Tác giả Nguyễn Nguyên Thanh khi viết về tập Ngày đẹp trời đã chỉ ra đặc điểm nhân vật thường thấy “Người tốt cứ tốt, kẻ xấu cứ xấu, người hy sinh mình cứ tiếp tục hy sinh cho kẻ khác vụ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
BÙI THỊ THÚY
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG HAI TẬP TRUYỆN
CỦA MA VĂN KHÁNG (SAN CHA CHẢI VÀ XA XÔI
THÔN NGỰA GIÀ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
BÙI THỊ THÚY
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG HAI TẬP TRUYỆN
CỦA MA VĂN KHÁNG (SAN CHA CHẢI VÀ XA XÔI
THÔN NGỰA GIÀ)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thúy
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn ii
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 04/2015
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thúy
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: MA VĂN KHÁNG VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI 9
1.1 Ma Văn Kháng với văn xuôi Việt Nam từ đổi mới đến nay 9
1.2 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong hai tập truyện của Ma Văn Kháng (San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già) 14
1.2.1 Vài nét về tiểu sử và con đường đến với văn chương của Ma Văn Kháng 14 1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong văn xuôi sau đổi mới 16
1.2.3 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong hai tập truyện “San Cha Chải” và “Xa xôi Thôn Ngựa Già” của Ma Văn Kháng 20
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2: CÁC KIỂU LOẠI NHÂN VẬT TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN SAN CHA CHẢI VÀ TẬP TRUYỆN VỪA XA XÔI THÔN NGỰA GIÀ CỦA MA VĂN KHÁNG 26
2.1 Khái niệm truyện ngắn, truyện vừa 26
2.1.1 Truyện ngắn 26
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn iv
2.1.2 Truyện vừa 26
2.2 Khái niệm nhân vật văn học và thế giới nhân vật 27
2.2.1 Nhân vật văn học 27
2.2.2 Thế giới nhân vật 28
2.3 Tổng quan về hai tập truyện San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già 30
2.3.1 Tập truyện San Cha Chải 30
2.3.2 Tập truyện vừa Xa xôi Thôn Ngựa Già 30
2.4 Thế giới nhân vật trong hai tập truyện San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già 31
2.4.1 Nhân vật bản năng 32
2.4.2 Nhân vật tha hóa 43
2.4.3 Nhân vật bi kịch 50
2.4.4 Nhân vật có phẩm chất tốt đẹp 56
2.4.4.1 Người dân tộc thiểu số tính tình hiền lành, tốt bụng 57
2.4.4.2 Người chiến sĩ an ninh dũng cảm, thông minh 60
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG HAI TẬP TRUYỆN SAN CHA CHẢI VÀ XA XÔI THÔN NGỰA GIÀ CỦA MA VĂN KHÁNG 65
3.1 Miêu tả ngoại hình nhân vật 65
3.2 Miêu tả nhân vật qua hành động 71
3.3 Miêu tả tâm lý nhân vật 73
3.4 Ngôn ngữ và giọng điệu 80
3.4.1 Ngôn ngữ 80
3.4.2 Giọng điệu 85
3.4.2.1 Khái niệm 85
3.4.2.2 Giọng điệu ngợi ca 86
3.4.2.3 Giọng điệu xót xa, thương cảm 87
3.4.2.4 Giọng điệu triết lý, tranh biện 90
Tiểu kết chương 3 93
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn v
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 1
thuyết, trên 200 truyện ngắn, 4 tập truyện viết cho thiếu nhi và một hồi kí văn
chương đầy đặn, một tập tiểu luận - bút kí về nghề văn Với những cách tân táo
bạo về tư duy nghệ thuật, Ma Văn Kháng đã tạo được một phong cách riêng, độc đáo trong văn nghiệp của mình Ông đã nhận được nhiều giải thưởng cao quý: Giải Nhì (không có giải nhất) cuộc thi viết truyện ngắn 1967 của tuần báo
Văn nghệ (Xa Phủ); Giải thưởng văn học ASEAN năm 1998 (Trăng soi sân nhỏ); Giải “Cây bút vàng” (giải cao nhất) của Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt
Nam 1996 – 1998; Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001;
Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2009 với tiểu thuyết Một mình một ngựa; Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật đợt 4, năm 2012
Một số tác phẩm của Ma Văn Kháng đã từng gây xôn xao dư luận bởi vấn đề mà nó đặt ra có ý nghĩa quan trọng làm thay đổi tư tưởng, nhận thức của
con người và cho đến nay vẫn còn mang tính thời sự như: Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989)
Không chỉ thành công ở thể loại tiểu thuyết, Ma Văn Kháng còn rất thành công
ở thể loại truyện ngắn Truyện ngắn đã đem lại vinh quang cho nhà văn ngay từ buổi đầu khởi nghiệp Nhà văn luôn có ý thức tìm tòi đổi mới trong sáng tác, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn sau 1976 - Ma Văn Kháng tạm biệt Lào Cai trở về Hà Nội Sự hỗn độn, xô bồ của cuộc sống hiện tại đã làm chuyển biến cái
nhìn trong sáng tác của nhà văn Ông quan niệm “ Văn chương là chuyện đời thông qua việc đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn, chứ đâu phải là đi hớt lấy
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 2
cái váng bọt nổi trên bề mặt của ngoại vật” Thế giới nhân vật được mở rộng,
quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người uyển chuyển và tinh tế hơn
Truyện ngắn của Ma Văn Kháng có thể tạm thời chia thành hai nhóm: nhóm đề tài miền núi và nhóm đề tài thành thị Hai tập truyện ngắn, truyện vừa
San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già gần đây nhất viết về đề tài miền núi và
thành thị đã khẳng định tài năng, tâm huyết của nhà văn và góp phần làm cho bức tranh hiện thực cuộc sống được phản ánh trong nền văn học hiện đại Việt Nam trở nên phong phú, đa dạng
Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm tới thế giới nhân vật - một thế
giới nhân vật vô cùng phong phú trong hai tập truyện của Ma Văn Kháng: San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già Nghiên cứu nhân vật chính là nghiên cứu
cách nhà văn nhìn nhận, cắt nghĩa về con người như thế nào và bằng cách nào trong văn chương của mình Trong thực tế, đã có có nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn của ông nhưng chưa có công trình chuyên biệt nào về thế giới nhân vật trong hai tập truyện này Xuất phát từ tình cảm yêu mến, trân trọng các tác phẩm của Ma Văn Kháng và mong muốn góp thêm tiếng nói vào
sự khẳng định về thế giới nhân vật trong hai tập truyện, chúng tôi lựa chọn đề
tài Thế giới nhân vật trong hai tập truyện của Ma Văn Kháng (San Cha
Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già)
2 Lịch sử vấn đề
Với sức viết dồi dào và quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc, Ma Văn Kháng đã có một gia tài văn chương khá đồ sộ Có thể thấy rằng khi mới dấn thân vào sự nghiệp văn chương, tác phẩm của Ma Văn Kháng đã được giới nghiên cứu, phê bình và độc giả quan tâm Nhiều công trình nghiên
cứu, phê bình của GS Phong Lê, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện, PGS.TS Đào
Thủy Nguyên, PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu, PGS.TS Lã Nguyên được
đăng tải trên nhiều sách báo và tạp chí
Đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng Ma Văn Kháng dành toàn bộ sự chú ý của mình vào việc khám phá những con người trên nhiều bình diện khác
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 3
nhau với cái nhìn không xuôi chiều Khi thể hiện con người, nhà văn đã đạt tới
độ sắc sảo về nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật Bàn về truyện ngắn của Ma
Văn Kháng trước 1986 có thể kể đến bài viết của Nguyễn Văn Toại “Đọc các
sáng tác miền núi của Ma Văn Kháng, nghĩ về trách nhiệm của nhà văn trước một đề tài lớn” Tác giả chia truyện ngắn của Ma Văn Kháng thời kỳ này có hai dạng: dạng có cốt truyện đầy đủ, coi trọng việc xây dựng chân dung nhân vật
và dạng truyện “lấy tứ làm cốt, lấy tình làm nền, được viết như những bài thơ văn xuôi” Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra nhân vật của Ma Văn Kháng hoạt
động, bộc lộ tính cách trong hoàn cảnh được đẩy lên theo yêu cầu tư tưởng của
tác phẩm [46] Tác giả Nguyễn Nguyên Thanh khi viết về tập Ngày đẹp trời
đã chỉ ra đặc điểm nhân vật thường thấy “Người tốt cứ tốt, kẻ xấu cứ xấu, người hy sinh mình cứ tiếp tục hy sinh cho kẻ khác vụ lợi tiếp tục sống trên dư thừa may mắn” [36]
GS Phong Lê đã nhận định “Truyện ngắn Ma Văn Kháng là hiện tượng
nổi bật trong những năm 90” [21] Có thể nhận ra rằng bước sang thời kỳ đổi
mới, Ma Văn Kháng đã khẳng định vị trí của mình ở thể loại truyện ngắn
PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện trong bài viết “Một cây bút văn xuôi sung sức,
một đời văn cần mẫn” đã nhấn mạnh: “Đặc biệt, trong vận dụng thể loại tự sự, nhà văn đã phát huy được ưu thế của việc miêu tả tâm lí nhân vật khi lách sâu vào vùng tâm linh bí ẩn của con người” [42]
PGS.TS Lã Nguyên với bài viết “Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều
sâu tâm hồn” [29] đã nêu lên những nét tổng quát về truyện ngắn Ma Văn Kháng Đây là một công trình nghiên cứu công phu, toàn diện với những đánh giá mang tính khoa học về truyện ngắn Ma Văn Kháng Tác giả đã chia truyện
