Theo luật ngân sách nhà nước Việt Nam thì: NSNN là toàn bộ các khoảnthu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định vàđược thực hiện trong một năm để đảm bảo thực
Trang 1MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng trong nền tài chính quốcgia, là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất trong nền kinh tế Ngân sách nhà nước
là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo cho các chỉ tiêu của nhà nước,đồng thời là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế Chính vì vậy, công tác quản
lý nguồn ngân sách nhà nước là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi quốc gia, trong đó
có Việt Nam
Ra đời và có hiệu lực từ năm 1997, luật NSNN sau một thời gian đi vàothực tiễn đã thể hiện vai trò của mình đối với nền kinh tế, đánh dấu bước đổimới quan trọng trong quản lý NSNN Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, nóvẫn bộc lộ một số nhược điểm, hạn chế nhất định Vì vậy, tăng cường quản lýNSNN là một nhiệm vụ cần thiết của Đảng, nhà nước cũng như mỗi địa phương
để nâng cao hiệu quả tiền, vốn và tài sản của nhà nước
Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “ Phân tích hệ thống tổ chức Ngânsách nhà nước và công tác quản lý ngân sách nhà nước Liên hệ thực tiễn ở ViệtNam và ở địa phương” làm đề tài nghiên cứu của mình
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN và công tác quản lýNSNN
Phân tích thực trạng công tác quản lý NSNN để đánh giá kết quả đạt được,hạn chế và tìm ra nguyên nhân của các hạn chế
Đề xuất một số giải pháp khoa học, hợp lý nhằm hoàn thiện công tác quản
lý NSNN trong thời gian tới
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: tập trung vào công tác quản lý NSNN
Phạm vi nghiên cứu: công tác quản lý NSNN qua các khâu lập dự toán,chấp hành, quyết toán và thanh kiểm tra của Việt Nam
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 2Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các kiến thức, thông tin,
số liệu phục vụ đề tài
Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng để thực hiện việc phân tích,
so sánh số liệu thu nhập nhằm rút ra các kết luận phục vụ mục tiêu của đề tàiPhương pháp chuyên gia: tham khảo, hỏi ý kiến các chuyên gia vê vấn đềcần tìm hiểu của đề tài, và các kết quả của đề tài
Trang 3CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
HỆ THỐNG TỔ CHỨC NSNN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NSNN 1.1 Ngân sách nhà nước.
1.1.1 Khái niệm
Ngân sách nhà nước hay ngân sách chính phủ là một thành phần quan trọngtrong hệ thống tài chính Thuật ngữ ngân sách nhà nước tuy được sử dụng rộngrãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia nhưng vẫn chưa thực sự thốngnhất Định nghĩa về NSNN được đưa ra khác nhau do tùy từng trường phái vàlĩnh vực nghiên cứu
Theo luật ngân sách nhà nước Việt Nam thì: NSNN là toàn bộ các khoảnthu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định vàđược thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụcủa nhà nước
NSNN được cơ quan lập pháp ban hành, là hệ thống mối quan hệ giữa nhànước và xã hội trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tàichính nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của mình Nó bao gồm: quan hệkinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các đơn vị hànhchính sự nghiệp, các tầng lớp dân cư, thị trường tài chính và hoạt động tài chínhđối ngoại với các quốc gia khác Bản chất NSNN gắn liền với bản chất chính trị
và bản chất giai cấp cầm quyền, thông qua NSNN, nhà nước sẽ định hướng hìnhthành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất đồng thời chống độcquyền
