ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM *********** CAO DIỆP THANH NHỮNG BIỆN PHÁP RÚT NGẮN KHOẢNG CÁCH TIẾP NHẬN CHO HỌC SINH MIỀN NÚI KHI DẠY TÁC PHẨM "VỘI VÀNG" CỦA TÁC GIẢ XUÂN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
***********
CAO DIỆP THANH
NHỮNG BIỆN PHÁP RÚT NGẮN KHOẢNG CÁCH TIẾP NHẬN CHO HỌC SINH MIỀN NÚI KHI DẠY TÁC PHẨM "VỘI VÀNG" CỦA TÁC GIẢ XUÂN DIỆU Ở NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn – Tiếng Việt
Trang 2Thái Nguyên, 2015
Trang 3ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
***********
CAO DIỆP THANH
NHỮNG BIỆN PHÁP RÚT NGẮN KHOẢNG CÁCH TIẾP NHẬN CHO HỌC SINH MIỀN NÚI KHI DẠY TÁC PHẨM "VỘI VÀNG" CỦA TÁC GIẢ XUÂN DIỆU Ở NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn – Tiếng Việt
Mã số : 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thế Phiệt
Thái Nguyên, 2015
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân,
được thể hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thế Phiệt
Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Cao Diệp Thanh
XÁC NHẬN CỦA TRƯỞNG KHOA CHUYÊN MÔN
XÁC NHẬN
CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thế Phiệt, người
đã tận tâm, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng quản lý sau đại học, các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn – Trường ĐHSP Thái Nguyên, cùng toàn thể thầy
cô trong hội đồng bảo vệ luận văn đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ tốt luận văn của mình
Cuối cùng xin cảm ơn Ban Giám hiệu và các thầy cô giáo của các trường trên địa bàn Huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Thành phố Tuyên Quang – Tỉnh Tuyên Quang đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và làm thực nghiệm
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 05 năm 2015
TÁC GIẢ
Cao Diệp Thanh
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 9
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Giả thuyết khoa học 10
8 Cấu trúc luận văn 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: 11
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÚT NGẮN 11
KHOẢNG CÁCH TIẾP NHẬN TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG CHO HỌC SINH THPT MIỀN NÚI 11
1 Cơ sở lí luận 11
1.1 Lý thuyết tiếp nhận văn học 11
1.1.1 Khái niệm 11
1.1.2 Đặc điểm của tiếp nhận văn học 12
1.2 Khoảng cách trong tiếp nhận 13
1.2.1 Khoảng cách thẩm mỹ trong tiếp nhận 13
1.3 Thơ Xuân Diệu và khoảng cách tiếp nhận trong bài thơ "Vội vàng" 17
1.3.1 Thơ Xuân Diệu 17
Trang 81.3.2 Khoảng cách tiếp nhận trong bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân
Diệu 19
2 Cơ sở thực tiễn 27
2.1 Thực trạng dạy văn, học văn ở nhà trường trung học phổ thông 27
2.2 Khảo sát thực trạng 28
2.2.1 Mục đích khảo sát 28
2.2.2 Đối tượng điều tra 28
2.2.3 Thời gian khảo sát 28
2.2.4 Nội dung và hình thức khảo sát 28
2.2.5 Kết quả khảo sát 30
2.3 Đánh giá về khoảng cách tiếp nhận của học sinh THPT miền núi tại Tuyên Quang khi học bài thơ "Vội vàng" 34
2.3.1 Giữa học sinh và tác phẩm "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu có khoảng cách và tính không trọn vẹn trong tiếp nhận 34
2.3.2 Khoảng cách về lịch sử và văn hóa 34
CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỆN PHÁP RÚT NGẮN KHOẢNG CÁCH TIẾP NHẬN CHO HỌC SINH MIỀN NÚI KHI DẠY TÁC PHẨM „VỘI VÀNG‟ CỦA TÁC GIẢ XUÂN DIỆU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 36
2.1 Biện pháp 1: Thăm dò khả năng tiếp nhận, hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà 36
2.2 Biện pháp 2: Tạo tâm thế văn học ở học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương 39
2.3 Biện pháp 3: Nuôi dưỡng và phát triển hứng thú của học sinh miền núi đối với bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu 44
2.3.1 Hứng thú của học sinh miền núi với bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu 45
2.3.2 Nuôi dưỡng, phát triển hứng thú đối với Thơ mới của học sinh miền núi 48
Trang 92.4 Biện pháp 4: Lấp dần khoảng cách về ngôn ngữ trong tiếp nhận bài thơ
"Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu 53
2.4.1 Lấp dần khoảng cách về ngôn ngữ 53
2.4.2 Trang bị cho học sinh miền núi vốn hiểu biết về lịch sử, văn hóa 56
2.4.3 Cung cấp cho học sinh miền núi vốn hiểu biết về Thơ mới 61
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
1 Định hướng thực nghiệm 70
1.1 Mục đích thực nghiệm 70
1.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 70
1.3 Quy trình thực nghiệm 70
2 Thiết kế bài dạy thực nghiệm 71
3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 94
3.1 Những nội dung đánh giá 94
3.2 Phương pháp đánh giá 95
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 103
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thế kỉ XXI với sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ, với những bước nhảy vọt trong thời buổi hiện nay đã đưa thế giới chuyển từ
kỉ nguyên công nghệ sang kỉ nguyên thông tin và phát triển tri thức Đứng
trước sự biến đổi mạnh mẽ của xã hội, người giáo viên thời hiện đại cần xác định rõ cho mình một tư thế và tâm thế để hội nhập và phát triển Từ việc xác định được vai trò quan trọng của việc dạy văn trong nhà trường là một nghệ thuật mà cái đích hướng tới là nghệ thuật cảm thụ cái đẹp, lắng đọng trong tâm hồn, là khát vọng vươn tới chân, thiện, mĩ Bằng tâm huyết, tri thức và khả năng sư phạm của mình, người thầy sẽ đem đến cho học sinh những điều mới mẻ, củng cố niềm tin, sự thích thú, khơi dậy tình yêu và niềm đam mê trong văn học, giúp học sinh đến được với những giá trị đích thực của tác phẩm văn chương Để rồi văn học chiếm vị trí xứng đáng trong hành trang tri thức của các em giúp các em thanh lọc tâm hồn con người, yêu đời, yêu người
và hoàn thiện mình hơn Chính vì thế người giáo viên dạy Ngữ Văn không chỉ truyền đạt tri thức mà chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhập thông tin một cách có hệ thống, có tư duy và phân tích tổng hợp, phải biết khơi nguồn sáng tạo là một việc làm cần thiết và quan trọng để nâng cao chất lượng giờ giảng, đặc biệt là đối với học sinh THPT miền núi
1.2 Trong cuốn "Thi nhân Việt Nam" Hoài Thanh đã nhận xét: "Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng cuống quýt muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình, khi vui cũng như khi buồn đều nồng nàn tha thiết" Quả đúng như vậy Xuân Diệu là một hồn thơ mãnh liệt luôn để lòng mình rộng mở với cuộc đời, một tâm hồn đam mê được sống và yêu, trong trái tim luôn có một khát khao dâng trào đó là khát khao được hòa mình vào với đời, với cảnh vật và với con người Và có lẽ tinh thần này được thể hiện rõ nhất trong bài thơ "Vội vàng" của ông Bài thơ được in trong tập
