ trưởng thành của vật chất hữu cơ
3.5.2.4 Quy mô phân đới của các tầng đá mẹ
3.5.6.2 Play oligoxen trên
3.5.6.3 play oligoxen dưới
Phần III:THI Ế T K Ế GI ẾNG KHOAN TÌM KIẾ M TRÊN CẤ U T Ạ O GT-1X
Đánh giá tiềm năng dầu khí tại cấu tạo GT
Tính trữ lượng dầu khí tại cấu tạo GT
Cơ sở phân cấp trữ lượng
Các phương pháp tính trữ lượng
Đánh giá trữ lượng cấu tạo GT
Chương II: Tính toán và thiết kế giếng khoan GT-1X
M
ụ c đí ch v à nhi ệ m v ụ c ủ a gi ế ng khoan t ì m ki ế m GT-1X .Gi
ế ng khoan d ự ki ế n thi ế t k ế .D
ự báo đị a t ầ ng .D
ự ki ế n nhi ệt đ ộ .D
ự ki ến áp suấ t v ỉ a .D
ự ki ế n kh ả năng phứ c t ạp có thể g ặ p khi khoan
Chương III: Dung dịch khoan
Tác dụng của dung dịch khoan .Tính chất dung dịch khoan .Lựa chọn mật độ dung dịch khoan
Trang 6Xác định áp xuất nứt vỉa .Lựa chọn phương pháp khoan .
Chương IV: Nghiên cứu địa chất, địa vật lý giếng khoan
Nghiên cứu đị a ch ấ t gi ế ng khoan .Phương pháp lấ y m ẫ u .B
ả o qu ả n m ẫ u
Chương V: Dự toán kinh tế
Chương VI: An toàn lao động và bảo vj môi trường
PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG BỂ TRẦM TÍCH CỬU LONG
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – KINH TẾ NHÂN VĂN 1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Bể trầm tích Cửu Long chiếm diện tích chủ yếu thềm lục địa Việt Nam, mộtphần đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu Long, có tọa độ 9o – 11o vĩ độ Bắc, 106o30’– 109o kinh độ Đông Diện tích phân bố của bể khoảng 36.000 km2, bao gồm các lô 09,
15, 16,17 và một phần các lô 01, 02, 25 và 31
Bể trầm tích Cửu Long có dạng hình bầu dục, vồng về phía biển, kéo dài thuộc
bờ biển Vũng Tàu – Bình Thuận Bể tiếp giáp với đất liền về phía Tây Bắc, ngăn cáchvới bể Nam Côn Sơn bởi đới nâng Côn Sơn, phía Tây Nam là đới nâng Khorat-Natuna
và phía Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bể Phú Khánh Bể được bồilấp chủ yếu bởi các trầm tích lục nguyên Kainozoi, chiều dày lớn nhất của chúng tạitrung tâm bể có thể đạt tới 7 – 8 km
Trang 7Hình 1.1: Vị trí bể Cửu Long
Trang 8Hình1.2 Vị trí lô 09-1 trong bể Cửu Long
1.1.2 Đặc điểm địa hình
Bể Cửu Long nằm trên thềm lục địa Việt Nam theo hướng Đông Bắc – Tây Nam,đáy biển có địa hình phức tạp, ở các vùng cửa sông giáp với biển địa hình rất đa dạng,bao gồm các rãnh sông ngầm, bãi cát ngầm Phần trung tâm bể Cửu Long, đáy biểnthay đổi với độ sâu từ 40 – 60m Đổ ra thềm lục địa Việt Nam có rất nhiều con sông,trong đó nổi bật nhất là sông Cửu Long với lưu vực khoảng 45.000 km2, lưu lượngtrung bình khoảng 85.000 m3/s, lưu lượng phù sa 0,25 kg/m3 Hàng năm sông CửuLong đổ ra biển hàng trăm tấn phù sa, đó là nguồn trầm tích tạo nên các bể trầm tíchtrên thềm lục địa
1.1.3 Đặc điểm khí hậu
• Về khí hậu:
Nhìn chung, bể Cửu Long có khí hậu đặc trưng nhiệt đới do vị trí của bể gần với xích đạo Ở khu vực này có sự phân ra thành hai mùa rõ rệt: mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 và mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình của khu vực này vào mùa mưa khoảng trên 30 o C và vào mùa khô là 25 o C –
Từ tháng 5 đến tháng 10 chế độ gió chịu ảnh hưởng bởi hệ thống gió mùa Tây Nam,
do hướng gió chủ yếu là Tây Nam và Tây – Tây Nam Tốc độ gió trung bình vào khoảng 8,8 m/s, cực đại có thể lên đến 32 m/s.
Trang 9• Về chế độ dòng chảy:
Khu vực thuộc Bể trầm tích Cửu Long có nhiều dòng chảy khác nhau do ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động khác nhau như: thủy triều, địa hình đáy, khối lượng nước, nhiệt độ, chế độ gió, Vận tốc dòng chảy trung bình, biển động nhẹ, gió giật trung bình cấp 4 – 5, vận tốc dòng xoáy ở mức trung bình.
• Chế độ sóng:
Trong khu vực bể cũng được chia ra thành 2 kiểu phụ thuộc vào 2 mùa trong năm: từ tháng 5 đến tháng 10, hướng sóng chủ yếu là hướng Tây Nam, biên độ thấp
và ổn định, trung bình vào khoảng 0,5 – 2 m, cực đại có thể đạt được 5 m Từ tháng
11 đến tháng 4 hướng gió là Đông Bắc và Bắc – Đông Bắc, sóng có biên độ từ 2 – 4
m, đôi khi lên 6 – 8 m.
1.2 Đặc điểm kinh tế nhân văn
1.2.1 Đặc điểm giao thông vận tải
Bà Rịa – Vũng Tàu nằm ở miền Đông Nam Bộ, tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai ởphía Bắc, với Thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây, với tỉnh Bình Thuận ở phía Đông, cònphía Nam giáp biển Đông Vị trí này rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ hướng ra biểnĐông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ Vị trí này rất thuận lợi cho tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển như:khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển, vận tải biển, đánh bắt nuồi trồng vàchế biến hả sản, phát triển du lịch biển
• Đường bộ:
Tỉnh có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh nối các huyện thị với nhau Quốc
lộ 51A (4 làn xe) chạy qua tỉnh dài gần 50 km Trong 3 năm tới (dự kiến năm 2018)
sẽ có đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu với 8 làn xe song song với Quốc lộ 51A.
• Đường sông:
Hệ thống các cảng biển lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải.Cảng Sài Gòn
và Nhà máy Ba Son đang di dời và xây dựng cảng biển lớn tại đây.Từ Vũng Tàu có thể đi Thành phố Hồ Chí Minh bằng tàu cánh ngầm.
• Đường hàng không:
Sân bay Vũng Tàu chủ yếu tiếp nhận cho máy bay trực thăng phục vụ cho tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí Trong tương lai, Sân bay Quốc tế Long Thành được xây dựng cách Vũng Tàu khoảng 70km.
• Đường sắt:
Hiện tại chưa có đường sắt đến tỉnh Theo quy hoạch của ngành đường sắt đến năm 2015, một đường sắt cao tốc khổ rộng 1,435 m sẽ được xây dựng nối Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu, tốc độ thiết kế: trên 300 km/h.
1.2.2 Đặc điểm kinh tế
Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hoạt động kinh tếcủa tỉnh trước hết phải nói về tiền năng dầu khí Trên thềm lục địa Đông Nam Á tỷ lệcác mũi khoan tìm kiếm, thăm dò gặp dầu khí khá cao Tại đây đã phát hiện các mỏdầu có giá trị thương mại lớn như Mèo Trắng, Gấu Trắng Đương nhiên xuất khẩudầu đóng góp một phần quan trọng trong GDP của Bà Rịa – Vũng Tàu (ngành dầu khíđóng góp 24% GDP cho nước nhà năm 2011)
Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, Bà Rịa – Vũng Tàu còn là một trong nhữngtrung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển của cả nước Trung tâmđiện lực Phú Mỹ và nhà máy điện Bà Rịa chiếm 40% tổng công suất điện năng của cảnước (trên 4.000MW trên tổng số gần 10.000MW của cả nước)
• Công nghiệp nặng:
Gồm có sản xuất phân ure (800.000 tấn/năm), sản xuất polyetylen (100.000
Trang 10tấn/năm), sản xuất clinker, sản xuất thép (hiện tải tỉnh có hàng chục nhà máy lớn đang hoạt động gồm VinaKyoei, Pomina, Thép miền Nam (South Steel), Bluescopes, Thép Việt, Thép Tấm (Flat Steel), nhà máy thép SMC và Posco VietNam.
• Về lĩnh vực cảng biển:
Kể từ khi chính phủ có chủ trương di dời các cảng tại nội ở Thành phố Hồ Chính Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành trung tâm cảng biển chính của khu vực Đông Nam Bộ Các cảng lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải Cảng Sài Gòn và Nhà máy Ba Son đang di dời và xây dựng cảng biển lớn tại đây.Sông Thị Vải có luồng sâu đảm bảo cho tàu có tải trọng trên 50.000 tấn cập cảng Các cảng căn cứ dịch vụ dầu khí như cảng VSP, cảng PTSC.
• Về lĩnh vực du lịch:
Tỉnh này là một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước Trong thời gian qua, chính phủ đã cấp phép và đang thẩm định một số dự án du lịch lớn như: Saigon Atlantis (300 triệu USD), công viên giải trí Bàu Trũng và bể các nầm Nghinh Phong (500 triệu USD), công viên bách thú Safari Xuyên Mộc (200 triệu USD)
Năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 295 dự án nước ngoài còn hiệu lực với tổngvốn đầu tư đăng ký gần 28,1 tỷ USD Trong đó, có 118 dự án trong khu công nghiệp(KCN) với tổng vốn đầu tư hơn 11,14 tỷ USD và 177 dự án ngoài KCN với tổng vốn đầu
tư gần 17 tỷ USD Vốn đầu tư thực hiện đến nay đạt gần 6,43 tỷ USD, chiếm 22,9%trong tổng vốn đăng ký đầu tư Trong những năm gần đây tỉnh luôn đứng tốp nhữngđịa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất tại Việt Nam Nằm ở vị trí thứ
3 về việc đóng góp ngân sách nhà nước, sau TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội
Năm 2015, thành phố Vũng Tàu trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh và đạttốc độ tăng trưởng GDP bình quân 14%/năm, kể cả dầu khí bình quân 10,8%/năm Về
cơ cấu kinh tế, công nghiệp xây dựng 62%, dịch vụ 35%, nông nghiệp 3% Giảm tỉ lệ
hộ nghèo theo tiêu chuẩn tỉnh từ 21,69% xuống dưới 2,35%(theo tiêu chuẩn mới), cơbản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn quốc gia Mức hưởng thụ văn hóa đạt 42lần/người/năm, 92% gia đình đạt chuẩn văn hóa, 92% thôn,ấp đạt chuẩn văn hóa,99% dân số nông thôn được sử dụng điện và nước hợp vệ sinh
Định hướng đến 2020, trở thành thành phố cảng, đô thị lớn nhất cả nước cùngvới Hải Phòng, trung tâm Logistics và công nghiệp hỗ trợ, trung tâm công nghiệp quantrọng của cả nước Theo đó, GDP bình quân đầu người dự báo đạt 27.000USD/người/năm (tương đương thu nhập của các nước phát triển)
1.2.3.Đặc điểm dân cư
Diện tích của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là 1.982 km2.Mật độ bình quân dân sốkhoảng 503 người/km2.Tổng số dân của tỉnh tính đến 4/2010 là 1.009.719 người
Theo thống kê dân số tháng 4 năm 2009 thì: Dân số thành thị chiếm 49,85%dân số toàn tỉnh Nam giới chiếm 49,99% dân số toàn tỉnh Tỉnh có cơ cấu dân số nhưsau:
Nhóm tuổi từ 0-14: 25,46% (Nam giới là 131.886 người chiếm 52% dân sốnhóm tuổi này); Nhóm tuổi từ 15-59: 67,74% (Nam giới là 328.906 người chiếm 49%dân số nhóm này); Nhóm tuổi từ 60 trở lên: 6,8% (Nam giới là 27.338 người chiếm40% dân số nhóm này) Nhóm dân số trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) chiếm tỉ lệcao là nguồn nhân lực dồi dào cho phát triển kinh tế vì vậy cần được quan tâm đàotạo
Thành phần dân tộc: Kinh (97,53%), Hoa (1,01%), Chơ Ro (0,76%), Khmer(0,23%), Tày (0,14%) Các dân tộc khác chiếm 0,33% dân số tỉnh, trong đó người nướcngoài là 59 người Tỷ lệ số dân theo Phật giáo là 21,66% (trong đó 48,4% là Nam);
Trang 11Công giáo là 25,8% (trong đó 49,6% là Nam); Cao Đài là 0,99%; Tin Lành là 0,41%; Tôngiáo khác là 4,34% và không theo bất kỳ tôn giáo nào là 46,11%.