1.1.2 Bản chất của NSNN Việt Nam.
NSNN là mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa nhà nước với các chủ thế kinh
tế khác trong nền kinh tế, thông qua việc tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền
tệ tập trung của nhà nước
Để có cách nhìn nhận đầy đủ hơn về bản chất của NSNN một cách toàndiện vcả về phương diện khoa học lẫn thực tiễn, đồng thời với tư cách là công cụkinh tế của nhà nước, cần xem xét trên các góc độ sau:
Thứ nhất, trên góc độ khoa học – ngân sách là phạm trù kinh tế, lịch sử
Trang 4Thứ hai, nhìn từ góc độ kinh tế - xã hội, ngân sách phản ánh tổng thể cácquan hệ kinh tế - xã hội thông qua quan hệ động viên các nguồn lực tài chính vàphân phối các nguồn lực tài chính đó cho các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Thứ ba, trên góc độ nội dung vật chất – ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệtập trung lớn nhất, được sử dụng để thực hiện các chức năng của nhà nước
Thứ tư, nhìn trên góc độ quản lý – ngân sách nhà nước là kế hoạch tài chính
cơ bản của nhà nước hay là bảng cân đối thu – chi chủ yếu của nhà nước
Thứ năm, từ góc độ pháp lý – ngân sách nhà nước là đạo luật tài chính cơbản trong năm tài chính
Từ cách tiếp cận đó, có thể rút ra bản chất sâu xa của NSNN: Ngân sachnhà nước là hệ thống (tổng thể) các quan hệ kinh tế, gắn liền với quá trình phânphối các nguồn lực tài chính của xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằmthực hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từngthời kì nhất định
1.1.3 Vai trò của NSNN
1.1.3.1 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế quốc dân
NSNN – Công cụ huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chitiêu của nhà nước
Huy động các nguồn lực tài chính: NSNN là một công cu đắc lực của nhànước NSNN giữ vai trò trọng yếu trong việc động viên và phân phối các nguồnlực tài chính để đảm bảo việc thực thi các chức năng của nhà nước đương quyền,thông qua các chính sách thuế: thuế trực thu, thuế gián thu, phí và các nguồn thukhác
Bảo đảm nhu cầu chi tiêu của nhà nước: chi NSNN nhìn một cách bao quát
là chi để đảm bảo việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nướcđương quyền Trong đó, có thể phân thành 3 nội dung chi cơ bản: chi đầu tưphát triển, chi thường xuyên và chi dự trữ quốc gia
NSNN là công cụ điêù tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội
Vai trò điều tiết vĩ mô của NSNN trong nền kinh tế thị trường: điều tiếtkinh tế vĩ mô được thực hiện thông qua một hệ thống các công cụ như: chiến
Trang 5lược, kế hoạch (định hướng và hướng dẫn), pháp luật (điều tiết hành vi) và cáccông cụ kinh tế tài chính (thuế, lãi suất tín dụng, chiêt khấu ) Trong lĩnh vực tàichính, NSNN giữ vai trò rất quan trọng thông qua chính sách động viên cácnguồn lực tài chính và đầu tư phát triển.
1.1.3.2 Vai trò của NSNN trong hệ thống tài chính
Căn cứ tổ chức, bộ máy nhà nước, cơ cấu thành phần kinh tế và đặc điểmhình thành, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính cùng với phạm vi tácđộng và chức năng hoạt động, các chủ thể trong nền kinh tế thị trường được chiathành 5 khu vực thể chế và từ đó hình thành 5 khâu của hệ thống tài chính, đó là:Tài chính nhà nước
Tài chính các tổ chức kinh tế
Các định chế tài chính trung gian
Tài chính kinh tế cá thể và hộ gia đình
Tài chính các tổ chức xã hội nghề nghiệp không vì mục đích sinh lợi và hỗtrợ các hoạt động xã hội, từ thiện
Trong các khâu của hệ thống tài chính, tài chính nhà nước được xem làkhâu quan trọng của hệ thống tài chính gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung; hoạtđộng của nó liên quan đến viẹc thực hiện các chức năng của nhà nước về kinh
tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và phúc lợi xã hội
1.2 Hệ thống NSNN
Hệ thống NSNN được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệhữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngânsách
Tại nước ta, tổ chức hệ thống nsnn gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máynhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước theo hiến pháp mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêngcung cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện chức năng,nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ việc hình thành hệ thống chính quyềnnhà nước các cấp là một tất yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng, nhiệm
Trang 6vụ của nhà nước trên mọi vùng lãnh thổ của đất nước chính sự ra đời của hệthống chính quyền nhà nước nhiều cấp đó
Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhấttheo nguyên tắc tập trung và dân chủ, thể hiện
Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thànhmột thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng địnhmức chi tiêu và cùng thực hiện một quá trình ngân sách
Tính tập trung: thể hiện ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trungcác nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng Ngân sách cấp dưới chịu sựchi phối của ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảmbảo cân đối của ngân sách cấp mình
Tính dân chủ: Dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngânsách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyềnchi phối ngân sách cấp mình
Hiện nay theo khoản 1 Điều 4 Luật ngân sách nhà nước 2002 thì: “Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương” Nhìn một
cách tổng thể, quy định này cho thấy mô hình về tổ chức hệ thống ngân sách nhànước gồm hai cấp là ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Trong hệthống ngân sách này, Quốc hội chỉ phân giao nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thểcho ngân sách trung ương, đồng thời xác định tổng khối lượng thu, chi trongnăm ngân sách cho ngân sách địa phương Luật ngân sách nhà nước 2002 đãtrao quyền quyết định cho cơ quan quyền lực nhà nước cấp tỉnh trong việc phânphối nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương Các bộphận cấu thành của ngân sách địa phương theo quy định của Luật ngân sáchnhà nước 2002: “Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân”(khoản 1 Điều 4) Vì