ngắn Ma Văn Kháng thành ba nhóm: nhóm thứ nhất thể hiện “Cái nhức nhối xót xa, giận mà thương cho sự hoang dã, mông muội của những kẻ chưa thành người và những kẻ không được làm người” Nhóm thứ nhất gắn với đề tài miền núi, biên ải Nhóm thứ hai “Cảm khái thâm trầm trước thế sự hôm nay”, là
những truyện ngắn viết về đời sống thành thị sau chiến tranh trong sự đổi thay
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 4
mạnh mẽ của đất nước Ở nhóm này, Ma Văn Kháng đã góp phần “đưa truyện ngắn xích lại gần tiểu thuyết” Nhóm thứ ba gắn với tinh thần lạc quan ở sự
năng động, hồn nhiên của cuộc sống Đó là “Cảm hứng trào lộng trang nghiêm trước vẻ đẹp của đời sống sinh hóa hồn nhiên” Tác giả cũng chỉ ra một số đặc
điểm nghệ thuật của truyện ngắn Ma Văn Kháng: tính công khai bộc lộ chủ đề,
sự cố ý tô đậm chân dung, tính cách nhân vật, việc lồng giai thoại vào cốt truyện, đưa thành ngữ, tục ngữ vào ngôn ngữ nhân vật Tác giả bài viết đã đưa
ra những gợi mở quan trọng cho những người nghiên cứu về truyện ngắn Ma Văn Kháng Cũng trong bài viết này, tác giả đã đưa ra một cái nhìn tổng quát
về truyện ngắn của Ma Văn Kháng “Ma Văn Kháng là nhà văn của cái đẹp trong dòng đời sinh hóa bình dị, hồn nhiên, cái đẹp trong niềm hạnh phúc được làm người với ý nghĩa đích thực của nó chứ không phải là cái gì khác”, “Ma Văn Kháng đã cất lên tiếng nói riêng”
Với công trình Đặc điểm truyện ngắn của Ma Văn Kháng về đề tài dân
tộc và miền núi [27], PGS.TS Đào Thủy Nguyên đã đi sâu nghiên cứu và
khẳng định những vấn đề nhân sinh, thế sự, những thành công, đặc sắc về nghệ thuật xây dựng nhân vật và sử dụng ngôn từ trong truyện ngắn về đề tài dân tộc
và miền núi của Ma Văn Kháng Ngoài ra, trong bài viết “Vấn đề đạo đức, lối sống của người cán bộ vùng cao trong truyện ngắn Ma Văn Kháng viết về miền núi”, tác giả Đào Thủy Nguyên đã đi sâu bàn về những nhân vật người cán bộ miền núi trong một số truyện ngắn của Ma Văn Kháng [28]
Phạm Mai Anh qua luận văn Đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Ma
Văn Kháng từ sau những năm 1980 đã tập trung khai thác một số yếu tố nghệ
thuật trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng như cốt truyện, các kiểu kết cấu, nhân vật, một số nét về ngôn ngữ Tác giả đã có những đóng góp đáng kể khi nhìn nhận một số phương diện nghệ thuật nhưng chưa có một cái nhìn tổng
quát về truyện ngắn Ma Văn Kháng [1] Trong đề tài: Phong cách Ma Văn
Kháng trong truyện ngắn sau 1975 [41], tác giả Đào Tiến Thi đã cắt nghĩa tư
tưởng nghệ thuật của Ma Văn Kháng bằng cái nhìn tổng hợp: Quan niệm nghệ
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 5
thuật của Ma Văn Kháng về con người với hướng tiếp cận trên tất cả các bình diện Luận văn đã có những đóng góp nhất định trong việc xác định giá trị nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng ở phương diện phong cách nghệ thuật của nhà văn
Với bài viết “Đổi mới tư duy nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn
Kháng những năm 1980” [8], tác giả Nguyễn Thị Huệ đã đưa ra những nhận
định xác đáng về tư duy nghệ thuật với sự đổi mới rõ nét trong sáng tác của Ma
Văn Kháng “Ma Văn Kháng đã có những thể nghiệm mở ra khả năng khám phá con người ở nhiều chiều, nhiều bình diện xuất phát từ cái nhìn nhân đạo về
con người” Đỗ Phương Thảo trong bài viết “Vài suy nghĩ về một phương
diện nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng” đã cho rằng: yếu tố tạo nên sự hấp dẫn trong truyện ngắn Ma Văn Kháng là cách dựng truyện “cốt truyện đơn giản, không có nhiều tình huống nổi bật, then chốt, ít xung đột và mâu thuẫn lớn song có sự bứt phá đầy sức sáng tạo” [39, tr.70]
Bàn về những đổi mới nghệ thuật của Ma Văn Kháng, tác giả Nguyễn
Thị Bình trong cuốn “Văn xuôi Việt Nam 1975-1995, những đổi mới cơ bản”
cho rằng: tác phẩm của Ma Văn Kháng chú trọng hiện thực của tâm trạng và tâm linh khi miêu tả con người Cũng theo Nguyễn Thị Bình, trong khi quan
tâm đến con người, Ma Văn Kháng “có thiên hướng nghiêng hẳn về việc khám phá giá trị nhân cách, cắt nghĩa sự nhào nặn của môi trường đạo đức - văn hóa với tính cách và số phận cá nhân” [4, tr.61]
2.2 Về cách xây dựng nhân vật trong sáng tác của Ma Văn Kháng,
Lã Nguyên đã nhấn mạnh: “Nhân vật của Ma Văn Kháng dù phức tạp đến
đâu, có những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc, ta có thể nhận diện được ngay nhân vật ấy thuộc hạng người nào, cao thượng hay đê tiện, độc ác hay nhân từ, ích kỉ hay hảo tâm ” [29]
Bên cạnh đó, chúng tôi có thể nhắc đến một số luận văn và đề tài khoa
học tiêu biểu như: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới của Phạm Thị Lan (2001), Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 6
Văn Kháng từ 1986 tới nay của Đào Thị Minh Hường (2007) Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng của Nguyễn Thị Thanh Nga (2007) Thế
giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1975 của Ngô Trí Tài
(2010)
Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu truyện ngắn Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy những bài viết của các tác giả trên không chỉ khẳng định đặc sắc nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng mà còn ít nhiều quan tâm đến nhân vật và cách thể hiện nhân vật trong truyện ngắn của ông Tuy nhiên, phần lớn mới chỉ dừng lại ở cảm nhận, đánh giá chung về truyện ngắn và thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng mà chưa
đi sâu tìm hiểu thế giới nhân vật trong hai tập truyện San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già Chúng tôi hết sức trân trọng những ý kiến đánh giá, nhận xét
của các nhà nghiên cứu đi trước và xem đó là những gợi ý quý báu để chúng tôi triển khai đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Dựa trên những lí luận về nhân vật văn học đã được các công trình
nghiên cứu chuyên biệt xây dựng, chúng tôi sẽ tìm hiểu yếu tố nhân vật văn học trong sáng tác của Ma Văn Kháng từ góc độ ứng dụng lí thuyết đó vào trường hợp
cụ thể: hai tập truyện San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già của Ma Văn Kháng
3.2.2 Khảo sát, phân tích các truyện trong hai tập truyện trên, đặt chúng
trong mối tương quan với các truyện ngắn khác trong nền văn học đương đại để
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 7
thấy được những nét đặc sắc trong thế giới nhân vật của hai tập truyện và những quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong sáng tác của nhà văn
3.2.3 Phát hiện, phân tích những sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật xây
dựng nhân vật trong tập truyện ngắn San Cha Chải và tập truyện vừa Xa xôi Thôn Ngựa Già, chỉ ra những điểm đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
của nhà văn
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu thế giới nhân vật trong hai tập
truyện của Ma Văn Kháng (San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn chủ yếu chủ yếu qua hai tập truyện của Ma Văn Kháng: Tập
truyện ngắn San Cha Chải (Nhà xuất bản Công an nhân dân - Tháng 10/ 2013); Tập truyện vừa Xa xôi Thôn Ngựa Già (Nhà xuất bản Phụ nữ - Quý
III, năm 2013)
Đối chiếu, so sánh với một số tác phẩm tiêu biểu khác của nhà văn và các tác giả cùng thời khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng và mục đích nghiên cứu, luận văn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tác giả
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân loại, thống kê
- Phương pháp phân tích, khái quát, tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Với đề tài Thế giới nhân vật trong hai tập truyện của Ma Văn Kháng (San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già), luận văn của chúng tôi khám phá,
phân tích sự đa dạng, phong phú về thế giới nhân vật trong hai tập truyện trên
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 8
Qua đó, chúng tôi khẳng định tài năng, phong cách nghệ thuật của nhà văn và những đóng góp về tư tưởng, giá trị nhân văn của hai tập truyện trên
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Ma Văn Kháng và quan niệm nghệ thuật về con người
Chương 2: Các kiểu loại nhân vật trong hai tập truyện San Cha Chải và
Xa xôi Thôn Ngựa Già của Ma Văn Kháng
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện thế giới nhân vật trong hai tập truyện San
Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già của Ma Văn Kháng
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 9
NỘI DUNG
Chương 1
MA VĂN KHÁNG VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
1.1 Ma Văn Kháng với văn xuôi Việt Nam từ đổi mới đến nay