Trang 11“Thơ thơ” năm 1938, đây là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám, được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 11 hiện nay là tác phẩm có nhiều mới, lạ và độc đáo Cả bài thơ
là một thể thống nhất thể hiện quan điểm tư tưởng sống của Xuân Diệu: trong cuộc đời quý nhất là tuổi trẻ và đẹp nhất là tình yêu Bài thơ tập trung cao nhất niềm khát khao giao cảm với đời đến cuống quýt; là hồn thơ hăm hở, sôi nổi, yêu đời yêu sống đến cuồng nhiệt; là cái khát vọng của mình giữa tuổi trẻ
và xuân tình; là một cảm xúc triết học một quan niệm nhân sinh mới mẻ Để giúp học sinh hiểu, biết chiếm lĩnh và cảm nhận được cái mới mẻ xưa nay chưa từng có, thì người giáo viên dạy Văn phải trăn trở, tìm ra hướng đi đúng đắn nhất
1.3 Tuy nhiên để nhận thức đúng và dạy đúng tác phẩm "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu trong nhà trường phổ thông nói chung và ở các huyện miền núi có học sinh là đồng bào dân tộc nói riêng không phải là công việc thuận lợi mà đang là một thử thách đầy hấp dẫn đối với giáo viên dạy văn
Tuyên Quang nơi người thực hiện đề tài này sinh sống là một Tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc, có đặc trưng vùng miền, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống như Pu Péo, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Mông,
Pà Thẻn Trong thực tế giảng dạy SGK Ngữ Văn lớp 11 - Tập 2 bài "Vội vàng" (Tiết 79-80) đối với học sinh miền núi có sự khác biệt về không gian bởi vậy sự tiếp nhận của học sinh còn mơ hồ, giáo viên còn nhiều cách lí giải
và soạn giảng khác nhau Bởi vậy việc rút ngắn khoảng cách tiếp nhận cho học sinh miền núi khi dạy học tác phẩm "Vội vàng" của Tác gia Xuân Diệu ở nhà trường phổ thông là vô cùng quan trọng và cần thiết
Qua khảo sát việc giảng dạy ở các huyện trên địa bàn, tác giả luận văn nhận thấy khả năng nhận thức và sự khác biệt về ngôn ngữ là rào cản thứ nhất tạo nên khoảng cách trong tiếp nhận, thì cản thứ hai là trong chương trình THPT giáo viên quen lối thuyết giảng không quan tâm tìm ra những biện
Trang 12pháp tác động đến nhận thức của học sinh mà bản chất của việc dạy học là làm cho học sinh chủ động tiếp thu kiến thức không chỉ thông qua kênh nghe
mà còn qua kênh nhìn, qua các dụng cụ trực quan như băng đĩa, tranh ảnh, bài thơ ngâm trên nền nhạc, bài hát, ngoại khóa hoặc được vận dụng, trao đổi thể hiện chính kiến của mình như người phương Đông đã có câu: "tôi nghe thì tôi quên, tôi nhìn thì tôi nhớ, tôi làm thì tôi hiểu" thì việc giảng dạy và tiếp thu kiến thức sẽ hiệu quả hơn, đặc biệt sẽ rút ngắn khoảng cách tiếp nhận đối với học sinh miền núi
Bởi vậy việc đưa ra những biện pháp rút ngắn khoảng cách tiếp nhận của học sinh miền núi trong dạy học tác phẩm "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu ở trương trình trung học phổ thông là vô cùng quan trọng và cần thiết để
từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy
1.4 Là một người con của tỉnh miền núi Tuyên Quang, cùng với sự trân trọng tài năng nghệ thuật độc đáo của thi sĩ Xuân Diệu, đã thôi thúc
người viết chọn đề tài: “Những biện pháp rút ngắn khoảng cách tiếp nhận cho học sinh miền núi khi dạy tác phẩm "Vội vàng" của Tác giả Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông" để góp thêm một cách nhìn về tài năng sáng tạo
của Xuân Diệu và góp phần thiết thực cho việc đổi mới phương pháp dạy học thực thi chương trình mới
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những công trình nghiên cứu
Bên cạnh tác giả xuất sắc nhất của văn học trung đại thì không thể nào không nhắc đến hòn ngọc quý của văn học hiện đại có vị trí đứng đầu tao đàn Thơ mới, Ông Hoàng của thơ tình yêu: Tác giả Xuân Diệu đã xuất bản được 17 tập thơ (còn khoảng 400 bài thơ tình chưa in), 7 tập truyện ngắn và bút ký, 19 tập phê bình tiểu luận về thơ, 6 tập thơ dịch của các thi hào trên thế giới: "Thi hào Nadim Hitmet (1962), "V.I Lênin" (1967), "Vây giữa tình yêu" (1968), "Việt Nam hồn tôi" (1974), "Những nhà thơ Bungari" (1978), "Nhà thơ Nicôla
Trang 13Ghiđen" (1982) Ông cũng là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về các nhà thơ lớn Việt Nam như: "Ba thi hào dân tộc" (1959), "Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm" (1961), "Thi hào dân tộc Nguyễn Du " (1966), "Thơ Trần Tế Xương" (1970), "Đọc thơ Nguyễn Khuyến" (1971), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập 1- 1981, tập 2 - 1982), Tìm hiểu Tản Đà (1982) Thơ và tác phẩm của Xuân Diệu được dịch ra hàng chục thứ tiếng trên thế giới
Là một nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và hết mình cho cuộc sống Xuân Diệu là một nhà thơ giàu sức sáng tạo, tâm hồn thơ luôn có sự tinh tế và nhạy cảm, sức thanh xuân luôn tràn đầy trong tâm hồn thơ Xuân Diệu với sự tươi trẻ cháy hết mình trong tình yêu, đã tạo cho thơ ông thêm giàu hương vị với cuộc đời, tác động mãnh liệt với đối nhận thức của người đọc Chính vì vậy tác phẩm của Xuân Diệu đã được nhiều thế hệ bạn đọc nhiều thế hệ đón nhận và yêu thích, một số tác phẩm được đưa vào chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn để giảng dạy ở trường THPT, xứng đáng là một trong những nhà văn, nhà thơ lớn của giai đoạn, thời kì văn học, là một trong những gương mặt quan trọng của nền văn học nước nhà
Từ khi xuất hiện cho đến nay, tác phẩm của Xuân Diệu đã gây được tiếng vang lớn, thực tế cho thấy các tác phẩm của Xuân Diệu ngay từ khi mới
ra đời đã gây xôn xao dư luận bởi trong thơ ông một phong cách mới, lạ, độc đáo một phong cách rất Tây Tác phẩm của ông được nhiều thế hệ đón nhận với niềm say mê, yêu thích, được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Những tác phẩm ấy đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, có nhiều thành tựu; xuất hiện nhiều bài báo, tạp chí và nhiều công trình nghiên cứu để phục
vụ cho việc dạy và học đối với học sinh miền núi trong nhà trường phổ thông
2.1.1 Nghiên cứu của chuyên ngành văn học Việt Nam:
a Trước cách mạng tháng Tám
Trang 14- Thế Lữ giới thiệu tập "Thơ thơ" (1938) của Xuân Diệu: "Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người Lầu thơ của ông xây trên đất của một tấm lòng trần gian "
- Năm 1941, trong cuốn "Thi nhân Việt Nam" Hoài Thanh đã ca ngợi Xuân Diệu là một "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới"
- Năm 1942, Vũ Ngọc Phan trong cuốn "Nhà văn hiện đại" (Hà Nội tân dân, 1942) đã khẳng định: "Xuân Diệu mới nhất, đằm thắm và nồng nàn nhất trong tất cả thơ mới"
b Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975
Phong trào Thơ mới nói chung, thơ ca Xuân Diệu nói riêng trở thành đối tượng bị phê phán công kích, mãi đến cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, các công trình nghiên cứu đề cập đến thơ ca Xuân Diệu mới xuất hiện
