1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP đàm THOẠI TRONG dạy học TIẾNG VIỆT ở TRƯỜNG THCS (1)

21 1,5K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 143,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốngóp phần vào việc chỉ ra con đường, cách thức vận dụng PPĐT dạy học TV bài Các phương châm hội thoại trong chương tr

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập của đất nước hiện nay, cùng với những đòi hỏi từthực tiễn giảng dạy thì vấn đề đổi mới PPDH không chỉ là quy luật mà còn lànhu cầu của người học lẫn người dạy ở nước ta là vô cùng cấp thiết Dạy họcvăn trong nhà trường theo PP mới đem lại hiệu quả thiết thực, cũng là một thựctrạng sôi nổi của nước ta trong những năm gần đây

Dạy học lấy HS làm vị trí trung tâm trong các giờ học là một PP mới, cónhiều điểm tích cực đã được GV áp dụng phổ biến trong giảng dạy ở nhàtrường Giảng dạy theo hướng đàm thoại là PP phát hiện chân lí bằng tranh luận.Giờ học ở trên lớp phải là một cuộc đối thoại, đối thoại giữa thầy và trò, giữahọc trò với nhau Giáo trình không phải là một tài liệu khoa học thuần tuý màphải là “kịch bản” cho cuộc đối thoại đó Trong đó, có cả hoạt động của thầy vàhoạt động của trò, nhưng hoạt động của trò là trung tâm, HS là chủ thể tíchcựcchủ yếu, rèn luyện và phát triển khả năng giải quyết vấn đề một cách khoahọc, độc lập trong quá trình học tập Thông qua đối thoại, người học giải quyếtmột loạt nhiệm vụ đa dạng, phong phú từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

PP đàm thoại có thể làm nền tảng cơ bản để GV xây dựng những bàigiảng tích cực mang lại hiệu quả cao trong dạy học, đặc biệt là dạy học phânmôn TV

Trong những năm gần đây hứng thú của các em HS đối với môn Vănngày một giảm Điều này cũng gây cho GV không ít những khó khăn phải làmthế nào, vận dụng PPDH ra sao để tiết học thêm sinh động, giúp HS có hứng thú

và say mê đóng góp ý kiến vào bài học chứ không mang đến cho HS sự tẻ nhạt,nhàm chán là trăn trở của mỗi GV đứng lớp và các nhà giáo dục nói chung

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốngóp phần vào việc chỉ ra con đường, cách thức vận dụng PPĐT dạy học TV bài

Các phương châm hội thoại trong chương trình Ngữ Văn lớp 9 THCS hiện

hành

Trang 3

2 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu

Vận dụng PPĐT (vấn đáp) trong dạy học TV đã thu hút sự quan tâm củanhiều nhà nghiên cứu từ trước tới nay

Trong cuốn PP dạy học văn (tập 1) của giáo sư Phan Trọng Luận, ở

chương V của phần hai, tác giả đã nêu lên các PP tiếp cận phân tích giảng dạytác phẩm văn chương PP bao giờ cũng gắn liền với người sử dụng PP, PP dù cóhay đến đâu nhưng GV không biết vận dụng đúng mục đích và thời điểm thíchhợp thì cũng không pháp huy được tính tích cực của PP đó Tác giả đề cao

PPĐT: “Nếu đặc biệt chú ý đến nhiệm vụ phát triển năng lực trí tuệ, óc thông minh sáng tạo của HS và cái đó là một yêu cầu rất cơ bản trong công tác giảng dạy, chắc hẳn người GV sẽ dành cho PPĐT một vị trí xứng đáng trong quá trình lên lớp” Và cũng chính qua đàm thoại sẽ tạo được mối quan hệ thân thiết giữa GV và HS.“Tính cách, phẩm chất trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, phong cách người HS được bộc lộ rõ rệt ngay trong quá trình đàm thoại Năng lực độc lập làm việc, óc tìm tòi suy nghĩ, thói quen giao tiếp xã hội của HS được phát huy một cách tích cực hơn, không khí thụ động của giờ học giảm bớt một cách rõ rệt” Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến việc sử dụng câu hỏi phải vừa sức HS,

sự cân đối giữa loại câu hỏi cụ thể và loại câu hỏi tổng hợp gợi vấn đề Đồngthời GV phải biết tận dụng, kết hợp sức mạnh của các loại PP khác nhau tronggiảng dạy