Từ 1986, công cuộc đổi mới của Đảng đã đem lại những chuyển biến lớn trong đời sống văn học Văn xuôi có một vị trí rất quan trọng trong nền văn học dân tộc Nó đã tạo dựng được bức tranh hiện thực rộng lớn về cuộc sống, con người trong cách mạng, kháng chiến và công cuộc xây dựng đất nước So với giai đoạn trước thì các sáng tác thời kì này đã phần nào bao quát được chiều rộng, chiều sâu của cuộc sống và tâm hồn con người Sự phong phú, đa dạng và đặc sắc của nền văn học Việt Nam có được là một phần dựa vào khả năng khơi gợi cái riêng, nét độc đáo của mỗi dân tộc, vùng miền Nhiều vấn đề đã được các nhà văn tìm tòi, khai thác giúp cho văn học phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng
Đến thời kì đổi mới, những cây bút có nhiều kinh nghiệm vẫn tiếp tục đề tài dân tộc và miền núi như Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Triều Ân, Mã A Lềnh, Vi
Hồng Tiếp đến là tác giả Hà Đức Toàn (tiểu thuyết Tiếng hổ gầm - 1999, tập truyện Hương rừng - 2006), Hoàng Thế Sinh (tiểu thuyết Xứ mưa - 2000, tập truyện Luật của rừng - 2002), Đoàn Hữu Nam (các tiểu thuyết Tình rừng -
2000, Dốc người - 2002), Phạm Duy Nghĩa (các tập truyện Cơn mưa hoa mận trắng - 2006, Đường về xa lắm - 2007) Vẻ đẹp của thiên nhên, cuộc sống và
con người miền núi đã trở thành tình yêu, thành nhựa sống nuôi dưỡng tâm hồn
và thôi thúc các nhà văn cầm bút để viết về mảnh đất này
Hiện thực cuộc sống và con người vùng cao đã được phản ánh khá sâu sắc, một số tác phẩm của Triều Ân và Vi Hồng mang tính thời sự được độc giả quan tâm Đặc biệt các sáng tác của Vi Hồng đã đề cập đến những sai lầm của
mô hình hợp tác xã nông nghiệp, cái ác, cái xấu hoành hành trong các tác
phẩm: Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Vào hang (1990), Chồng
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 10
thật vợ giả (1994) Tiểu thuyết Gã ngược đời của Vi Hồng có nhân vật Quản-
một người dám đấu tranh với những việc sai trái nên không được lòng lãnh đạo, cấp trên Họ loại anh ra khỏi guồng máy của sự bon chen, lừa lọc bằng cách vu cho anh có quan hệ nam nữ bất chính, cấp kinh phí ít ỏi để anh không thực hiện được đề tài khoa học và cuối cùng buộc anh phải thôi việc Nhân vật Quản và
các nhân vật khác như: Tú, bác sĩ Huy (Người trong ống), họ là những người
dám đấu tranh với cái xấu và vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống
để thực hiện lí tưởng của mình Đối lập với những nhân vật đại diện cho Chân, Thiện, Mĩ đó là những nhân vật đại diện cho cái xấu, cái ác như: Đương, Hỷ
(Gã ngược đời), Ba (Người trong ống) Thông qua các tác phẩm của mình, Vi
Hồng muốn cảnh báo về sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, công chức ở miền núi trong thời kì đổi mới Gắn bó với cuộc sống và con người miền núi nên Vi Hồng thấu hiểu cả những nỗi đau và số phận của người dân miền núi
Cùng với Vi Hồng, Triều Ân có những tác phẩm tái hiện chân thực xã
hội và con người miền núi như: Nắng vàng bản Dao, Nơi ấy biên thùy, Dặm ngàn rong ruổi Bao biến động khác thường trong cuộc sống của đồng bào các
dân tộc những năm đổi mới ở nông thôn vùng núi phía Bắc đã được tác giả phản ánh cụ thể Viết về đề tài dân tộc và miền núi còn phải kể đến Cao Duy Sơn - một nhà văn luôn tâm niệm “Cả đời tôi chỉ đeo đuổi đề tài về người miền
núi” Điều đó được minh chứng qua các tác phẩm: Người lang thang (1992), Cực lạc (1995), Những chuyện ở lũng Cô Sầu (1996), Hoa mận đỏ (1999),
Bức tranh đời sống miền núi trong sáng tác của Cao Duy Sơn với những
gam màu khác nhau: sáng - tối; giàu - nghèo; tốt - xấu Con người miền núi
trong sáng tác của ông hồn nhiên, chất phác, giàu đức hy sinh, thủy chung,
nghĩa tình Trong Đàn Trời- tiểu thuyết mang tính chính luận, Cao Duy Sơn đã
nói lên thực trạng về sự nghèo đói của người dân vùng cao, sự sa đọa cùng những hành vi đen tối của quan tham thời đại mới Đó là “mảng tối” trong chốn quan trường ở một tỉnh lẻ với miếng mồi béo bở là các chương trình của dự án
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 11
135 Người đứng sau tấm màn tối đó là chủ tịch tỉnh Đinh Xuân Ấn - kẻ luôn tự
xưng mình là Hoàng thượng, dùng quyền lực mà nhân dân tín nhiệm mưu cầu lợi ích cho chính bản thân mình Bên cạnh đó còn có những kẻ trục lợi như:
Tuệ - giám đốc Đài PT-TH tỉnh nhu nhược, đê tiện, trả thù riêng; giám đốc
Lương Nhân với bản chất con buôn Qua tác phẩm này, nhà văn thẳng thắn
nhận ra một điều: có đấu tranh sẽ có mất mát nhưng tà không thể thắng chính
Viết về đề tài dân tộc và miền núi thành công còn có nhà văn Phạm Duy Nghĩa
với các tác phẩm: Tiếng gọi lưng chừng dốc (1999), Cơn mưa hoa mận trắng (2006), Đường về xa lắm (2007)
Hòa chung vào dòng chảy của văn xuôi về đề tài dân tộc và miền núi từ sau đổi mới, Ma Văn Kháng được đông đảo bạn đọc biết đến với hàng loạt truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết Những đứa con tinh thần của Ma Văn Kháng là kết quả của hơn hai mươi năm gắn bó với mảnh đất Lào Cai Hiện thực và con người miền núi là chất liệu, là nguồn cảm hứng nghệ thuật vô tận cho những sáng tác của Ma Văn Kháng Ông là nhà văn tài năng, tâm huyết và thành công ở đề tài dân tộc và miền núi Nếu tính theo thời gian thì truyện ngắn viết về mảng đề tài này của Ma Văn Kháng được bắt đầu từ năm 1969 với tập
Xa Phủ Trong truyện Xa Phủ, tác giả đã đề cập đến sự thay đổi trong nhận
thức, suy nghĩ và hành động của con người miền núi Ở họ, dù còn những tàn tích của những ngày đã qua, song điều quan trọng là họ tích cực, chủ động chuyển mình thành những con người mới, làm chủ cuộc đời Thông qua các tác phẩm của mình, tác giả còn đặt ra vấn đề: con người miền núi ra sao, cuộc sống của họ như thế nào trước hiện thực lớn lao của dân tộc
Với một tư duy nhận thức đúng đắn và toàn diện, một bản lĩnh nghệ thuật vững vàng cùng với vốn sống phong phú, Ma Văn Kháng đã có những thành công nối tiếp thành công ở mảng sáng tác về đề tài dân tộc và miền núi Riêng truyện ngắn, ông đã từng tâm sự: “Càng ngày tôi càng mê truyện ngắn Phần đông các nhà văn vào nghề bằng truyện ngắn, kết thúc bằng truyện ngắn
và quãng giữa là tiểu thuyết Truyện ngắn là một sự ám ảnh khủng khiếp Có
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 12
một truyện ngắn hoàn thiện là ao ước của bất kì nhà văn nào” [11] Sau Xa Phủ,
hàng loạt truyện ngắn, truyện vừa về đề tài dân tộc và miền núi từ sau đổi mới
ra đời: “Giàng Tả - kẻ lang thang”, “Ngựa bất kham”, “Móng vuốt thời gian”,
Ở thời kì sau đổi mới, truyện ngắn và truyện vừa viết về miền núi của Ma Văn Kháng đã phản ánh, đề cập đến những vấn đề có liên quan đến con người, số phận con người Con người và cuộc sống vùng biên ải vẫn có mặt trong các
trang viết về đề tài thành thị
Những trang viết về thiên nhiên miền núi của Ma Văn Kháng có sức lay động lòng người bởi đó là kết quả của sự gắn bó sâu nặng với cảnh vật nơi đây Sống giữa thiên nhiên thanh sạch, con người sẽ được gột rửa về tâm hồn, không
bị vẩn đục bởi thói ô trọc của xã hội rối ren: “Khắp đất nước có lẽ không ở đâu hoa gạo có cung màu đẹp tuyệt trần như ở đây Ở đây trời xanh trong vắt, thanh lọc đến kì hết vẩn bụi và mắt người như nhìn thấu tới tận cõi vô cùng Ở đây, sau một mùa đông giá lạnh, xo ro, cây bung nở hết mình cái sức tích tụ bao tháng ngày” [17, tr 43] Màu đỏ rực rỡ của hoa gạo không chỉ làm đẹp cho bản mường mà còn nói lên được lòng nhiệt tình của người dân miền núi Thiên
nhiên San Cha Chải dần hiện lên và gợi ra cho người đọc sự khát khao khám phá những chân trời mới với vẻ đẹp thuần khiết, nguyên sơ Không gian San Cha Chải
thật yên tĩnh “không khí heo hút như thời khởi thủy”, “cỏ ngải tàn rồi cỏ ngải lại xanh, hoa tục đoạn nở và hoa tam thất rừng mọc nhơ nhởn” [17, tr.53]
Ma Văn Kháng từng suy nghĩ rằng: “Thôi thúc tôi viết là cái đẹp của cuộc sống” Chính vẻ đẹp của cuộc sống và con người vùng biên cương đã khơi dậy trong ông nguồn cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ, giàu ý nghĩa nhân văn Nhà văn từng tâm sự: “Vẻ cổ kính của những làng Giáy có vòng hàng rào gỗ vây quanh và những đêm vườn Giáy trữ tình thắm thiết Suối Mường Hum đẹp đến huyễn hoặc, rừng Pơ-mu lão đại trùng trùng vóc dáng đại hiệp sĩ khu Seo Mi
Tí Ngọn Păng-xi-păng kiêu hùng và những khu ruộng bậc thang ở Sa Pa quẫy lượn những đường nét khi mùa xuân về Tất cả đã vọng về, đọng lại và hợp thành một bầu trời lung linh các vì tinh tú quay vòng không ngớt trong ký ức
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 13
tôi, khiến tôi không biết bao lần nghẹn ngào nước mắt” (Ma Văn Kháng-
Những năm tháng tập rèn) Cảnh sắc thiên nhiên miền núi có sức níu giữ lạ kì để
rồi khi đi xa, nó đã trở thành một phần không thể thiếu trong tâm hồn con người
(Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn! - Chế Lan Viên)
Cùng với truyện ngắn và truyện vừa, Ma Văn Kháng còn rất thành công
ở thể loại tiểu thuyết khi viết về đề tài dân tộc miền núi và thành thị Những tác phẩm được coi là sự kết tinh thành tựu của Ma Văn Kháng về mảng đề tài này