- Trong cuốn "Nhà thơ Việt Nam hiện đại" nhóm tác giả Mã Giang Lân, Nguyễn Văn Long coi Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ và rực rỡ của phong trào Thơ mới
c Giữa những năm 1975 đến nay
- Ở tác phẩm "Con mắt thơ", Đỗ Lai Thúy đã phản ánh những cố gắng tìm tòi của các nhà nghiên cứu về phong cách và thi pháp thơ Xuân Diệu
- Trong cuốn "Thơ mới những bước thăng trầm", tác giả Lê Đình Kỵ đã thể hiện tâm hồn nồng nàn, nồng nhiệt của Xuân Diệu và chỉ rõ đặc sắc nghệ thuật của ông
- "Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám – 1945" (Thơ thơ và gửi hương cho gió) của tác giả Lý Hoài Thu, NXB Giáo dục (2003)
- Ngoài các công trình nghiên cứu trên còn có các công trình khác như:
"Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca" (tác giả Huy Cận và Hà Minh Đức chủ biên); "Ba đỉnh cao thơ mới" của Chu Văn Sơn
2.1.2 Nghiên cứu của chuyên ngành phương pháp:
- "Dạy văn và học văn miền núi" (1991) của hai tác giả Trần Thế Phiệt-
Vi Hồng; Công trình nghiên cứu cấp trường ĐHSP Việt Bắc
Trang 15- "Về cách phô diễn của học sinh Tày, Nùng và vấn đề dạy học văn cho học sinh dân tộc", Tạp chí Nghiên cứu giáo dục tháng 12/1990, của tác giả Trần Thế Phiệt
- Luận án tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Hoàng Hữu Bội với đề tài "Con đường hướng dẫn học sinh THPT miền núi chiếm lĩnh thế giới hình tượng trong tác phẩm văn chương " (1995) do GS Phan Trọng Luận hướng dẫn
- "Mấy suy nghĩ về người giáo viên văn học miền núi" của tác giả Trần Thế Phiệt, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục tháng 11/1990
- "Về trình độ tư duy của học sinh PTTH miền núi", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục tháng 9/1991, của hai tác giả Phùng Đức Hải – Nguyễn Bá Dương
- "Dạy học văn miền núi"(1992) của tác giả Vi Hồng, Tạp chí Văn học
2.2 Thiết kế dạy học tác phẩm "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu
Có những tác giả đề cập trong những cuốn sách sau:
Trang 16- Thiết kế dạy học Ngữ văn 11 do tác giả Nguyễn Văn Đường chủ biên, nhà xuất bản Hà Nội, năm 2009
- Thiết kế dạy học Ngữ văn 11 (nâng cao) do tác giả Trần Đình Chung chủ biên, nhà xuất bản Hà Nội, năm 2009
2.2.3 Sách tham khảo
- "Xuân Diệu – Tuyển tập" (tập I), NXB Văn học – Hà Nội, năm 1983
- "Xuân Diệu, một đời người, một đời thơ" do Lê Tiến Dũng chủ biên, nhà xuất bản Giáo dục, năm 1993
- "Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945" do Lê Tiến Dũng chủ biên, nhà xuất bản Giáo dục, năm 1998
- "Thơ tình Xuân Diệu", do Hà Minh Đức (giới thiệu và tuyển chọn), nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, năm 1992
- "Xuân Diệu trong sách Thơ mới những bước thăng trầm", do Lê Đình
Kỵ chủ biên, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1993
- "Xuân Diệu trong sách Nhà thơ Việt Nam hiện đại", do Mã Giang Lân chủ biên, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1984
- "Xuân Diệu, thơ và đời" do Lữ Huy Nguyên (tuyển chọn) , nhà xuất bản văn học, năm 1995
- "Xuân Diệu con người và tác phẩm", do Hữu Nhuận chủ biên, nhà xuất bản Tác phẩm mới, năm 1987
- "Xuân Diệu trong sách thi nhân Việt Nam", do Hoài Thanh chủ biên, nhà xuất bản Văn học (tái bản), năm 1988
- Lời giới thiệu "Tuyển tập Xuân Diệu", do Hoàng Trung Thông viết, nhà xuất bản Văn học, năm 1983
2.3 Nhận xét rút ra từ các công trình bài viết
Những công trình kể trên mới chỉ tìm hiểu, nghiên cứu trên phương diện chuyên nghành lí luận văn học Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào đề
cập đến những biện pháp rút ngắn khoảng cách tiếp nhận của học sinh miền
Trang 17núi trong dạy học tác phẩm 'Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu ở chương trình trung học phổ thông Tuy nhiên những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước là tiền đề quý báu cho chúng tôi nghiên cứu, khai thác đề tài này
Với đề tài "Những biện pháp rút ngắn khoảng cách tiếp nhận cho học sinh miền núi khi dạy học tác phẩm "Vội vàng" của Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông" Ở chương trình SGK Ngữ Văn 11, chúng tôi
mong muốn đề xuất một hướng tiếp cận hiệu quả khi dạy tác phẩm "Vội vàng" để làm sáng tỏ tiểu sử, những nhận định về nghệ thuật, phong cách nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ đó Mặt khác giúp học sinh nhận diện rõ hơn phong cách của nhà văn, nhà thơ trung đại khác với phong cách của nhà thơ hiện đại để nhận ra sự phong phú, đa dạng mà độc đáo của sự phát triển một nền văn học Đồng thời góp phần nhỏ bé của mình vào nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học của giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục tỉnh Tuyên Quang nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng dạy và học tác phẩm "Vội vàng" của Xuân Diệu ở trường phổ thông thấy một số vướng mắc cần tháo gỡ: dung lượng kiến thức lớn, học sinh chưa thực sự tích cực chủ động trong học tập, phương pháp giảng dạy của giáo viên còn lúng túng, đôi khi chưa phát huy hết tính chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh Do đó cần phải đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới cách kiểm tra, đánh giá
Tìm ra hướng dạy và học bài tác giả văn học nói chung và bài dạy tác giả Xuân Diệu nói riêng, góp phần vào việc rút ngắn khoảng cách tiếp nhận của học sinh miền núi trong dạy học tác phẩm "Vội vàng" ở chương trình trung học phổ thông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 183.2.1 Khảo sát thực trạng dạy và học tác phẩm "Vội vàng" của tác giả Xuân Diệu ở chương trình SGK Ngữ văn lớp 11 trương trình THPT
3.2.2 Nghiên cứu những tiền đề lí luận cần thiết và khả năng nhận thức của học sinh trung học phổ thông trong việc chiếm lĩnh các tác phẩm thơ mới nói chung và các tác phẩm thơ của tác gia Xuân Diệu nói riêng
3.2.3 Đề xuất những biện pháp nhằm khắc phục khoảng cách, rút ngắn khoảng cách dạy và học tác phẩm Vội vàng của tác giả Xuân Diệu ở chương trình Ngữ văn lớp 11 trương trình THPT
3.2.4 Thiết kế thể nghiệm bài dạy về tác phẩm Vội vàng của nhà thơ Xuân Diệu ở chương trình Ngữ văn lớp 11 chương trình THPT Kiểm tra hiệu quả và đánh giá tính khả thi của biện pháp dạy học mới bằng cách đối chiếu với lối dạy học thông thường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu khoảng cách tiếp nhận tác phẩm văn chương ở học sinh lớp
11 THPT miền núi tại tỉnh Tuyên Quang trong quá trình tiếp nhận bài thơ
"Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu – Ngữ Văn 11, tập 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm thơ của Xuân Diệu qua hai giai đoạn: trước và sau cách mạng tháng 8/1945
- Điều tra khoảng cách tiếp nhận cho học sinh lớp 11, THPT miền núi tại tỉnh Tuyên Quang khi học bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu
- Đề xuất một số biện pháp rút ngắn khảng cách tiếp nhận cho học sinh miền núi trong quá trình tiếp nhận bài thơ của nhà thơ Xuân Diệu