vậy ngân sách địa phương cũng gồm ngân sách tỉnh, ngân sách huyện và ngânsách xã
Trang 7Như vậy, nói một cách đầy đủ, hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Namgồm 2 cấp: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương trong đó ngân sáchđịa phương gồm có ba cấp:
Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngânsách cấp tỉnh)
Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung làngân sách cấp huyện)
Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã)
Ngân sách trung ương phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo nhành và giữ vai tròchủ đạo trong hệ thống nsnn nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyềntrung ương được mạch của cả nước
Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấpchính quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp ngoài ngân sách
xã chưa có đơn vị dự toán, các cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn vị
dự toán của cấp ấy hợp thành
Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảothực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chínhquyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương
Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở có tầmquan trọng đặc biệt và cũng có đặc thù riêng: nguồn thu được khai thác trực tiếptrên địa bàn và nhiệm vụ chi cũng được bố tríđể phục vụ cho mục đích trực tiếpcủa cộng đồng dân cư trong xã mà không thông qua một khâu trung gian nào.ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống nsnn, đảm bảo điều kiện tàichính để chính quyền xã chủ động khai thác các thế mạnh về đất đai, phát triểnkinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới, thực hiện các chính sách xã hội, giữgìn an ninh, trật tự trên địa bàn
Trong hệ thống ngân sách nhà nước ta, ngân sách trung ương chi phối phầnlớn các khoản thu và chi quan trọng, còn ngân sách địa phương chỉ được giaonhiệm vụ đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương quan hệ giữacác cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc sau:
Trang 8Ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương đượcphân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể
Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới đểđảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương số bổsung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới
Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản
lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vị chi thuộc chức năng của mình, thì phảichuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiệnnhiệm vụ đó
Ngoài việc bổ sung nguồn thu và uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi, không đượcdùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của ngân sách cấp khác trừ trườnghợp đặc biệt theo quy định của chính phủ
1.3 Quản lý ngân sách nhà nước
1.3.1 Khái niệm
Quản lý NSNN là việc xây dựng kế hoạch tạo lập, sử dụng ngân sách nhànước tập trung các khoản thu, tổ chức và điều hòa vốn tiền mặt đảm bảo thựchiện chi trả tiền ngân sách nhà nước
1.3.2 Nội dung quản lý ngân sách nhà nước.
NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, côngkhai, có phân cấp trách nhiệm gắn với quyền hạn, phân cấp quản lý giữa cáccấp, các ngành
Về thu ngân sách nhà nước
Thu NSNN là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung môtnguồn tài chính quốc gia, hình thành quỹ NSNN nhằm phục vụ các nhu cầu,mục tiêu phát triển của nhà nước
Các nguồn thu chính của NSNN bao gồm:
Xét theo nguồn hình thành các nguồn thu
Thu từ các hoạt động kinh doanh trong nước: thu từ sản xuất, thu từ lưuthông – phân phối hàng hóa, thu từ hoạt động dịch vụ
Thu từ nguồn thu nức ngoài: thu từ vay nợ và viện trợ ngoại quốc
Trang 9Xét theo tác dụng đối với quá trình cân đối ngân sách
Thu trong cân đối NSNN: thu từ thuế, phí, lệ phí (quan trọng nhất, chiếm tỷtrọng lớn và là công cụ quản lý vĩ mô), thu về bán và cho thuê các tài sản thuộc
sở hữu của nhà nước, thu lợi tức cổ phần của nhà nước, các khoản thu khác Thu đề bù đắp sự thâm hụt của NSNN: các khoản vay
Thu NSNN thường thông qua các phương thức huy động nguồn tài chính:Phương thức huy động bắt buộc dưới hình thức thuế, phí, lệ phí
Phương thức huy động tự nguyện dưới hình thức tín dụng nhà nước
Phương thức huy động khác
Trong nguồn thu trên thì thuế là nguồn thu chính, cơ bản và chủ yếu để huyđộng nguồn tài chính vào NSNN
Về chi ngân sách nhà nước
Về mặt pháp lý, chi NSNN là qua trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN choviệc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước Có thể nói, chi NSNN là việc cungcấp các phương tiện tài chính cho chính phú hay các pháp nhân hành chính thựchiện để đạt được các mục tiêu mà nhà nước đề ra
Về mặt bản chất, chi NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại cáckhoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tậptrung của nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang sựnghiệp văn hóa – xã hội, duy trì bộ máy quản lý nhà nước và đảm bảo an ninhquốc phòng
Nội dung cơ bản:
Chi đầu tư phát triển: Nhà nước đầu tư xây dựng những công trình thuộckết cấu hạ tầng, các ngành kinh tế mũi nhọn, tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội nói chung, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc mởrộng đầu tư các ngành kinh tế khác
Chi thường xuyên: bao gồm các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền vớichức năng quản lý xã hội của nhà nước (chi quản lý nhà nước, chi an ninh quốcphòng, chi sự nghiệp kinh tế, chi sự nghiệp y tế )
1.3.3 Cân đối ngân sách nhà nước
Trang 10Cân đối NSNN là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý NSNN và hiệnnay trên thế giới đang tồn tại hai luồng quan điểm thu, chi NSNN.