1.2.4.Đời sống văn hóa xã hội
Theo Báo cáo của UBND tỉnh năm 2011, trong bối cảnh tình hình kinh tế xã hộicủa cả nước gặp nhiều khó khăn, thách thức do lạm phát, lãi suất ngân hàng, nguyênliệu đầu vào, giá cả các mặt hàng tăng cao nhưng kinh tế xã hội của tỉnh vẫn tiếp tụcphát triển ổn định Lĩnh vực văn hóa-xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, các chỉ tiêu
cơ bản đạt so với Nghị quyết:
• Về giáo dục và đào tạo:
Phát triển ổn định và có nhiều mặt tích cực: Đã đưa vào sử dụng 11 trường với 300 phòng học, nâng tổng số trường trên toàn tỉnh lên 382 trường học Số trường đạt chuẩn Quốc gia của tỉnh là 116 trường, đạt 30,4% (NQ 34%); tỷ lệ huy động cháu đi nhà trẻ đạt 22,2% (NQ 21%); trẻ đi mẫu giáo, đạt tỷ lệ 81% (NQ 81%);
tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 97,27%; số học sinh bỏ học đầu năm học giảm 0,18% so với năm học trước Về xã hội hóa giáo dục, năm 2011 đã cấp giấy chứng nhận đầu
tư cho 4 dự án xây dựng trường mầm non Tính đến nay có 25 dự án của doanh nghiệp đầu tư cho giáo dục, trong đó có 6 dự án đã đi vào hoạt động, 1 dự án đang xây dựng, 9 dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu và 9 dự án đã được chấp nhận chủ trương Bà Rịa Vũng Tàu có trình độ văn hóa tương đối cao, cơ sở vật chất hiện đại Tỉnh có khá nhiều trường Đại học như: Đại học Bà Rịa, Cao đẳng Sư Phạm, Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa Vũng Tàu, Cao đẳng Nghề Dầu khí, cơ sở của Đại học Mỏ- Địa chất, Đại học Dầu khí của PVN.
• Về công tác dân số-y tế:
Chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được đảm bảo Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 12% (NQ 12,5%), tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi tiêm chủng mở rộng đạt 98% Thực hiện khám, chữa bệnh cho khoảng 2 triệu lượt người (NQ 2 triệu lượt) Đưa vào sử dụng mới Trung tâm y tế huyện Đất Đỏ, Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, Trường Trung cấp y tế và 2 hệ thống xử lý rác thải tại bệnh viên Lê Lợi và bệnh viện Bà Rịa Hoàn tất các thủ tục đầu tư đối với 4 trung tâm y tế tuyến huyện tại Tân Thành, Châu Đức, Long Điền và Côn Đảo Thêm 02 xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế, nâng tổng số xã, phường đạt chuẩn lên 75/82, chiếm tỷ lệ 91,56% (NQ 94%).
• Về văn hóa-thể thao:
Công tác tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị được triển khai thực hiện tốt.Tổ chức thành công chương trình kỷ niệm 20 năm thành lập tỉnh Nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được tổ chức nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, cơ bản đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa, vui chơi giải trí của nhân dân địa phương và du khách Triển khai Đề án phát triển văn hóa nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2011 -2015 Đưa vào sử dụng đền thờ Côn Đảo và Trung tâm văn hóa tỉnh tại Bà Rịa.
Trên lĩnh vực thể dục, thể thao đạt được những thành tích đáng khích lệ: Các vận động viên giành được 290 huy chương các loại ở cấp quốc gia, khu vực và quốc
tế Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng được duy trì và mở rộng.Đã phê duyệt
và triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển ngành thể dục, thể thao tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.
• Phát thanh-truyền hình:
Đã tổ chức tốt công tác tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016; Duy trì thời lượng phát sóng, phát thanh 24 giờ/ngày.
Trang 12• Các chính sách an sinh xã hội:
Được đặc biệt quan tâm Giải quyết việc làm cho 33.500 lượt lao động, trong
đó giải quyết việc làm mới cho 16.500 lượt lao động, tỷ lệ thất nghiệp 3% Xét duyệt cho 1.300 dự án vay vốn giải quyết việc làm với tổng kinh phí 27 tỷ đồng Tổ chức đào tạo nghề cho 25.500 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 58%, đạt 100% so với NQ Tính đến cuối năm, dự kiến có 6.000 hộ thoát nghèo theo chuẩn tỉnh, 1.800
hộ nghèo chuẩn quốc gia, giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tỉnh còn 9,76%, theo chuẩn quốc gia còn 3.47% Giải quyết cho 21.000 lượt hộ nghèo vay vốn với doanh
số cho vay là 252 tỷ đồng, cấp mới 105.500 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, miễn giảm học phí cho 24.871 học sinh Thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo, người có công, đối tượng chính sách Song song với công tác đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện được các cơ quan,
tổ chức, doanh nghiệp, các hộ gia đình hưởng ứng tích cực.
• Công tác bảo vệ môi trường:
Có những chuyển biến đáng kể.Tỷ lệ rác thải nguy hại xử lý đạt 100% Đã đưa vào sử dụng 06 lò đốt rác thải y tế, tỷ lệ rác thải y tế được xử lý đạt 100%, rác thải sinh hoạt đang được chôn lấp tạm tại các bãi rác trên địa bàn tỉnh, tỷ lệ rác thải sinh hoạt được xử lý đạt 83% Tỷ lệ rác thải công nghiệp xử lý đạt 80%, năm 2012
xử lý đạt 100% Trên địa bàn hiện có 12 dự án xử lý rác thải, trong đó có 3 dự án đã
đi vào hoạt động; 01 dự án đang xây dựng giai đoạn 2 và 08 dự án đang hoàn tất các thủ tục đầu tư Có 5/8 khu công nghiệp đi vào hoạt động đã cơ bản hoàn thành nhà máy xử lý nước thải tập trung.Về dự án hạ tầng kỹ thuật xử lý chất thải tập trung 100 ha Tóc Tiên, huyện Tân Thành hoàn thành trong Quý I/2012 Về lâu dài, tỉnh cũng đã triển khai xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và báo cáo hiện trạng môi trường của tỉnh, phê duyệt bản đồ quy hoạch về phân vùng phát thải khí thải, xả nước thải theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường giai đoạn 2011 -2015, đang trình Bộ Tài nguyên-Môi trường xem xét có ý kiến, hoàn thiện đề án xử lí chất rắn đảm bảo hợp vệ sinh trên địa bàn tính đến năm 2020.
Cùng với sự phát triển kinh tế, các vấn đề an sinh xã hội trong vùng cũng cónhững bước tiến đáng kể Về công tác giáo dục, việc đào tạo nguồn nhân lực ngàycàng phát triển và có chất lượng cao, tăng cả về mặt số lượng và chất lượng Trong
đó, thành phố Vũng Tàu có đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật vừa đông vừa có chấtlượng cao đến từ các tỉnh thành trong cả nước
1.3 Các yếu tố thuận lợi và khó khăn với công tác TKTD dầu khí
1.3.1.Thuận lợi
Do điều kiện tự nhiên và lịch sử, Vũng Tàu nằm trên giao điểm nối Miền Đông
và miền Tây Nam Bộ, có hệ thống giao thông đường biển, đường bộ, đường thủy vàđường hàng không phát triển Nguồn nhân lực dồi dào hầu hết tập trung từ các tỉnhthành trong cả nước nên có trình độ học vấn, kỹ thuật cao
Vũng Tàu nằm ở vị trí thuận lợi cho việc mở rộng xây dựng các cảng dịch vụdầu khí phục vụ cho việc khai thác dầu ở thềm lục địa phía Nam
Là một thành phố trẻ, Vũng Tàu có nguồn cung cấp nhân lực dồi dào, được đàotạo bài bản.Giao thông vận tải đáp ứng nhu cầu di chuyển cũng như vận chuyển hànghóa.Vị trí của thành phố thuận lợi cho việc giao lưu xuất khẩu dầu thô với các nướctrong khối Đông Nam Á cũng như quốc tế
Mặt khác, chính trị tỉnh ổn định, tạo điều kiện và thu hút đầu tư của các tậpđoàn , các Công ty nên rất thuận lợi cho công tác thăm dò và khai thác Dầu khí cũngnhư các ngành nghề khác Vì vậy, Bà Rìa – Vũng Tàu thu hút được rất nhiều các Tập
Trang 13đoàn, Công ty trong và ngoài nước vào lĩnh vực dầu khí như: PVEP, Vietsopetro, PVD,PTSC, DMC, BP, Total, ConocoPhiilip, Petronas
1.3.2.Khó khăn
Từ tháng 5 đến tháng 10 là vào mùa mưa nên gây khó khăn cho công tác tìmkiếm, thăm dò Dầu khí Bão tố xảy ra gây khó khăn cho các tàu thuyền ngoài khơicũng như các công trình Dầu khí trên biển Mùa khô cũng cần để ý đến gió mùa thổimạnh, gió mùa Đông Bắc – Tây Nam thổi theo hai chiều ngược nhau trong hai mùacũng gây trở ngại cho việc thăm dò và khai thác Dầu khí
Các mỏ dầu và khí nằm ở xa bờ, độ sâu nước biển tương đối lớn do đó chi phícho công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tương đối cao
Việc đào tạo và tuyển dụng đội ngũ có trình độ kỹ thuật cao chưa đáp ứngđược nhu cầu Nguyên do là việc đào tạo vẫn thiếu rất nhiều công nghệ, thiết bị hiệnđại nên phải mất một thời gian dài đào tạo lại
Tuy trong khu vực đã phát triển các ngành công nghiệp như sửa chữa tàu, sửachữa và đóng mới giàn khoan nhưng đó mới chỉ là bước đầu.Phần lớn các tàu vàthiết bị hỏng vẫn phải gửi ra nước ngoài sửa chữa gây tốn kém.Các phương tiện hiệnđại vẫn phải nhập khẩu với chi phí cao
Vấn đề phòng chống ăn mòn các công trình Dầu khí ngoài biển cũng là một khókhăn lớn trong công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển Dầu khí
Vấn đề bảo vệ và cải tạo môi trường là vấn đề bức xúc đặt lên hàng đầu do rácthải của cồng nghiệp Dầu khí, công nghiệp đóng tàu,
Chúng ta phải thuê các thiết bị hiện đại để bảo vệ vùng biển và vùng khai thácDầu khí, thuê các chuyên gia về Dầu khí với chi phí cao
CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT
2.1 Lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí
Lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí bể Cửu Long gắn liền với lịch sử tìm kiếmthăm dò dầu khí của thềm lục địa Nam Việt Nam Công tác khảo sát địa vật lý tại bể
đã được tiến hành từ thập niên 70, cho đến nay đã phát hiện, thăm dò và đưa vàokhai thác rất nhiều mỏ lớn như Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Sư Tử Đen…
Căn cứ vào quy mô, mốc lịch sử và kết quả thăm dò, lịch sử tìm kiếm thăm dòdầu khí của bể Cửu Long được chia thành 4 giai đoạn:
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1975