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp đọc, phân tích, tổng hợp, đánh giá các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề đang tìm hiểu
Trang 196.2 Phương pháp khảo sát, điều tra thực trạng dạy học bài thơ "Vội vàng" tác giả ở trường phổ thông qua chương trình SGK, dự giờ dạy học trên lớp, nghiên cứu bài soạn của giáo viên, nghiên cứu bài soạn của học sinh nhằm đánh giá chất lượng tiếp thu bài của học sinh, giờ dạy và bài soạn của giáo viên, nghiên cứu bài soạn của học sinh nhằm đánh giá chất lượng tiếp thu bài của học sinh, giờ dạy và bài soạn của giáo viên
6.3 Phương pháp so sánh tổng hợp nhằm đưa ra những kết luận khoa học, kết luận sư phạm Trên cơ sở đó đề xuất phương pháp dạy học tích cực
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: hiện thực hóa phương hướng dạy học mới qua việc thiết kế bài soạn và giờ dạy thực nghiệm nhằm kiểm tra hiệu quả, xác nhận tính đúng đắn, hợp lý và khả thi của các biện pháp trong thực tế dạy học ở nhà trường THPT
7 Giả thuyết khoa học
Những biện pháp rút ngắn khoảng cách tiếp nhận cho học sinh miền núi khi dạy học tác phẩm "Vội vàng" của Xuân Diệu ở trường THPT là
một đề xuất khoa học vô cùng quan trọng và cần thiết khi dạy học về tác phẩm "Vội vàng" của Xuân Diệu ở nhà trường trung học phổ thông Nếu tổ chức dạy học theo đề xuất của luận văn thì sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách tiếp nhận cho học sinh miền núi để từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rút ngắn khoảng cách tiếp nhận tác phẩm văn chương cho học sinh THPT miền núi
Chương 2: Những biện pháp rút ngắn khoảng cách tiếp nhận cho học sinh miền núi khi dạy học tác phẩm "Vội vàng" của Xuân Diệu
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 20NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÚT NGẮN
KHOẢNG CÁCH TIẾP NHẬN TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG CHO
HỌC SINH THPT MIỀN NÚI
từ cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tình cảm, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ nhà văn đến sản phẩm sau khi đọc cách hiểu, ấn tượng, trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo bản dịch" (tr.221)
- Trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới), nhà xuất bản Thế giới, 2004 viết: "Tiếp nhận (thưởng thức, cảm thụ tác phẩm) không phải là sự tái hiện giản đơn tác phẩm nghệ thuật trong ý thức, mà là một quá trình phức tạp; quá trình cùng tham dự và cùng sáng tạo của chủ thể tiếp nhận
Việc thâm nhập vào hàm nghĩa của tác phẩm nghệ thuật còn phụ thuộc vào năng lực thẩm mỹ của chủ thể, vào trình độ phát triển về tình cảm thẩm
mỹ ở chủ thể tiếp nhận Tính chọn lọc và chiều sâu của tiếp nhận thẩm mỹ bị quy định bởi trạng thái văn hóa của xã hội, bởi tiềm năng văn hóa chung của
cá nhân và hệ thống những định hướng giá trị của cá nhân
- Theo SGK Ngữ Văn 12, tập II (chương trình chuẩn) nhà xuất bản Giáo dục, năm 2008 viết: " Tiếp nhận văn học chính là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật
Trang 21được dựng lên bằng ngôn từ, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo" (tr.184)
- Còn SGK Ngữ Văn lớp 12, tập 2 (chương trình nâng cao), nhà xuất bản Giáo dục, 2008 đưa ra khái niệm tiếp nhận như sau: "Tiếp nhận là một hoạt động nắm bắt thông tin trong quá trình giao tiếp" (tr 173)
Về bản chất có thể xem tiếp nhận văn học là một quá trình tác động thẩm mỹ, người đọc tiếp nối và tham gia mục đích sáng tạo của nhà văn, hiện thực hóa ý đồ nghệ thuật của nhà văn qua sự đồng điệu nhân lên cảm xúc, qua
sự lay thức tâm hồn mở ra những hiểu biết mới mẻ về cuộc đời
1.1.2 Đặc điểm của tiếp nhận văn học
- Sách giáo khoa Văn lớp 12 – NXB Giáo dục do GS Trần Đình Sử chủ biên cho rằng: "Đặc điểm nổi bật của tiếp nhận văn học là tính đa dạng và không thống nhất của nó, tính chất này bộc lộ ở chỗ cùng một tác phẩm những cảm thụ và đánh giá của công chúng có thể rất khác nhau"
Sự khác nhau trước hết "bắt nguồn từ tính phong phú của nội dung tác phẩm cũng như tính đa nghĩa là một trong những đặc điểm vốn có của hình tượng nghệ thuật "
Thứ hai, sự khác nhau còn phụ thuộc vào "tuổi tác, kinh nghiệm sống, học vấn hay tâm trạng người đọc, người nghe lúc tiếp xúc với tác phẩm văn chương"
Ngoài ra, còn phụ thuộc "vào môi trường văn hóa - xã hội trong đó cá nhân đang sống"
Cũng nói về đặc điểm của tiếp nhận văn học, trong cuốn Sách giáo khoa lớp 12 (tập hai) – NXB 1992 viết: "Tác phẩm văn học thường được tiếp nhận theo nhiều kiểu khác nhau vì:
+ Tính chất đa nghĩa của hình tượng nghệ thuật và tính chất nhiều lớp, nhiều tầng của nội dung tác phẩm
Trang 22+ Đặc điểm của các kiểu, loại độc giả trong xã hội: tùy thuộc vào sự hiểu biết, kinh nghiệm sống, quan niệm, thế giới quan và thị hiếu của mình
mà mức độ cảm thụ và đánh giá tác phẩm văn học sẽ khác nhau"
- Trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới), nhà xuất bản Thế giới, 2004 viết: khác với họat động thẩm mỹ của nghệ sỹ - người sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, tiếp nhận thẩm mỹ không mang tính công nghệ và nó vận hành theo hướng ngược: từ việc tiếp nhận kết quả (tác phẩm nghệ thuật nói chung) đi đến tiếp nhận các ý tưởng chứa đựng trong đó Giữa tác phẩm và chủ thể tiếp nhận bao giờ cũng có một sự gián cách thẩm mỹ
Bên cạnh đó cũng trên một tác phẩm văn học ở mỗi thời đại lịch sử cũng có những cách đánh giá khác nhau về tác phẩm Rõ ràng hiện tượng tiếp nhận văn học là một hoạt động phức tạp có nhiều mức độ
1.2 Khoảng cách trong tiếp nhận
1.2.1 Khoảng cách thẩm mỹ trong tiếp nhận
1.2.1.1 Khái niệm khoảng cách thẩm mỹ trong tiếp nhận
Khoảng cách tiếp nhận có nhiều tên gọi khác nhau:
Theo PGS.TS.Nguyễn Thị Thanh Hương "Khoảng cách thẩm mĩ" được hiểu là sự chênh lệch, sự xa cách giữa tiếp nhận thẩm mĩ của bạn đọc trước một văn bản văn học Nói cách khác đó là "Sự chênh lệch, sự cách xa giữa ý động, tác động của tác giả (chủ thể thẫm mĩ) gởi vào văn bản (bản thể thẩm mĩ) và sự tiếp nhận những tác động thực tế ở văn bản của người đọc (chủ thể tiếp nhận)
Còn GS Phan Trọng Luận viết trong "Công trình nghiên cứu văn chương - bạn đọc sáng tạo", bàn về tính chủ quan trong tiếp nhận văn học gọi
đó là hiện tượng thị sai Thị sai là biểu lộ ở những chủ thể khác nhau trước một hiện tượng văn học Độ thị sai có thể ở những độc giả khác nhau nhưng cũng có thể ở ngay trong chính bản thân chủ thể
Trang 23Cũng bàn về vấn đề này GS Nguyễn Thanh Hùng đã phân tích tính khách quan của hiện tượng khoảng cách tiếp nhận trong văn học là: "giữa cộng đồng lí giải thì tác phẩm văn chương tồn tại những khoảng cách thẩm
mỹ Trước hết đó là khoảng cách thẩm mỹ giữa những người tiếp nhận và tác phẩm Đó là điều hiển nhiên bởi vì người đọc tác phẩm chính là người tiếp xúc với bất cứ hiện tượng và quá trình thực tế của hiện thực" (tr,74)