như: Đồng bạc trắng hoa xòe (1977), Vùng biên ải (1983), Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001) Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn tiên phong đưa bộ
phận văn xuôi đến với tiểu thuyết - một thể loại có tầm vóc sử thi và quy mô lớn, đủ sức khái quát một hiện thực rộng lớn và có ý nghĩa lịch sử Bên cạnh
đó, Ma Văn Kháng cũng là người đi đầu trong việc đưa đề tài về công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền núi vào tiểu thuyết
Thời kì này, khuynh hướng đời tư, thế sự được các nhà văn chú trọng Những vấn đề của cuộc sống và con người thời hậu chiến, những quan hệ phức tạp, chồng chéo, những câu chuyện đời thường đã trở thành đối tượng của nghệ thuật Các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê đã quan tâm lật xới từ những số phận cá nhân nhỏ bé đến những vấn
đề xã hội rộng lớn mang ý nghĩa nhân sinh Bên cạnh đó, văn học thời kỳ đổi mới còn có sự cách tân về thể loại, có cả văn xuôi kỳ ảo trong sáng tác của Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh Ngoài ra, khuynh hướng triết luận cũng trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong văn học thời kỳ này
Ma Văn Kháng được coi là người “đi tiền trạm” cho đổi mới văn học Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985) là những tác phẩm có tính chất mở đường Thời kỳ này Nguyễn Khải viết Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985) như trên hành trình của sự tìm kiếm mới Nguyễn Minh Châu viết các tác phẩm Bức tranh (1982), Bến quê (1985) như một sự đột phá Bảo Ninh với Thân phận của tình yêu (1990), Dương Hướng với Bến không chồng (1990), Chu Lai với Ăn mày dĩ vãng (1991)…
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 14
Sau đổi mới, Ma Văn Kháng vững bước trên con đường đổi mới với những cảm hứng mới, tâm thế mới và khí thế ngày càng mạnh mẽ Bên cạnh các sáng tác về đề tài miền núi, khi chuyển hướng ngòi bút về đồng bằng, Ma Văn Kháng nhanh chóng tiếp cận với một hiện thực mới, đó là cuộc sống thành thị với nhiều màu sắc phong phú và độc đáo Bằng sự nhạy cảm tinh tế của mình cộng với tinh thần trách nhiệm của một ngòi bút tâm huyết, Ma Văn Kháng viết về cuộc
sống và con người đô thị trong sự day dứt, trăn trở khi phát hiện ra những “lỗ hổng”, những “khoảng trống” đang tồn tại và vây bủa con người
1.2 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong hai tập truyện
của Ma Văn Kháng (San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già)
1.2.1 Vài nét về tiểu sử và con đường đến với văn chương của Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01/12/1936, quê
ở làng Kim Liên, thuộc Kẻ Chợ, nay là phường Phương Liên, quận Đống Đa,
Hà Nội Ngay từ thuở thiếu niên, Ma Văn Kháng đã tham gia thiếu sinh quân
và được cử đi học ở Khu học xá Trung Quốc Năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình được lập lại ở miền Bắc Theo tiếng gọi của Tổ quốc, Đinh Trọng Đoàn đã xung phong lên Tây Bắc và được cử dạy học ở Lào Cai Năm 1960, ông về Hà Nội học Đại học Sư phạm I Sau khi tốt nghiệp, ông trở lại Lào Cai dạy học và từng là hiệu trưởng trường trung học Trong một lần đi công tác ở nông thôn, Đinh Trọng Đoàn làm quen với ông Ma Văn Nho, rồi hai người kết nghĩa anh em và cải tên họ là Ma Văn Kháng Cái tên Ma Văn Kháng
đã phần nào nói lên sự gắn bó và tình yêu của ông đối với Lào Cai Năm 1967,
Ma Văn Kháng nhận được quyết định về làm thư kí riêng cho Bí thư tỉnh ủy Lào Cai, phó Tổng biên tập báo Lào Cai Tháng 5 năm 1976, Ma Văn Kháng rời Lào Cai trở về Hà Nội công tác với tư cách nhà văn Ông từng giữ chức Phó
tổng biên tập Nhà xuất bản Lao động, Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài, ủy viên ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam Cuộc đời vất vả, nhiều
trải nghiệm: tiễu phỉ, làm thuế, xây dựng hợp tác xã, làm thư kí, dạy học, viết báo đã để lại dấu ấn trên trang viết đậm đà hơi thở cuộc sống của Ma Văn
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 15
Kháng Thế giới nhân vật cũng được mở rộng hơn, tư duy nghệ thuật về cuộc sống và con người càng uyển chuyển hơn Ma Văn Kháng viết nhiều, viết khỏe
và được bạn đọc đón nhận ở cả hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn Cùng với khoảng thời gian gần năm mươi năm cầm bút, các tác phẩm của ông ra đời
đã để lại cho độc giả những ấn tượng khó quên
Ma Văn Kháng từng tâm sự: “Viết văn là một công việc quá khó khăn, ở ngoài sự cố gắng ở trên sức người” và “để có những trang viết sâu sắc, cảm động, phải nỗ lực rất nhiều, phải có những hiểu biết mang tính học thuật sâu sắc” Cũng giống như nhà văn Nam Cao, Ma Văn Kháng quan niệm “sống rồi mới viết”, không ngại khó khăn, gian khổ thì mới có những chất liệu sáng tác phong phú “Sống nghiêm túc, hết lòng thực sự với cuộc sống ở tất cả các chiều kích của nó, nuôi dưỡng hướng thẩm mỹ lớn” [3], “Cần cù, bền bỉ đi vào cuộc sống, gặp gỡ, hỏi han, ghi chép và lặng lẽ, khiêm nhường chuyển hóa những hiểu biết về cuộc sống nhân dân, hiện thực đất nước lên những trang viết” [38] Theo ông “Cuộc sống là một tác phẩm của tự nhiên, cuốn sách lớn nhất của nhà văn viết ra là sáng tạo của anh ta về căn bản cũng từ cuộc sống mà ra” [9, tr.36] Ma Văn Kháng lao động văn chương như “một người H’mông trồng bắp trên núi, lặng lẽ, cần cù, kiên nghị” [40] Với những tác phẩm của
mình, nhà văn đã lần lượt đặt ra những vấn đề bức xúc từ các khía cạnh của đời sống muôn mặt và qua các nhân vật đủ hình, đủ kiểu Đối với Ma Văn Kháng
“Đã chọn văn chương là chọn một con đường gian nan, khổ ải, là tự đày đọa mình”, song với niềm đam mê, tài năng và sáng tạo, Ma Văn Kháng đã khẳng
định được vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam hiện đại Văn nghiệp của
Ma Văn Kháng hàng trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết, một hồi kí- tự truyện Giai đoạn nào ông cũng có những sáng tác nổi bật, mang dấu ấn cá nhân đậm nét Sáng tác của Ma Văn Kháng ra đời luôn được đông đảo bạn đọc đón đợi, hưởng ứng nhiệt tình Ông được mệnh danh là “người khuấy động văn đàn Việt Nam hiện đại” (Lưu Khánh Thơ)
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 16
Tây Bắc - “Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất/ Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân” (Chế Lan Viên), mảnh đất xa xôi ấy chính là nơi nuôi dưỡng tâm
hồn Ma Văn Kháng Ông bắt đầu viết những trang viết đầu tiên về con người miền núi trong những ngày xây dựng cuộc sống mới, đấu tranh chống bọn thổ
ty, chúa đất, phục vụ kháng chiến Sự nghiệp văn chương của ông được đánh
dấu bằng truyện ngắn đầu tay Phố cụt (1961) Truyện ngắn này được trang trọng in trên trang nhất tuần báo Văn nghệ số 136 ngày 3/3/1961 Với cốt truyện đơn giản, mạch văn rõ ràng, Phố cụt đã báo hiệu những đường nét cơ
bản sẽ được bồi đắp dày dặn tiếp về sau của đời văn tác giả Đó là sự cần mẫn bám sát cuộc sống, khám phá những vấn đề nảy sinh từ cuộc đời và thân phận người lao động, từ đó phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo trong những câu chuyện đậm đà ý vị, nóng hổi hơi thở của cuộc sống
Sau truyện ngắn đầu tay Phố cụt, người đọc biết đến các tập truyện ngắn khác như Xa phủ (1969), Bài ca trăng sáng (1972), Người con trai họ Hạng (1972), Cái móng ngựa (1973) Trở về Hà Nội, Ma Văn Kháng vẫn tiếp tục đề
tài miền núi và hướng đến thế sự, đời tư ở thành thị Bên cạnh truyện ngắn, gần
đây nhất Ma Văn Kháng còn cho ra mắt tập truyện vừa Xa xôi Thôn Ngựa Già
(2013) Những thay đổi trong cái nhìn về hiện thực và con người đã tạo ảnh hưởng nhất định đến đổi mới quan niệm nghệ thuật văn học của tác giả
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong văn xuôi sau đổi mới
Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người của nhà văn thể hiện sự thống nhất giữa hiện thực được phản ánh và năng lực cắt nghĩa, lí giải nghệ thuật ứng với một thế giới nghệ thuật tồn tại ngay trong khám phá của nhà văn Sau năm 1986, đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới trên mọi bình diện của
xã hội Hiện thực cuộc sống thay đổi: từ hiện thực chiến trận, sử thi sang hiện thực thế sự, cá nhân Các nhà văn cũng đổi mới quan niệm và cách viết của mình để phù hợp với thời đại và thị hiếu công chúng Quan niệm về con người, quan niệm nghệ thuật, đề tài, chủ đề, các kiểu nhân vật đều có sự thay đổi
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 17
đáng kể Thực tế, trong một loạt tác phẩm văn học ra đời sau 1986 đã xuất hiện cách nhìn, cách tiếp cận hiện thực đa dạng, nhiều chiều, thể hiện mối quan hệ
tự do của nhà văn đối với hiện thực Từ đó, nhà văn có những khám phá, phát hiện mới mẻ, sâu sắc đậm giá trị nhân văn và đầy sức hấp dẫn về hiện thực Các nhà văn thời kì này đã tạo ra một hiện thực đa dạng, sáng tạo hiện thực qua trải nghiệm cá nhân Đúng như quan niệm của nhà văn Hồ Anh Thái: “Nói hiện thực là những gì ta thấy, ta nghe, ta trải nghiệm là chưa đủ Hiện thực còn là cái ta cảm” Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: phản ánh hiện thực cũng không phải