Đầu tiên, đó là quan điểm thu được bao nhiêu chi bấy nhiêu Quan điểmnày gắn liền với hệ số an toàn cao, giảm thiểu được nguy cơ suy thoái cho nềnkinh tế nhưng lại đi kèm với nhược điểm không thể tránh khỏi ở những nước cónền kinh tế kém phát triển hay tăng trưởng kinh tế chậm là liệu thu ít thì tốc độtăng trưởng kinh tế sẽ ra sao
Quan điểm thứ hai chính là quan điểm phát hành thêm tiền và đi vay đểphát triển nguồn thu cho NSNN
Ưu điểm của quan điểm này là: đáp ứng được nhu cầu thiếu hụt củaNSNN, tạo điều kiện phát triển nguồn thu cho quốc gia
Tuy vậy, biện pháp trên hết sức mạo hiểm
Đối với việc phát hành tiền để bù đắp chi ngân sách sẽ trở thành một loại
“thuế vô hình” đánh vào nguồn thu nhập của cư dân đồng thời đi kèm theo nó làlạm phát, tiền lương đông cứng hay chậm lương
Đối với việc đi vay để tăng thu đi kèm theo sau là việc phải có trách nhiệmhoàn trả cả vốn lẫn lãi khi đến kỳ hạn, đồng thời nếu sử dụng nguồn vốn vaykhông hiệu quả thì gánh nặng với nước ngoài sẽ càng gia tăng
Trang 11CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NSNN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2011 – 2013 2.1 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 2011-2013
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễnbiến phức tạp,kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự báo; trong nước, những hạn chế, yếu kémvốn có của nền kinh tế chậm được khắc phục cùng với những vấn đề mới phátsinh tác động không thuận đến ổn định kinh tế vĩ mô
Về tăng trưởng kinh tế:
Theo giá so sánh năm 2010, GDP năm 2011 tăng 6,24%, năm 2012 tăng5,25% và năm 2013 tăng 5,42% Bình quân 3 năm, GDP tăng 5,6%/năm Tuychưa đạt kế hoạch đề ra ban đầu cũng như chỉ tiêu đã điều chỉnh, nhưng đây làmức tăng có thể chấp nhận được và có phần cao hơn chút ít so với mức bìnhquân của các nước ASEAN (5,1%/năm trong thời kì 2011-2013 – theo IMF)
Về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô:
Qua ba năm, nhờ kiên trì theo đuổi mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ápdụng đồng bộ các biện pháp, chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm đã giảm từ mức18,13% năm 2011 xuống 6,8% năm 2012 và năm 2013 lạm phát ở mức 6,04%.Mặt bằng lãi suất huy động giảm từ mức 17-18% của năm 2011 xuống còn 7-10%/năm, mặt bằng lãi suất cho vay giảm còn 9-12%/năm tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng Bội chi ngân sách, nợ chínhphủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia theo cách đánh giá của Việt Nam vẫntrong giới hạn kiểm soát
Trang 12Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 2011-2013
5 Nhập siêu so kim ngạch xuất khẩu -10.2 0.7 0.7
7 Tỷ lệ thất nghiệp thành thị 3.6 3.2 3.6
(Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê – Tổng cục thống kê)
2.2 Cân đối thu – chi NSNN giai đoạn 2011 -2013
Thu NSNN tăng đều qua các năm về con số tuyệt đối: Năm 2011 là595.000 tỉ đồng, 2012 là 740.500 tỉ đồng, năm 2013 là 816.000 tỉ đồng song
về tỉ lệ huy động trên GDP thì vẫn khá ổn định và có xu hướng giảm dầnqua các năm: Năm 2011 là 26,15%, năm 2012 là 25,36%, năm 2013 là24,17% Trong đó, thu từ thuế và phí lệ phí chiếm tỉ trọng trên 94% tổng thuNSNN