Bên cạnh đó GS cũng lí giải về nguyên nhân tiêu biểu làm xuất hiện những khoảng cách tiếp nhận và khoảng cách thẩm mỹ:"Có nhiều nguyên nhân dẫn tới khoảng cách tiếp nhận và khoảng cách thẩm mỹ, về cơ bản có thể kể đến sự hiểu biết về phương thức trình bày nghệ thuật, mã nghệ thuật, những nhu cầu, thị hiếu, thói quen và lý tưởng thẩm mỹ của người tiếp nhận văn chương" (Tr74) Khoảng cách thẩm mỹ nảy sinh trên cơ sở những khác biệt về lý tưởng, thời đại, những đặc điểm và nhu cầu, khát vọng cá nhân của các chủ thể tiếp nhận, đồng thời nó còn biểu thị "độ chênh" nhất định giữa kết quả cảm, hiểu với giá trị đích thực của tác phẩm, giữa ý đồ sáng tạo của nhà văn với thực tế thẩm mỹ được tác động trong tâm hồn người đọc
Qua các ý kiến trên ta thấy: khoảng cách thẩm mỹ trong tiếp nhận văn học có thể được hiểu là:
- Khoảng cách giữa các ý định tác động của tác giả với sự tiếp nhận tác động đó ở bạn đọc – nghĩa là ý định tác giả thế này nhưng người đọc lại tiếp nhận tác động ấy khác nhau
- Khoảng cách ở sự lí giải tác phẩm trong cộng đồng bạn đọc Nghĩa là giữa các bạn đọc có sự lý giải khác nhau về tác phẩm
1.2.1.2 Khoảng cách trong tiếp nhận tác phẩm văn chương
Quá trình tiếp nhận là một quá trình tâm lý phức tạp vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Chính tính chủ quan trong tiếp nhận tạo nên tính "dị biệt" trong tiếp nhận của độc giả bởi vì quá trình tiếp nhận là quá
Trang 24trình diễn ra trong tư duy, tình cảm, tâm lý, sinh lý của bạn đọc, nó phụ thuộc hoàn toàn vào thị hiếu của bạn đọc
Việc thâm nhập vào hàm nghĩa của tác phẩm nghệ thuật còn phụ thuộc vào năng lực thẩm mỹ của chủ thể, vào trình độ phát triển về tình cảm thẩm thẩm mỹ ở chủ thể tiếp nhận Tính chọn lọc và chiều sâu của tiếp nhận thẩm
mỹ bị quy định bởi trạng thái văn hóa của xã hội, bởi tiềm năng văn hóa chung của cá nhân và hệ thống những định hướng giá trị của cá nhân
Mặt khác sự tiếp nhận tác phẩm ở mỗi bạn đọc khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố tạo nên khoảng cách tiếp nhận văn chương như: do khoảng cách về thời đại, con người với tất cả những đặc điểm cá nhân về điều kiện lịch sử, xã hội, về thế hệ với những nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ nên nó không
có sự đồng nhất hoàn toàn trong cảm thụ, trong tiếp nhận văn học; phương pháp dạy học văn vừa phải nhấn mạnh mặt nhất trí trong cảm thụ văn học và
cả khoảng cách trong tiếp nhận văn học Theo chiều dài thời gian đi tới tương lai của quá trình tiếp nhận thì những "khoảng cách thẩm mỹ" sẽ được thu hẹp lại và sự "đồng nhất thẩm mỹ" sẽ được mở rộng hơn để tiếp nhận văn học thực sự là sự tiếp nhận một đối tượng thẩm mỹ chứ không phỉ sự tiếp nhận một chủ thể Hướng tới hiệu quả "đồng nhất thẩm mỹ" là mục tiêu có tính sư phạm trong dạy học tác phẩm văn chương, thông qua quá trình rút gần và san lấp những "khoảng cách thẩm mỹ" để tạo ra sự nhất quán về hiệu quả nhận thức của học sinh
Do đó sự tồn tại một khoảng cách trong tiếp nhận văn học luôn luôn sảy ra như một tất yếu của đời sống văn học
1.2.1.3 Khoảng cách trong tiếp nhận Thơ mới
Thơ với những đặc trưng thể loại riêng biệt luôn tạo ra những khoảng cách tiếp nhận lớn so với những thể loại văn học khác Nếu như ở văn xuôi khản năng mô tả cuộc sống kỹ càng, gần gũi hơn với độc giả đã làm cho khoảng cách tiếp nhận ngắn hơn thì ở thơ bằng sự rung cảm sâu sắc với
Trang 25những biểu tượng phong phú, đa chiều của tác giả đã tạo cho khoảng cách tiếp nhận trở nên đậm nét và rõ rệt Văn xuôi có khả năng trực tiếp khơi dậy những kinh nghiệm, những tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ ở người đọc, còn ở thơ do đặc tính không nói hết của từ ngữ, hình ảnh do những khoảng trống trong tư duy của tác giả đã buộc người đọ trong khi cảm thụ phải huy động tối
đa những xúc cảm, những liên tưởng, tưởng tượng do đó khoảng cách càng
xa hơn
Mặt khác những bài thơ hay thường không truyền đạt tức thời, trực tiếp cảm xúc của tác giả mà được lan truyền từng chút một qua cảm nhận độc đáo của người đọc Trong thơ đôi lúc hàm chứa những cảm xúc đa chiều không thể lí giải rõ ràng theo một góc độ, một kiểu cách
Bởi thế ở cùng một độc giả khi cảm nhận tác phẩm lại có thể diễn ra sự khác biệt về giá trị của nó tương hợp với từng thời điểm, từng hoàn cảnh, từng tâm trạng của chính họ, điều đó được thể hiện rõ nét qua giai đoạn 1930-
1945, văn học lãng mạn Việt Nam trải qua một cuộc biến đổi "sinh mệnh sống" và trở thành điểm nóng cho các cuộc bàn cài trên văn đàn Đương thời các tác phẩm thơ thời kỳ này đã nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả "trong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này, chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hoành tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận (Hoài Thanh- Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam.)
Tuy nhiên thơ lãng mạn đã từng qua nhiều năm bị phê phán kịch liệt, từ những năm 80 quan niệm về thơ lãng mạn thay đổi, người đọc nhìn thấy khát vọng tình yêu sự sống, ước mơ tự do và nguyện vọng giải phóng Những câu thơ hay và điệu thơ lạ đã góp phần đưa thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 chuyển sang một thời kì mới
Trang 26Giải thích về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng khoảng cách tiếp nhận trong thơ, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô Mikhail Bôrixôvich Kharapachenco viết: "Tác phẩm tự nó tạo ra nhiều tầng nghĩa bởi những "đại lượng" - những chi tiết, hình ảnh, ngôn từ, âm hưởng, nhịp điệu nghệ thuật độc đáo Một tác phẩm càng lớn, càng có nhiều tầng nghĩa hàm ngôn".Do đó khoảng cách thẩm mỹ lại càng xa nhau Tác phẩm trữ tình với những đặc trưng riêng về tứ thơ, hình ảnh, ngôn ngữ, hình tượng luôn trở thành "điểm sáng thẩm mĩ" gợi mở những cách lĩnh hội
Hơn thế, những phương pháp tiếp cận của bạn đọc cùng với vốn sống,
sự hiểu biết , những nếm trải của cuộc đời và "tạng" cảm thụ đưa đến những
lý giải không đồng nhất Có thể nói thơ là một hiện tượng phong phú, khó lý giải, do đó tất cả những khoảng cách về thơ đều bắt nguồn từ đây
1.3 Thơ Xuân Diệu và khoảng cách tiếp nhận trong bài thơ "Vội vàng"
1.3.1 Thơ Xuân Diệu
Khi nói đến văn học (1930-1945) không thể nào không nhắc đến ông một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới cả về nội dung lẫn hình thức
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã khẳng định: “Xuân Diệu là nhà thơ
mới nhất trong các nhà thơ mới, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”
Xuân Diệu là nhà thơ lớn của dân tộc, ông luôn là tấm gương lao động nghệ thuật bền bỉ, dẻo dai, giàu sức sáng tạo, là một nhà phê bình thơ rất tinh tế và sắc bén Ông có được những thành công lớn không chỉ ở việc giới thiệu phê bình thơ cổ điển, thơ ca hiện đại, mà còn cả ở thơ ca nước ngoài Xuân Diệu thường chỉ ra được cái hay, sự độc đáo ở mỗi nhà thơ qua tác phẩm của họ
