Mặt khác đề tài đã tổng hợp kinh nghiệm quản lý vốn của một số công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực để rút ra bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp hoạt động cùng lĩnh vực nói ch
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÙI THỊ DẬU
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN TÙNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÙI THỊ DẬU
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN TÙNG LÂM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Tạ Thị Thanh Huyền
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Thị Dậu
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều tập thể
và cá nhân Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ của các Thầy, Cô giáo trong quá trình giảng dạy, đã trang bị cho tôi những kiến thức khoa học Đặc biệt là cô giáo - TS Tạ Thị Thanh Huyền người trực tiếp hướng dẫn giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập
Tôi xin chân thành cám ơn các ban ngành nơi tôi công tác và nghiên cứu luận văn, cùng toàn thể các đồng nghiệp, học viên lớp cao học quản lý kinh tế khóa 10, gia đình bạn bè đã tạo điều kiện, cung cấp tài liệu cho tôi hoàn thành chương trình học của mình và góp phần thực hiện tốt hơn cho công tác thực tế sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Thị Dậu
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN, CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 5
1.1 Cơ sở lý luận về vốn của doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm vốn của doanh nghiệp 5
1.1.2 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp 6
1.1.3 Phân loại vốn 8
1.3 Cơ sở lý luận về quản lý vốn trong doanh nghiệp 12
1.3.1 Sự cần thiết phải quản lý vốn của doanh nghiệp 12
1.3.2 Quy trình quản lý vốn trong DN 14
1.3.3 Nội dung công tác quản lý vốn 15
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý vốn của doanh nghiệp 20
1.4 Cơ sở thực tiễn về quản lý vốn của DN 27
1.4.1 Một số kinh nghiệm quản lý vốn hiệu quả của một số doanh nghiệp 27
1.4.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Công ty Cổ phần phát triển Tùng Lâm 28
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 30
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 31
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 31
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 32
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN TÙNG LÂM 42
3.1 Khái quát về Công ty cổ phần phát triển Tùng lâm 42
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần phát triển Tùng Lâm 42
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của Công ty 43
3.2 Thực trạng về vốn và tình hình quản lý vốn tại Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm 48
3.2.1 Tình hình huy động vốn, cơ cấu nguồn vốn và hoạt động kinh doanh của Công ty 48
3.2.2 Thực trạng công tác quản lý và sử dụng vốn của Công ty Tùng Lâm 62
3.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý vốn của công ty 78
3.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn của Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm 87
3.3.1 Những kết quả đạt được 87
3.3.2 Những hạn chế 88
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 90
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN TÙNG LÂM 92
4.1 Quan điểm và định hướng phát triển nguồn vốn của Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm 92
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
4.1.1 Quan điểm phát triển nguồn vốn của Công ty cổ phần phát triển
Tùng Lâm 92
4.1.2 Định hướng phát triển nguồn vốn của Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm 93
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn tại Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm 95
4.2.1 Khai thác và quản lý các nguồn vốn hiệu quả và hợp lý 95
4.2.2 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch quản lý vốn và huy động vốn kinh doanh 97
4.2.3 Nâng cao hiệu quả quản lý vốn cố định 99
4.2.4 Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động của Công ty 101
4.2.5 Giải pháp khác nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn tại Công ty Cổ phần phát triển Tùng Lâm 102
4.3 Một số kiến nghị 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
BCTC : Báo cáo tài chính LNST : Lợi nhuận sau thuế SXKD : Sản xuất kinh doanh TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TSCĐ : Tài sản cố định
TSDH : Tài sản dài hạn TSNH : Tài sản ngắn hạn VCĐ : Vốn cố định VKD : Vốn kinh doanh
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình kết quả kinh doanh của công ty 48
Bảng 3.2: Bảng cân đối kế toán của công ty Cổ phần phát triển Tùng Lâm 50
Bảng 3.3 Cơ cấu vốn của Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm 51
Bảng 3.4 Cơ cấu tài sản của Công ty 53
Bảng 3.5: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty 57
Bảng 3.6: Tình hình đảm bảo nguồn vốn của Công ty 59
Bảng 3.7: Bảng tính và trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh 61
Bảng 3.8: Hiệu quả quản lý vốn kinh doanh của Công ty giai đoạn 2012 - 2014 65
Bảng 3.9: Hiệu suất toàn phần vốn cố định của Công ty qua các năm 69
Bảng 3.10: Mức doanh lợi vốn cố định của Công ty qua các năm 71
Bảng 3.11: Vòng quay hàng tồn kho và các khoản phải thu của Công ty qua các năm 74
Bảng 3.12: Hiệu suất và mức doanh lợi toàn phần vốn lưu động của Công ty qua các năm 75
Bảng 3.13: Các chỉ tiêu hiệu quả biên của vốn lưu động của Công ty qua các năm 77
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 45
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ cơ cấu đầu tư vào tài sản ngắn hạn của Công ty từ
năm 2012 đến năm 2014 54Biểu đồ 3.2: Biểu đồ cơ cấu đầu tư vào tài sản dài hạn của Công ty giai
đoạn 2012 - 2014 56
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn kinh doanh là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế Đối với mỗi doanh nghiệp, muốn tồn tại và phát triển cần phải quan tâm đến vấn đề tạo lập vốn, quản lý và sử dụng đồng vốn sao cho hiệu quả nhất Khủng hoảng kinh tế trong giai đoạn hiện nay đã làm cho việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn, vốn sản xuất kinh doanh trở nên thiếu thốn trầm trọng Trong khi đó, tình trạng sử dụng vốn lãng phí, quản lý vốn kém hiệu quả vẫn còn tồn tại ở rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam Điều đó đã làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước nhất là khi chúng
ta đã tham gia vào sân chơi của thế giới Chính vì vậy vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp đã và đang trở thành vấn đề bức xúc
và có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế
Quản lý vốn là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống quản
lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển tốt thì mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản của doanh nghiệp Do vậy, quản lý sử dụng vốn tốt đồng nghĩa với công tác quản lý sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Việt Nam - một nền kinh tế mới nổi ở Châu Á, với sự tham gia tích cực tại các diễn đàn kinh tế thế giới và khu vực như: tổ chức thương mại thế giới, tổ chức kinh tế và hợp tác khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức các nước Đông Nam Á Nền kinh tế Việt nam phát triển và hội nhập có sự góp phần đáng kể về hoạt động thương mại và dịch vụ trong đó có hoạt động xuất nhập khẩu và dịch vụ du lịch, khách sạn, du lịch tâm linh Hàng năm, nguồn vốn đầu tư vào thương mại - dịch vụ tăng cao, thu nộp ngân sách của ngành thương mại- dịch vụ gia tăng theo đà phát triển của nền kinh tế và nguồn vốn đầu tư