Đây là khoảng thời gian đầu tiên thực hiện các công tác khảo sát địa vật lý khuvực như từ, trọng lực và địa chấn để phân chia các lô, chuẩn bị cho công tác đấu thầu,
ký các hợp đồng dầu khí
Năm 1967, US Nauy Oceanographic Office đã tiến hành khảo sát từ hangkhông gần như khắp lãnh thổ Miền Nam Năm 1967 – 1968, hai tàu Ruth và Maria củaAlpine Geophysical Corporation đã tiến hành đo 19.500 km tuyến địa chấn ở phíaNam Biển Đông trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long
Năm 1969, công ty Ray Geophysical Mandrel đã tiến hành đo địa vật lý biểnbằng tàu N.V.Robray I ở vùng thềm lục địa Miền Nam và vùng phía Nam của BiểnĐông với tổng số 3.482 km tuyến trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long
Trong năm 1969 US Nauy Oceanographic cũng tiến hành đo song song 20.000
km tuyến địa chấn bằng 2 tàu P/V E.V Hunt ở vịnh Thái Lan và phía Nam Biển Đông,trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long
Đầu năm 1970, công ty Ray Geophysical Mandrel lại tiến hành đo đợt hai ởNam Biển Đông và dọc bờ biển 8.639 km, đảm bảo mạng lưới cỡ 30 km x 50km, kếthợp giữa các phương pháp từ, trọng lực và hang không, trong đó có tuyến cắt qua bể
Trang 14Cửu Long Năm 1973-1974 đã đấu thầu trên 11 lô, trong đó có 3 lô thuộc bể Cửu Long
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1976 – 1979
Năm 1976, công ty địa vật lý CGG của Pháp khảo sát 1.210,9 km tuyến địa chấn2D dọc theo các con sông của đồng bằng song Cửu Long và vùng ven biển Vũng Tàu –Côn Sơn Kết quả của công tác khảo sát địa chấn đã xây dựng được các tầng phản xạchính: từ CL20 đến CL80 và khẳng định sự tồn tại của bể Cửu Long với một mặt cắttrầm tích Đệ Tam dày
Năm 1978 công ty Geocco (Na Uy) thu nổ địa chấn 2D trên lô 10, 09, 16, 19,
20, 21 với tổng số 11.898,5 km và làm chi tiết trên cấu tạo Bạch Hổ với mạng lướituyến 2 x 2 km và 1 x 1 km riêng đối với lô 15, công ty Deminex đã hợp đồng vớiGecco khảo sát 3.221,7 km tuyến địa chấn với mạng lười 3,5 x 3,5 km trên lô 15 vàcấu tạo Cửu Long(nay là Rạng Đông) Căn cứ vào kết quả minh giải tài liệu địa chấnnày Deminex đã khoan 4 giếng khoan tìm kiếm trên các cấu tạo triển vọng nhất TràTân (15-A-1X), Sông Ba (15-B-1X), Cửu Long (15-C-1X) và Đồng Nai(15-G-1X) kết quảkhoan các giếng này đều gặp các biểu hiện dầu khí trong cát kết tuổi Miocen sớm vàOligocen, nhưng dòng dầu khí không có ý nghĩa công nghiệp
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1980 – 1988
Công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam trong giai đoạnnày được triển khai rộng khắp, nhưng tập trung chủ yếu vào một đơn vị, đó là Xínghiệp liên doanh Vietsovpetro Năm 1980 tàu nghiên cứu POISK đã tiến hành khảosát 4057 km tuyến địa chấn điểm sâu chung, từ và 3250 km tuyến trọng lực kết quảcủa đợt khảo sát này đã phân chia ra được tập địa chấn B (CL4 – 1, CL4 – 2), C (CL5 –1), E(CL5 – 3) và F (CL6 – 2), đã xây dựng được một số sơ đồ cấu tạo dị thường từ vàtrọng lực Bouguer
Năm 1983 – 1984 tàu viện sĩ Gamburxev đã tiến hành khảo sát 4000km tuyếnđịa chấn để nghiên cứu phần sâu nhất của bể Cửu Long
Trong thời gian này XNLD Vietsovpetro đã khoan 4 giếng trên các cấu tạo Bạch
Hổ và Rồng: R – 1X, BH – 3X, BH – 4X, BH – 5X và TĐ – 1X trên cấu tạo Tam Đảo Trừ
TĐ – 1X tất cả các giếng còn lại đều phát hiện vỉa dầu công nghiệp từ các vỉa cát kếtMiocen dưới và Oligocen
Cuối giai đoạn 1980 – 1988 được đánh dấu bằng việc Vietsovprtro đã khai thácnhững tấn dầu từ hai đối tượng khai thác Miocen, Oligocen dưới của mỏ Bạch Hổ vàonăm 1986 và phát hiện dầu trong móng nứt nẻ vào tháng 9 năm 1988
2.1.4 Giai đoạn từ năm 1989 đến nay
Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất công tác tìm kiếm, thăm dò và khaithác dầu khí ở bể Cửu Long Với sự ra đời của luật đầu từ nước ngoài và luật dầu khí,hàng loạt công ty dầu khí nước ngoài đã ký hợp đồng phân chia sản phẩm hoặc cùngđầu tư vào các lô mở và có triển vọng ở bể Cửu Long Đến năm cuối 2003 đã có 9 hợpđồng được ký kết trên các lô: 09-1, 09-2, 09-3, 10&02, 01&02/96, 15-1, 15-2, 16-1,16-2 và 17
Triển khai các hợp đồng đã ký về công tác khảo sát địa vật lý thăm dò, các công
Trang 15ty dầu khí đã ký hợp đồng với các công ty dịch vụ khảo sát địa chấn có nhiều kinhnghiệm trên thế giới như: CGG, Gecco – Prakla, Western Geophysical Company, PGS,…hầu hết các lô trong bể đã đạt được khảo sát địa chấn tỉ mỉ không chỉ phục vụ chocông tác thăm dò mà cả cho công tác chính xác mô hình vỉa chứa Khối lượng khảo sátđịa chấn trong giai đoạn này, 2D là 21408km và 3D là 7340,6km2 Khảo sát địa chấn3D được tiến hành trên hầu hết các diện tích có triển vọng và trên tất cả các vùng mỏ
đã phát hiện cho đến hết năm 2003, tổng số giếng khoan thăm dò, thẩm lượng vàkhai thác đã khoan ở bể Cửu Long khoảng 300 giếng, trong đó riêng Vietsovpetrochiếm trên 70%
Đặc trưng nổi bật của Việt Nam là sự hiện diện các mỏ dầu trong mónggranitoit nứt nẻ trước Đệ tam, mà tiêu biểu là mỏ Bạch Hổ đã được phát hiện năm
1986 và đưa vào khai thác từ tháng 9 năm 1988 Sau Bạch Hổ đã phát hiện và đưavào khai thác hàng loạt mỏ dầu khác trong móng ở bể Cửu Long như Đông Rồng,Đông Nam Rồng, Nam Rồng – Đồi Mồi, Phương Đông, mỏ Sư Tử Đen, mỏ Sư Tử Vàng,
mỏ Rạng Đông, mỏ Cá Ngừ Vàng, mỏ Sư Tử Nâu, mỏ Thăng Long, mỏ Hải Sư Đen, mỏ
Hổ Xám…với trữ lượng dầu và sản lượng dầu khai thác, tính đến 01/01/2012, chiếmtrên 80% tổng trữ lượng dầu đã xác minh và tổng sản lượng dầu đã khai thác của ViệtNam
2.2 Lịch sử tìm kiếm thăm dò cấu tạo GT, lô 09-1
Trên cơ sở kết quả minh giải tài liệu địa chấn 3D của Viện Dầu khí Việt Nam thực hiện năm 2009, đã phát hiện cấu tạo triển vọng GT tại khu vực phía Đông Nam bể Cửu Long (phía Nam mỏ Bạch Hổ)
Kết quả nghiên cứu cấu trúc địa chất cấu tạo GT đã chỉ ra sự tương đồng với vòm Nam mỏ Bạch Hổ về cấu-kiến tạo cũng như về môi trường lắng đọng trầm tích và thành tạo đá
Giếng khoan nghiêng GT-1Х được bắt đầu khoan vào ngày 24.11.2010 bằng giàn tự nâng «Мurmanskaia» nhằm mục đích tìm kiếm các thân dầu khí trong trầm tích lục nguyên và trong móng của cấu tạo GT với đáy thiết kế là
4837 m Khi đạt độ sâu 4110 m đã xảy ra sự cố khoan do bị rơi dụng cụ khoan,
vì vậy đã phải tiến hành khoan cắt thân mới từ độ sâu 3838 m Giếng khoan kết thúc ngày 05.06.2011 với đáy giếng khoan thực tế là 4990 m (CSTĐ 4803 m).
Kết quả thử vỉa giếng này đã thu được dòng dầu tự phun từ trầm tích Mioxen dưới.
Trang 16PHẦN 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT LÔ 09-1 Chương 1: ĐỊA TẦNG
Khu vực nghiên cứu thuộc lô 09-1, nằm trong đới lún chìm Đông Nam CửuLong (Đông Bạch Hổ).Địa tầng của lô cũng tương tự như địa tầng của bể trầm tíchCửu Long Trên cơ sở các kết quả tài liệu minh giải địa chấn, ĐVLGK, tài liệu mẫu lõi…cho thấy khu vực nghiên cứu nói riêng và bể Cửu Long nói chung gồm các phân vị địatầng có tuổi từ trước Kainozoi cho tới đệ tứ
Đặc điểm địa tầng các trầm tích Kainozoi và đá móng trước Kainozoi đượcminh họa trên cột địa tầng tổng hợp của bể trầm tích Cửu Long
Trang 17Hình 1.1 Mặt cắt địa tầng tổng hợp mỏ Gấu Trắng
j
Trang 18Hình 1.1: Cột địa tầng tổng hợp bể Cửu Long
Trang 19LIÊN KẾT ĐỊA TẦNG CÁC GIẾNG KHOAN GT-1Х, BH-1202 VÀ BH-7
Chiều sâu tuyệt đối (m)
Đá granitoid có độ nứt nẻ và hang hốc Phần lát cắt đá macma thường gặp các đai mạch có thành phần đá khác nhau từ axit đến thành phần kiềm trung tính, kiềm thạch anh
Tại giếng khoan GT-1X, đá móng được phát hiện ở khoảng độ sâu
4800-4990 m (CSTĐ4623,7-4803 m), tổng chiều dày khoan vào móng là 196 m Theo tài liệu minh giải giữa các chỉ số độ rỗng nơtron (ННК) và gamma xạ tự nhiên (ГК), đá móng ở đây là đá macma có thành phần axít Theo tài liệu carota khí, phần đá móng có chỉ số khí thấp (<1%) và không có sự mất dung dịch khoan Kết quả minh giải tài liệu ĐVLGK cho thấy có một số khoảng đá có độ rỗng thứ sinh, tuy nhiên khi thử vỉa đã không nhận được dòng
1.2 Oligoxen dưới
Điệp Trà Cú (E3 )1
Trầm tích của điệp Trà Cú gồm chủ yếu là sét kết, bột kết, cát kết, xen kẹp
Trang 20với các vỉa than mỏng và sét vôi được thành tạo trong môi trường sông–hồ Trong điệp này thi thoảng bắt gặp thành tạo nguồn gốc núi lửa, thành phần của
nó chủ yếu gồm diabaz pooсfia, tuf bazan và gabro-diabaz Chiều dày cực đại của điệp đạt 500 m ở những phần lún chìm sâu của bể.
Trên mặt cắt địa chấn, điệp Trà Cú nằm trong khoảng giữa các tầng phản
xạ SH-11 và SH-móng Tuổi của điệp được xác định theo sự tồn tại của dạng đa hình Oculopollis, Magnastriatites thuộc vào Oligoxen sớm và Paleogen
Theo đặc trưng tướng đá, lát cắt điệp Trà cú được chia ra thành 2 phần: trên và dưới Phần trên gồm thành tạo hạt mịn, còn phần dưới gồm thành tạo hạt thô
Tại GK GT-1X, trầm tích điệp này nằm ở khoảng 4140-4800 m (CSTĐ 4047,5-4623,7 m) theo kết quả minh giải tài liệu ĐVLGK Theo tài liệu carota khí chỉ số khí tổng tăng trong các khoảng chiều sâu 4273-4285, 4338-4342 và 4390-
4395 m Trong phạm vi điệp Trà Cú có mặt các vỉa cát kết sau: 4227-4234,
Trong sét của điệp Trà Tân, hàm lượng chất hữu cơ có giá trị từ cao đến rất cao, đặc biệt ở phần giữa của lát cắt Đây là tập đá mẹ sinh dầu và cũng đóng vai trò chắn tốt cho các thân dầu trong đá móng bể Cửu Long Tuy nhiên, các vỉa cát kết trong điệp xen kẽ với sét kết có tính chất thấm chứa trung bình, đây là các đối tượng triển vọng để tìm kiếm và thăm dò dầu khí trong bể Cửu Long.