Cuộc đời và thơ của Xuân Diệu gắn với quê hương đất nước Ông có khát vọng hiến dâng sức lực và trí tuệ của mình cho dân tộc, không ngại khó khăn gian khổ, hăng hái, nhiệt tình đi khắp mọi nẻo đường Tổ quốc để phục vụ nhân dân Chính vì lẽ đó, Xuân Diệu được độc giả yêu mến,
Trang 27ngưỡng mộ không chỉ ở thơ, mà còn ở tấm lòng say sưa và chân thành của ông trước cuộc đời
Xuân Diệu còn là một nhà thơ cần mẫn, sung sức trong sáng tạo nghệ thuật và đã có những cống hiến to lớn cho văn học Việt Nam nói chung, thơ
ca Việt Nam nói riêng Ông đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ, văn nghiệp của Xuân Diệu trải qua hai giai đoạn, trước và sau cách mạng tháng Tám Trước cách mạng tháng Tám Ông xứng đáng được coi là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn Năm 1983, ông được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà dân chủ Đức Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I)
Ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị đặc sắc với nhiều thể loại: Thơ, văn xuôi, tiểu luận, phê bình, dịch thuật
1.3.1.1 Trước cách mạng tháng Tám
- Thơ: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945)
- Văn xuôi: Phấn thông vàng (1939)
1.3.1.2 Sau cách mạng tháng Tám
- Thơ: Ngọn quốc kì (1945), Hội nghị non sông (1946), Dưới vàng sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954), Ngôi sao (1955), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962), Khối hồng (1964), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976), Thánh ca (1982)
- Văn xuôi, tiểu luận phê bình: Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng (1958), Ba thi hào dân tộc (1959), Phê bình giới thiệu thơ (1960), Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966), Đi trên đường lớn (1968), Và cây đời mãi xanh tươi (1971), Mài sắt nên kim (1977), Lượng thông tin và những kĩ sư tâm hồn
ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (hai tập 1981&1982)
- Dịch và giới thiệu thơ nước ngoài của các nhà thơ như: Targo, Puskin, Maiacốpxki, Đimitrôva
Trang 28Có thể nói, đặc sắc nhất trong thơ Xuân Diệu là thơ tình yêu nam nữ, tình yêu trong thơ Xuân Diệu thời kì này rất nồng cháy, “vô biên” thể hiện một triết lí bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống Mỗi trang viết của ông đều thể hiện dạt dào cảm xúc, sự táo bạo, mới lạ ; là tiếng thơ đầy đủ nhất cho ý thức cá nhân, của cái tôi thơ mới đồng thời mang đậm bản sắc riêng; cái tôi tích cực, mãnh liệt, bám riết lấy trần gian, chạy đua với thời gian, lúc nào cũng thèm yêu, khát sống, khát khao tận hưởng và tận hiến, đồng thời còn hiện ra một giọng điệu sôi nổi, bồng bột, vồ vập cả khi vui lẫn khi buồn Nhờ đó Xuân Diệu đã được mệnh danh là "Vua" Thơ tình, "Chúa" Thơ yêu Thơ ông dành tất cả cho tình yêu đôi lứa để lại những thi phẩm "Hay nhất thế kỉ", tiêu biểu hơn cả là bài thơ "Vội vàng"
1.3.2 Khoảng cách tiếp nhận trong bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu
1.3.2.1 Nội dung của bài thơ
Bài thơ đề cập đến một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái tôi cá nhân trong thời hiện đại, được diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc "biện luận" rất riêng của tác giả
a Phát hiện mới: cuộc đời như một thiên đường trên mặt đất
Mở đầu bài thơ với lời tuyên bố lạ lùng của thi sĩ:
"Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi"
Những lời tuyên bố có vẻ kì dị, ngông cuồng nhưng bên trong lại chứa đựng một khát vọng rất đẹp: chặn đứng bước đi của thời gian để có thể vĩnh viễn hóa vẻ đẹp của cuộc đời
Trang 29Trong cái nhìn mới mẻ, say sưa thi nhân liệt kê bao vẻ đẹp cuộc đời
bằng hàng loạt đại từ chỉ trỏ "này đây" làm hiện lên một thế giới đầy sống
động, đầy quyến rũ đang vẫy gọi, chào mời bằng vẻ ngọt ngào, trẻ trung:
đây là "tuần tháng mật" để dành cho ong bướm, đây là "hoa của đồng nội" đang "xanh rì", đây là "lá của cành tơ phơ phất" và "khúc tình si" là của
những lứa đôi
Với đôi mắt xanh non của người trẻ tuổi, qua cái nhìn bằng "ánh sáng chớp hàng mi", thi nhân còn phát hiện ra điều tuyệt vời hơn: tháng giêng, mùa xuân "ngon" như "một cặp môi gần"
b Nỗi ám ảnh về số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân
Thời gian trở thành nỗi ám ảnh nên nhuốm màu của âu lo, bàng hoàng,
thảng thốt, dự báo cái "phai tàn sắp sửa" của tạo vật Hương vị đau xót của
chia phôi tựa như một vết thương rớm máu trong tâm hồn, nỗi cay đắng đó
được sắp xếp theo tương quan đối lập giữa lòng người rộng mà lượng trời chật, xuân của thiên nhiên tuần hoàn mà tuổi trẻ của con người thì "chắng hai lần thắm lại", điều bất công này thôi thúc cái tôi cá nhân đi tìm sức
mạnh hóa giải
c Những giải pháp điều hòa mâu thuần, nghịch lí
Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân, tác giả đề ra một giải pháp táo bạo: con người không thể chặn đứng được bước đi của thời gian thì phải chặn đua với nó bằng một nhịp sống mới, giục giã chính mình với nhịp thơ gấp gáp, bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, cuồng nhiệt yêu đời và yêu sống
Đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lí sống gấp mà là ý thức sâu sắc về cuộc sống con người, sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ
Vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nét đẹp của lối sống tiến bộ, hiện đại
1.3.2.2 Nghệ thuật của bài thơ
Trang 30Xuân Diệu xuất hiện trên thi đàn thơ Việt Nam với một diện mạo đầy mới mẻ, lạ lùng Lạ lùng và mới mẻ ngay cả với những nhà thơ mới Có thể nói ông đã có sự cách tân sâu sắc và toàn diện nhất về mọi phương diện trong
sáng tạo thi ca
Bài thơ có sự kết hợp hài hòa hai yếu tố: trữ tình và chính luận Trong
đó chính luận đóng vai trò chủ yếu
Yếu tố trữ tình được bộc lộ ở những rung động mãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện về sự mong manh của cái đẹp, của tình yêu và tuổi trẻ trước sự hủy hoại của thời gian
Mạch chính luận là hệ thống lập luận, lí giải về lẽ sống vội vàng, thông điệp mà thi nhân muốn gửi đến người đọc được trình bày theo lối quy nạp từ nghịch lí, mâu thuẫn đến giải pháp
Ảnh hưởng từ văn học phương Tây nên Xuân Diệu có nhiều sáng tạo trong cách tạo ra cú pháp mới của câu thơ, cách diễn đạt mới, hình ảnh mới, ngôn từ mới
Đặc biệt hơn cả là về phương diện sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật Xuân Diệu đã tạo ra cho thơ mình một hệ thống ngôn ngữ đầy cá tính, sáng tạo về hình ảnh, nhịp điệu, hình thức tổ chức câu thơ cùng những lời lẽ cách nói năng mà đa phần trước đây người ta chưa thấy trong thơ ca truyền thống Trong bài viết này tôi xin kiến giải phần nào những cách tân mới mẻ ấy trong bài thơ "Vội vàng"