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Quảng Ninh là một điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư và khách du lịch, với nhiều lợi thế như cảng biển, cửa khẩu giáp với Trung Quốc, nằm trong vành đai phát triển kinh tế Đông tây với Trung Quốc, có Vịnh Hạ long là Di sản văn hóa thế giới, có khu du lịch phật giáo Yên Tử và nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa Do vậy, hoạt động thương mại - dịch vụ
ở Quảng Ninh diễn ra hết sức sôi động và có sự tham gia của các thành phần kinh tế từ tư nhân đến các công ty trong nước, công ty đa quốc gia tham gia Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm là công ty cổ phần với sự tham gia góp vốn của Tổng Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Quảng Ninh (QUINIMEX) Trong những năm qua, công ty không ngừng phát triển, tham gia vào hoạt động thương mại - dịch vụ chung của tỉnh Quảng Ninh cũng như của toàn quốc Công ty đã trở thành một trong nhưng công ty uy tín của tỉnh Quảng Ninh, với nhiều đột phá trong đầu tư, xây dựng và khai thác có hiệu quả 2 tuyến cáp treo trên khu di tích Yên Tử, liên doanh với tập đoàn nước ngoài để khai thác các sản phẩm dịch vụ của khách sạn PALACE Quảng Ninh, khách sạn Vân Hải Hiện nay, tình hình quản lý vốn của công ty đã đã dần được hoàn thiện, cơ cấu vốn kinh doanh đang được Công ty bố trí hợp lý hơn, phù hợp với lĩnh vực kinh doanh đồng thời đáp ứng nhu cầu vốn cố định Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty qua các năm được nâng cao, doanh thu và lợi nhuận tiếp tục tăng trưởng, các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn đang dần được cải thiện Tuy nhiên, việc phân bổ nguồn vốn, cơ cấu nguồn tài trợ, kế hoạch huy động, sử dụng vốn còn chưa hợp lý vẫn còn thiếu xót và lãng phí Bên cạnh đó, kinh tế thế giới suy thoái, nhiều doanh nghiệp cùng ngành đã phá sản hoặc gặp khó khăn do đầu tư không đúng hướng, chất lượng dịch vụ kém, không khai thác được các thế mạnh vốn có trên địa bàn hoặc do đầu tư dàn trải, lãng phí và khai thác không hiệu quả
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu
đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý vốn tại Công ty Cổ phần phát triển
Tùng Lâm” làm luận văn thạc sĩ của mình
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở những lý luận cơ bản về vốn và công tác quản lý vốn của doanh nghiệp, từ đó áp dụng vào phân tích thực trạng công tác quản lý vốn của Công ty Cổ phần phát triển Tùng Lâm, đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn tại Công ty, góp phần phát triển kinh tế
xã hội cho tỉnh Quảng Ninh
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý vốn tại Công ty
* Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện tại Công ty Cổ phần
phát triển Tùng Lâm
* Phạm vi về thời gian: Đề tài thu thập và phân tích số liệu của Công ty
từ năm 2012 đến năm 2014
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về ý nghĩa khoa học: Đề tài đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn
về vốn, quản lý vốn trong doanh nghiệp, đi từ khái niệm, vai trò của vốn đối với doanh nghiệp, quản lý vốn trong doanh nghiệp: gồm sự cần thiết, quy trình và quản lý các loại vốn nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn tại công ty
cổ phần phát triển Tùng Lâm Mặt khác đề tài đã tổng hợp kinh nghiệm quản
lý vốn của một số công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực để rút ra bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp hoạt động cùng lĩnh vực nói chung
và Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm nói riêng
Về ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng
công tác quản lý vốn tại Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm trong giai đoạn
2012 -2014 Từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá về những thành công, những hạn chế và nguyên nhân làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn tại Công ty Cổ phần phát triển Tùng Lâm
Đề xuất các giải pháp chủ yếu cùng với các điều kiện đồng bộ góp phần hoàn thiện công tác quản lý vốn tại Công ty Cổ phần phát triển Tùng Lâm
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Luận văn được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vốn, quản lý vốn trong doanh nghiệp;
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý vốn tại Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm;
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn tại Công
ty cổ phần phát triển Tùng Lâm
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN, CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về vốn của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm vốn của doanh nghiệp
a Khái niệm
Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động nền tảng của mọi doanh nghiệp với mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải kết hợp các yếu tố cơ bản sau: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Muốn có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn tiền tệ nhất định đảm bảo phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của mình Lượng vốn tiền tệ đó được gọi là vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (vốn của doanh nghiệp)
Vốn sản xuất kinh doanh có thể được hiểu như sau:
Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời
Vốn của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền Sự vận động của vốn sản xuất kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn Sự tuần hoàn của vốn sản xuất kinh doanh diễn
ra liên tục lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn
Sự chu chuyển của vốn sản xuất kinh doanh chịu chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng ngành
b Đặc trưng của vốn
Để quản lý vốn có hiệu quả, doanh nghiệp cần phải hiểu thấu đáo các đặc trưng của vốn
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Vốn có những đặc trưng cơ bản sau:
- Vốn phải được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực của những tài sản được sử dụng để sản xuất ra một lượng giá trị sản phẩm khác
- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn sẵn
có mà còn phải tìm cách huy động thêm vốn
- Vốn được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, tuy nhiên tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn Để tiền được gọi là vốn thì đồng tiền đó phải được vận động vì mục đích sinh lợi
- Vốn là hàng hoá đặc biệt, tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng, vì vậy các chủ thể tạm thời thừa vốn hoặc tạm thời thiếu vốn có thể thoả thuận
để thoả mãn nhu cầu của mình
- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn được biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình
- Vốn phải có giá trị về mặt thời gian Nền kinh tế thị trường ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: lạm phát, khủng hoảng mà sức mua của đồng tiền
ở những thời điểm khác nhau thì khác nhau
- Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định và được quản lý chặt chẽ Tuỳ từng loại hình doanh nghiệp mà người sở hữu vốn có đồng thời là người sử dụng vốn hay không Nhưng trong trường hợp nào thì vốn cũng phải gắn với chủ sở hữu bởi lẽ sử dụng vốn như thế nào sẽ liên quan đến lợi ích của mỗi doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Khi thành lập doanh nghiệp phải có một lượng vốn tối thiểu cần thiết đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh Trong quá trình sản xuất kinh
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
doanh, vốn là điều kiện để doanh nghiệp đầu tư thay thế tài sản cố định, đầu
tư cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp Như vậy, vốn có thể được xem là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự ra đời và tồn tại của doanh nghiệp [15]
Có thể khái quát vai trò của vốn trên các khía cạnh sau:
- Thứ nhất, vốn là yếu tố tiền đề của mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Có thể thấy vốn là một trong ba yếu tố tiền đề đối với sự ra đời và tồn tại của bất kỳ loại hình sản xuất kinh doanh nào Dù doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào với quy mô ra sao thì vốn vẫn là điều kiện không thể thiếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngay từ giai đoạn đầu của quá trình sản xuất doanh nghiệp đã cần một lượng vốn nhất định để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất cần thiết là sức lao động (cụ thể là thuê lao động), tư liệu sản xuất (cụ thể là máy móc thiết bị: nguyên, nhiên liệu, công nghệ ) Như vậy có thể thấy vốn không chỉ là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất mà nó còn là yếu tố có tính chất quyết định đối với hai yếu tố còn lại Không có vốn thì doanh nghiệp cũng không thể đảm bảo được hai yếu tố còn lại là lao động và công nghệ Đồng thời quy
mô của vốn càng lớn nó sẽ quyết định đến quy mô sản xuất của doanh nghiệp.[15]
- Thứ hai, quy mô của vốn là điều kiện quyết định đến quy mô kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Muốn được thành lập mọi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định theo quy định Vì thế quy mô của vốn đủ lớn là điều kiện không thể thiếu cho mỗi doanh nghiệp khi khởi nghiệp kinh doanh Trong quá trình kinh doanh, để tồn tại phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng quy mô kinh doanh Điều đó đòi hỏi quy
mô vốn kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phải được bổ sung, mở rộng
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
để đáp ứng yêu cầu phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường [15]
1.1.3 Phân loại vốn
Vốn của doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Với mỗi tiêu thức, vốn sẽ được nhìn nhận và xem xét dưới mỗi góc độ khác nhau, từ đó thấy được các hình thái vận động của vốn, đặc tính của vốn
để quản lý vốn có hiệu quả
- Căn cứ vào nguồn hình thành vốn
Căn cứ vào nguồn hình thành vốn thì toàn bộ vốn của doanh nghiệp được chia thành nợ vay và vốn của chủ sở hữu Đây là cách phân loại cơ bản
và phổ biến trong nền kinh tế thị trường Hai loại vốn này có mối quan hệ đặc biệt với nhau khi chúng ta xem xét cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp
Vốn của chủ sở hữu: Là loại vốn do các chủ sở hữu của doanh nghiệp
tài trợ và giữ lại phần lợi nhuận chưa phân phối Đối với các loại vốn này doanh nghiệp không phải hoàn trả những khoản tiền đã huy động được trừ khi doanh nghiệp đóng cửa Tuy nhiên các chủ sở hữu có thể giảm vốn bằng cách giảm vốn ngân sách nhà nước hay mua lại cổ phiếu Chi phí vốn chủ sở hữu
là chi phí cơ hội cho việc sử dụng vốn Trong trường hợp huy động vốn cổ phần, chi phí vốn là lợi tức yêu cầu của các cỏ đông Do tính dài hạn và gần như không hoàn trả, vốn chủ sở hữu có độ an toàn rất cao
Vốn vay: Những tài trợ cho doanh nghiệp loại vốn này không phải là
chủ sở hữu doanh nghiệp Đặc trưng của loại vốn này là doanh nghiệp phải tiến hành hoàn trả vốn vay trong một thời gian nhất định Chi phí vốn là lãi phải trả cho các khoản nợ vay Mức lãi xuất hay chi phí phải trả cho nợ vay thường ổn định và được thoả thuận trước khi vay Huy động nợ vay rủi ro hơn huy động vốn chủ sở hữu song đôi khi các doanh nghiệp lại thích sử dụng nợ vay do một đặc điểm hết sức quan trọng Chi phí nợ vay được tính vào chi phí hợp lí hợp lệ không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Trong khi, lợi tức dành cho chủ sở hữu được trả từ lợi nhuận sau thuế
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
không được tính vào chi phí hợp lí hợp lệ như nợ vay Đặc điểm này hết sức quan trọng ảnh hưởng tới việc hình thành cơ cấu vốn tối ưu với mục đích tối đa hoá giá trị vốn chủ sở hữu
Nhìn chung đây là hai cách phân loại rất cơ bản và phổ biến trong nền kinh tế thị trường Nó giúp cho người sử dụng có thể thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp khi xem xét về mặt kinh tế Về mặt pháp lí, người sử dụng có thể thấy được trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng kí kinh doanh với nhà nước, về số tài sản đã hình thành từ vốn vay ngân hàng Còn nhiều cách phân loại vốn khác như thành vốn cố định và vốn lưu động, phân chia theo khoản mục Mỗi cách phân loại sẽ phục vụ những mục đích nhất định
- Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động
+ Vốn cố định của doanh nghiệp
* Khái niệm vốn cố định:
Trong nền kinh tế thị trường, để có được các tài sản cố định cần thiết cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đầu tư ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định.Số vốn ứng ra này được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp
Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên tài sản cố định mà đặc điểm của nó là tham gia nhiều vào chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng luân chuyển khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
* Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định:
Qui mô của vốn cố định lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến tính qui mô, tính đồng bộ của tài sản cố định Song, những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản cố định trong quá trình sử dụng lại chi phối đến đặc điểm chu chuyển của vốn cố định Tài sản cố định có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh; giữ nguyên hình thái hiện vật ban đầu; giá trị của nó dịch
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
chuyển dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất Đặc điểm này của tài sản cố định đã quyết định đến đặc điểm luân chuyển của vốn cố định:
- Vốn cố định chu chuyển giá trị dần dần từng phần vào giá trị của sản phẩm và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của tài sản cố định
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển Do đặc điểm tài sản cố định có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vì vậy vốn cố định cũng tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất tương ứng Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần tăng lên, song phần giá trị còn lại giảm cho đến khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng Giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển
Những đặc điểm luân chuyển của vốn cố định đòi hỏi việc quản lý vốn
cố định phải kết hợp vừa quản lý theo giá trị vừa quản lý theo hình thái hiện vật của nó là các tài sản cố định.Vốn cố định là một bộ phận quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp vì vậy việc quản lý và sử dụng hợp lý là điều hết sức quan trọng