Tại giếng khoan GT-1X, trầm tích điệp Trà Tân nằm ở khoảng 2940-4140 m (CSTĐ 2902,3-4047,5 m) theo tài liệu ĐVLGK Theo thành phần thạch học, trầm tích của điệp này có thể chia thành 3 phần với các thành phần thạch học khác nhau
Phần trên: nằm giữa SH7 - SH8, phân bố ở khoảng chiều sâu 2940-3250
m (CSTĐ 2902,3-3206,7 m), trầm tích gồm chủ yếu là sét nâu, nâu-tối, nâu đan xen lẫn cát kết-bột Theo ĐVLGK, phần này có mặt một vài vỉa chứa, tuy nhiên không có dấu hiệu khí trong khi khoan.
Phần giữa: nằm giữa SH8 - SH10, phân bố ở khoảng 3250-3620 m (CSTĐ 3206,7-3558,7 m), trầm tích gồm chủ yếu nhất là sét đen, nâu đen xen kẽ các phân lớp mỏng bột kết và cát kết Trong lát cắt thỉnh thoảng gặp các phân lớp mỏng đá vôi và than Trong phần này không thấy các vỉa có triển vọng chứa dầu khí.
Trang 21Phần dưới: trong khoảng SH10 - SH11, phân bố ở khoảng 3620-4140 m (CSTĐ 3558,7-4047,5 m), gồm chủ yếu là cát kết từ hạt mịn đến thô màu nâu tối đến nâu đen, thỉnh thoảng gặp đá cuội Hàm lượng khí tăng lên không đáng kể
ở khoảng này trong khi khoan (giá trị cực đại đạt 10,6% tại độ sâu 3664 m)
1.4 Mioxen dưới
Điệp Bạch Hổ (N1 1 )
Trầm tích điệp Bạch Hổ có tổng chiều dày đạt đến 1500 m phân bố rộng khắp trong lô 09-1 và khu vực nghiên cứu, bắt gặp ở hầu hết các giếng khoan của mỏ Bạch Hổ và Rồng Trầm tích của điệp này nằm bất chỉnh hợp góc rõ rệt lên trên trầm tích của điệp Trà Tân Theo tài liệu địa chấn, lát cắt của điệp này phân bố giữa các tầng phản xạ SH-3 và SH-7 Trầm tích điệp Bạch Hổ được thành tạo trong môi trường đồng bằng châu thổ, vũng vịnh, sông hồ và bồi tích ven biển Theo tài liệu phân tích sinh địa tầng, trầm tích của điệp Bạch Hổ thuộc Mioxen dưới
Tại giếng khoan GT-1X, trầm tích điệp Bạch Hổ gặp ở khoảng chiều sâu 2245-2940 m (CSTĐ 2208-2902,3 m) Trầm tích này gồm các lớp cát kết và sét xen kẽ có màu xám, vàng đỏ Hàm lượng khí tăng cao đáng kể (đến 12%) trong quá trình khoan ở các khoảng 2672-2683 m và 2705-2718 m Theo thành phần thạch học trầm tích điệp Bạch Hổ chia thành 2 phần: trên và dưới
Phần trên của điệp (2152-2662 m) chủ yếu gồm sét màu xám, xanh-xám xen kẽ và tăng lên khi đi từ phía trên xuống dưới, hàm lượng cát kết và bột kết chiếm đến 50% Ở phần trên nhất của lát cắt gặp tập sét rotali phân bố hầu khắp diện tích của bồn trũng Cửu Long Trong phần này bắt gặp các vỉa cát kết thuộc tầng 21 và 22 có tính chất thấm chứa tương đối tốt.
Phần dưới của điệp (2662-2940 m chủ yếu gồm cát kết và bột kết chiếm trên 60%, xen kẹp các lớp sét mỏng màu xám, vàng đỏ Theo kết quả minh giải tài liệu ĐVLGK trong phần lát cắt này có các vỉa cát kết thuộc tầng 23 (2673-
2738 m), tầng 24 (2741-2783 m), tầng 25 (2785-2822 m) và tầng 26 (2830-2877 m), tính chất thấm chứa các vỉa này khá tốt Kết quả thử vỉa các tầng 23 và 24
đã cho dòng dầu công nghiệp với lưu lượng 300 m3 /ng.đ, nhận được dòng dầu không ổn định khi thử vỉa các tầng 25 và 26.
1.5 Mioxen trung
Điệp Côn Sơn (N1 2 cs)
Trầm tích điệp Côn Sơn phân bố trải khắp bồn trũng Cửu Long cũng -như trong phạm vi lô 09-1 và được bắt gặp trong tất cả các giếng khoan ở cấu tạo Bạch Hổ và Rồng Trầm tích của điệp Côn Sơn chủ yếu gồm cát kết, bột kết hạt trung đến thô (75 - 80%), xen kẽ các lớp sét xám đa màu, chiều dày đạt tới 15
m, đôi chỗ gặp các phân lớp than mỏng Tổng chiều dày của điệp thay đổi từ
250 đến 990 m Trầm tích điệp này ở phía tây được thành tạo trong môi trường bồi tích – sông; ở phía đông và đông-bắc được thành tạo trong môi trường đầm
hồ – châu thổ Trầm tích nằm trải ngang hoặc hơi uốn lượn theo bề mặt điệp Bạch Hổ, dốc nghiêng về hướng đông và trung tâm của bồn trũng Kết quả liên
Trang 22kết cho thấy rằng lát cắt của điệp nằm ở giữa hai tầng phản xạ địa chấn SH-2 và SH-3
Cát kết hạt thô Mioxen trung gặp ở khoảng chiều sâu 1240-2245 m (chiều sâu tuyệt đối 1204-2208 m) trong GK GT-1X Theo tài liệu ĐVLGK và kết quả phân tích mẫu vụn, cát kết của điệp này có tính chất thấm chứa tương đối tốt Trong phần lát cắt điệp Côn Sơn không có các vỉa có triển vọng chứa dầu khí
1.6 Mioxen trên
Điệp Đồng Nai (N1 3 )
Lát cắt điệp Đồng Nai gồm chủ yếu gồm cát kết hạt trung, xen lẫn bột kết
và các lớp sét mỏng, màu xám sặc sỡ, đôi khi gặp các lớp than và cacbonat Trầm tích của điệp này ở phần phía tây của bồn trũng được thành tạo trong điều kiện đầm lầy, ven bờ; ở phần phía bắc và đông được thành tạo trong điều kiện biển nông Chiều dày của điệp khoảng trong lát cắt GK GT-1X có chiều dày khoảng 750 m Trầm tích điệp này nằm ngang và hơi dốc về phía đông Theo tài liệu địa chấn, lát cắt của điệp nằm giữa các tầng phản xạ SH-1 và SH-2.
Kết quả minh giải tài liệu ĐVLGK, phân tích mẫu khoan vụn tại GK GT-1X trầm tích điệp Đồng Nai nằm ở khoảng 600 m và gồm cát kết màu xám đến xám nhạt, đôi khi màu nâu xen lẫn với sét và bột kết Trong điệp này không có các vỉa có triển vọng chứa dầu khí.
1.7 Plioxen+Đệ tứ
Điệp Biển Đông (N2 + Q)
Theo tài liệu địa vật lý giếng khoan, phân tích mẫu vụn và tài liệu địa chấn, điệp Biển Đông trong lát cắt GK GT-1X có chiều dày khoảng 690 m.
Đá trầm tích điệp Biển Đông chủ yếu là cát kết hạt mịn đến trung xen lẫn phân lớp sét màu xám, chứa nhiều tàn tích sinh vật biển và glaukonit Trầm tích được lắng đọng trong môi trường biển nông, ven bờ, đôi chỗ có đá cacbonat Trầm tích của điệp này phân bố rộng khắp trong bồn trũng Cửu Long với chiều dày 400 – 900 m, nằm gần như ngang và hơi nghiêng về phía đông
Theo tài liệu ĐVLGK, trong điệp này không có các vỉa có triển vọng chứa dầu khí.
CHƯƠNG 2: CẤU- KIẾN TẠO
2.1 Các hệ thống đứt gãy
Ở bể Cửu Long tồn tại các hệ thống đứt gãy theo phương Đông Bắc - Tây Nam,
Á Đông - Tây, Tây Bắc - Đông Nam và Bắc - Nam trong đó hướng Đông Bắc – Tây Nam
là phương chủ đạo:
Rift, là yếu tố chính khống chế đới trung tâm Rồng - Bạch Hổ Các đứt gãy có biên độ dịch chuyển trong Oligoxen dưới trong khoảng 200 - 1000m và tăng dần
Trang 23600 - 1500m vào đầu Oligoxen muộn rồi lại giảm xuống 100 - 200m vào cuối Oligoxen và đầu Mioxen.
các đứt gãy của hệ thống Đông Bắc - Tây Nam Nhiều chỗ đã quan sát rõ hiện tượng dịch chuyển ngang theo mặt trượt Đông Tây Các đứt gãy hệ thống này phổ biến ở các lô 16 và 17, biên độ dịch chuyển có thể đạt tới 200 - 1000m vào Oligoxen và giảm dần vào Mioxen.
Ngoài các hệ thống đứt gãy chính trên, bể Cửu Long còn tồn tại các hệ thống đứt gãy mang tính địa phương sau:
biên độ nhỏ 200 - 800m vào trước Mioxen sau đó giảm dần.
biên độ nhỏ và chiều dài thường dưới 10km.
trầm tích, các đứt này có chiều dài không quá 4 - 5km.
dài lớn và biên độ từ vài trăm mét đến 2000m Các đứt gãy này tập trung phía Tây bể Cửu Long ít hơn phía Đông và Đông Bắc.
Các hệ thống đứt gãy chính có biên độ lớn tạo nên các đới nứt nẻ trong khốinhô móng làm tăng độ rỗng, độ thấm của tầng móng và tầng móng trở thành tầng chứaquan trọng của bể Cửu Long Ngoài ra, sau khi tích tụ dầu khí đã được hình thànhnhưng do quá trình kiến tạo, các đứt gãy hoạt động mạnh mẽ xuyên cắt qua bẫy nêndầu khí trong bẫy sẽ dịch chuyển đi chỗ khác, nơi có điều kiện thuận lợi để chứa nó
Tóm lại, đứt gãy vừa có thể đóng vai trò trong tạo bẫy chứa và chắn dầu khí,nhưng nó lại vừa có thể đóng vai trò phá huỷ Do đó việc nghiên cứu kiến tạo chovùng hay một cấu tạo là công việc hết sức quan trọng, phục vụ cho công tác tìm kiếm -thăm dò
Hình 2.1: Hệ thống đứt gãy chính bể Cửu Long
2.2 Phân chia, mô tả các đơn vị cấu tạo
Việc phân chia các đơn vị cấu tạo được dựa trên đặc điểm cấu trúc địa chất củatừng khu vực với sự khác biệt về chiều dày trầm tích và thường giới hạn bởi những đứtgãy hoặc hệ thống đứt gãy có biên độ đáng kể Nếu coi bể Cửu Long làđơn vị cấu trúc
Trang 24bậc 1 thì trong bể Cửu Long chia ra các cấu trúc bậc 2 gồm: Trũng phân dị Bạc Liêu;Trũng phân dị Cà Cối; Đới nâng Cửu Long; Đới nâng Phú Quý; Trũng chính bể CửuLong; Sườn nghiêng Tây Bắc; Sườn nghiêng Đông Nam; Trũng Đông Bắc; Trũng TâyBạch Hổ; Trung Đông Bạch Hổ; Đới nâng Trung Tâm; Đới nâng phía Tây Bắc; Đớinâng phía Đông; Đới phân dị Tây Nam vàĐới phân dị Đông Bắc
Theo đường đẳng dày trầm tích 2km thì trũng chính Cửu Long thể hiện rõ nét làmột trũng khép kín dạng hình trăng khuyết với vòng cung hướng ra phía ĐôngNam.Toàn bộ triển vọng dầu khí của bể Cửu Long đều tập trung ở vùng này Vì vậycấu trúc của trũng được nghiên cứu khá chi tiết vàđược phân ra thành các đơn vị cấutrúc nhỏ hơn như một bể thực thụ Các đơn vị bậc 3 bao gồm: trũng Đông Bắc, trũngTây Bạch Hổ, trũng Đông Bạch Hổ, sườn nghiêng Tây Bắc, sườn nghiêng Đông Nam,đới nâng Trung Tâm, đới nâng phía Bắc, đới nâng phía Đông, đới phân dị Đông Bắc,đới phân dị Đông Nam Trong đó, cấu tạo Y nằm trong đới nâng Trung Tâm
Hình 2.2: Sơ đồ phân vùng kiến tạo bể Cửu Long[ 2 ]
Là đới nâng kẹp giữa hai trũng Đông và Tây Bạch Hổ và được giới hạn bởi cácđứt gãy có biên độ lớn với hướng đồ chủ yếu về phía Đông Nam Đới nâng bao nhiêugồm các cấu tạo dương có liên quan đến những khối nâng cổ của móng trước Kainozoinhư: Bạch Hổ, Rồng Các cấu tạo bị chi phối không chỉ bởi các đứt gãy thuận hìnhthành trong quá trình tách giãn mà còn bởi các đứt gãy trượt bằng và chờm nghịch do
ảnh hưởng của sự ép vào Oligoxen muộn
Là trũng sâu nhất có chiều dày trầm tích có thể đạt đến 8km Trũng có phươngkéo dài dọc theo trục chính của bể, nằm kẹp giữa hai đới nâng và chịu khống chế bởicác đứt gãy chính hướng Đông Bắc – Tây Nam
Trang 25Trong một số tài liệu trũng này được ghép chung với trũng Đông Bắc Tuynhiên, về đặc thù kiến tạo giữa hai trũng này có sự khác biệt đáng kể, đặc biệt làphương của các hệ thống đứt gãy chính Trũng Tây Bạch Hổ bị khống chế bởi các đứtgãy kiến tạo có phương á vĩ tuyến, tạo sự gấp khúc của bể Chiều dày trầm tích củatrũng có thể đạt tới 7,5km.