Trước hết về hình ảnh thơ: trong thơ Xuân Diệu có những hình ảnh thơ đột ngột kì lạ mà vẫn duyên dáng, vừa đài các sang trọng đến lão luyện tinh vi
mà vẫn vô cùng hiện đại Điều đó được thể hiện rõ nét trong bài thơ "Vội
vàng" như hình ảnh: "ong bướm", "hoa", "đồng nội xanh rì", "cành tơ phơ phất", "yến anh", "ánh sáng chớp hàng mi", "thần vui hằng gõ cữa" Những
hình ảnh ấy được sử dụng với mật độ dày tạo nên trong thơ ông một thế giới đầy màu sắc, ánh sáng rộn ràng, tươi mới Cuộc đời trần thực nơi trần thế
Trang 31bỗng trở nên non xanh, mơn mởn, đầy sức sống, sinh động và vô cùng quyến
rũ không hề khô cứng, đóng khung, toàn bài thơ như một bức tranh động với
sự chuyển biến kì diệu của những mảng màu sắc
Nhà thơ đưa vào trong thơ mình những hình ảnh đầy bất ngờ thú vị, bất
chấp mọi lề luật, khuân thước: "tắt nắng đi:, "buộc gió lại", "riết mây đưa và gió lượn", "say cánh bướm với tình yêu", "thâu trong một cái hôn thật nhiều" những hình ảnh vận động đầy mạnh mẽ khi được ghép cặp với các động từ mạnh "buộc", "riết", "say", "thâu"
Bên cạnh đó Xuân Diệu còn khiến người đọc rung động bởi nhạc điệu
trong thơ, thi nhân "đã phổ vào thơ lãng mạn Việt Nam những giai điệu tân kì đến mê ly" "họ gọi thơ ông là một thứ âm điệu cực kì du dương", "một sự tuyệt trác của nhạc cảm" ông sử dụng linh hoạt cách nhắt nhịp:
Của ong bướm /này đây / tuần tháng mật (3/2/3)
Này đây hoa / của đồng nội xanh rì (3/5)
Này đây lá / của cành tơ phơ phất (3/5)
Của yến anh / này đây / khúc tình si(3/2/3)
Và này đây / ánh sáng chớp hàng mi(3/5)
Mỗi sáng sớm / thần vui / hằng gõ cửa(3/2/3)
Tháng giêng ngon / như một cặp môi gần(3/5)
Tôi sung sướng / nhưng vội vàng một nửa (3/5)
Tôi không chờ / nắng hạ / mới hoài xuân (3/2/3)
Trong một đoạn thơ nhà thơ sử dụng hai kiểu ngắt nhịp: 3/2/3, 3/5, và liên tục thay đổi cách ngắt nhịp đầy linh hoạt uyển chuyển dường như là theo rất sát mạch cảm xúc khi dồn dập gấp gáp hối thúc, khi chậm dãi ngẩn ngơ, nuối tiếc
Ngoài ra một yếu tố tạo tính nhạc trong thơ ông không thể nói đến là nghệ thuật điệp:
Từ điệp từ:
Trang 32Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Điệp cụm từ:
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa
Điệp cấu trúc một câu:
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Điệp cấu trúc hai câu một:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc giáo lại
Cho hương đừng bay đi
Nghệ thuật chuyển đổi vị trí và hình thức điệp cũng hất sức tài tình và hợp lí:
Của ong bướm này đây(1) tuần tháng mật Này đây (2) hoa của đồng nội xanh rì
Này đây (3) lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây (4) khúc tình si
Và này đây (5) ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa
Từ điệp ở giữa câu với đầu câu: (1) và (2) ông chuyển sang điệp đầu câu (2) và (3) sau đó lại từ đầu câu (3) chuyển vào giữa câu (4) và (4) với (5)
Có thể là điệp liền câu:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Hoặc điệp cách quãng:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Của yến anh này đây khúc tình si
Trang 33Rồi điệp một cụm từ:
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Chuyển sang điệp một từ:
Và non nước và cây và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Nói tóm lại sự chuyển đổi vị trí và hình thức điệp là rất đa dạng, linh hoạt không theo bất cứ một quy luật hay khuân khổ, rất khó nắm bắt Chính điều ấy đã tạo nên sự phá vỡ mọi giới hạn trong việc biểu lộ cảm xúc đầy rộn
rã, trào dâng mãnh liệt nhƣ những đợt sóng ào ạt, liên tiếp đến không ngừng
Cái tài tình, cái cách tân của Xuân Diệu còn đƣợc thể hiện ở việc ông làm mới những biện pháp tu từ nghệ thuật Cách so sánh, ví von đầy mới mẻ phá cách mà hết sức độc đáo đầy thú vị:
"Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"
Hình ảnh so sánh hết sức mới lạ mà không kém phần cụ thể, sinh động, hấp dẫn
Các phép ẩn dụ cũng độc đáo với "ong bướm", "tuần tháng mật", "yến anh", "thần vui" mang lại cho thơ ông sự tinh tế, nhuần nhị trong bộc lộ ý tứ
Rồi hô ứng:
"Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"
Và chuyển đổi cảm giác
"Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi"
Ngoài ra ông còn vận dụng vào thơ mình nghệ thuật chuyển loại từ, đảo ngữ, nhân hóa cũng góp một phần đáng kể vào việc tạo nên sự thành công chung của thi phẩm
Nhƣ vậy, chúng ta có thể khẳng định những cách tân sâu sắc trong việc sử dụng ngôn từ của Xuân Diệu Vƣợt lên trên sức hủy diệt của thời gian
Trang 34thơ ông là tiếng đàn của cảm xúc, thức tỉnh loài người ở khả năng sống bằng
cả trái tim, tâm hồn, thể phách làm sống dậy mọi giác quan để hướng một cách trọn vẹn nhất cuộc đời màu sắc, hương vị và ngọt lành
1.3.2.3 Khoảng cách tiếp nhận trong bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu
Trải qua một thời gian dài, mọi người đã nhìn nhận lại và thừa nhận những quy luật tình cảm vốn có của con người, của cuộc sống trong thơ Xuân Diệu Bên cạnh những tình cảm riêng tư cũng có những tình cảm chung, tình cảm trong sáng, lành mạnh Đó là những bài thơ có sức "nặng" truyền tải những điều rất lớn lao: tình yêu quê hương đất nước, con người, bởi Xuân Diệu là người nhiệt tình nhất trong số các nhà văn, nhà thơ tham gia kháng chiến Ông ca ngợi "Bác Hồ" và "Đảng" nhiệt tình hơn ai hết:
" Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm
Nghe lời Bác dạy khuyên răn
Chúng con ước muốn theo chân của người
Chúng con thề nguyện một lời
Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây
Xuân Diệu muốn thể hiện chính xác, không thừa không thiếu, sự tái sinh dưới một diện mạo mới Đây là sự "tái sinh" dưới chủ nghĩa cộng sản
Bên cạnh cảm xúc của dân tộc, của lý trí thì tiếng nói của quy luật tình cảm trong sáng Đôi mắt "xanh non", đôi mắt "biếc rờn" đã phát hiện ra cả một thiên đường trên mặt đất với một tấm lòng khát khao giao cảm với đời qua những vần thơ về tình yêu đôi lứa "Ông hoàng của thơ tình" không còn
bó hẹp trong cái tình yêu mong manh, vàng vọt sầu lẻ nơi cõi lòng Tình cảm lứa đôi đã quện cùng tình yêu Tổ quốc Xuân Diệu nhắc nhiều đến tình cảm
thủy chung gắn bó, hạnh phúc sum vầy chứ không lẻ loi đơn như "Dấu
Trang 35nằm", "Giọng nói", "Đứng chờ em", tiêu biểu hơn cả là một tình yêu mới
mẻ, lớn lao hòa nhập với đất trời, con người gắn kết vững bền trong quan hệ
sóng – bờ đã cuộn lên trong trái tim thi sĩ "Biển" là một trong những bài thơ
hay nhất về biển Quy Nhơn lung linh trong bao thi ảnh bể biếc, bãi vàng, thoai thoải bờ gắn với tình yêu đôi lứa hòa quện trong tình yêu quê hương Con người đã tìm thấy trong tình yêu sự sống vĩnh cửu, vượt ra khỏi giới hạn đời người trăm năm để quện chặt với đời bằng nụ hôn ngàn năm không thỏa Bằng tình yêu ấy, thi nhân đã hòa con sóng biếc tâm hồn góp thành bể biếc
cuộc đời – màu tình yêu muôn thuở