là việc xâu chuỗi các sự kiện mà phải nắm được cả cái chìm khuất sâu xa trong bản chất của hiện thực Tác phẩm văn học chỉ đạt được tính chân thực khi nó phản ánh hiện thực với sự khái quát, chọn lọc, tái tạo chứ không phải là sự sao chép giản đơn Cuộc sống hiện lên trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu đa chiều, ở
đó có cả niềm vui, nỗi buồn, sự vật vã, bức bối đầy phức tạp và biến động
Trong văn học, con người là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, gắn với quan niệm, phong cách nghệ thuật của nhà văn và cũng là sản phẩm của thời đại Khi đánh giá thành tựu của bất kì một nền văn học, một trào lưu, giai đoạn, tác giả ta không thể không đánh giá quan niệm nghệ thuật về con người Tố Hữu từng nhận xét: “Văn học không phải là chuyện văn chương mà là chuyện cuộc sống, trước hết là con người” Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là vấn đề tính năng động của chủ thể nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lý giải con người bằng các phát hiện nghệ thuật, về vấn đề và giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của đời sống” Nói đến quan niệm nghệ thuật về con người là nói đến sự sáng tạo
về chất trong cảm thụ và miêu tả hiện thực của nhà văn Các nhà nghiên cứu
phương Tây cho rằng: con người là phương tiện “tất yếu quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng trong tác phẩm” [31,tr.18] Cũng nói về vấn đề này, Pospelov khẳng định:“Nhân vật bộc lộ bản thân chủ yếu không phải trong hành động, việc làm mà qua cảm xúc đối với xung quanh và các suy nghĩ về những điều
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 18
trông thấy” [31, tr.17] Như vậy, nhân vật được khắc họa qua cái nhìn của tác
giả và được thể hiện thông qua các hình thức nghệ thuật Qua nhân vật văn học, người đọc nhận ra được quan điểm, tư tưởng, tình cảm của nhà văn đối với cuộc sống và con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù của thi pháp học hiện đại, được coi như một biểu hiện của tư duy nghệ thuật Thi pháp học cho
rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, sự cảm thấy con người
đã được hóa thân thành những nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [34, tr.41]
Quan niệm nghệ thuật về con người cũng được xem như một trong những tiêu chí để xác định phong cách nghệ thuật của một nhà văn Ở trong cùng một hệ đề tài, những quan niệm khác nhau về con người là dấu hiệu để nhận diện tác giả Những biến đổi trong văn học được bắt đầu từ việc đổi mới,
cắt nghĩa con người “Chừng nào chưa có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người thì sự tái hiện các hiện tượng trong đời sống khác nhau chỉ
có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một chiều sâu” [33, tr.91] Có thể nói
rằng, cơ sở quan trọng tạo nên sự vận động của văn học đó là sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người Và ở mỗi giai đoạn lịch sử sẽ có những chuẩn mực riêng trong quan niệm nghệ thuật về con người, sẽ có những sự khác nhau trong cách lý giải, cảm thụ, phản ánh về con người
Sau 1975, đất nước được độc lập, tự do và thống nhất nhưng dư âm của
chiến tranh vẫn còn Năm 1986, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng đã tác động mạnh mẽ đến văn học Quan niệm con người kiểu sử thi cũng được chuyển dần sang quan niệm con người đời tư cá nhân và được các nhà văn hình
dung ở nhiều chiều, nhiều phía “Con người trong văn học hôm nay được, khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống
tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 19
phổ quát”, “con người không còn là nhất phiến, đơn trị mà luôn là con người
đa diện, đa trị, lưỡng phân, trong con người đan cài, chen lẫn, giao tranh bóng tối và ánh sáng, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỷ sứ, cao cả và tầm thường ” [23, tr.55]
Con người trong văn xuôi sau đổi mới là con người chân thực đúng như
nó vốn có trong hiện thực cuộc đời Bởi vậy, hiện thực cuộc sống đã được các nhà văn chú trọng đưa vào trang viết của mình.Trong hầu hết các tác phẩm, nhân vật trung tâm là những con người bình thường và nhiều khi là những số phận thiệt thòi, những con người bất hạnh Con người trong sáng tác của Nguyễn Khải là con người hành động, luôn trăn trở, suy xét, lựa chọn Con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu có đời sống nội tâm bí ẩn, phức tạp, mâu thuẫn, giằng xé, với những nỗi đau và bi kịch của sự đói nghèo, lạc hậu Nguyễn Minh Châu luôn đặt ra và trả lời câu hỏi: “cái gì làm nên một tác phẩm văn học” Và ông đã từng khẳng định: Cuối cùng, nói gọn lại, đó là những con người và triết lí sống của những con người ấy” Bên cạnh việc quan tâm đến cái chung, cái cộng đồng thì tác phẩm văn học còn là “câu chuyện của mỗi con người” Văn chương và cuộc sống là hai đường tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó chính là con người
Ở thời kỳ này “Nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào cuộc sống đời thường, trong các mối quan hệ để khám phá những mặt tốt và cả những mặt khuất tất trong mỗi con người, góp phần khơi nguồn cho dòng sông văn chương trở về với đời sống bình thường của nó” [19, tr.21] Như vậy, đối tượng
phản ánh của nghệ thuật và chuẩn mực để nhà văn đánh giá đó chính là con người cá nhân Con người cá nhân đã thay thế con người xã hội Các nhà văn bao giờ cũng lấy con người là hệ quy chiếu của mọi giá trị Văn xuôi sau 1986
đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực, con người trong giai đoạn mới Với Ma Văn Kháng - một nhà văn có quá trình sáng tác trải dài qua nhiều giai đoạn thì quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả cũng có sự biến đổi
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 20
1.2.3 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong hai tập truyện
“San Cha Chải” và “Xa xôi Thôn Ngựa Già” của Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng là nhà văn có ý thức sâu sắc về trách nhiệm của người cầm bút nên trong sáng tác ông luôn tìm tòi, đổi mới cái nhìn đối với hiện thực
và con người Quan niệm về hiện thực miền núi của Ma Văn Kháng cũng có sự thay đổi Hiện thực mang tính sử thi chuyển dần sang hiện thực thế sự - đời tư, nhà văn thể hiện hiện thực về những điều khó cắt nghĩa và lý giải trong cuộc sống Nói đến con người trong tác phẩm nghệ thuật là nói đến việc các nhà văn lựa chọn nhân vật và cách xây dựng nhân vật trong văn học Xuất phát từ thế giới quan, cá tính sáng tạo, lý tưởng thẩm mỹ mà mỗi nhà văn đều có quan niệm nghệ thuật về con người khác nhau Nằm trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam trước 1975, các sáng tác của Ma Văn Kháng mang tính sử thi,
tính cộng đồng, gắn với cái “ta chung”, coi nhẹ con người cá nhân Con người
trong các tác phẩm của giai đoạn này là những con người có ý thức chính trị
cao, quên “cái tôi” riêng Với khuynh hướng sử thi, các nhân vật được hiện lên
như một người đại diện xứng đáng cho sức mạnh của cộng đồng dân tộc Điều
đó cũng phù hợp với quy luật tất yếu của lịch sử bởi khi vận mệnh đất nước đang được đặt lên trên hết thì những suy tư, trăn trở, những quyền lợi cá nhân
sẽ phải lùi xuống hàng thứ yếu
Truyện ngắn của Ma Văn Kháng trước thời kì đổi mới là những bức tranh sinh động đầy mầu sắc về cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc.Thực tiễn cuộc sống đã giúp nhà văn thấu hiểu tâm tư tình cảm, nghĩ suy của đồng bào dân tộc Vì thế qua sáng tác của Ma Văn Kháng, hình ảnh người dân miền núi hiện lên rất đẹp Người đọc bắt gặp ở những con người miền núi tình yêu quê hương xứ sở, sự trung thực, thật thà, say mê, yêu đời và nhiệt tình cách mạng Nhà văn luôn có ý thức tìm kiếm vẻ đẹp của đồng bào các dân tộc miền núi ẩn dấu sau bề ngoài mộc mạc Song ở các nhân vật này, ta bắt gặp một sự giản đơn trong suy nghĩ, trong hành động Hạn chế của truyện ngắn thời
kỳ này là sự đơn điệu, lặp lại trong chủ đề tư tưởng tác phẩm Đó cũng là hạn
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 21
chế chung của của cả một thời kỳ văn học Nhà văn cũng thừa nhận “những truyện ngắn tôi viết những năm ấy bị chi phối bằng những cảm quan ấu trĩ, thô thiển, chốc lát Do đó phần nhiều kém cỏi” [46] Như vậy, cùng với Tô Hoài và
các nhà văn hiện đại khác, truyện ngắn của Ma Văn Kháng đã góp phần khởi sắc cho nền văn học viết về đề tài miền núi
Bước sang thời kỳ đổi mới, truyện ngắn Ma Văn Kháng thực sự đổi mới
cả về nội dung và nghệ thuật Cách nhìn cuộc sống, con người giờ đây đã có sự sâu sắc, thể hiện sự chiêm nghiệm, đúc kết của một nhà văn từng trải, sống hết mình với cuộc đời Cuộc sống, bản thân nó là tổng hòa những vấn đề phức tạp Bên cạnh mặt tốt đẹp còn có những góc khuất mà con người không dễ gì nhận