Nằm kẹp giữa đới nâng Trung Tâm về phía Tây, sườn nghiêng Đông Nam vềphía Đông – Đông Bắc và đới nâng Đông Bắc về phía Bắc Trũng có chiều dày trầmtích đạt tới 7km và là một trong ba trũng tách giãn của bể
Hình 2.3: Mặt cắt ngang trũng chính bể Cửu Long[ 2 ]
2.3 Phân tầng cấu trúc
Với các đặc điểm cấu trúc như trên và các đặc điểm địa tầng của bể Cửu Long,dựa vào các quan hệ bất chỉnh hợp, người ta chia cấu trúc bể Cửu Long thành haitầng cấu trúc chính như sau:
Tầng cấu trúc này được hình thành tạo bởi các đá móng trước Kainozoi baogồm các loại đá móng biến chất (phyllit), các đá móng thuộc nhóm granit như granit,granodiorit, diorite thạch anh Chúng là các khối nhô cổ ăn sâu vào bể hoặc các khốinâng ven rìa tạo thành mặt móng cổ gồ ghề, phân dị Ngoài ra còn có các loại đámóng phong hóa, nứt nẻ.Bề mặt của tầng cấu trúc gồ ghề biến dị mạnh và bị nhiềuđứt gãy lớn phá hủy
Tầng cấu trúc này bao gồm tất cả các đá được tạo thành trong giai đoạnKainozoi và được chia ra làm 3 phụ tầng cấu trúc Các phụ tầng cấu trúc này đượcphân biệt với nhau bởi sự biến dạng cấu trúc, phạm vi phân bố và bất chỉnh hợp
Phụ tầng cấu trúc dưới được tạo thành bởi hai tập trầm tích: Tập trầm tích phíadưới có tuổi Oligoxen dưới – hệ tầng Trà Cú, phủ bất chỉnh hợp lên móng phong hóa.Tập trầm tích phía trên tương ứng với Trầm tích Trà Tân, phạm vi mở rộng đáng kể,chủ yếu là sét, bột được lắm đọng trong môi trường sông hồ, châu thổ và được giớihạn phía trên bởi bất chỉnh hợp Oligoxen – Mioxen
Trang 262.4 Lịch sử phát triển địa chất
Bể Cửu Long cũng như vùng biển Việt Nam là một bộ phận của thềm lục địaSunda có cấu trúc địa chất phức tạp, được hình thành do kết quả va chạm của 3 mảnglớn: mảng Âu – Á, mảng Ấn – Úc và mảng Thái Bình Dương Bể Cửu Long là một bểtrầm tích nội lục địa điển hình, được hình thành và phát triển trên mặt móng kết tinhtrước Kainozoi Quá trình phát triển bể được phân thành 3 giai đoạn và thể hiện rõtrong hình 2.4
Hình 2.4: Quá trình phát triển địa chất bể Cửu Long[ 2 ] 2.4.1 Thời kỳ trước tách giãn ( từ đầu Eoxen đến Eoxen giữa )
Trong thời gian cuối Mezozoi cho đến đầu Kainozoi, vùng Đông Nam Á nóichung và thềm lục địa Việt Nam nói riêng là một khối thống nhất, phân bố trongkhông gian rộng đang phát triển ổn định theo chế độ kiến tạo của miền nền, chế độkiến tạo này còn kéo dài đến đầu Eoxen Bước vào đầu Eoxen, xảy ra sự va chạmmạnh giữa lục địa Ấn Độ và lục địa Âu – Á Do ảnh hưởng mạnh của các hoạt độngkiến tạo mang tính khu vực, đặc biệt là hoạt động tạo núi Hymalaya, trên phạm viĐông Nam Á nói chung và thềm lục địa Việt Nam nói riêng tồn tại chế độ kiến tạo rấtphức tạp song song tồn tại các chuyển động tách giãn, chồng lấn, cuốn hút, tạo rift
Trang 27Các đứt gãy sâu hình thành trước đây tái hoạt động, kéo theo sự hình thành hàng loạtcác hệ thống các đứt gãy với quy mô nhỏ hơn, phân cắt địa hình nền tương đối ổnđịnh thành các khối Các khối nâng lên, sụt xuống với biên độ rất khác nhau đặt nềnmóng cho việc hình thành các đơn vị cấu trúc lớn như các bể trầm tích Cửu Long,Nam Côn Sơn, Đới nâng Côn Sơn v.v.
Vào thời kỳ Eoxen giữa, tạo thành vành đai magma dài tới rìa mảng ĐôngDương và dẫn đến hàng loạt các đứt gãy cũ tái hoạt động, đồng thời xuất hiện themcác đứt gãy mới Các dung dịch magma dưới sâu theo các đứt gãy xuyên lên phía trênlấp đầy tạo thành các đai mạch, góp phần làm phức tạp hoá các cấu trúc có trước.Thềm lục địa Sunda cũng như toàn thềm lục địa Đông Nam Á chịu ảnh hưởng nhiềulần của các quá trình kiến tạo (uốn nếp và magma) cho nên móng trước Kainozoi bị vònhàu và bất đồng nhất về tuổi cũng như thành phần vật chất
2.4.2 Thời kỳ đồng tách giãn ( từ cuối Eoxen đến cuối Oligoxen )
Thời kỳ tạo rift được khởi đầu vào cuối Eoxen, đầu Oligoxen do tác động củacác biến cố kiến tạo vừa nêu với hướng căng giãn chính là Tây Bắc – Đông Nam Hàngloạt đứt gãy hướng Đông Bắc – Tây Nam được mở rộng do căng giãn, dãn đến sụt lúnmạnh và tạo rift
Trong Oligoxen giãn đáy biển theo hướng Bắc Nam tạo biển Đông bắt đầu từ
32 triệu năm Trục giãn đáy biển phát triển lấn dần xuống Tây Nam vào cuối Oligoxen.Các quá trình này đã gia tăng các hoạt động tách giãn và đứt gãy ở bể Cửu Long trongOligoxen và nén ép vào cuối Oligoxen Vì thế các đứt gãy điển hình là các đứt gãy dạnggàu xúc, phương Đông Bắc – Tây Nam cắm về phía Đông Nam, một số có phươngĐông Tây Nhiều bán địa hào, địa hào cùng hướng phát triển theo các đứt gãy đượchình thành Các bán địa hào, địa hào này được lấp đầy nhanh bằng các trầm tích vụnthô, phun trào thành phần bazơ Trong thời gian đầu tạo bể do chuyển động sụt lúnkhối tảng, phân dị nên tại các đới trũng khác nhau có thể có các thời kỳ gián đoạn,bào mòn trầm tích với mức độ khác nhau Do khu vực tích tụ trầm tích và cung cấptrầm tích nằm kế cận nhau nên thành phần trầm tích ở các đới trũng khác nhau có thểkhác biệt nhau
Quá trình tách giãn tiếp tục phát triển làm cho bể lún chìm sâu, rộng hơn.Các
hố, trũng trước núi được mở rộng, sâu dần và liên thông nhau và có chế độ trầm tíchkhá đồng nhất.Các tầng trầm tích hồ dày thuộc hệ tầng Trà Tân được thành tạo vớithành phần chủ yếu là sét giàu vật chất hữu cơ màu nâu, nâu đen tới đen Các hồ pháttriển trong các địa hào riêng biệt được liên thông nhau, mở rộng dần và có hướng kéodài theo phương Đông Bắc – Tây Nam Đây cũng là phương phát triển ưu thế của hệthống đứt gãy mở bể Các trầm tích thuộc hệ tầng Trà Tân dưới có diện phân bố hẹp,thường vắng mặt ở phần rìa bể, phần kề với các khối cao địa lũy và có dạng nêm điểnhình, phát triển dọc theo các đứt gãy với bề dày thay đổi nhanh Trầm tích giàu thànhphần sét của hệ tầng Trà Tân giữa được tích tụ sau đó, phân bố rộng hơn, bao phủ trênhầu khắp các khối cao trong bể và các vùng cận rìa bể
Hoạt động nén ép vào cuối Oligoxen muộn đãđẩy trồi các khối móng sâu, gâynghịch đảo trong trầm tích Oligoxen ở trung tâm các đới trũng chính, làm tái hoạtđộng các đứt gãy thuận chính ở dạng ép chờm, trượt bằng và tạo nên các cấu trúc
“trồi”, các cấu tạo hình hoa, phát sinh các đứt gãy nghịch ở một số nơi như trên cấutạo Rạng Đông, phía Tây cấu tạo Bạch Hổ và một số khu vực mỏ Rồng Đồng thời xảy
ra hiện tượng bào mòn và vát mỏng mạnh các trầm tích thuộc hệ tầng Trà Tân trên Sựkết thúc hoạt động của phần lớn các đứt gãy và không chỉnh hợp góc rộng lớn ở nóctrầm tích Oligoxen đãđánh dấu sự kết thúc thời kỳ đồng tạo rift
2.4.3 Thời kỳ sau tách giãn ( từ Mioxen sớm đến Plioxen )
Trang 28Bước vào Mioxen sớm quá trình giãn đáy Biển Đông theo phương Tây Bắc –Đông Nam đã yếu đi và nhanh chóng kết thúc vào cuối Mioxen sớm (17 tr.năm), tiếptheo là quá trình nguội lạnh vỏ Trong thời kỳ đầu Mioxen sớm các hoạt động đứt gãyvẫn còn xảy ra yếu và chỉ chấm dứt hoàn toàn từ Mioxen giữa.