Trong cuốn Văn chương và PPgiảng dạy văn chương, ở phần 9 - Đặc điểm của hệ PP hiện đại trong giảng dạy văn chương ở nhà trường phổ thông trung học, tác giả Trịnh Xuân Vũ đã đề cập đến vấn đề sử dụng PPĐT để HS

trao đổi, giao tiếp với nhau và với GV Trong mục II của phần này, tác giả cótrình bày về PP hiện đại sử dụng hình thức“ Giao tiếp, đối thoại, tranh luận” củatrò chứ không phải sử dụng hình thức “ Độc thoại ” của thầy Trịnh Xuân Vũđặc biệt quan tâm đến sự phát triển tư duy của HS và tránh việc sử dụng cáchdạy độc thoại của thầy Giao tiếp, đối thoại, tranh luận là mỗi cá thể trò có quyền

sử dụng “Cỗ xe ngôn ngữ ”, tiếng nói của mình để “ Chở” khái niệm vào trong

Trang 4

duy của người học, đối thoại tranh luận“ Hỏi là dạy” Sử dụng PPĐT trong dạyhọc là tôn trọng sự đa dạng của các ý kiến, các giải pháp không giống nhau và

kể cả từng cá thể trò trong tinh thần thật sự bình đẳng, năng động, sáng tạo GVphải là người hiểu và nắm vững kiến thức thì mới có thể điều khiển lớp học vàgiải quyết các vấn đề mà HS thắc mắc

Tác giả Phan Trọng Ngọ trong cuốn Dạy học và PP dạy học trong nhà trường đã nói đến các PP dạy học trong nhà trường hiện nay Ở chương 6 -

Nhóm PP trao đổi, tác giả đã đề cập đến một số PP như: PP thảo luận trên lớp,

PP động não, PP seminar … đặc biệt nhấn mạnh tới PP vấn đáp và kĩ thuật đặtcâu hỏi Phan Trọng Ngọ đã nêu ra những điểm mạnh và hạn chế của PP vấnđáp, đồng thời tác giả cũng giới thiệu về các loại câu hỏi và kĩ thuật sử dụng câu

hỏi cho phù hợp trong giảng dạy: “Kĩ thuật đặt câu hỏi được sử dụng trong các PPDH, đặc biệt trong PP vấn đáp - một PP dạy học được coi là tích cực”.

Như vậy vấn đề sử dụng PPDH trong dạy học Ngữ văn đã được quan tâmnghiên cứu từ rất lâu.Song vấn đề vận dụng, thực hành PPDH đàm thoại trongdạy học TV như thế nào thì chưa được phổ biến

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng cũng như cơ sở lí luận, tiểu luận vậndụng PPĐT trong dạy học TV nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức củangười học

HS khi đến lớp sẽ trao đổi với GV và bạn học một cách tích cực và chủđộng hơn, tránh được tình trạng HS tiếp nhận văn bản thụ động, đáp ứng yêucầu giáo dục và đào tạo con người trong bối cảnh khoa học và công nghệ pháttriển với tốc độ chưa từng có cùng với nền kinh tế tri thức

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích nêu trên, tiểu luận cần đạt được những yêucầu sau:

- Khảo sát thực tiễn SGK, SGV Ngữ văn THCS

Trang 5

- Vận dụng PPĐT dạy đọc- hiểu TPVC trong nhà trường THCS.

- Đề xuất nội dung và PPDH theo hướng xây dựng hệ thống câu hỏi đàm

thoại trong dạy học Các phương châm hội thoại trong chương trình Ngữ Văn

lớp 9 THCS hiện hành

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: bài dạy TV trong chương trình Ngữ Văn THCS hiện hành

- Giới hạn: Bài TV Các phương châm hội thoại trong chương trình Ngữ

Văn lớp 9 THCS hiện hành

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã phối hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu như sau:

- PP phân tích, so sánh: lựa chọn các tài liệu có liên quan để phân tích,đánh giá, vận dụng vào bài viết, nhất là tìm hiểu sâu hơn về PPĐT, áp dụng

PPĐT vào việc dạy học TV bài Các phương châm hội thoại.