- Vốn lưu động của doanh nghiệp
* Khái niệm vốn lưu động:
Ngoài các tài sản cố định, doanh nghiệp cần phải có lượng tài sản lưu động để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục Do đó để hình thành nên các tài sản lưu động doanh nghiệp phải ứng ra một một sô vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó Số vốn
này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục Vốn lưu động chuyển dịch giá trị toàn bộ ngay trong một lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
* Đặc điểm của vốn lưu động:
Khác với tài sản cố định, tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, và giá trị của nó được dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Do vốn lưu động là hình thái biểu hiện giá trị của tài sản lưu động, nên đặc điểm của tài sản lưu động đã chi phối đến đặc điểm của vốn lưu động:
- Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
- Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn bằng tiền chuyển sang hình thái vốn sản xuất như vật tư, hàng hoá và kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm vốn lưu động lại trở về hình thái ban đầu là vốn tiền tệ Sự vận động của vốn lưu động từ hình thái ban đầu qua các hình thái khác nhau cho đến khi trở về hình thái ban đầu được gọi là sự tuần hoàn của vốn lưu động Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên và liên tục, nên sự tuần hoàn của vốn lưu động cũng lặp đi lặp lại có tính chu kỳ
- Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
* Phân loại vốn lưu động:
Dựa theo các tiêu thức khác nhau có thể chia vốn lưu động thành các loại khác nhau Thông thường có một số cách phân loại chủ yếu sau:
- Dựa theo hình thái biểu hiện có thể chia vốn lưu động thành:
+ Vốn bằng tiền và các khoản phải thu
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Vốn về hàng tồn kho
- Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh: + Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất
+ Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất
+ Vốn lưu động trong khâu lưu thông
Từ đặc điểm về phương thức vận động và dịch chuyển về giá trị của vốn lưu động mà đòi hỏi công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động cần phải giải quyết một số vấn đề sau:
+ Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết tối thiểu cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, tránh ứ đọng hoặc thiếu vốn
+ Trọng điểm của quản lý vốn lưu động là phải làm sao tăng cường tốc độ luân chuyển vốn lưu động qua các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh
+ Thực hiện phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức khác nhau nhằm đánh giá sự hợp lý của cơ cấu vốn lưu động, từ đó có biện pháp đảm bảo sự phù hợp của cơ cấu vốn lưu động
Nhìn chung, từ đặc điểm của vốn cố định và vốn lưu động đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được trọng tâm quản lý của mình Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định thì cần phải quản lý trên cả hai mặt hình thái biểu hiện và giá trị.Với vốn lưu động thì doanh nghiệp phải quản lý trên tất cả hình thái biểu hiện của nó.Quản lý tốt hai bộ phận vốn này sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng của vốn sản xuất kinh doanh, đảm bảo đem lại hiệu quả tối đa trong quá trình sản xuất kinh doanh
1.3 Cơ sở lý luận về quản lý vốn trong doanh nghiệp
1.3.1 Sự cần thiết phải quản lý vốn của doanh nghiệp
Công tác quản lý vốn ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việc tổ chức đảm bảo kịp thời, đầy đủ và hoàn thiện công tác
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
quản lý vốn trong điều kiện kinh tế hiện nay đang trở lên rất bức thiết đối với các doanh nghiệp Sự cần thiết này xuất phát từ những lý do sau:
* Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp:
Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục đích là tối đa hoá lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp liên quan đến tất cả các mặt trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là nguồn tích luỹ cơ bản để tái sản xuất mở rộng Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay, lợi nhuận chính là điều kiện quyết định đến sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp
Để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trong điều kiện cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư đổi mới máy móc trang thiết bị, đa dạng hóa sản xuất, hạ giá thành… Do vậy tính rủi ro của đồng vốn trong quá trình vận động là rất cao Từ đó, trong quá trình quản lý, doanh nghiệp phải tính toán sao cho việc quản lý đồng vốn là hiệu quả và hợp lý nhất [12]
* Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh:
Trong nền kinh tế thị trường, sẽ không có bất cứ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào nếu không có vốn Vốn là tiền đề là xuất phát điểm của mọi hoạt động kinh doanh, là nền tảng vật chất để biến mọi ý tưởng kinh doanh thành hiện thực Mặt khác, vốn là điều kiện để các doanh nghiệp có thể đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, hạ giá thành từ đó tăng lợi nhuận Thực tế chứng minh không ít những doanh nghiệp có khả năng về nhân lực, có cơ hội đầu tư nhưng thiếu khả năng về tài chính đành bỏ lỡ cơ hội kinh doanh Với vai trò đó, việc quản lý vốn đã trở thành yếu tố cấp thiết đối với mọi doanh nghiệp
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc hoàn thiện công tác quản lý vốn trong điều kiện hiện nay là vấn đề hết sức cấp bách đối với các doanh nghiệp Nó quyết định đến sự sống còn cũng như sự phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường [12]
1.3.2 Quy trình quản lý vốn trong DN
Công tác quản lý vốn tại doanh nghiệp bao gồm các bước chủ yếu sau:
- Lựa chọn và quyết định đầu tư
Triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào các quyết định đầu tư dài hạn với quy mô lớn Do vậy, đứng trước một quyết định đầu tư đòi hỏi DN phải cân nhắc trên nhiều mặt, đặc biệt về khía cạnh vốn, phải xem xét dòng tiền ra, dòng tiền vào của dự án để đánh giá cơ hội đầu tư Đó là quá trình hoạch định, dự toán vốn đầu tư và đánh giá hiệu quả tài chính của việc đầu tư [16]
- Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp
Các nhà quản lý phải xác định nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của DN trong kỳ, bao gồm cả vốn dài hạn và vốn ngắn hạn Tiếp theo phải tổ chức huy động vốn kịp thời, đủ, với hình thức và phương pháp huy động thích hợp với tình hình của DN
- Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Quá trình quản lý vốn phải khai thác có hiệu quả vốn cố định hiện có; tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn lưu động hiện có của doanh nghiệp vào hoạt động SXKD, giải phóng kịp thời số vốn ứ đọng; theo dõi chặt chẽ và
xử lý tốt việc thanh toán các khoản phải trả và thu hồi các khoản phải thu, quản lý chi phí một cách tiết kiệm, hiệu quả, đồng thời thiết lập sự cân đối thu
- chi bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản
nợ đến hạn [16]
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
Thực hiện phân phối hợp lý LNST cũng như trích lập và sử dụng tốt các quỹ của DN sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển của DN Bên cạnh