ra Đây là thời điểm nhà văn dám nói thẳng, nói thật, dám bộc lộ những điều mình chưa dám nói ra trước kia Một giai đoạn mới đã mở ra với nhà văn: sáng tác của ông nở rộ, bút lực ngày càng tỏ ra sung sức, đề tài được mở rộng, nhiều chủ đề được khai thác sâu và tinh tế Với Ma Văn Kháng, cuộc sống thật sự đa dạng, phong phú, bề bộn và phức tạp Sự phong phú, phức tạp đó đã đem đến cho ông cách nhìn mới và cảm hứng mới: cảm hứng sử thi nhường chỗ cho cảm hứng thế sự, đời tư
Sự đổi mới đầu tiên chính là đổi mới đề tài Truyện ngắn tập trung vào hai đề tài chính: đề tài miền núi và đề tài thành thị Giai đoạn trước 1975, Ma Văn Kháng viết về đề tài miền núi để phản ánh cuộc sống lao động và cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộc với các thế lực thù địch chống phá cách mạng Đó
còn là cuộc đấu tranh âm thầm giữa hai mặt tốt - xấu, đúng - sai trong mỗi con
người để cuối cùng tìm ra được những giá trị đích thực của cuộc sống Đến thời
kì đổi mới, số lượng truyện ngắn viết về đề tài miền núi không nhiều song nhà văn đã phản ánh, đề cập những vấn đề về cuộc đời và số phận con người Các tác phẩm được viết ở giai đoạn này có thể kể đến các truyện ngắn và truyện
vừa: “San Cha Chải”, “Giàng Tả, kẻ lang thang”, Dù “canh tác trên mảnh đất
đã có người cày xới” song đề tài miền núi đã đem lại cho Ma Văn Kháng một
vị trí xứng đáng trong nền văn học hiện đại Việt Nam
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 22
Truyện ngắn “Giàng Tả - kẻ lang thang” không chỉ đề cập đến cuộc đời,
số phận cá nhân cụ thể - Giàng Tả- mà còn đặt ra vấn đề: cách nhìn nhận, đánh giá con người Đánh giá con người cho đúng, khách quan, công bằng, cần phải
tìm hiểu kỹ càng, thấu đáo về con người Bởi “biết không thấu đáo còn tệ hơn
là không biết”, “Cái đáng biết lại không biết Cái không nên quên lại quên Lịch sử thế là mất đi cái hồn nhiên của nó” [17, tr.42] Nhân vật Giàng Tả hồn
nhiên trong cách nghĩ và cách sống, lang thang khắp các làng bản, bán sức lao động để kiếm ăn Giàng Tả trở thành người làm công cho lý trưởng, trùm phỉ
Ly Si Gơ Nhưng khi thấy Ly Si Gơ bỏ chết một người bạn thợ xây lô cốt, thấy quân của hắn ta cướp bóc, hãm hiếp dân lành, nhận ra sự tàn bạo, tham lam bất lương thì Giàng Tả lập tức rời bỏ bọn chúng Vậy mà chỉ vì không hiểu thấu đáo cuộc đời Giàng Tả mà người cán bộ đã quy kết những tội danh hết sức nặng nề cho Giàng Tả Người cán bộ ấy đâu có hiểu rằng Giàng Tả là người
trung thực, thẳng thắn, giàu tình thương đồng loại, đã có lúc Giàng Tả “ một mình thồ cả khẩu cối 80, cả nòng lẫn bệ, vốn phải bốn người khiêng cho bộ đội
ta và dẫn đường cho các chiến sĩ công an của tỉnh mò vào tận đồn Ly Si Gơ trinh sát” [17, tr.40]
Còn trong truyện vừa “Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường”, Ma Văn Kháng đã nêu lên quan điểm thẩm mỹ, nhân sinh về cái đẹp: Người nuôi dưỡng, bảo vệ cái đẹp một cách hồn nhiên và vô tư nhất đó là nhân dân Qua truyện ngắn này, ta bắt gặp niềm tin và mong muốn của tác giả về con người,
về cái đẹp Câu chuyện kể về Seo Ly - “trang tuyệt sắc xứ Mèo” [18, tr.10] có
số phận chìm nổi, gian truân Seo Ly đẹp nhưng là cái đẹp luôn trong tình trạng
bị rình rập, chiếm đoạt Bởi vậy, tác phẩm này không chỉ dừng lại ở câu chuyện: nam nữ quan hệ bất chính mà nó còn mang ý nghĩa triết học, có tính biểu tượng cao Mọi thế lực chiếm đoạt Seo Ly đều phải trả giá: bị chết, bị cách
chức, bị sỉ nhục “Seo Ly, nàng không là Bao Tự, Tây Thi, Đát Kỷ, nhưng từa tựa các mỹ nhân nọ, nàng đã kết thúc mấy triều đại quan chức huyện
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 23
nhà” [18, tr.10] Kết thúc câu chuyện là hình ảnh ông bí thư già và Seo Ly lõa
lồ trong sự chứng kiến của bao người
Bên cạnh đó, truyện ngắn của Ma Văn Kháng còn đề cập đến vấn đề nhân sinh muôn thuở của con người.Vấn đề số phận con người ra sao, như thế nào được nhà văn đề cập đến trong truyện ngắn “Móng vuốt thời gian” Thi sĩ
Xuân Diệu trong bài thơ Vội vàng đã từng có ước muốn táo bạo, kì lạ là “tắt nắng”, “ buộc gió” để giữ lại hương sắc cuộc đời và vẻ đẹp đầy quyến rũ của mùa xuân, nhưng rồi nhận ra „Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua/ Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già” Con người, sự sống của con người là cái hữu hạn trước cái vô hạn của thời gian “Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi”
Điều đó thật đáng trân trọng Còn trong “Móng vuốt thời gian”, thổ ty Sề Sào
Lỉn - “tri châu xứ Giáy tự trị miền Tây tỉnh K” [17, tr.99] có khát vọng, ham
muốn chế ngự thời gian để trường sinh bất tử một cách mù quáng Sề Sào Lỉn sống một cuộc sống dư thừa về vật chất và khoái lạc dựa trên sự bóc lột ruộng đất và bóc lột sức lao động của những người dân ngu muội xứ Giáy xa xôi Cuộc sống của Lỉn chẳng khác nào cuộc sống của những ông vua phong kiến thuở trước Vào tuổi bảy mươi, Lỉn bỗng nhận ra tính chất độc đáo của đời mỗi
con người “con người ai cũng như ai, từ bậc đế vương đến tên đánh giậm, gã
mã phu, chỉ được sống có một lần,và chỉ một lần mà thôi Con người đi trên con đường của mình, đi thẳng, đã qua là thôi, không quay trở lại” “Con người chẳng có cách nào thoát khỏi được móng vuốt thời gian ” [17, tr.106] Mặc
dù biết như vậy song Lỉn vẫn cố tìm mọi phương kế để chiến thắng cái chết, chiến thắng số mệnh, luật trời Không những giải hạn, yểm bùa trừ thần dịch
mà Lỉn còn tăng cường nội sinh, nội lực bằng việc dùng các bài thuốc trường
sinh bất lão khắp xa gần Thêm nữa là bài thuốc cầu kì, tốn kém “ăn tinh hoàn
hổ lớn và tủy tươi của sư tử, đồng thời tiêm vào người chất lọc của tinh hoàn dê và mỗi sáng lúc đói phải nuốt một phôi gà mới ấp được bảy, tám ngày” [17, tr.110] Để rồi Lỉn thấy trong người phơi phới sau nửa tháng dùng
đơn thuốc ấy Hắn lại lao vào các cuộc truy hoan gấp gáp, tận lực với chín người vợ và đám đàn bà thuộc quyền Chẳng bao lâu Lỉn thấy mỏi gối, chồn
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 24
chân, mắt hoa, đầu váng, mỗi ngày một hao kiệt, héo mòn Những tưởng mệnh
Lỉn đã tận nhưng năm bảy mươi hai tuổi lại gặp thầy gặp thuốc Một phương sĩ
đã dùng bí thuật luyện đan giúp Lỉn chế ngự thời gian Sau gần ba tháng liên tục nung nấu, hỏa chế, kết tinh, tuyển chọn hao tiền tốn của thì công việc luyện
đan đã hoàn thành Tiên dược - „chất lỏng vàng óng ánh, sắc lạnh” được đựng
trong cốc bạc, càng có vẻ biến huyền kì lạ, Lỉn sung sướng, đắc thắng uống
cạn Kết quả là “Lỉn chết sau một đêm ói mửa, rên la quằn quại, ỉa đái dầm dề, đau khắp mình mẩy, rồi bại xuội tứ chi, mặt đen tím dần” [17, tr.117] Những
tưởng quan thổ ty Sề Sào Lỉn là một người giàu có và hiểu biết, vậy mà hắn lại chết trong sự mê muội ngông cuồng Vậy bức thông điệp mà tác giả gửi đến người đọc ở đây là: nếu ngu dốt, mù quáng muốn vượt khỏi vòng cương tỏa của thời gian sẽ bị trả giá Dù tiền tài, danh vọng, địa vị thế nào đi chăng nữa thì con người cũng không thể thoát khỏi móng vuốt thời gian
Ở mảng đề tài thành thị, Ma Văn Kháng hướng ngòi bút của mình vào những vấn đề nóng hổi: vấn đề đời tư, thế sự, nhân sinh Ông đề cập đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống hôm nay: tình yêu, tình dục, hôn nhân, gia đình, những toan tính vụ lợi Nhà văn trăn trở nhiều cho số phận con người, cho sự tác động chi phối khủng khiếp của hoàn cảnh với con người Ông chú ý đến mối quan hệ giữa con người với con người, con người với môi trường, con người trong mối quan hệ với chính mình để giữ vững và hoàn thiện nhân cách Xã hội càng hiện đại thì cuộc sống của con người càng trở nên phức tạp Cùng với việc lên án những kẻ suy thoái về đạo đức, nhân cách, Ma Văn Kháng còn thuyết phục những kẻ lầm đường, lạc lối trở về với cuộc sống lương thiện Qua mỗi trang văn, người đọc dễ dàng nhận ra những lời tâm sự của tác giả về cuộc đời,
số phận và lẽ sống Nhiều truyện ngắn và truyện vừa viết về đề tài này như:
“Thắp một tuần hương”, “Cánh bướm tím”, “Người khổ nhất trần gian”,
“Hương hoa Đà Lạt” Như vậy, hoàn cảnh sống và môi trường công tác thay đổi cùng với công cuộc đổi mới của Đảng đã khởi sắc cho văn học, giúp nhà văn thoát khỏi vòng cương tỏa của sự bao cấp.Với mảng đề tài này, Ma Văn
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 25
Kháng là một trong những cây bút có nhiều đóng góp to lớn vào việc đổi mới nền văn xuôi nghệ thuật của dân tộc
Trong truyện vừa “Thắp một tuần hương”, nhân vật Thược băn khoăn, trăn trở cho số phận của ông Tương Bằng - người ở cùng phòng trong khu tập thể, đang chờ lĩnh sổ hưu Ông Tương Bằng dù đã ra khỏi quỹ đạo của chức
trách nhưng vẫn làm việc theo quán tính dăm bữa nửa tháng ông xách cái cặp
da trên tay và lại lên đường “Ông như con tàu đã được đặt trên hai thanh ray Giờ, con tàu ấy chỉ việc chạy Chạy theo thói quen, theo quán tính đã ăn sâu vào máu thịt, đã trở thành một bản thể tự nhiên” [18, tr.37] Qua tác phẩm này,