- PP nghiên cứu thực tiễn: nghiên cứu hệ thống câu hỏi SGK và gợi ý trảlời của SGV

- PP nghiên cứu lí thuyết: từ những tài liệu khoa học chuyên ngành và cáckhoa học liên quan, xác lập những luận điểm cơ bản cho vấn đề vận dụng PPĐT

trong dạy học TV bàiCác phương châm hội thoại.

7 Cấu trúc tiểu luận

Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nộidung tiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Vận dụng phương pháp đàm thoại dạy học TV bài Các phương châm hội thoại trong chương trình Ngữ Văn lớp 9 THCS hiện hành

Chương 3: Giáo án thử nghiệm

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Những luận điểm cơ bản về phương pháp đàm thoại trong dạy đọc - hiểu tác phẩm văn chương

1.1.1 Quan điểm về phương pháp đàm thoại

Theo quan điểm truyền thống, khi nói đến nhà trường, người ta chỉ chútrọng đến vai trò của người thầy Thầy giáo là tất cả, là nguồn kiến thức Do vậyngười GV thường che lấp tài liệu học tập, người học trở thành đối tượng, thànhkhách thể của quá trình nhận thức, thành bình chứa để GV rót kiến thức Vì thế,tài liệu học tập dường như không được chú ý Theo quan niệm này, PPDH theokiểu thông tin- tái hiện và diễn giải là PP chủ đạo Trên lớp, thầy trở thành ngườidiễn thuyết, người thuyết giảng Và như thế, người học trò được đào tạo trở nên

ít sáng tạo, trở nên thụ động trong công việc bởi trong nhà trường các em đã cóthói quen học vẹt

Trong những năm gần đây, do yêu cầu mới mà xã hội đặt ra cho nhà trường,buộc những người làm công tác nghiên cứu LLDH phải suy nghĩ, tìm tòi nhữngcon đường, cách thức đổi mới PPDH, buộc người giáo viên phải thay đổi cáchdạy Trong đổi mới PPDH đó, người GV phải coi HS là trung tâm Và PPDHđàm thoại (vấn đáp) là PP tối ưu để phát huy vai trò của HS trong giờ văn Pháthuy được vai trò tích cực của HS thì mới tạo được bầu không khí văn chươngsôi nổi trong giờ dạy - học văn

1.1.2 Khả năng vận dụng phương pháp đàm thoại dạy học tiếng Việt

PPĐT (vấn đáp) là PPDH tích cực, đáp ứng được nhiệm vụ dạy học trongthời đại mới Nếu vận dụng một cách linh hoạt sẽ mang lại hiệu quả trong quátrình giảng dạy và tiếp thu kiến thức của HS

1.1.3 Quy trình thực hiện phương pháp đàm thoại

Quy trình vận dụng PPĐT gồm các bước sau:

* Trước giờ học:

Trang 7

- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và đối tượng dạy học Xác định cácđơn vị kiến thức kĩ năng cơ bản trong bài học và tìm cách diễn đạt các nội dungnày dưới dạng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt HS.

- Bước 2: Dự kiến nội dung các câu hỏi, hình thức hỏi, thời điểm đặt câuhỏi, trình tự của các câu hỏi (câu hỏi trước phải làm nền cho các câu hỏi tiếp sauhoặc định hướng suy nghĩ để HS giải quyết vấn đề) Dự kiến nội dung các câutrả lời của HS, trong đó dự kiến những “lỗ hổng” về mặt kiến thức cũng nhưnhững khó khăn, sai lầm phổ biến mà HS thường mắc phải.Dự kiến các câunhận xét hoặc trả lời của GV đối với HS

- Bước 3: Dự kiến những câu hỏi phụ để tùy tình hình từng đối tượng cụthể mà tiếp tục gợi ý, dẫn dắt HS

* Trong giờ học:

- Bước 4: GV sử dụng hệ thống câu hỏi dự kiến (phù hợp với trình độnhận thức của từng loại đối tượng HS) trong tiến trình bài dạy và chú ý thu thậpthông tin phản hồi từ phía HS

* Sau giờ học:

GV chú ý rút kinh nghiệm về tính rõ ràng, chính xác và trật tự logic của

hệ thống câu hỏi đã sử dụng trong giờ dạy

1.2 Những điểm cần chú ý khi vận dụng phương phápđàm thoại trong dạy học tiếng Việt

Khi soạn các câu hỏi GV cần lưu ý các yêu cầu sau đây:

- Câu hỏi có nội dung chính xác, rõ ràng, sát với mục đích, yêu cầu củabài học, không làm cho người học có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau

- Câu hỏi phải sát với từng loại đối tượng HS, nghĩa là phải có nhiều câuhỏi ở mức độ khác nhau, không quá dễ, cũng không quá khó GV có kinhnghiệm thường tỏ ra cho HS thấy các câu hỏi đều có tầm quan trọng và độ khónhư nhau (để HS yếu có thể trả lời được những câu hỏi vừa sức mà không cócảm giác tự ti rằng mình chỉ có thể trả lời được những câu hỏi dễ và không quantrọng)

Trang 8

- Cùng một nội dụng học tập, cùng một mục đích như nhau, GV có thể sửdụng nhiều dạng câu hỏi với nhiều hình thức hỏi khác nhau.

- Bên cạnh những câu hỏi chính cần chuẩn bị những câu hỏi phụ (trên cơ

sở dự kiến các câu trả lời của HS, trong đó có thể có những câu trả lời sai) đểtùy tính hình thực tế mà gợi ý, dẫn dắt tiếp

- Nên chú ý các câu hỏi mở để HS đưa ra nhiều phương án trả lời và pháthuy được tính tích cực, sáng tạo của HS

- Câu hỏi được GV sử dụng với những mục đích khác nhau, ở những khâukhác nhau của quá trình dạy học nhưng quan trọng nhất và cũng khó sử dụngnhất là ở khâu nghiên cứu tài liệu mới Trong khâu dạy bài mới, câu hỏi được sửdụng trong những PP khác nhau nhưng quan trọng nhất là PP vấn đáp

- Loại câu hỏi vấn đáp tái hiện thường được sử dụng khi:

+ HS chuẩn bị bài học

+ HS đang thực hành, luyện tập

+ HS đang ôn tập những tài liệu đã học

- Loại vấn đáp - giải thích minh họa được sử dụng trong các trường hợpsau:

+ HS đã có những thông tin cơ bản - GV muốn HS sử dụng các thông tin

ấy trong những tình huống mới, phức tạp hơn

+ HS tham gia giải quyết vấn đề đặt ra

+ HS đang được cuốn hút vào cuộc thảo luận sôi nổi và sáng tạo

- Loại vấn đáp tìm tòi dù được sử dụng riêng rẽ, cũng đã có tác dụng kíchthích suy nghĩ tích cực Vấn đáp tìm tòi là PP đang cần được phát triển rộng rãi.Muốn vậy, GV phải đầu tư vào việc nâng cao chất lượng các câu hỏi, giảm sốcâu hỏi có yêu cầu thấp về mặt nhận thức (chỉ đòi hỏi tái hiện các kiến thức sựkiện) tăng dần số câu hỏi có yêu cầu cao về mặt nhận thức (đòi hỏi sự thônghiểu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, vận dụng kiến thức đã học)

- Sự thành công của PP vấn đáp phụ thuộc nhiều vào việc xây dựng được

hệ thống câu hỏi gợi mở thích hợp (tất nhiên còn phụ thuộc vào nghệ thuật giaotiếp, ứng xử và dẫn dắt của GV)

Trang 9

1.3 Khảo sát thực trạng dạy học TV bài Các phương châm hội thoại

trong chương trình Ngữ Văn THCS hiện hành

1.3.1 Khảo sát sách giáo khoa

Nội dung dạy học TV bài Các phương châm hội thoại trong SGK Ngữ văn lớp 9, tập một chương trình hiện hành được sắp xếp theo trình tự: Mục tiêu cần đạt, chuẩn bị, phương pháp, tiến trình dạy học (bao gồm hệ thống câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu bài TV), ghi nhớ, luyện tập Trong phần hướng dẫn học bài

cũng đã chú ý đến việc xây dựng hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài, trong đó có 3 ví