đó, việc này còn giúp cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên trong DN,
từ đó đảm bảo điều kiện làm việc tốt nhất cho họ, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả làm việc
- Kiếm soát thường xuyên tình hình hoạt động của DN
Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày, các BCTC, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính, cho phép kiểm soát tình hình hoạt động của
DN Bên cạnh đó cần tiến hành phân tích tình hình tài chính để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý tối ưu [16]
1.3.3 Nội dung công tác quản lý vốn
1.3.3.1 Quản lý vốn cố định
Quản lý vốn cố định là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định gắn liền với hình thái vật chất của nó Vì vậy để quản lý có hiệu quả vốn cố định có một số hình thức quản lý sau:
- Hao mòn và khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định có thể bị hao mòn dưới hai hình thức: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
Tài sản cố định bị giảm giá trị do năng suất lao động xã hội tăng lên, người ta sản xuất ra các loại tài sản cố định mới sản xuất ra những sản phẩm
có chất lượng như cũ nhưng có giá thành hạ hơn
Tài sản cố định bị giảm giá trị do sản xuất được loại tài sản cố định khác hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật
Tài sản cố định bị giảm giá trị do sản phẩm của nó làm ra bị lỗi thời
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Khấu hao tài sản cố định:
Tài sản cố định được sử dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất, giá trị của
nó hao mòn dần và được dịch chuyển từng phần và giá trị của sản phẩm làm
ra Phần giá trị này được thu hồi lại dưới hình thức khấu hao, được hạch toán vào giá thành sản phẩm để hình thành quỹ khấu hao đáp ứng nhu cầu sửa chữa lớn, khắc phục, cải tạo, đổi mới, hoặc mở rộng tài sản cố định
Khấu hao là sự bù đắp về mặt kinh tế hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Khấu hao có ý nghĩa quan trọng đối với bảo toàn và phát triển vốn, kết của của hoạt động sản xuất kinh doanh Thực hiện khấu hao đúng và đủ giá trị thực tế tài sản cố định không những phản ánh đúng thực chất của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn đảm bảo quỹ khấu hao, duy trì được số vốn bỏ ra
+ Lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định
Khấu hao tài sản cố định là một bộ phận quan trọng của kế hoạch tài chính Kế hoạch khấu hao tài sản cố định phản ánh các chỉ tiêu giá trị về tài sản
cố định như: Tổng giá trị tài sản cố định có đầu kỳ, tình hình tăng giảm tài sản
cố định trong năm kế hoạch, xác định tổng giá trị bình quân tài sản cố định cần tính khấu hao, mức khấu hao trong năm và tình hình phân phối quỹ khấu hao
Trong khi lập quỹ khấu hao cần xác định rõ:
Đối với tài sản cố định đã trích khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng được Doanh nghiệp vẫn tiếp tục tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn theo tỷ lệ nguyên giá và hạch toán vào giá thành nhưng không hạch toán giảm vốn cố định
Tài sản chưa khấu hao mà đã hư hỏng, Doanh nghiệp cần nộp vào Ngân sách số tiền chưa khấu hao hết và phân bổ vào khoản lỗ cho đến khi nộp
đủ Kế hoạch khấu hao tài sản cố định bao gồm:
Tài sản cố định không phải tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn như đất đai
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Tài sản cố định tăng thêm trong năm kế hoạch, nếu tăng vào một ngày nào đó của tháng thì tháng sau mới tính khấu hao
Tài sản cố định giảm trong năm kế hoạch, nếu giảm bớt từ ngày nào đó trong tháng thì tháng sau không phải tính khấu hao
x
Số tháng sẽ sử dụng (không sử dụng) TSCĐ
12 Tổng giá trị bình quân tài sản cố định phải tính khấu hao trong năm kế hoạch được xác định theo công thức:
có đầu
kỳ
+
Tổng giá trị b/quân TSCĐ tăng trong kỳ
-
Tổng giá trị b/quân TSCĐ giảm trong kỳ Trên cơ sở cách tính các chỉ tiêu, hàng năm vào đầu kỳ, Doanh nghiệp lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định, biến động giá Làm cơ sở cho việc xác định mức khấu hao đúng Kế hoạch khấu hao tài sản cố định được xem là một biện pháp quan trọng để quản lý sử dụng vốn cố định - trên phương diện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
+ Bảo toàn và phát triển vốn cố định
Để đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được duy trì và phát triển, một trong nhiều yếu tố trong đó là phải bảo tồn và phát triển được vốn cố định Hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường không tách khỏi những biến động về giá cả, lạm phát Xu thế này thường có chiều hướng gia tăng làm cho sức mua của đồng tiền và giá trị của tiền vốn giảm xuống so với thực tế Mặt khác do sự lỏng lẻo quản lý
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
dẫn đến hiện tượng hư hỏng, mất mát tài sản cố định trước thời hạn Cả hai nguyên nhân này đều làm cho giá trị của đồng vốn giảm tương đối so với thực tế và giảm tuyệt đối so với thời gian sử dụng vốn Do đó, các doanh nghiệp có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn cố định cả về mặt hiện vật và giá trị Cụ thể, trong quá trình sử dụng tài sản cố định vào sản xuất kinh doanh, Doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm hư hỏng, mất mát tài sản cố định, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa nhằm làm cho tài sản cố định không hư hỏng trước thời gian, duy trì nâng cao năng lực hoạt động của tài sản cố định Doanh nghiệp có quyền chủ động thực hiện đổi mới, thay thế tài sản cố định theo yêu cầu đổi mới công nghệ, phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định [14]
- Nội dung của chế độ bảo toàn và phát triển vốn cố định bao gồm:
Các Doanh nghiệp xác định đúng nguyên giá tài sản cố định trên cơ sở tính đúng, tính đủ khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn để tạo nguồn thay thế và duy trì năng lực sản xuất của tài sản cố định bảo toàn vốn cố định
Hàng năm, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ công bố hệ số điều chỉnh giá trị tài sản cố định vào thời điểm 1/1 và 1/7 phù hợp với đặc điểm cơ cấu hình thành tài sản cố định của từng ngành kinh tế - kỹ thuật làm căn cứ thống nhất để các Doanh nghiệp điều chỉnh giá trị tài sản cố định, vốn cố định
Ngoài việc bảo toàn vốn cố định trên cơ sở hệ số trượt giá phải bảo toàn về vốn cố định, còn cả vốn ngân sách cấp thêm hoặc doanh nghiệp tự bổ sung trong kỳ (nếu có)
Số vốn cố định phải bảo toàn đến cuối kỳ của Doanh nghiệp được xác định theo công thức:
-
Khấu hao
cơ bản tính
x
Hệ số điều chỉnh giá trị TSCĐ
-
Tăng (giảm) vốn
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Ngoài trách nhiệm bảo toàn vốn, các Doanh nghiệp còn có trách nhiệm phát triển vốn cố định trên cơ sở quỹ khuyến khích phát triển sản xuất trích từ lợi nhuận để lại của xí nghiệp và phần vốn khấu hao cơ bản để lại đầu tư tái sản xuất mở rộng tài sản cố định [12]
1.3.3.2 Quản lý vốn lưu động
Quản lý vốn lưu động là một bộ phận trọng yếu của công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp Quản lý vốn lưu động hợp lý không những đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm từ đó dẫn đến việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm [17] Tiết kiệm chi phí về bảo quản đồng thời thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và thanh toán công nợ một cách kịp thời Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, nó không chỉ phát huy được tính chủ động trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp chớp được thời cơ, tạo lợi thế trong kinh doanh