Ma Văn Kháng còn muốn nói đến nghệ thuật sống của con người: “ Đạo làm người quan trọng nhất là ở chỗ biết mình là ai và đang sống ở thời điểm nào Tài cán dẫu có được thiên phú thì cũng chỉ là hữu hạn trong vòng trời đất khôn cùng” [18, tr.38] Bên cạnh đó, tác phẩm này còn nói đến mối quan hệ giữa con
người với con người trong xã hội
Tiểu kết chương 1
Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của Ma Văn Kháng, có thể khẳng định: cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn và truyện vừa chiếm một vị trí quan trọng Ông đã phát huy hết năng lực khi lựa chọn hai thể loại này để khám phá
và thể hiện cuộc sống Ở chương này, chúng tôi giới thiệu ngắn gọn đôi nét văn xuôiViệt Nam từ đổi mới đến nay Đồng thời giới thiệu vài nét về tiểu sử và con đường đến với văn chương của Ma Văn Kháng Đặc biệt là quan niệm về
hiện thực và con người của Ma Văn Kháng thông qua hai tập truyện San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già Từ đó, chúng tôi khẳng định truyện ngắn và
truyện vừa của Ma Văn Kháng đã thể hiện được quan niệm riêng của nhà văn khi miêu tả cuộc sống và con người Đến nay, dù tuổi đã cao nhưng Ma Văn
Kháng vẫn có những đóng góp đáng kể cho nền văn học đương đại Việt Nam
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 26
Chương 2
CÁC KIỂU LOẠI NHÂN VẬT TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN
SAN CHA CHẢI VÀ TẬP TRUYỆN VỪA XA XÔI THÔN NGỰA GIÀ
CỦA MA VĂN KHÁNG
2.1 Khái niệm truyện ngắn, truyện vừa
2.1.1 Truyện ngắn
Từ điển văn học đã định nghĩa truyện ngắn: “Truyện ngắn là hình thức tự
sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung
mô tả một mảnh của cuộc sống: Một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội” [24, tr.47]
“Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười hoặc gần với bài kí ngắn Nhưng thực ra không phải Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời”
[24, tr.397]
Truyện ngắn là một thể loại thu hút được sự quan tâm của đông đảo độc giả và đã trở thành một thể loại tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại
2.1.2 Truyện vừa
Trong cuốn Lí luận văn học nhà nghiên cứu Phương Lựu cho rằng:
“Truyện vừa là thể loại văn xuôi tự sự cỡ trung bình Không nên hiểu truyện vừa là sự thu hẹp phạm vi tái hiện đời sống Dung lượng truyện vừa thể hiện ở bình diện trần thuật So với tiểu thuyết, trần thuật của truyện vừa thường cô đọng, hàm súc hơn, bám sát sự phát triển của cốt truyện và đặc điểm nhân vật hơn Đối tượng tái hiện của truyện vừa là các sự kiện, các cuộc đời thường là đặc sắc, khác thường hoặc các hiện tượng đời sống nổi bật Truyện vừa ít miêu
tả quá trình vận động của tính cách, quan hệ hơn là tiểu thuyết Có thể coi
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 27
truyện vừa là tiểu thuyết cỡ nhỏ”, “Những câu văn của truyện vừa thường giản
dị, gọn gàng, sáng rõ” [24, tr.397]
Bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn và truyện vừa là hai thể loại có vị trí
và khối lượng tác phẩm đồ sộ trong văn nghiệp của Ma Văn Kháng
2.2 Khái niệm nhân vật văn học và thế giới nhân vật
2.2.1 Nhân vật văn học
Văn học phản ánh cuộc sống và con người bằng hình tượng nhân vật cụ thể, sống động Nhân vật vừa là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong tác phẩm, vừa là thể hiện sự sống động tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, đồng thời cũng đánh giá được cá tính sáng tạo của tác giả Nó chuyển tải quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống Nhân vật là nơi nhà văn kí thác những nỗi niềm, những trăn trở, những ước mơ được biểu đạt ở dạng khái quát nhất Nhân vật văn học là yếu tố quan trọng quyết định thành công hay thất bại của tác phẩm văn học
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học có viết: “Nhân vật văn học là một thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về
sự tồn tại của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người ”[2, tr.241]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Trần Đình Sử: “ Nhân vật văn học
là những con người cụ thể được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thúc Sinh, Kim Trọng Đó là những nhân vật không có tên như thằng bán tơ, một mụ nào đó trong Truyện Kiều Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang đặc điểm và tính cách con người ’‟[35, tr.115]
Các nhà văn, các nhà nghiên cứu, nhà lí luận văn học vẫn cơ bản gặp nhau ở những nội hàm không thể thiếu của khái niệm này: Thứ nhất, đó phải là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng những phương tiện văn học Thứ
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 28
hai, đó là những con người hoặc là những con vật, đồ vật, sự vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh ẩn dụ của con người Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ tài năng
Nhân vật văn học có vai trò như thế nào trong tác phẩm? Nhân vật văn học chính là hình ảnh thu nhỏ của con người Qua cái nhìn của nhà văn, tính cách của nhân vật được nhào nặn ở mức độ nào đó, nhân vật sẽ trở thành hình tượng về con người và cao hơn, nếu tính cách được khắc họa ở những nét điển
hình thì nhân vật sẽ trở thành điển hình với con người Mà theo Biêlinxki: nhà triết học tư duy bằng phép tam đoạn luận, còn nhà thơ tư duy bằng hình tượng
cụ thể của một bức tranh Nói rộng ra tức là văn học phản ánh cuộc sống bằng
hình tượng, bằng những nhân vật cụ thể Do đó nhân vật là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực Văn học không thể thiếu nhân vật bởi vì chỉ có thể qua nhân vật nhà văn mới thể hiện nhận thức của mình về xã hội, về con người với những đặc điểm về số phận, tính cách của nó
Dựa vào chức năng nghệ thuật, nhân vật chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện Trong đó, nhân vật chính diện mang trong mình phẩm chất đạo đức phù hợp với lý tưởng
xã hội thẩm mỹ của tác giả và thời đại, được nhà văn khẳng định và đề cao Ngược lại, nhân vật phản diện lại mang những phẩm chất xấu xa, trái với lý tưởng đạo đức của tác giả và thời đại, đáng lên án và phủ định Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật chia thành nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng Dựa vào thành phần xã hội, ta có thể chia thành các loại nhân vật: nông dân, công nhân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, trẻ em, lưu manh
2.2.2 Thế giới nhân vật
“Thế giới nhân vật” là một tổng thể những hệ thống nhân vật được xây
dựng theo quan niệm của nhà văn và chịu sự chi phối của tư tưởng tác giả Thế giới ấy cũng mang tính chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn, có tổ
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 29
chức và có sự sống riêng, phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của nghệ sĩ Nằm trong
thế giới nghệ thuật, “thế giới nhân vật” cũng là sản phẩm tinh thần, là kết quả
của trí tưởng tượng sáng tạo của nhà văn và chỉ xuất hiện trong tác phẩm văn
học, trong sáng tác nghệ thuật “Thế giới nhân vật” là cảm nhận một cách trọn
vẹn, toàn diện và sâu sắc của chủ thể sáng tạo về toàn bộ nhân vật xuất hiện trong tác phẩm, mối quan hệ, môi trường hoạt động của họ, ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm của họ trong cách đối nhân xử thế, trong giao lưu với xã hội và gia đình Thế giới nhân vật vì thế bao quát rộng hơn hình tượng nhân vật Trong lịch sử văn học, có thể nói, mỗi tác giả lớn đều có thế giới nhân vật riêng mang đậm dấu ấn cá nhân Đến với sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân, thế giới nhân vật của ông là những nho sĩ cuối mùa, là nghệ sĩ rất mực tài hoa, có thiên lương trong sáng, sống ngông nghênh kiêu bạc Qua đó ta thấy thái độ bất hòa của tác giả với xã hội thực dân, thể hiện lòng yêu nước, ngợi ca những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc Gấp trang sách của Nguyễn Tuân lại nhưng người đọc vẫn nhớ mãi hình ảnh của một người lái đò tài hoa trong nghệ thuật leo
ghềnh, vượt thác - “chất vàng mười đã qua thử lửa của vùng Tây Bắc” Đó còn
là một Huấn Cao có tài “viết chữ rất nhanh và đẹp”, có được chữ Huấn Cao mà treo là có “báu vật trên đời” Thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyên
Hồng là những con người lao động nghèo khổ dưới chế độ thực dân nửa phong kiến Thật xót xa, tội nghiệp cho những đứa trẻ vất vưởng đầu đường xó chợ và những cô gái quê nghèo khổ cùng đường phải làm nghề gái mại dâm, những kẻ
vì túng quẫn mà trở thành lưu manh Qua hệ thống nhân vật đó, ta hiểu được tư tưởng nghệ thuật của nhà văn: lòng yêu thương những con người nghèo khổ
và thái độ tố cáo xã hội Đến với những trang viết của Vũ Trọng Phụng -
ông vua phóng sự đất Bắc, người đọc nhận ra biết bao nhân vật phản diện