dụ để giúp HS hiểu được nội dung của bài

1.3.2 Khảo sát sách giáo viên

SGV biên soạn nhằm mục đích giải thích ý đồ trong SGK nói chung cũngnhư nội dung và PP soạn bài cụ thể Nội dung chính của sách là chỉ rõ nội dungbài học và những điểm cần lưu ý, cung cấp thông tin về tác phẩm, trả lời câu hỏitrong SGK và những điểm chú ý khi dạy học Về hệ thống câu hỏi trong SGVchủ yếu vẫn dựa trên những câu hỏi trong SGK ít có những câu hỏi mở rộng,sáng tạo thêm Bởi vậy, GV cần đầu tư soạn thêm các câu hỏi cho phù hợp nộidung bài học và đối tượng HS

1.3.3 Khảo sát giáo án của giáo viên

Giáo án là tên gọi “bài” soạn giảng của GV Đó là phương án giảng dạy

và giáo dục của bài học, là sự lựa chọn, đúc rút kiến thức Bất cứ điều gì có mặttrong giáo án đều mang tính định hướng và có mục đích rõ rệt kể cả những tiếtmục tưởng như máy móc cũ mòn Vì vậy vai trò của giáo án là rất quan trọngtrong quá trình dạy học

Hiện nay, vận dụng PPĐT vẫn là một PP tích cực được đưa vào nhàtrường phổ thông và trong giảng dạy, GV cũng đã biết cách vận dụng PPĐTthông qua hệ thống đặt câu hỏi mới ngoài SGK phù hợp với nội dung bài học.Tuy nhiên, không phải GV nào cũng áp dụng thành công và đạt hiệu quả Bởivậy, việc xây dựng hệ thống câu hỏi dạy học TV nhằm khai thác tối ưu khả nănghọc tập của các em và đem lại hiệu quả cao trong dạy học là việc làm cần thiết

Trang 10

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI- DẠY

HỌC TIẾNG VIỆT BÀI CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI TRONG

CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 9 THCS HIỆN HÀNH

2.1 Xác định mục tiêu và yêu cầu vận dụng phương pháp đàm thoại

dạy học TV bài Các phương châm hội thoại trong chương trình Ngữ Văn

lớp 9 THCS hiện hành.

- GV cần phải đặt câu hỏi cho toàn bộ lớp rồi mới chỉ định HS trả lời Khimột HS trả lời xong, cần yêu cầu những HS khác nhận xét, bổ sung, sửa chữacâu trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả lời của bạn với tinh thần phêphán Qua đó, kích thích hoạt động chung của lớp

- GV cần lắng nghe khi HS trả lời, nếu cần thiết đặt thêm câu hỏi phụ, câuhỏi gợi mở dẫn dắt HS để trả lời câu hỏi chính được tốt hơn

- Cần có thái độ bình tĩnh khi HS trả lời sai hoặc thiếu chính xác, tránhthái độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang ý của HS khi không thật cần thiết Chú ýuốn nắn, nhận xét, bổ sung câu trả lời của HS, giúp HS hệ thống hóa tri thức tiếpthu được trong quá trình đàm thoại

- Không chỉ chú ý đến kết quả câu trả lời của HS mà còn chú ý cả đếncách diễn đạt câu trả lời của HS có chính xác, rõ ràng, logic không Đó là điềukiện quan trọng để phát triển tư duy logic của HS

- Cần chú ý sử dụng mọi biện pháp thúc đẩy HS mạnh dạn nêu thắc mắc

và khéo léo sử dụng thắc mắc đó để tạo tình huống vấn đề và thu hút toàn bộ lớptham gia thảo luận, tranh luận để giải quyết vấn đề đó Như vậy, có thể góp phầnlấp lỗ hổng, chữa những sai lầm hoặc cách hiểu chưa chính xác nội dung học tậpcủa HS

- Tạo ra không khí thoải mái trong lớp học để HS không quá lo ngại khitrả lời, các HS kém không mặc cảm về trình độ của mình

- Khuyến khích, động viên sự cố gắng của HS Nếu GV tin ở sự cố gắngcủa HS thì các em thêm nỗ lực phấn đấu, không nản chí

- GV nên trân trọng mỗi tiến bộ nhỏ của HS, tuy nhiên cũng không nênquá lạm dụng lời khen

Ngày đăng: 23/04/2016, 18:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w