Đặc sắc hơn cả về đề tài tình yêu là tác phẩm "Vội vàng" Bài thơ là một quan niệm sống mới mẻ và táo bạo mà trước đó chưa từng có Lối sống ở đây là lối sống biết hưởng thụ một cách chính đáng, biết khẩn trương, sống cho ra sống Tuy nhiên ở "Vội vàng" tác giả chỉ đề cập đến lối sống thiên về hưởng thụ, chạy theo thời gian Ông kêu gọi mọi người hãy biết yêu và tận hưởng những gì cuộc sống ban tặng nhưng chưa kêu gọi mọi người cống hiến Chính vì vậy khi mới ra đời bài thơ "Vội vàng" vẫn chưa được mọi người thừa nhận vẫn là điều dễ hiểu
Học thơ Xuân Diệu, đặc biệt là bài thơ "Vội vàng" ta càng thêm yêu cuộc sống hôm nay và góp phần làm cho cuộc sống đó thêm tươi đẹp, nhưng bức thông điệp mà nhà thơ gửi đến người đọc: hãy sống hết mình, cống hiến tuổi trẻ cho Tổ quốc, nhân dân, đừng hoài phí thời gian, hãy mở rộng lòng mình để đón nhận tất cả những vang động của cuộc đời vẫn còn nguyên giá trị Bức thông điệp xuyên thời gian và ngự trị muôn đời trong tâm hồn người Việt Nam, được bồi đắp thêm qua thời gian và trường tồn vình cửu
Với nội dung và phương thức thể hiện nghệ thuật đa dạng, phong phú, giúp học sinh cảm nhận được: sống vội vàng chỉ là một cách nói, trong cốt lõi, đây là quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái Tôi cá nhân trong thời hiện đại Quan niệm đó được diễn giải
Trang 36qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc riêng của tác giả từ phát hiện mới: cuộc đời như một thiên đường trên mặt đất cho đến nỗi ám ảnh về
số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân và những giải pháp điều hòa mâu thuẫn, nghịch lí Bài thơ đặc biệt hơn ở nét độc đáo trong cấu tứ, sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố trữ tình và chính luận, sự sáng tạo trong cách diễn đạt mới, hình ảnh mới, ngôn từ mới, cách tạo ra cú pháp mới việc tiếp nhận bài thơ gặp nhiều khoảng cách là điều không tránh khỏi Điều này được thể hiện ở cách nhìn nhận và đánh giá bài thơ "Vội vàng" trước kia và sau này không đồng nhất
Nguyên nhân dẫn đến những ý kiến không thống nhất là do tính không trọn vẹn trong tiếp nhận; khoảng cách về từ ngữ; khoảng cách về lịch sử-văn hóa; khoảng cách giữa chủ thể trữ tình với học sinh miền núi Nhưng qua thời gian bài thơ "Vội vàng" đã được bạn đọc yêu quý và ngày càng trở thành bài thơ hay có giá trị sâu sắc
Tóm lại: trên đây là một số cơ sở lý luận làm tiền đề cho chúng tôi nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của đề tài đặt ra Lý thuyết tiếp nhận và khoảng cách trong tiếp nhận Thơ mới là cơ sở để chúng tôi tiến hành khảo sát khoảng cách tiếp nhận giữa học sinh miền núi và bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Thực trạng dạy văn, học văn ở nhà trường trung học phổ thông
Văn học là bộ môn nghệ thuật dễ lôi cuốn và hấp dẫn song không thể phủ nhận một thực tế đáng buồn: Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước học sinh càng lên lớp trên càng không có hứng thú học văn, đó
là mối băn khoăn không chỉ riêng của nhà giáo và ngành giáo dục mà đã trở thành mối quan tâm chung của xã hội
Là một người giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại tỉnh miền núi Tuyên Quang, chúng tôi không khỏi băn khoăn trăn trở và đang đứng trước
Trang 37một thực tế vô cùng khó khăn là làm thế nào để học sinh dân tộc miền núi vượt qua được "màng cách điệu tâm hồn" như TS Hoàng Hữu Bội từng nói,
để có thể xâm nhập vào trong tác phẩm, để xúc cảm, suy ngẫm cùng với nhà văn, để được bồi đắp tâm hồn biết sống đẹp và tốt hơn Trong hành trình tìm lời giải đáp cho những băn khoăn đó trước hết chúng tôi đi tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc từ thực tế tiếp nhận bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu đối với học sinh miền núi tại Tuyên Quang, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm rút ngắn khoảng cách tiếp nhận ở các em nói riêng và học sinh THPT miền núi nói chung
2.2 Khảo sát thực trạng
2.2.1 Mục đích khảo sát
Tìm hiểu tình hình dạy học bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu
ở các trường THPT trên địa bàn miền núi Tuyên Quang, để tìm ra những hạn chế mà học sinh gặp phải trong việc tiếp nhận để tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp rút ngắn khoảng cách tiếp nhận
2.2.2 Đối tượng điều tra
Học sinh lớp 11 của 08 trường THPT trên địa bàn miền núi Tuyên Quang với tổng số 256 em
Trong đó học sinh dân tộc là chiếm tỉ lệ 66,1%, người kinh là chiếm tỉ
lệ 33,9%
2.2.3 Thời gian khảo sát
- Từ tháng 01/2015 -> 02/2015 (Học kỳ II của năm học 2014-2015)
2.2.4 Nội dung và hình thức khảo sát
- Điều tra sự phân bố cơ cấu dân tộc học sinh
- Tiếp cận giáo án của giáo viên, bài soạn và vở ghi của học sinh, thiết
bị dạy học được sử dụng
- Dự giờ tiết dạy và học bài thơ "Vội vàng"
Trang 38- Phát phiếu điều tra (có sẵn câu hỏi, từ kết quả thu đƣợc trên phiếu tổng hợp phân tích số liệu, tìm hiểu thực trạng tiếp nhận tác phẩm)
* Nội dung phiếu khảo sát nhƣ sau:
A Về chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm:
(1) Bài thơ "Vội vàng" đƣợc viết theo thể thơ nào?
(2) Em có nhận xét gì về các biện pháp nghệ thuật trong đoạn 1 của bài thơ? (3) Cách dùng từ ngữ, hình ảnh của Xuân Diệu trong bài thơ "Vội vàng"có gì đặc biệt?
(4) Em có nhận xét gì về nhịp thơ trong bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu ?
(5) Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu có gì khác so với quan niệm
về thời gian trong thơ ca truyền thống?
(6) Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì để bộc lộ thái độ sống
(Đoạn 4)? tác dụng của các biện pháp nghệ thuật ấy?
B Về Nội dung tác phẩm:
(1) Em hiểu nhƣ thế nào về nhan đề bài thơ "Vội vàng"?
(2) Bốn câu thơ đầu tiên bộc lộ ƣớc muốn gì của nhà thơ? Nhận xét gì
về ƣớc muốn của thi sĩ Xuân Diệu?
(3) Em có cảm nhận gì về câu thơ:
"Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa"
(4) Phân tích câu thơ:
"Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa"
(5) Cảm nhận độc đáo của thi sĩ Xuân Diệu đƣợc bộc lộ nhƣ thế nào
trong câu thơ: "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"?
(6) Khát vọng sống mãnh liệt của nhà thơ đƣợc bộ lộ nhƣ thế nào trong
câu thơ cuối: "Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"?
Trang 39* Đề xuất: Qua việc đọc và chuẩn bị bài ở nhà, em thấy có điều gì khó
khăn khi tiếp nhận bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu? Để hiểu bài thơ anh (chị) đề xuất ý kiến gì?
2.2.5 Kết quả khảo sát
Những số liệu phản ánh khoảng cách tiếp nhận của học sinh THPT miền núi Tuyên Quang khi học bài thơ "Vội vàng" của nhà thơ Xuân Diệu thể hiện qua các bảng khảo sát sau
Trang 40Bảng 1: Cơ cấu dân tộc trong tổng số học sinh đƣợc tiến hành khảo sát
Dân tộc Kinh chiếm 33,9% Các dân tộc tiểu số chiếm 66,1%