Vì vậy, quản lý vốn lưu động là vấn đề được quan tâm đặc biệt, với đặc điểm của vốn lưu động là chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm vốn lưu động vận động có tính chất chu kỳ
Để quản lý và bảo toàn vốn lưu động thực hiện sau:
- Xác định số vốn lưu động cần thiết tối thiểu trong kỳ kinh doanh, đảm bảo đủ vốn lưu động để quá trình kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục tránh tình trạng gián đoạn quá trình kinh doanh và tránh tình trạng lãng phí vốn
- Khai thác tốt các nguồn vốn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
- Có giải pháp bảo toàn và phát triển vốn lưu động có nghĩa là bảo toàn được giá trị thực tế của đồng vốn, bảo toàn sức mua của đồng vốn không bị giảm sút so với ban đầu khi ứng vốn ra đầu tư vào tài sản lưu động Đảm bảo khả năng mua sắm và khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Để thực hiện những điều trên ngoài việc sử dụng các biện pháp như: đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, giải phóng hàng tồn kho, thu hồi các khoản nợ khó đòi doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động thông qua các chỉ tiêu: vòng quay vốn lưu động, hiệu suất
sử dụng vốn lưu động, hệ số nợ Nhờ những chỉ tiêu này có thể điều chỉnh các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhằm tăng mức sinh lời [1]
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý vốn của doanh nghiệp
Công tác quản lý vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố chủ quan và khách quan Trong quá trình quản lý vốn các doanh nghiệp cần tính đến tác động của các nhân tố này để đưa ra biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả nhất
1.3.4.1 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn của doanh nghiệp
- Cơ chế quản lý và chính sách vĩ mô của nhà nước:
Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước cho phép các doanh nghiệp
có quyền tự do kinh doanh và quyền bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên Nhà nước giữ vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế và tạo hành lang pháp lý
để các doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Nếu chính sách kinh tế nhà nước ổn định, linh hoạt, tạo ra được môi trường cạnh tranh lành mạnh giúp cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thông suốt, có hiệu quả và ngược lại Do vậy để hoàn thiện công tác quản
lý vốn, các doanh nghiệp cần phải xem xét đến các chính sách kinh tế của
nhà nước [9]
- Mức độ lạm phát của nền kinh tế:
Nền kinh tế có lạm phát sẽ làm cho sức mua của đồng nội tệ bị giảm sút, dẫn đến sự tăng giá của các loại vật tư hàng hoá Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên vật liệu, khi lạm phát xuất hiện sẽ làm
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
tỷ giá hối đoái biến động tăng, điều này dẫn đến chi phí đầu vào tính bằng nội
tệ sẽ tăng Từ đó làm tăng giá thành sản phẩm đầu ra, làm giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Do đó để hoàn thiện công tác quản lý vốn, các doanh nghiệp cần phải tính đến tốc độ trượt giá của đồng tiền
để có những biện pháp phù hợp với từng hoàn cảnh của nền kinh tế
- Môi trường tự nhiên:
Là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như nguồn tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, thời tiết, môi trường sinh thái văn hóa Các điều kiện làm việc trong môi trường tự nhiên thích hợp sẽ làm tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả công việc Tính chất thời vụ, thiên tai có thể làm giảm năng suất thu hoạch của các doanh nghiệp nông nghiệp Kể cả doanh nghiệp sản xuất công nghiệp cũng có thể bị ảnh hưởng không nhỏ
Những rủi ro bất thường có thể phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp không thể lường trước được như thiên tai, hoả hoạn, bão lụt hoặc những biến động bất thường của thị trường… có thể làm cho công tác quản lý vốn không được như ý muốn của doanh nghiệp
- Khả năng cạnh tranh trên thị trường:
Cơ chế thị trường là cơ chế có sự cạnh tranh gay gắt Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nỗ lực tìm mọi cách để phát triển sản xuất kinh doanh Tuy nhiên nó cũng có mặt trái là nếu cạnh tranh gay gắt sẽ có ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của doanh nghiệp do mức lợi nhuận bị giảm Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh cũng phải không những đầu tư nhằm tìm mọi cách để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, hạ giá thành để có thể đứng vững trên thị trường Doanh nghiệp sản xuất phải dựa trên những nghiên cứu đầy đủ về nhu cầu thị trường để có thể đưa ra được những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu tối đa cho người tiêu dùng
+ Quan hệ cung cầu trên thị trường
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Yếu tố cung cầu trên thị trường có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tới hiệu quả sử dụng vốn Cung, cầu trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng sản phẩm mà doanh nghiệp có thể tiêu thụ Theo quy luật cung, cầu nếu trên thị trường nhu cầu của khách hàng giảm xuống, sản phẩm của doanh nghiệp tiêu thụ cũng giảm theo từ đó làm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, hiệu quả sử dụng vốn giảm Đồng thời yếu tố cung cầu trên thị trường cũng ảnh hưởng tới giá cả của hàng hóa Khi nhu cầu của một loại hàng hóa nào đó trên thị trường tăng nhanh hơn
sự gia tăng khối lượng sản phẩm có thể cung ứng sẽ làm giá cả tăng lên Khi giá cả đầu ra tăng có thể làm lợi cho doanh nghiệp nhưng cũng do sự biến động về giá có thể cũng làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc kinh doanh với nguyên nhân là có thể giá đầu vào cũng tăng hoặc do giá tăng nên tác động ngược lại làm cho cầu giảm xuống ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Như vậy, việc dự đoán được một cách tương đối chính xác cung, cầu của thị trường trong tương lai là một điều vô cùng cần thiết đối với các doanh nghiệp
- Sự biến động thị trường đầu ra và đầu vào của doanh nghiệp:
Đây là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý vốn của doanh nghiệp Trong điều kiện đầu ra không đổi, nếu giá cả của các yếu tố đầu vào biến động tăng sẽ làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận từ đó sẽ làm giảm hiệu quả quản lý vốn kinh doanh Mặt khác nếu đầu ra không thuận lợi, không
có thị trường tiêu thụ doanh thu thấp không đủ bù đắp chi phí thì hiệu quả quản lý vốn của doanh nghiệp sẽ là một số âm Vì vậy doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ thị trường từ đó có kế hoạch cụ thể về huy động và sử dụng vốn sao cho hợp lý nhất
- Lãi suất thị trường:
Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến chi phí huy động bằng vốn vay của doanh nghiệp Trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, khi lãi suất thị
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trường tăng lên, tiền lãi doanh nghiệp phải thanh toán sẽ tăng lên, lợi nhuận giảm làm tỷ suất lợi nhuận trên vốn giảm xuống, hiệu quả quản lý vốn cũng giảm
- Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật:
Ngày nay với sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ứng dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên nếu doanh nghiệp nào không bắt kịp được tốc độ phát triển của khoa học công nghệ thì các tài sản cố định của doanh nghiệp đó sẽ bị hao mòn rất lớn, ảnh hưởng đến vốn của doanh nghiệp
- Đặc thù của ngành kinh doanh:
Đây là nhân tố có ý nghĩa quan trọng cần được xem xét khi quản lý và sử dụng vốn Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả quản lý vốn của doanh nghiệp Mỗi ngành có những đặc điểm khác nhau về mặt kinh tế kỹ thuật như: tính chất ngành nghề, tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh Ảnh hưởng của tính chất ngành nghề đến hiệu quả quản lý vốn thể hiện ở quy mô, cơ cấu vốn kinh doanh Quy
mô, cơ cấu vốn khác nhau sẽ ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn, tới phương pháp đầu tư, phương thức thanh toán, chi trả của doanh nghiệp
Ngoài ra trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực như hiện nay thì nền kinh tế trong nước nói chung của các doanh nghiệp nói riêng cũng chịu ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới và của khu vực Nếu trong tình trạng kinh tế thế giới suy thoái sẽ tác động xấu đến quá trình quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh ảnh hưởng tới nhu cầu vốn và doanh thu tiêu thụ sản phẩm, vòng quay của vốn… Nếu chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái tạo, mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu chu kỳ sản xuất dài, doanh nghiệp sẽ chịu gánh nặng ứ động vốn và lãi phải trả cho các khoản vay
Vì vậy, khi xem xét đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng vốn doanh nghiệp cần có sự so sánh với chỉ tiêu trung bình của ngành
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.3.4.2 Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn của doanh nghiệp
Ngoài những nhân tố khách quan nói ở trên, công tác quản lý vốn của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi nhân tố chủ quan sau đây:
- Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động:
Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thiện công tác quản lý vốn
Trình độ quản lý và tổ chức của người lãnh đạo doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý Một nhà lãnh đạo không có trình độ quản lý sẽ không có phương án sản xuất hiệu quả, không bố trí hợp lý các khâu các giai đoạn sản xuất, gây lãng phí về nhân lực, vốn và vật tư Điều này sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng Trình độ quản lý của nhà lãnh đạo giỏi thể hiện ở sự kết hợp một cách tối ưu và hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, giảm thiểu những chi phí không càn thiết đồng thời nắm bắt những cơ hội kinh doanh, đem lại sự tăng trưởng và phát triển bền vững cho doanh nghiệp
Trình độ người lao động có tác động rất lớn đến mức độ sử dụng hiệu quả tài sản, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, mức độ phế phẩm… từ đó tác động rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm và lợi nhuận của doanh nghiệp
- Ngành nghề, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Nhân tố này tạo điểm xuất phát cho doanh nghiệp cũng như định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại Ảnh hưởng của tính chất ngành nghề đến hiệu quả quản lý vốn của doanh nghiệp thể hiện
ở quy mô, cơ cấu vốn kinh doanh Quy mô, cơ cấu vốn khác nhau sẽ ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn, tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán, chi trả do đó ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Với ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn cùng với chiến lược
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
kinh doanh đã vạch ra bao giờ chủ doanh nghiệp cũng cần phải giải quyết những vấn đề về tài chính như:
- Xác định nhu cầu vốn đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Cơ cấu vốn là phương thức huy động vốn hợp lý, doanh nghiệp cần xem xét chi phí sử dụng vốn để giữ không làm thay đổi số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu doanh nghiệp
- Cơ cấu tài sản được đầu tư như thế nào cho hợp lý, mức độ hiện đại so với đối thủ cạnh tranh đến đâu
Ngoài ra qua ngành nghề kinh doanh doanh nghiệp còn có thể tự xác định được mức độ lợi nhuận sẽ đạt được, khả năng chiếm lĩnh phát triển thị trường trong tương lai, sự đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh để
có kế hoạch bố trí nguồn lực cho phù hợp
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm tổng thể các mục tiêu nhiệm vụ, sách lược trên các mặt thị trường, sản phẩm, phương châm kinh doanh
Chiến lược kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp xác định được chiến lược kinh doanh sẽ đảm bảo việc kinh doanh có hiệu quả, gia tăng lợi nhuận và đứng vững trên thị trường
- Sự hợp lý của cơ cấu tài sản và nguồn vốn trong doanh nghiệp:
Nếu cơ cấu vốn chưa hợp lý như việc đầu tư vào các tài sản không
sử dụng, chưa sử dụng quá lớn hoặc doanh nghiệp vay nợ quá nhiều, sử dụng không triệt để nguồn vốn bên trong, cơ cấu vốn chưa phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì hiệu quả sử dụng vốn
sẽ rất kém [10]
- Vấn đề xác định nhu cầu vốn kinh doanh:
Việc xác định nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh không chính xác sẽ dẫn đến thừa hoặc thiếu vốn làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả quản lý vốn
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Chu kỳ sản xuất kinh doanh:
Nếu chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà ngắn, vòng quay vốn nhanh thì doanh nghiệp sẽ nhanh chóng thu hồi vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh tiếp theo Ngược lại, khi chu kỳ kinh doanh kéo dài thì vốn của doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng, thời gian thu hồi vốn chậm
- Việc tính và trích khấu hao:
Công tác tổ chức tính và trích khấu hao không hiệu quả, đúng mục đích
và sát với thực tế sẽ dẫn tới tình trạng tài sản hư hỏng trước khi thu hồi đủ vốn, ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
- Chế độ lương và cơ chế khuyến khích người lao động:
Đây là nhân tố ảnh hưởng rất quan trọng đến thái độ và ý thức làm việc của người lao động Một mức lương thưởng xứng đáng với mức độ cống hiến cùng với chế độ khuyến khích hợp lý gắn với hiệu quả công việc sẽ tạo ra động lực cho việc nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý vốn của doanh nghiệp
Trên là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần xem xét từng yếu tố để từ đó đưa ra những biện pháp quản lý thích hợp nhằm hoan thiện công tác quản lý vốn kinh doanh của mình
Nói tóm lại vốn không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp Công tác quản lý vốn kinh doanh là một phạm trù kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc tổ chức đảm bảo kịp thời, đầy đủ và nâng cao hiệu quả quản lý vốn kinh doanh trong điều kiện kinh tế hiện nay đang trở lên rất bức thiết đối với các doanh nghiệp Phân tích và tìm hiểu những nhân tố làm ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn của doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp tìm cho mình hướng phát triển đúng và đưa ra những phương hướng của doanh nghiệp trong thời gian tiếp theo [12]