Tuy nhiên, ở bể Cửu Long vẫn xảy ra các hoạt động tái căng giãn yếu, lún chìm
từ từ trong Mioxen sớm và hoạt động núi lửa ở một số nơi, đặc biệt ở phần Đông Bắc
bể Vào cuối Mioxen sớm trên phần lớn diện tích bể diễn ra biến cố chìm sâu bể với sựthành tạo tầng “sét Rotalid” biển nông rộng khắp, được coi là tầng đánh dấu địa tầng
và cũng là tầng chắn khu vực khá tốt cho toàn bể Cuối Mioxen sớm toàn bể trải quaquá trình nâng khu vực và bóc mòn yếu, bằng chứng là tầng sét Rotalid chỉ bị bào mòntừng phần và vẫn duy trì tính phân bố khu vực của nó
Vào Mioxen giữa có một pha nâng lên dẫn dến sự tái thiết lập điều kiện môitrường sông ở phần Tây Nam bể còn phần Đông, Đông Bắc bể điều kiện ven bờ vẫntiếp tục được duy trì
Mioxen muộn được đánh dấu bằng sự lún chìm mạnh ở Biển Đông và phần rìacủa nó, khởi đầu quá trình thành tạo thềm lục địa hiện tại Đông Việt Nam.Núi lửa hoạtđộng tích cực ở phần Đông Bắc bể Cửu Long, Nam Côn Sơn và phần đất liền NamViệt Nam Từ Mioxen muộn bể Cửu Long đã hoàn toàn thông với bể Nam Côn Sơn,các hệ thống sông Cửu Long và sông Đồng Nai trở thành nguồn cung cấp trầm tíchcho cả hai bể Các trầm tích hạt thôđược tích tụ trong môi trường ven bờ ở phần Nam
bể và môi trường biển nông trong ở phần Đông Bắc bể.Plioxen là thời gian biển tiếnrộng lớn và có lẽ đây là lần đầu tiên toàn bộ vùng Biển Đông hiện tại nằm dưới mựcnước biển.Các trầm tích hạt mịn hơn được vận chuyển vào vùng bể Cửu Long và xahơn tích tụ vào vùng bể Nam Côn Sơn trong điều kiện nước sâu hơn
Chương III: Tiềm năng Dầu Khí
3.1 Biểu hiện dầu khí và các tích tụ dầu khí
Đến nay, bể Cửu Long đã phát hiện trên 20 cấu tạo có chứa dầu khí, trong đó
có hơn 10 phát hiện thương mại như: Bạch Hổ, Rồng, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, HồngNgọc, Rạng Đông, Cá Ngừ Vàng…, trong những năm gần đây đã phát hiện thêm vàđưa vào khai thác một số mỏ mới như Mèo Trắng, Thỏ Trắng
Phần lớn các mỏ phân bố trên khối nâng Trung Tâm và đới nâng phía Tây Bắc.Các mỏ dầu đều thuộc loại nhiều vỉa (trừ mỏ Đông Nam Rồng chỉ có 1 mỏ trongmóng, Mèo Trắng chỉ có trong trầm tích Mioxen dưới) Các thân khoáng nằm phổ biến
ở cả 3 play: Mioxen dưới, Oligoxen và móng nứt nẻ trước Kainozoi Tuy nhiên dầu ởtrong móng vẫn là chủ yếu.Ví dụ như tại các mỏ như Đông Nam Rồng, Bạch Hổ, RạngĐông, Sư Tử Đen và Sư Tử Vàng trữ lượng dầu trong móng chiếm từ 70% đến gần100% trữ lượng toàn mỏ
Tất cả các phát hiện dầu khí đều gắn liền với các cấu tạo dương nằm gần trongphần lún chìm sâu của bể với chiều dày trầm tích trên 2.000m tại phần đỉnh.Các cấutạo này đều có liên quan đến sự nâng cao của khối móng bị chôn vùi trướcOligoxen.Xung quanh khối móng nhô này thường nằm gá đáy là các trầm tích Oligoxendày và có thể cả Eoxen là những tầng sinh dầu chính của bể.Dầu được sinh mạnh mẽtại các tầng vào cuối Mioxen rồi dồn nạp vào bẫy đã được hình thành từ trước đó.Trong lô 09-1 chỉ mới phát hiện và thăm dò dầu khí ở mỏ Gấu Trắng, Mèo Trắng ódòng dầu khí thương mại
3.2 Đá sinh
Theo đặc điểm trầm tích và quy mô phân bố của các tập sét ở bể Cửu Long có
Trang 293.2.1 Độ phong phú vật chất hữu cơ
Trong Mioxen dưới có carbon hữu cơ thuộc loại trung bình, TOC dao động từ0,6% – 0,87% Wt, các giá trị S1 và S2 thuộc loại nghèo (S1 từ 0,5 – 1,2 kg HC/t.đá, S2
từ 0,8 – 1,2 kg HC/t.đá), chưa có đủ khả năng sinh Hydrocarbon (HC) Vì vậy, dầutrong tầng này là các sản phẩm di cư từ nơi khác đến (HI = 113 –216,7 kg HC/t.TOC)
Tầng Oligoxen trên rất phong phú vật chất hữu cơ loại rất tốt, TOC dao động từ3,5% – 6,1% Wt, các chỉ tiêu S1 và S2 có giá trị rất cao (S1 từ 4 – 12 kg HC/t.đá, S2 từ16,7 – 21 kg HC/t.đá ), giá trị HI đạt 477,1 kg HC/t.TOC
Hình 2.5: Mức độ trưởng thành VCHC[ 2 ]
Vật chất hữu cơ tầng Oligoxen dưới + Eoxen thuộc loại tốt và rất tốt TOC =0,97% - 2,5% Wt, với các chỉ tiêu S1 = 0,4 - 2,5 kg HC/t.đá và S2 = 3,6 – 8,0 kg HC/t.đá
Ở tầng này, lượng Hydrocarbon trong đá mẹ giảm hẳn so với tầng trên vì đã sinh dầu
và giải phóng phần lớn Hydrocarbon vào đá chứa Vì vậy, chỉ tiêu HI chỉ còn 163,6kgHC/t.đá Nhìn chung tiềm năng của vật chất hữu cơ trong trầm tích Oligoxen là rấtlớn, còn vật chất hữu cơ trong trầm tích Mioxen dưới thuộc loại trung bình và nghèo
3.2.2Loại vật chất hữu cơ và môi trường tích tụ
Đối với tầng đá mẹ Mioxen dưới, loại vật chất hữu cơ thuộc loại III là chủ yếu(thực vật bậc cao), có xen kẽ loại II, chỉ tiêu Pr/Ph đạt 1,49 – 2,23 chứng tỏ chúngđược tích tụ trong môi trường cửa sông, đồng bằng ngập nước và có xen kẽ biểnnông
Đối với tầng đá mẹ Oligoxen trên, vật chất hữu cơ chủ yếu thuộc loại II (độngthực vật bậc thấp), thứ yếu là loại I (rong tảo) và ít hơn là loại III Chỉ tiêu Pr/Ph phổbiến 1,6 – 2,3 phản ánh chúng được tích tụ trong môi trường cửa sông, vùng nước lợ
- biển nông, một số ít trong môi trường đầm hồ
Đối với tầng đá mẹ Oligoxen dưới + Eoxen, loại vật chất hữu cơ của tầng này
Trang 30chủ yếu loại II, thứ yếu là loại III, không có loại I Các giá trị Pr/Ph cũng chỉ đạt 1,7 –2,35, phản ánh điều kiện tích tụ cửa sông, nước lợ, gần bờ và một phần đầm hồ.
3.2.3 Độ trưởng thành của vật chất hữu cơ
Mức độ trưởng thành của vật chất hữu cơ được xác định theo chỉ số phản xạvitrinit Khi đạt đến 0,6 % - 0,8%, vật chất hữu cơ mới vào giai đoạn trưởng thành.Trong giai đoạn này chỉ giải phóng lượng nhỏ Hydrocarbon khí và lỏng nhẹ ra khỏi đá
mẹ Khi vật chất hữu cơ bị chìm sâu và đạt trên ngưỡng 0,8% mới có cường độ sinhdầu mạnh Khi đó điều kiện tăng thể tích khí, HC lỏng, tăng áp suất, giảm độ nhớt,giảm lượng nhựa asphalten và giải phóng hàng loạt HC ra khỏi đá mẹ di cư vào bẫychứa
Theo kết quả phân tích cho thấy các mẫu của vật chất hữu cơ của trầm tíchMioxen dưới chỉ nằm ở bên trái của đường 0,6%, tầng Oligoxen trên chúng nằm xungquanh đường 0,6%, còn tầng Oligoxen dưới-Eoxen nằm xung quanh đường 0,8% Nhưvậy chỉ có các tầng đá mẹ Oligoxen trên và Oligoxen dưới + Eoxen mới đạt mứctrưởng thành và trưởng thành muộn và cũng là nguồn cung cấp chủ yếu HC cho cácbẫy chứa bể Cửu Long Vì vậy, các chỉ tiêu Tmax và thường có giá trị cao hơn trongkerogen (Tmax > 435 − 446 ;>0.6%-0.8% )
3.2.4 Quy mô phân đới sinh dầu của các tầng đá mẹ
Trong các tầng đá mẹ Oligoxen-Eoxen luôn có hệ số PI khá cao và đạt 0,36 –0,41 đặc biệt tầng đá mẹ dưới cùng
Sau khi xem xét quy luật phân bố của các chỉ tiêu , Tmax vàđặc biệt chỉ tiêuthời nhiệt (TTI) cho thấy thời điểm sinh dầu của 2 tầng đá mẹ dưới bắt đầu từ thờiMioxen sớm, nhưng cường độ sinh dầu và giải phóng chúng ra khỏi đá mẹ chỉ xảy ravào cuối thời kỳ Mioxen giữa-đầu Mioxen muộn tới nay
Đới sinh dầu mạnh của tầng Oligoxen trên bao gồm chủ yếu phần trung tâm códiện tích khoảng 193 km2 Diện tích đới sinh condensat chỉ tập trung ở phần lõm sâunhất 24,5 km 2
Đới sinh dầu mạnh và giải phóng dầu của tầng Oligoxen dưới-Eoxen mở rộng
ra ven rìa so với tầng Oligoxen trên vàđạt diện tích lớn hơn.Đới sinh dầu chiếm diệntích khoảng 576-580 km2 Còn diện tích vùng sinh condensat đạt 146 km2
3.3 Đá chứa
Đá chứa dầu khí trong bể Cửu Long bao gồm: đá Granitoid nứt nẻ, hang hốccủa móng kết tinh, phun trào dạng vỉa hoặc đai mạch và cát kết có cấu trúc lỗ rỗnggiữa hạt, đôi khi nứt nẻ, có nguồn gốc và tuổi khác nhau
3.3.1 Đá móng trước Kainozoi
Đá chứa granitoid nứt nẻ hang hốc của móng kết tinh rất đặc trưng cho bể CửuLong Hình ảnh dập vỡ và biến đổi có thể quan sát rõ tại các điểm lộ, với xu hướngdập vỡ và biến đổi mạnh ở phần trên của mặt cắt
Nứt nẻ hang hốc được hình thành do hai yếu tố: nguyên sinh-sự co rút của đámagma khi nguội lạnh và quá trình kết tinh, thứ sinh-hoạt động kiến tạo và quá trìnhphong hóa, biến đổi thủy nhiệt tương đương với giá trị độ rỗng nguyên sinh và thứsinh
Đối với đá chứa móng nứt nẻ, độ rỗng thứ sinh đóng vai trò chủ đạo đạo gồm
độ rỗng nứt nẻ vàđộ rỗng hang hốc Hoạt động thủy nhiệt đi kèm với hoạt động kiếntạo đóng vai trò hai mặt: có thể làm tăng kích thước nứt nẻ hang hốc đãđược hìnhthành từ trước, nhưng cũng có thể lấp đầy hoàn toàn hoặc một phần nứt nẻ bởi cáckhoáng vật thứ sinh Độ rỗng mở trung bình theo thể tích đá trên các mỏ đang khaithác thay đổi trong khoảng 0.5%-2,9%, độ thấm khí trung bình dao động từ 2,9 -
Trang 3116,5mD, độ bão hòa nước dư từ 44% - 55% (theo tài liệu năm 2006) Nhìn chung, đá
móng nứt nẻ có chất lượng tốt, nhiều giếng khoan cho dòng tới hơn 1000m3 /ngày
Thành phần bao gồm các đá: granit, granit-gneis, granobiotit, diorite,monzodiorit, gabbro, monzogabro bị các đại mạch diabas, basalt-andesit porphyry cắtqua và bị biến đổi ở mức độ khác nhau, dập vỡ và nứt nẻ có khả năng chứa dầu rất tốt
Phần lớn dầu trong bể Cửu Long được khai thác từ móng (Bạch Hổ, Rồng,Rạng Đông, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng… ) Trong lôA chúng ta cũng gặp tầng chứa làđámóng ở trong mỏ X
3.3.2 Đá chứa cát kết Oligoxen
Thành phần chủ yếu là arkos - lithic, đôi chỗ nằm xen kẽ với các tập đá núi lửa dày,
có nguồn gốc quạt bồi tích, sông ngòi nằm trên đá móng kết tinh chuyển sang môitrường tiền châu thổ (prodelta) và đầm hồ ở phần sâu của bể Độ rỗng trong cát kếtOligoxen dưới có thể đạt tới 18%, trung bình là 12 – 16% Độ thấm dao động khoảng
1 – 250 mD Tại phần giữa và trên của mặt cắt Oligoxen dưới cát kết có chất lượng tốthơn, theo chiều sâu tính chất thấm chứa của đá có xu hướng giảm do ảnh hưởng củaquá trình tạo đá và nén ép mạnh
Chủ yếu là hạt mịn, xen lớp mỏng với sét, bột, đôi khi với các tập đá núi lửa pháttriển rộng trên diện tích của bể Các vỉa dầu chủ yếu được phát hiện trong tầng nàynhư ở mỏ Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Sư Tử Đen Cát kết chủ yếu là arkos, arkos –lithic Vật liệu trầm tích nguồn cung cấp liên quan tới các khối magma axit ở gần, tích
