Mục lục Lời mở đầu 3 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH CHÍNH DOANH NGHIỆP 4 1.1. Khái niệm và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp 4 1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp : 4 1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp 4 1.2. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính 8 1.2.1. Thông tin chung 8 1.2.2. Thông tin theo ngành kinh tế 8 1.2.3. Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp 8 1.3. Tiến hành phân tích tài chính 14 1.3.1.Các bước tiến hành phân tích tài chính 14 1.3.2.Trình tự phân tích tài chính 14 Phân tích thuyết minh 15 1.4. Các phương pháp phân tích tài chính 15 1.4.1. Phương pháp so sánh. 16 1.4.2. Phương pháp loại trừ 17 1.4.3. Phương pháp liên hệ 19 1.4.4.Phương pháp dupont 20 1.5. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 22 1.5.1. Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính 22 1.5.2. Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính. 24 1.6. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng phân tích tài chính 36 1.6.1.Chất lượng thông tin sử dụng 36 1.6.2.Trình độ cán bộ phân tích 37 1.6.3. Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành 37 CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC VẬT TƯ Y TẾ HẢI DƯƠNG 38 2.1. Khái quát chung về công ty cổ phần dược vật tư y tế Hải Dương 38 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty 39 2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công ty 40 2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty 43 2.1.4. Tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty 45 2.1.5. kết quả hoạt đông kinh doanh của công ty trong 3 năm 2009, 2010,2011 48 2.1.6. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của công ty 50 2.2. Phân tích tình hình tài chính của công ty 51 2.2.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán 51 2.2.2. Các tỷ số về khả năng cân đối vốn 53 2.2.3. Tỉ số về khả năng hoạt động 58 2.2.4. Tỉ số về khả năng sinh lời 66 2.3. Đánh giá chung về tinh hình tài chính của công ty 71 2.3.1. Những ưu điểm 71 2.3.2. Nhưng hạn chế 71 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY 72 3.1. Một số giải pháp 72 3.1.1.Hoàn thiện về tổ chức công tác phân tích 72 3.1.2. Hoàn thiện công tác kế toán 73 3.1.3. Đào tạo nhân sự cho công tác phân tích tài chính 74 3.1.4. Thực hiện công tác phân tích tài chính một cách thường xuyên 74 3.1.5. Sử dụng linh hoạt các phương pháp phân tích tài chính 75 3.2. Kiến nghị 75 3.2.1.Đối với công ty 75 3.2.2. Đối với Nhà nước 76 Kết luận 79
Trang 1Mục lục
Lời mở đầu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH CHÍNH DOANH NGHIỆP 4
1.1 Khái niệm và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp : 4
1.1.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.2 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính 8
1.2.1 Thông tin chung 8
1.2.2 Thông tin theo ngành kinh tế 8
1.2.3 Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp 8
1.3 Tiến hành phân tích tài chính 14
1.3.1.Các bước tiến hành phân tích tài chính 14
1.3.2.Trình tự phân tích tài chính 14
Phân tích thuyết minh 15
1.4 Các phương pháp phân tích tài chính 15
1.4.1 Phương pháp so sánh 16
1.4.2 Phương pháp loại trừ 17
1.4.3 Phương pháp liên hệ 19
1.4.4.Phương pháp dupont 20
1.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 22
1.5.1 Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính 22
1.5.2 Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính 24
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng phân tích tài chính 36
1.6.1.Chất lượng thông tin sử dụng 36
1.6.2.Trình độ cán bộ phân tích 37
1.6.3 Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành 37
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC VẬT TƯ Y TẾ HẢI DƯƠNG 38
Trang 22.1 Khái quát chung về công ty cổ phần dược vật tư y tế Hải Dương 38
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty 39
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công ty 40
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty 43
2.1.4 Tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty 45
2.1.5 kết quả hoạt đông kinh doanh của công ty trong 3 năm 2009, 2010,2011 48
2.1.6 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của công ty 50
2.2 Phân tích tình hình tài chính của công ty 51
2.2.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán 51
2.2.2 Các tỷ số về khả năng cân đối vốn 53
2.2.3 Tỉ số về khả năng hoạt động 58
2.2.4 Tỉ số về khả năng sinh lời 66
2.3 Đánh giá chung về tinh hình tài chính của công ty 71
2.3.1 Những ưu điểm 71
2.3.2 Nhưng hạn chế 71
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY 72
3.1 Một số giải pháp 72
3.1.1 Hoàn thiện về tổ chức công tác phân tích 72
3.1.2 Hoàn thiện công tác kế toán 73
3.1.3 Đào tạo nhân sự cho công tác phân tích tài chính 74