Về thực hiện thu NSNN, năm 2011 và 2012 cao hơn so với dự toán (năm
2011 đạt 121,31%, năm 2012 đạt 100,36%) Tuy nhiên đến năm 2013, số thựchiện so với dự toán giảm (đạt 96,91%)
Về dự toán chi NSNN năm 2011 là 676.360 tỉ đồng chiểm tỉ lệ 29,73%GDP, năm 2012 là 852.760 tỉ đồng, chiểm tỉ lệ 29,72% GDP, năm 2013
là 917.190 tỉ đồng chiếm tỉ lệ 27,17% GDP Trong đó chi thường xuyênchiếm tỉ trọng 74% năm 2011, năm 202 là 76% và năm 2013 là 78% tổng chiNSNN; Chi đầu tư phát triến có xu hướng giảm về tỉ trọng Điều này thể hiện
rõ mục tiêu ưu tiên đảm bảo xã hội, trợ giúp nền kinh tế ổn định và phát triểntrong giai đoạn có nhiều khó khăn này
Về thực hiện, chi NSNN năm 2011 đạt 140,92% so với dự toán Đến năm
2012, rút kinh nghiệm so với năm trước, chi NSNN được hạn chế tối đa, đạt99,72% so với dự toán Đến năm 2013, tỷ lệ giữa thực hiện chi NSNN so với dựtoán đạt 101
Trang 132.3 Thu ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2011 - 2013
Ta có thể nhận thấy, tổng thu NSNN qua 3 năm có sự dao động mạnh(giảm tới 192.450 tỷ đồng từ năm 2011-2012 và tăng đáng kể 25.210 tỷ đồng từ
2012 tới 2013) Tuy nhiên trong khi thu cân đối 2 năm 2011 và 2012 đều vượt
dự toán thì năm 2013 không đạt dự toán đặt ra
Năm 2011, tổng thu NSNN đạt 962.982 tỷ đồng (bao gồm cả chuyểnnguồn từ năm 2010), vượt 126.804 tỷ đồng (21,3%) so với chỉ tiêu đượcQuốc hội giao Trong đó, cả 4 nguồn thu chủ yếu của NSNN đều tăng so với
dự toán được giao Thu từ dầu thô tăng 40.905 tỷ đồng, thu nội địa từ sảnxuất kinh doanh tăng 35.812 tỷ đồng, thu cân đối từ xuất nhập khẩu tăng17.065 tỷ đồng, thu về nhà đất tăng 25.918 tỷ đồng Theo Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội, số thu NSNN vượt dự toán chủ yếu từ yếu tố kháchquan, nhất là do giá cả tăng (chỉ số giá tiêu dùng năm 2011 tăng 18,13% sovới năm 2010, giá dầu thô tăng 28 USD/thùng so với giá dự toán, tỷ giá tínhthuế thực tế cao hơn tỷ giá khi xây dựng dự toán) Bên cạnh đó, tăng thu cònnhờ việc điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng khôngkhuyến khích nhập khẩu và tăng thu các khoản về nhà đất Thu từ sản xuấtkinh doanh chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng số tăng thu Điều này phản ánhthu NSNN tuy tăng cao nhưng chưa bắt nguồn từ nội lực kinh tế và chưa thực
sự vững chắc
Dự toán thu cân đối NSNN năm 2012 là 740.500 tỷ đồng Tuy nhữngtháng cuối năm thu NSNN vẫn rất khó khăn nhưng với quyết tâm cao, nên thựchiện thu ngân sách cả năm đạt 743.190 tỷ đồng, bằng 100,4% dự toán; Tỷ lệhuy động thu nội địa (trừ thu tiền sử dụng đất, tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhànước) đạt 14,3% GDP,giảm 27.170 tỷ đồng và thu cân đối ngân sách từ hoạtđộng xuất nhập khẩu giảm 26.072 tỷ đồng so dự toán nhưng lại được bù đắpbằng số vượt thu từ dầu thô 53.107 tỷ đồng so dự toán
Năm 2013, theo số liệu ước tính thực hiện lần 1 thu NSNN là 790.800 tỉđồng, đạt 96,91% so với dự toán Trong đó thu tự thuế, phí lệ phí là 678.598
tỉ đồng, chỉ đạt 93,19% so với dự toán Nguyên nhân là do tình hình kinh tế có