tụ trong môi trường đầm hồ cửa sông, đầm lầy, vũng vịnh thủy triều, trong điều kiệnkhử với ảnh hưởng của biển tăng dần về phía Đông Bắc Đá chứa là các tập cát bộtkết, thành tạo trong môi trường delta: lòng sông, đồng bằng ngập lụt, tiền châu thổ(prodelta) và biển nông Độ rỗng 12- 21 %, trung bình là 14%, độ thấm từ 2- 26 mD.Trong mỏ Y cát kết Oligoxen trên là một trong các đối tượng có chứa dầu
3.3.3 Đá chứa cát kết Mioxen dưới
Cát kết chứa dầu Mioxen dưới gặp ở phần trên và phần dưới của tập mặt cắttập CL4-2 Chúng phát triển rộng khắp trong phạm vi bể chủ yếu có nguồn gốc songngòi Delta, đồng bằng ngập lụt, vũng vịnh bãi triều, ở đây các vỉa cát kết xen kẽ vớibột và sét Cát Grauvac feldspar với arkos-lithic và lithic màu nâu xám sáng, xám xanh,
độ hạt mịn tới thô Vỉa dầu trong cát kết bắt gặp trên mỏ Bạch Hổ và Đông Bắc Rồngvới các tầng sản phẩm 23-27.Độ rỗng là 13-25%, trung bình là 19%, độ thấm trungbình là 137mD
Dầu có trong những vỉa cát này gặp khá phổ biến trên hầu khắp các cấu tạonhư: Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Phương Đông, Hồng Ngọc, Pearl, Sư Tử Đen, Sư
Tử Vàng Trong cấu tạo Y các tích tụ dầu khí chủ yếu tập trung trong trầm tíchMioxen dưới, dầu khí trong trầm tích Oligoxen trên chỉ chiếm một phần rất nhỏ củamỏ
3.4 Đá chắn
Dựa vào đặc điểm thạch học và kết quả khoan của cá giếng khoan trong bể CửuLong, có thể phân ra 4 tầng chắn chính , trong đó có 1 tầng chắn khu vực và 3 tầngchắn địa phương
3.4.1 Tầng chắn mang tính khu vực
Tập sét Rotalid (tầng sét chứa nhiều Rotalia) nằm ở phần trên của hệ tầng Bạch
Hổ đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các vỉa sản phẩm.Đá có cấu tạo khối, hàmlượng sét cao (90 – 95%), kiến trúc thuộc loại phân tán, mịn Thành phần chủ yếu là
Trang 32montmorilonit, thứ yếu là hydromica, kaolinnit, hỗn hợp (hydromicamontmorilonit)vàít clorit với kích thước hạt rất mịn và chiều dày từ 20 đến 300 m Diện phân bố củatầng chắn này là toàn bể Cửu Long.
3.4.2 Tầng chắn mang tính địa phương
Tầng chắn địa phương I-tầng sét nóc tập CL4-2, nằm dưới tầng phản xạ địachấn CL4-1.Đây là tập sét tạp, biển nông, nằm phủ trực tiếp trên các vỉa sản phẩm 23,
24 (mỏ Rồng, Bạch Hổ) , MI60 (Pearl) Chiều dày tầng chắn dao dộng từ 60- 150m
Hệ số phân lớp: 0,1 -0,47 Hàm lượng sét trung bình là 51%.Sét phân lớp dày.Đây làtầng chắn thuộc loại tốt, phát triển rộng khắp trong phần trũng sâu của bể
Tầng chắn địa phương II-tầng sét thuộc hệ tầng Trà Tân giữa và trên phát triểnchủ yếu trong phần trũng sâu của bể Chiều dày tầng sét dao động từ 0 đến vài trămmét Sét có nguồn gốc đầm hồ, tiền delta, phân lớp dày và có khả năng chắn tốt.Đây làtầng chắn quan trọng, quyết định sự tồn tại của các bẫy chứa là móng nứt nẻ trướcKainozoi
Tầng chắn địa phương III-tầng sét thuộc hệ tầng Trà Cú.Đây là tầng chắn mangtính cục bộ, có diện tích phân bố hẹp.Chúng thường phát triển bao quanh các khối nhômóng cổ, rất hiếm khi phủ kín cả phần đỉnh của khối nâng móng.Sét chủ yếu làđầm
hồ, phân lớp dày, có khả năng chắn khá tốt, đặc biệt làđối với các thân cát lòng sôngnằm dưới hoặc trong chúng.Những phát hiện dầu trong Bạch Hổ, Đông Rồng và khícondensat (Sư Tử Trắng) là những bằng chứng về khả năng chắn của tầng này
Hình 2.6: Sự phân bố các tầng chắn trên mặt cắt địa chấn[ 2 ]
3.4.3 Di chuyển và nạp bẫy
Nhưđã trình bày ở phần trên, dầu khí trong bể Cửu Long được sinh ra chủ yếu
từ hai tầng đá mẹ chính: Oligoxen trên và Oligoxen dưới+Eoxen Sau khi dầu khíđượcsinh ra, chúng được di chuyển từ các tập đá mẹ vào các tập đá chứa bằng các conđường khác nhau vàtheo các hướng khác nhau Con đường mà dầu di chuyển có thể làcác tập hạt thô phát triển rộng trong lát cắt vàtheo diện, tiếp xúc trực tiếp với các tậpsét sinh dầu hoặc dọc theo các đứt gãy kiến tạo có vai trò như kênh dẫn Trên đường dichuyển dầu có thể bị giữ lại để tạo thành những tích tụ dầu khí nếu ở đó tồn tại yếu tốchắn kín (bẫy chứa), ngược lại chúng bị phân tán và thoát đi Qua nghiên cứu, hệ số PItrong Mioxen dưới là cao nhất vàđạt 0,48– 0,50 Trong khi đó, VCHC trong Mioxendưới chưa rơi vào đới sinh dầu Vì vậy, dầu tích tụ trong các bẫy này là sản phẩm dicưtheođứt gãy từ nơi khác đến Trong trầm tích Oligoxen hệ số di cư thấp hơn chứng
tỏ gần nguồn sinh (PI= 0,2-0,36 cho bẫy Oligoxen trên vàđạt 0,11-0,41 cho bẫyOligoxen dưới và móng)
Trang 33Theo lịch sử phát triển địa chất của bể, về cơ bản các dạng bẫy chứa đãđượchình thành vào giai đoạn tạo rift vàđầu giai đoạn sau tạo rift (Mioxen sớm), sớm hơnthời gian dầu khí trong bể bắt đầu di chuyển từ đá sinh Như vậy bể Cửu Long cóđiềukiện thuận lợi là khi dầu khí sinh ra từ các tầng sinh thì các bẫy đã sẵn sàng tiếp nhận,điểm hình là các khối nhô móng, thuộc phần trung tâm bể thường được giới hạn cácđứt gãy và tầng sét Oligoxen kề áp nên chúng dễ dàng nạp ngay vào đá chứa vàđượclưu giữ ở đó.
3.5 Các play hydrocacbon và các kiểu bẫy
3.5.1 Play đá móng nứt nẻ
Gồm đá magma xâm nhập granitoid và một phần đá biến chất.Đá móng nứt
nẻ, phong hóa là đối tượng chứa dầu khí quan trọng của bể
Những phát hiện dầu khí lớn trong bể Cửu Long đều liên quan đến play này:Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Cá Ngừ Trắng…
Các bẫy chứa nằm trong các khối móng nhô dạng địa lũy hoặc núi sót bị chônvùi, khép kín 3 chiều bởi các tập trầm tích Oligoxen hạt mịn phủ lên trên và nằm kề ápxung quanh Bẫy chứa dạng hỗn hợp, có liên quan mật thiết với đứt gãy và phá hủykiến tạo.Thân dầu dạng khối thường có chiều cao lớn, tùy thuộc vào mức độ chắn vàbiên độ khép kín của khối móng nâng cao
Dầu được nạp vào bẫy từ các tầng sinh bao quanh và+ , rủi ro lớn nhất của playnày là khả năng bao kín của đá chắn và mức độ giập vỡ của đá móng
3.5.2 Play Oligoxen
Được chia thành 2 play Oligoxen nhỏ hơn: Oligoxen dưới và Oligoxen trên:
Là một trong những đối tượng thăm dò, khai thác chính của bể Cửu Long Cácvỉa dầu thương mại được phát hiện trên mỏ Bạch Hổ và Rồng Đá chứa là cát kết hạtthô, màu xám có nguồn gốc đồng bằng bồi tích, sông ngòi, nằm kề áp vào móng, đôichỗ cát kết cùng với đá móng hợp thành một thân dầu thống nhất hoặc cát kết lòngsông xếp chồng lên nhau tạo thành một tập cát dày, bị các đứt gãy cắt qua tạo thànhcác khối riêng biệt, bẫy chứa dầu kiểu địa tầng hay phi cấu tạo, bị chắn thạch học vàkiến tạo
Tầng chắn của phụ Play này là tập hạt mịn nằm phần trên của lát cắt.Đôi khichính các tập sét nột tầng cũng đóng vai trò chắn cục bộ Cũng như play móng nứt nẻ,dầu của các tích tụ thuộc Oligoxen dưới được nạp từ chính tầng sinh cùng tên hoặc giàhơn +
Bao gồm cát kết chứa dầu Oligoxen trên, là cát kết arkos xám sáng, nâu vàngnhạt xen kẹp với các lớp mỏng sét, bột kết và đá vôi có nguồn gốc đầm hồ, đồngbằng, sông ngòi Tầng chắn đồng thời cũng là tầng sinh của play này, chính là các tậpsét nằm trong lát cắt
Các vỉa dầu đã phát hiện trên mỏ Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông… thuộc dạng bẫyđịa tầng, bị chắn thạch học mọi phía
3.5.3 Play Mioxen dưới
Cát kết chứa dầu Mioxen dưới có nguồn gốc sông ngòi, đồng bằng và biểnnông ven bờ Tại một số mỏ Rồng cát kết chứa dầu phần trên dạng arkos hạt mịn đếnthô xen kẹp với các lớp sét mỏng có điện trở suất thấp (3,5 đến 7Ωm), còn phần dướitập trên các khu vực mỏ Bạch Hổ, Đông Bắc Rồng dầu được phát hiện trong các vỉacát dày hơn, độ hạt trung bình, có điện trở suất từ 7 đến 20 Ωm Các bẫy chủ yếu làdạng cấu trúc, vòm, vỉa bị chắn thạch học và kiến tạo
Qua các kết quả nghiên cứu địa tầng, kiến tạo, có thể thấy bể trầm tích CửuLong là bể trầm tích có nhiều điểm đặc biệt so với các bể trầm tích khác của Việt Nam
Trang 34và thế giới.Điều đó thể hiện ở dầu khí ngoài tích tụ trong trầm tích còn một phần rấtlớn có trong đá móng nứt nẻ.Đây là một phát hiện mới lạ không chỉ ở Việt Nam màcòn trên thế giới cũng rất hiếm có, mang tính chất đột phá cho công tác tìm kiếm thăm
dò dầu khí không chỉ trong trầm tích mà còn trong đá móng, đi ngược lại với địnhhướng tìm kiếm thăm dò của các kỹ sư dầu khí trước đây
Qua kết quả nghiên cứu hệ thống dầu khí của bể, có thể khẳng định bể CửuLong có hệ thống dầu khí hoàn chỉnh với đầy đủ các yếu tố thuận lợi từ khả năng sinhdầu của 2 tầng đá mẹ, các tầng chắn, tầng chứa đến mối tương quan phù hợp giữa thờigian tạo bẫy và sinh dầu
Trang 35PHẦN III:THI Ế T K Ế GI ẾNG KHOAN TÌM KIẾ M TRÊN CẤ U T Ạ O GT-1X
LÔ 09-1
Chương I:Đặc điểm địa chất cấu tạo GT
1.V ị trí cấ u t ạ o GT trong khu v ực nghiên cứ u
Phía Đông Nam bể Cửu Long cách tp.Vũng Tàu 120km
Cấu tạo GT-1X nằm phía Nam mỏ Bạch Hổ lô 09- 1, bể Cửu Long
2 Địa tầng
Trang 36và BH-7 (bảng 1.1) Cột địa tầng tổng hợp mỏ Gấu Trắng được thể hiện trên hình 1.1
Bảng 1.1
Hì n h 1 S ơ đ ồ p hâ n b ố m ỏ G ấu Tr ắn g tr ê n b ồ n tr ũ
Trang 37LIÊN KẾT ĐỊA TẦNG CÁC GIẾNG KHOAN GT-1Х, BH-1202 VÀ BH-7
Chiều sâu tuyệt đối (m)
Đá granitoid có độ nứt nẻ và hang hốc Phần lát cắt đá macma thường gặp các đai mạch có thành phần đá khác nhau từ axit đến thành phần kiềm trung tính, kiềm thạch anh
Tại giếng khoan GT-1X, đá móng được phát hiện ở khoảng độ sâu
4800-4990 m (CSTĐ4623,7-4803 m), tổng chiều dày khoan vào móng là 196 m Theo tài liệu minh giải giữa các chỉ số độ rỗng nơtron (ННК) và gamma xạ tự nhiên (ГК), đá móng ở đây là đá macma có thành phần axít Theo tài liệu carota khí, phần đá móng có chỉ số khí thấp (<1%) và không có sự mất dung dịch khoan Kết quả minh giải tài liệu ĐVLGK cho thấy có một số khoảng đá có độ rỗng thứ sinh, tuy nhiên khi thử vỉa đã không nhận được dòng
Trang 382,2 Oligoxen dưới
Điệp Trà Cú (E3 )1
Trầm tích của điệp Trà Cú gồm chủ yếu là sét kết, bột kết, cát kết, xen kẹp với các vỉa than mỏng và sét vôi được thành tạo trong môi trường sông–hồ Trong điệp này thi thoảng bắt gặp thành tạo nguồn gốc núi lửa, thành phần của
nó chủ yếu gồm diabaz pooсfia, tuf bazan và gabro-diabaz Chiều dày cực đại của điệp đạt 500 m ở những phần lún chìm sâu của bể.