3.1.4 Thực hiện công tác phân tích tài chính một cách thường xuyên 74
3.1.5 Sử dụng linh hoạt các phương pháp phân tích tài chính 75
3.2 Kiến nghị 75
3.2.1.Đối với công ty 75
3.2.2 Đối với Nhà nước 76
Kết luận 79
Trang 3Lời mở đầu
Như ta đó biết, nhận thức, quyết định và hành động là bộ ba biện chứng của quản
lý khoa học, có hiệu quả toàn bộ các hoạt động kinh tế trong đó nhận thức giữ vị trí đặcbiệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu và sau đó là các nhiệm vụ cần đạt tới trongtương lai Như vậy nếu nhận thức đúng, người ta sẽ có các quyết định đúng và tổ chứcthực hiện kịp thời các quyết định đúng đương nhiên sẽ thu được những kết quả như mongmuốn Ngược lại, nếu nhận thức sai sẽ dẫn tới cỏc quyết định sai và nếu thực hiện cácquyết định sai đó thì hậu qủa sẽ không thể lường trước được
Vi vậy phân tích tình hình tài chính thông qua các chỉ số tài chính là đánh giá đúngđắn nhất những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra, trên cơ sở đó kiến nghị cácbiện pháp để tận dụng triết để những điểm mạnh và khắc phục các điểm yếu
Tình hình tài chính doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủ doanh nghiệp
mà cũng là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà đầu tư, người cho vay, Nhànước và người lao động Qua đó họ sẽ thấy được thực trạng thực tế của doanh nghiệp saumỗi chu kỳ kinh doanh, và tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh Thông qua phântích họ có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liên quan đến doanh nghiệp và tạođiều kiện nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp Do đó việc phân tích tài chínhtrong một doanh nghiệp là hết sức cần thiết Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phầndược vật tư y tế Hải Dương em quyết định chọn đề tài: " phân tích các chỉ tiêu tài chínhcủa công ty cổ phần dược vật tư y tế Hải Dương "
Thực hiện đề tài này với mục đích dựa vào tình hình thực tế hoạt động sản xuấtkinh doanh của Cụng ty để ứng dụng phương pháp phân tích, từ đó đánh giá hiệu quả sảnxuất kinh doanh của Cụng ty
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: cơ sở lý luận chung về phân tích tình hình tài chính
Chương 2: phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần dược vật tư y tế Hải DươngChương : một số giải pháp để nâng cao tình hình tài chính của công ty cổ phần dược vật
tư y tế Hải Dương
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH
CHÍNH DOANH NGHIỆP1.1 Khái niệm và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp :
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ chophép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánhgiá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người
sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá sảntác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá khảnăng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Trên
cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kếtquả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai.Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính - một trong các hướng dựđoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu,thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp )
1.1.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc phân tíchcác báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các sốliệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giátiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai Báo cáo tài chính
là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hìnhtài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chính rất hữu ích đốiviệc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với nhữngngười bên ngoài doanh nghiệp Do đó, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm củanhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông,các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quan chính phủ, người laođộng Mỗi nhóm người này có những nhu cầu thông tin khác nhau
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chínhdoanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước phápluật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượngquan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ,nhà cung cấp, khách hàng kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi đốitượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau
1.1.2.1 Đối với người quản lý doanh nghiệp :
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợinhuận và khả năng trả nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và
Trang 5buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đếnhạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý doanh nghiệp phải giảiquyết ba vấn đề quan trọng sau đây :
Thứ nhất : Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình sản xuất
kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp
Thứ hai : Nguồn vốn tài trợ là nguồn nào?