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4 Cơ sở thực tiễn về quản lý vốn của DN
1.4.1 Một số kinh nghiệm quản lý vốn hiệu quả của một số doanh nghiệp
1.4.1.1 Kinh nghiệm quản lý vốn của Công ty TNHH Âu Lạc Quảng Ninh
Công ty TNHH Âu Lạc Quảng Ninh là một công ty cùng hoạt động trong lĩnh vực du lịch dịch vụ, san lấp mặt bằng, bất động sản, khách sạn, nhà hàng, và kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí, thành lập năm 1997 Trong những năm qua, công ty không ngừng phát triển và đã trở thành một trong nhưng công ty uy tín của tỉnh Quảng Ninh Để đạt được những kết quả trên Công ty đã thực hiện quản lý vốn kinh doanh rất tốt luôn luôn tạo lập và huy động vốn kinh doanh, khai thác triệt để mọi nguồn vốn trong công ty và bổ sung vốn bằng các hình thức huy động vốn từ bên ngoài như : nguồn tín dụng ngân hàng, chiếm dụng từ khách hàng và vốn nhàn rỗi của các bộ công nhân viên… đảm bảo cung ứng đúng và đủ nhu cầu vốn cho sản xuất và kinh doanh kinh doanh của công ty Công ty luôn chú trọng đến các biện pháp nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu của công ty,
Đối với quản lý TSCĐ Công ty luôn cố gắng trong việc đảm bảo cơ cấu tài sản của công ty, đảm bảo hợp lý tỷ trọng các nguồn vốn tính toán chi phí tài sản cố định hợp lý nhằm mang lại hiệu quả sử dụng cao, với phương châm: chi phí ít nhất nhưng lại mang đến lợi ích cao nhất
Mặt khác tăng cường khâu kiểm soát chi tiêu tiền mặt, hạn chế tiền mặt
tồn đọng nhiều tại quĩ Trong điều kiện kinh tế còn chứa đựng nhiều bất ổn, tiết kiệm chi tiêu vẫn cần thiết
Đến nay Công ty TNHH Âu Lạc Quảng Ninh đã trở thành tổng Công
ty Âu Lạc với 7 công ty thành viên với 10.000 lao động Công ty ngày một trở nên năng động hơn theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực và từng bước phát triển bền vững Công ty Âu Lạc còn đang liên doanh với rất nhiều đối tác nước ngoài như Canada, Mỹ , Trung Quốc về xây dựng kinh doanh khách sạn, sân Golf, sản xuất phân bón, Khu đô thị mới Tuần Châu- Hà Tây với tổng mức đầu tư rất lớn
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4.1.2 Kinh nghiệm quản lý vốn của Công ty cổ phần du thuyền Đông Dương
Công ty cổ phần du thuyền Đông Dương là một công ty kinh doanh du lịch có uy tín trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Thành lập từ những năm 2000 với số vốn 15 tỷ đồng, gần 50 công nhân, những ngày đầu rất khó khăn do thiếu vốn và kinh nghiệm trong hoạt động du lịch, dịch vụ, khách sạn nhưng bằng phương pháp quản lý vốn hiệu quả, sự đoàn kết của cán bộ nhân viên công ty đã vươn lên trở thành một trong số những doanh nghiệp lớn của Tỉnh với 500 cán bộ công nhân viên, số vốn điều lệ 140 tỷ đồng, hệ thống nhà hàng khách sạn, du thuyền hiện đại và năm 2013 đã được vinh danh của tỉnh Quảng Ninh Công ty CP Du thuyền Đông Dương không ngừng đổi mới các sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ và cải thiện đời sống cho CBNV Công ty luôn luôn đổi mới công nghệ, đổi mới tài sản cố định và Tài sản cố định có hiệu suất sử dụng cao Tỷ trọng đầu tư vào máy móc thiết bị năm sau cao hơn năm trước Hệ số hao mòn tài sản cố định thấp, bên cạnh đó là chú ý bảo dưỡng sửa chữa nên để đáp ứng được nhu cầu sản xuất của công ty trong điều kiện khó khăn về vốn Công ty luôn đảm bảo đủ vốn cho sản xuất kinh doanh Xác định cơ cấu nguồn vốn hợp lý, hạn chế nguồn vốn vay ngắn hạn giảm tiền mặt tại quỹ hạn chế sự mất giá của đồng tiền Khai thác nguồn vốn chủ sở hữu để gắn trách nhiệm với quyền lợi của các chủ đầu tư Công ty quản lý quá trình sử dụng vốn đảm bảo phát huy tác dụng tối đa của từng
đồng vốn, hạn chế lãng phí Tăng nhanh vòng quay vốn lưu động, nhanh
chóng thu hồi vốn đang bị chiếm dụng tại các khoản nợ ở đối tác Hệ số khả năng thanh toán nhanh và hệ số khả năng thanh toán tức thời của công ty cao
Công ty giữ được tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, danh tiếng của Công
ty tăng lên đáng kể với các mạng lưới thương mại và dịch vụ được mở rộng
và phát triển trong và ngoài nước
1.4.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Công ty Cổ phần phát triển Tùng Lâm
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Từ việc nghiên cứu thành công trong công tác quản lý vốn của Công ty
CP du thuyền Đông dương và Công ty TNHH Âu Lạc, thì công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm có thể rút ra các bài học kinh nghiệm như sau:
Một là, liên tục đổi mới, nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng tối
đa nhu cầu của khách hang khi sử dụng các dịch vụ của công ty
Hai là, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào kinh
doanh, chú ý bảo dưỡng sửa chữa hệ thống máy móc, và nâng cao hiệu suất
sử dụng của tài sản cố định
Ba là, đối với công tác quản lý TSCĐ, cần đảm bảo cơ cấu tài sản, đảm
bảo hợp lý tỷ trọng các nguồn vốn và tính toán chi phí tài sản cố định hợp lý, tùy từng trường hợp để quyết định mua sắm đổi mới thiết bị hay thực hiện phương thức thuê tài sản nhằm mang lại hiệu quả sử dụng cao, với phương châm: chi phí ít nhất nhưng lại mang đến lợi ích cao nhất
Bốn là, tăng cường khâu kiểm soát chi tiêu tiền mặt, hạn chế tiền mặt
tồn đọng nhiều Trong điều kiện kinh tế còn chứa đựng nhiều bất ổn, tiết kiệm chi tiêu vẫn cần thiết Đổi mới và tăng cường thêm các loại hình kinh doanh dịch vụ mới
Năm là, hạn chế nguồn vốn vay ngắn hạn giảm tiền mặt tại quỹ hạn chế
sự mất giá của đồng tiền Khai thác nguồn vốn chủ sở hữu để gắn trách nhiệm
với quyền lợi của các chủ đầu tư Tăng nhanh vòng quay vốn lưu động, nhanh
chóng thu hồi vốn đang bị chiếm dụng
Sáu là, tăng cường công tác Marketing, quảng bá sản phẩm dịch vụ, hạ
giá thành dịch vụ nhằm thu hút tối đa khách hang và công năng, hiệu suất của trang thiết bị máy móc
Mỗi doanh nghiệp đều có tính đặc thù, do đó quản lý vốn cũng vừa mang tính chung vừa có những nét riêng Vận dụng bài học kinh nghiệm phải phù hợp với điều kiện của từng doanh nghiệp thì mới mang lại hiệu quả cao
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về vốn, công tác quản lý vốn trong doanh nghiệp?
- Thực trạng công tác quản lý vốn tại Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm giai đoạn 2012 - 2014 đã diễn ra như thế nào? Công tác này đã đạt được những kết quả, hạn chế gì?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng tới công tác quản lý vốn của công ty?
- Để hoàn thiện công tác quản lý vốn tại Công ty cổ phần phát triển Tùng Lâm trong thời gian tới cần có những giải pháp cụ thể gì?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đối với nguồn số liệu bên ngoài công ty, tác giả sử dụng báo cáo tổng kết của các Sở, Ban ngành tỉnh Quảng Ninh có liên quan đến nội dung đề tài Các bài viết đăng trên báo, tạp chí khoa học chuyên ngành Các tài liệu giáo trình, các báo cáo luận án tiến sĩ có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
2.2.1.2 Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp dùng ý kiến đánh giá của đội ngũ chuyên gia có trình
độ cao và quan chức địa phương chuyên ngành, hoặc có liên quan để xem xét, nhận định bản chất một vấn đề về khoa học, thực tiễn; từ đó phân tích, đánh giá, đề xuất giải pháp cho phù hợp Các ý kiến bổ sung, kiểm tra lẫn nhau Khi có ý kiến đa số thống nhất về nhận định, đánh giá một vấn đề đó, ta có