Trên mặt cắt địa chấn, điệp Trà Cú nằm trong khoảng giữa các tầng phản
xạ SH-11 và SH-móng Tuổi của điệp được xác định theo sự tồn tại của dạng đa hình Oculopollis, Magnastriatites thuộc vào Oligoxen sớm và Paleogen
Theo đặc trưng tướng đá, lát cắt điệp Trà cú được chia ra thành 2 phần: trên và dưới Phần trên gồm thành tạo hạt mịn, còn phần dưới gồm thành tạo hạt thô
Tại GK GT-1X, trầm tích điệp này nằm ở khoảng 4140-4800 m (CSTĐ 4047,5-4623,7 m) theo kết quả minh giải tài liệu ĐVLGK Theo tài liệu carota khí chỉ số khí tổng tăng trong các khoảng chiều sâu 4273-4285, 4338-4342 và 4390-
4395 m Trong phạm vi điệp Trà Cú có mặt các vỉa cát kết sau: 4227-4234,
Trong sét của điệp Trà Tân, hàm lượng chất hữu cơ có giá trị từ cao đến rất cao, đặc biệt ở phần giữa của lát cắt Đây là tập đá mẹ sinh dầu và cũng đóng vai trò chắn tốt cho các thân dầu trong đá móng bể Cửu Long Tuy nhiên, các vỉa cát kết trong điệp xen kẽ với sét kết có tính chất thấm chứa trung bình, đây là các đối tượng triển vọng để tìm kiếm và thăm dò dầu khí trong bể Cửu Long.
Tại giếng khoan GT-1X, trầm tích điệp Trà Tân nằm ở khoảng 2940-4140 m (CSTĐ 2902,3-4047,5 m) theo tài liệu ĐVLGK Theo thành phần thạch học, trầm tích của điệp này có thể chia thành 3 phần với các thành phần thạch học khác nhau
Phần trên: nằm giữa SH7 - SH8, phân bố ở khoảng chiều sâu 2940-3250
m (CSTĐ 2902,3-3206,7 m), trầm tích gồm chủ yếu là sét nâu, nâu-tối, nâu đan xen lẫn cát kết-bột Theo ĐVLGK, phần này có mặt một vài vỉa chứa, tuy nhiên không có dấu hiệu khí trong khi khoan.
Phần giữa: nằm giữa SH8 - SH10, phân bố ở khoảng 3250-3620 m (CSTĐ
Trang 393206,7-3558,7 m), trầm tích gồm chủ yếu nhất là sét đen, nâu đen xen kẽ các phân lớp mỏng bột kết và cát kết Trong lát cắt thỉnh thoảng gặp các phân lớp mỏng đá vôi và than Trong phần này không thấy các vỉa có triển vọng chứa dầu khí.
Phần dưới: trong khoảng SH10 - SH11, phân bố ở khoảng 3620-4140 m (CSTĐ 3558,7-4047,5 m), gồm chủ yếu là cát kết từ hạt mịn đến thô màu nâu tối đến nâu đen, thỉnh thoảng gặp đá cuội Hàm lượng khí tăng lên không đáng kể
ở khoảng này trong khi khoan (giá trị cực đại đạt 10,6% tại độ sâu 3664 m)
2.4 Mioxen dưới
Điệp Bạch Hổ (N1 1 )
Trầm tích điệp Bạch Hổ có tổng chiều dày đạt đến 1500 m phân bố rộng khắp trong lô 09-1 và khu vực nghiên cứu, bắt gặp ở hầu hết các giếng khoan của mỏ Bạch Hổ và Rồng Trầm tích của điệp này nằm bất chỉnh hợp góc rõ rệt lên trên trầm tích của điệp Trà Tân Theo tài liệu địa chấn, lát cắt của điệp này phân bố giữa các tầng phản xạ SH-3 và SH-7 Trầm tích điệp Bạch Hổ được thành tạo trong môi trường đồng bằng châu thổ, vũng vịnh, sông hồ và bồi tích ven biển Theo tài liệu phân tích sinh địa tầng, trầm tích của điệp Bạch Hổ thuộc Mioxen dưới
Tại giếng khoan GT-1X, trầm tích điệp Bạch Hổ gặp ở khoảng chiều sâu 2245-2940 m (CSTĐ 2208-2902,3 m) Trầm tích này gồm các lớp cát kết và sét xen kẽ có màu xám, vàng đỏ Hàm lượng khí tăng cao đáng kể (đến 12%) trong quá trình khoan ở các khoảng 2672-2683 m và 2705-2718 m Theo thành phần thạch học trầm tích điệp Bạch Hổ chia thành 2 phần: trên và dưới
Phần trên của điệp (2152-2662 m) chủ yếu gồm sét màu xám, xanh-xám xen kẽ và tăng lên khi đi từ phía trên xuống dưới, hàm lượng cát kết và bột kết chiếm đến 50% Ở phần trên nhất của lát cắt gặp tập sét rotali phân bố hầu khắp diện tích của bồn trũng Cửu Long Trong phần này bắt gặp các vỉa cát kết thuộc tầng 21 và 22 có tính chất thấm chứa tương đối tốt.
Phần dưới của điệp (2662-2940 m chủ yếu gồm cát kết và bột kết chiếm trên 60%, xen kẹp các lớp sét mỏng màu xám, vàng đỏ Theo kết quả minh giải tài liệu ĐVLGK trong phần lát cắt này có các vỉa cát kết thuộc tầng 23 (2673-
2738 m), tầng 24 (2741-2783 m), tầng 25 (2785-2822 m) và tầng 26 (2830-2877 m), tính chất thấm chứa các vỉa này khá tốt Kết quả thử vỉa các tầng 23 và 24
đã cho dòng dầu công nghiệp với lưu lượng 300 m3 /ng.đ, nhận được dòng dầu không ổn định khi thử vỉa các tầng 25 và 26.
2.5 Mioxen trung
Điệp Côn Sơn (N1 2 cs)
Trầm tích điệp Côn Sơn phân bố trải khắp bồn trũng Cửu Long cũng -như trong phạm vi lô 09-1 và được bắt gặp trong tất cả các giếng khoan ở cấu tạo Bạch Hổ và Rồng Trầm tích của điệp Côn Sơn chủ yếu gồm cát kết, bột kết hạt trung đến thô (75 - 80%), xen kẽ các lớp sét xám đa màu, chiều dày đạt tới 15
m, đôi chỗ gặp các phân lớp than mỏng Tổng chiều dày của điệp thay đổi từ
Trang 40250 đến 990 m Trầm tích điệp này ở phía tây được thành tạo trong môi trường bồi tích – sông; ở phía đông và đông-bắc được thành tạo trong môi trường đầm
hồ – châu thổ Trầm tích nằm trải ngang hoặc hơi uốn lượn theo bề mặt điệp Bạch Hổ, dốc nghiêng về hướng đông và trung tâm của bồn trũng Kết quả liên kết cho thấy rằng lát cắt của điệp nằm ở giữa hai tầng phản xạ địa chấn SH-2 và SH-3
Cát kết hạt thô Mioxen trung gặp ở khoảng chiều sâu 1240-2245 m (chiều sâu tuyệt đối 1204-2208 m) trong GK GT-1X Theo tài liệu ĐVLGK và kết quả phân tích mẫu vụn, cát kết của điệp này có tính chất thấm chứa tương đối tốt Trong phần lát cắt điệp Côn Sơn không có các vỉa có triển vọng chứa dầu khí.
2.6 Mioxen trên
Điệp Đồng Nai (N1 3 )
Lát cắt điệp Đồng Nai gồm chủ yếu gồm cát kết hạt trung, xen lẫn bột kết
và các lớp sét mỏng, màu xám sặc sỡ, đôi khi gặp các lớp than và cacbonat Trầm tích của điệp này ở phần phía tây của bồn trũng được thành tạo trong điều kiện đầm lầy, ven bờ; ở phần phía bắc và đông được thành tạo trong điều kiện biển nông Chiều dày của điệp khoảng trong lát cắt GK GT-1X có chiều dày khoảng 750 m Trầm tích điệp này nằm ngang và hơi dốc về phía đông Theo tài liệu địa chấn, lát cắt của điệp nằm giữa các tầng phản xạ SH-1 và SH-2.
Kết quả minh giải tài liệu ĐVLGK, phân tích mẫu khoan vụn tại GK GT-1X trầm tích điệp Đồng Nai nằm ở khoảng 600 m và gồm cát kết màu xám đến xám nhạt, đôi khi màu nâu xen lẫn với sét và bột kết Trong điệp này không có các vỉa có triển vọng chứa dầu khí.
2.7 Plioxen+Đệ tứ
Điệp Biển Đông (N2 + Q)
Theo tài liệu địa vật lý giếng khoan, phân tích mẫu vụn và tài liệu địa chấn, điệp Biển Đông trong lát cắt GK GT-1X có chiều dày khoảng 690 m.
Đá trầm tích điệp Biển Đông chủ yếu là cát kết hạt mịn đến trung xen lẫn phân lớp sét màu xám, chứa nhiều tàn tích sinh vật biển và glaukonit Trầm tích được lắng đọng trong môi trường biển nông, ven bờ, đôi chỗ có đá cacbonat Trầm tích của điệp này phân bố rộng khắp trong bồn trũng Cửu Long với chiều dày 400 – 900 m, nằm gần như ngang và hơi nghiêng về phía đông
Theo tài liệu ĐVLGK, trong điệp này không có các vỉa có triển vọng chứa dầu khí.