dâm ô, đểu cáng, nhố nhăng, đảo điên vì tiền Trong tiểu thuyết “Số đỏ”, vì tiền mà con cháu mong cho cụ cố tổ mau chết để được chia gia tài, vì tiền
mà các thành viên trong và ngoài gia đình vô cùng hạnh phúc khi “ông cụ già chết thật” Bức tranh hiện thực về xã hội tư sản thành thị Việt Nam
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 30
thời Pháp thuộc đã được Vũ Trọng Phụng vẽ lên qua thế giới nhân vật phong phú của mình
Có thể nói, mỗi thể loại văn học cũng có thế giới nhân vật với quy luật riêng của nó Thế giới nhân vật trong truyện ngắn và truyện vừa rất đông đúc,
nhiều dáng vẻ Thế giới nhân vật trong hai tập truyện San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già của Ma Văn Kháng cũng vô cùng phong phú, đặc sắc: từ người
nông dân miền núi ít học nhưng chất phác, người quét chợ, đến những chiến sĩ trên mặt trận anh ninh, rồi những trí thức hiền lành, những cán bộ về hưu nhưng vẫn tâm huyết với công việc Nhân vật trong hai tập truyện trên của Ma Văn Kháng có tốt, có xấu, có bản năng, có tha hóa nhưng cũng có những nhân vật phẩm chất tốt đẹp Qua thế giới nhân vật phong phú đó, người đọc nhận ra những chiêm nghiệm của tác giả về cuộc sống, về con người Đối với Ma Văn Kháng, thế giới nhân vật đã phản ánh trung thành, rõ nét quan điểm nghệ thuật
về hiện thực và con người của ông
2.3 Tổng quan về hai tập truyện San Cha Chải và Xa xôi Thôn Ngựa Già 2.3.1 Tập truyện San Cha Chải gồm 17 truyện ngắn viết sau năm 1975 với
hai mảng nội dung chính:
Những truyện ngắn viết về cuộc sống của đề tài miền núi: “Vệ sĩ của quan châu”, “Giàng Tả, kẻ lang thang”, “Hoa gạo đỏ”, “San Cha Chải”, “Ngựa bất kham”, “Móng vuốt thời gian”, “Những chiếc chum bạc”, “Mã Đại Câu, người quét chợ Mường Cang”, “Mùa săn ở Na Le”, “Thím Hoóng”, “Vùng sâu vùng xa”, “Ông lão gác vườn và chó Phúm”
Những truyện ngắn viết về hình ảnh các chiến sĩ công an: “Bí mật nghiệp vụ”, “Cỏ hoang”, “Đỉa bám chân ai”, “Người có khuôn mặt giống vợ anh”,
“Hương hoa Đà Lạt”
2.3.2 Tập truyện vừa Xa xôi Thôn Ngựa Già gồm 6 truyện vừa được viết từ
năm 2005 đến 2012: “Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường”, “Thắp một tuần hương”, “Cố Vinh, người xứ lạ”, “Cánh bướm tím”, “Người khổ nhất trần gian”, “Xa xôi Thôn Ngựa Già”
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 31
“Xa xôi Thôn Ngựa Già” là câu chuyện kể về ông lão sáu lăm tuổi nhưng
vẫn đam mê, nhiệt huyết, làm giàu vốn hiểu biết của mình bằng cách tự bỏ tiền túi để đi khắp nơi trên đất nước Ông đã lên Thôn Ngựa Già (còn gọi là Thôn Ngựa Mới) để khai hoang, đưa máy móc vào áp dụng sản xuất nông nghiệp ở nơi đây, mặc cho mọi người nghĩ rằng ông là kẻ hoang tưởng Ông được người
dân Thôn Ngựa Già gọi là “ bông hoa đức hạnh mang màu lửa”, “chàng hiệp sĩ” bởi vì ông đã góp phần làm cho họ có cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn
Còn trong truyện “Cố Vinh, người xứ lạ” kể lại câu chuyện một cha xứ đi mở mang nước chúa ở đồng bào dân tộc Mông Ông đã cống hiến bằng trái tim và
tâm hồn, bằng “cái đam mê của kẻ tạo vĩ nghiệp ở bước khởi đầu” nhưng lại có
kết cục buồn thảm vì đã sống thành thực với chính mình
Qua tập truyện vừa Xa xôi Thôn Ngựa Già một lần nữa tác giả cho người
đọc thấy cái nhìn đa chiều về những mặt tích cực cũng như tiêu cực của đời sống xã hội Nhà văn đã đào sâu đến những khía cạnh gai góc của hiện thực như con đường tiếp nhận tôn giáo còn nhiều chông gai, thử thách của người dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, những hiểu biết tinh tường về đời sống văn hóa người dân vùng núi được thể hiện qua lời văn mộc mạc, giản dị của một tác giả
đã “nhập cuộc, dấn thân và sống hết mình với đời sống hiện sinh” Đằng sau
những tủi nhục, mất mát, xót xa là niềm cảm thông, tin yêu, trân trọng con người và những vấn đề nhân văn cao đẹp
2.4 Thế giới nhân vật trong hai tập truyện San Cha Chải và Xa xôi Thôn
Ngựa Già
Thế giới nhân vật trong truyện của Ma Văn Kháng thật đông đảo và sinh động trong những bức tranh đời sống thế sự đa tạp “Nhập vào đời sống thành thị, tầm quan sát và khả năng bao quát của Ma Văn Kháng bỗng được mở ra trên một trường diện rất rộng, thế giới nhân vật của anh bỗng trở nên đông đúc, khó có thể quy vào các tuyến quen thuộc cũ” [21, tr.19] Không phải bất cứ nhân vật nào cũng minh họa cho một kiểu nhân vật nhất định Trên thực tế có những nhân vật cùng một hội tụ một vài tính cách tạo nên một kiểu người nào
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 32
đó được nhà văn xây dựng, những cũng có những nhân vật xuất hiện như những nhân vật đám đông Trong thế giới nhân vật đông đảo ấy, chúng tôi tạm phân định thành 4 kiểu loại nhân vật nhân vật: nhân vật bản năng, nhân vật tha hóa, nhân vật bi kịch, nhân vật có phẩm chất tốt đẹp Qua các kiểu loại nhân vật trên, Ma Văn Kháng muốn tìm nguyên nhân của cái xấu, cái ác và những biểu hiện nhiều màu sắc của sự tha hóa trong tính cách con người
2.4.1 Nhân vật bản năng
Theo Từ điển Tiếng Việt (Sđd - tr 21) định nghĩa: Bản năng của con
người là “ khả năng vốn có do bẩm sinh chứ không phải do kinh nghiệm luyện tập” Như vậy yếu tố bản năng thuộc mặt tự nhiên, vốn có của con người, tồn
tại trong con người nên phủ nhận nó là trái với tự nhiên Thông thường, người
ta vẫn cho rằng bản năng là mặt xấu, thuần “động vật”, phần con trong con người, vì thế nó ít được đề cập tới, thậm chí khi đưa vào các sáng tác văn học còn bị phê phán, phủ nhận Văn học sau 1975 có sự nhìn nhận, đánh giá lại vấn đề này Trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp con người bản năng được nâng lên thành một ý thức, một khát vọng Những sáng tác đích thực về bản năng đã giúp Ma Văn Kháng làm rõ triết lý trong truyện
ngắn “Người đánh trống trường làng”: “Con người là tổng hòa của lý trí và bản năng” [14, tr.301]
Vì vậy, trong các sáng tác của mình, Ma Văn Kháng không chỉ công nhận bản năng của con người mà ông còn khẳng định: thừa nhận bản năng trong con người không phải là hạ thấp con người mà góp phần nâng cao giá trị của con người Trong mảng truyện ngắn và truyện vừa, Ma Văn Kháng đã đi sâu vào khám phá, thể hiện bản năng con người
Trước hết là bản năng sinh tồn, là một thực thể tự nhiên, lẽ đương nhiên,
để tồn tại được con người cần phải có nơi ăn, chốn ở Nhưng là một sản phẩm của xã hội, con người cũng cần phải làm sao để việc ăn, ở, mặc hàng ngày càng
có văn hóa Bản năng sống là bản năng gốc, bản năng nguyên thủy của con người Với bản năng sinh tồn thì con người còn muốn sự sống và hoạt động của
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 33
mình có ảnh hưởng trực tiếp đến những người thân trong và ngoài gia đình, đến môi trường sinh hoạt Sau cùng, con người cũng muốn rằng sau khi mình mất
đi, một phần sự sống sẽ lưu lại trần thế Đó có thể là sự cố gắng để tạo một tác phẩm nghệ thuật, một công trình vĩ đại hay một sự nghiệp hiển hách, sự tha thiết muốn truyền bá tư tưởng của mình cho người khác Tất cả cuộc đời của mỗi người đều quây quần xung quanh hai chữ “sinh tồn” cả về vật chất và tinh thần Về mặt vật chất, con người hoạt động để nuôi thân, giữ gìn tính mạng, kéo dài và nâng cao sự sống của mình Về mặt tinh thần, con người muốn được
tự do phát biểu tình cảm,tư tưởng, theo đuổi nguyện vọng và tổ chức đời sống riêng của mình theo sở thích Có thể coi sinh tồn là một chân lý ngàn đời nên
nó chi phối hoạt động của con người Bản năng sinh tồn xuất hiện khi con người cất tiếng khóc chào đời cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay Vì bản năng sinh tồn mà con người có một ý chí sinh tồn mạnh mẽ
Trong văn học Việt Nam, cái đói, miếng ăn đã đi vào trang viết của các nhà văn Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Kim Lân như là một vấn đề nổi bật Vì đói mà chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô
Tất Tố phải bán con, bán chó thậm chí bán sữa Cũng vì muốn sống mà thị
trong “Vợ nhặt” của Kim Lân đã theo Tràng về làm vợ chỉ với bốn bát bánh đúc Đặc biệt, ám ảnh tâm trí người đọc là miếng ăn, cái đói nghèo đã khiến bản năng sống, bản năng sinh tồn của con người mạnh hơn lý trí trong các sáng tác về đề tài người nông dân của Nam Cao Xót xa biết bao khi chỉ vì miếng ăn, con người có thể bán rẻ phẩm giá, nhân cách, đánh mất lương tâm của mình (“Một bữa no”, “Tư cách mõ”, “Trẻ con không được ăn thịt chó” )
Thời đại chúng ta đang sống, cái ăn, cái mặc, chỗ ở không còn là vấn đề đặt lên hàng đầu Nhưng cái gọi là “miếng ăn”, “chốn ở”, công cuộc mưu sinh của con người vẫn là mảnh đất màu mỡ để các nhà văn như Ma Văn Kháng tiếp tục đào xới, khám phá ra biết bao điều thú vị, hấp dẫn, mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Vẻ đẹp cuộc đời thực sự được cất lên từ những cuộc mưu sinh nhọc nhằn Mưu sinh vì lẽ đó không đơn thuần chỉ là bản năng sinh tồn Đó còn là