Để đầu tư vào các tài sản, doanh nghiệp phải có nguồn tài trợ, nghĩa là phải có tiền
để đầu tư Các nguồn tài trợ đối với một doanh nghiệp được phản ánh bên phải của bảngcân đối kế toán Một doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc vay nợ dài hạn, ngắnhạn Nợ ngắn hạn có thời hạn dưới một năm còn nợ dài hạn có thời hạn trên một năm.Vốn chủ sở hữu là khoản chênh lệch giữa giá trị của tổng tài sản và nợ của doanh nghiệp.Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơ cấu như thế nào chophù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất Liệu doanh nghiệp có nên sử dụng toàn bộ vốnchủ sở hữu để đầu tư hay kết hợp với cả các hình thức đi vay và đi thuê? Điều này liênquan đến vấn đề cơ cấu vốn và chi phí vốn của doanh nghiệp
Thứ ba : Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế
nào?
Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ đến vấn đềquản lý vốn lưu động của doanh nghiệp Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn liền với cácdòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ Nhà quản lý tài chính cần xử lý sự lệch pha của các dòngtiền
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanh nghiệp,nhưng đó là những vấn đề quan trọng nhất Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở để
đề ra cách thức giải quyết ba vấn đề đó
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính và dựatrên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết định vì lợi ích của cổđông của doanh nghiệp Các quyết định và hoạt động của nhà quản lý tài chính đều nhằmvào các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp : đó là sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnh tranh vàchiếm được thị phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận
và tăng trưởng thu nhập một cách vững chắc Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động tốt vàmang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản lý được đưa ra làđúng đắn Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà phântích tài chính trong doanh nghiệp là những người có nhiều lợi thế để thực hiện phân tíchtài chính một cách tốt nhất
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năng thanhtoán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản lýtài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng củadoanh nghiệp trong tương lai Từ đó, họ có thể định hướng cho giám đốc tài chính cũngnhư hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập
Trang 6kế hoạch dự báo tài chính Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát cáchoạt động quản lý.
1.1.2.2 Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn, mứcsinh lãi và sự rủi ro Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạtđộng, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp Cổ phần, các cổ đông là người đã bỏ vốn đầu tư vào doanhnghiệp và họ có thể phải gánh chịu rủi ro Những rủi ro này liên quan tới việc giảm giá cổphiếu trên thị trường, dẫn đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Chính vì vậy, quyếtđịnh của họ đưa ra luôn có sự cân nhắc giữa mức độ rủi ro và doanh lợi đạt được Vì thế,mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông là khả năng tăng trưởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối
đa hoá giá trị chủ sở hữu trong doanh nghiệp Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư
và nguồn tài trợ Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quảkinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọngphát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết định phù hợp Các nhà đầu tư sẽchỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điều kiện là giá trị hiện tại ròngcủa nó dương Khi đó lượng tiền của dự án tạo ra sẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ
và cung cấp một mức lãi suất yêu cầu cho nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó mang lại sựgiàu có cho những người sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức
và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà đầu tư hết sức coitrọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Ta biết rằng thu nhập của cổ đông baogồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá trị tăng thêm của cổ phiếu trên thịtrường Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và vốn chủ sở hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tàichính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốn đầu tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thunhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) Hơn nữa các cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy
mô doanh nghiệp khi quyền lợi của họ ít nhất không bị ảnh hưởng Bởi vậy, các yếu tốnhư tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trênmột cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá
cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu
tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính
1.1.2.3 Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thực hiệnnhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của doanh nghiệp thì phân tíchtài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thương mại cho doanhnghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xemxét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn,người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp, nghĩa
là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ khi đến hạn trả Nếu là nhữngkhoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinhlời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ chủyếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến số lượng
Trang 7tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn
để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Bên cạnh đó, các chủ ngânhàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì sốvốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro Như vậy, kỹthuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưngcho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tàichính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họ phảiquyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không, họ cầnphải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và trong thời gian sắp tới
1.1.2.4 Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người đượchưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanhnghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động trựctiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động Ngoài ra trong một sốdoanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định.Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắnvới doanh nghiệp
1.1.2.5 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nướcthực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh,hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ vàluật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa
vụ với Nhà nước và khách hàng
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích cácbáo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các phươngpháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khácnhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạtđộng tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tàichính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp
1.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài chính là
việc cung cấp những thông tin chính xác về moị mặt tài chính của doanh nghiệp, baogồm:
- Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt đảm bảo vốn cho sảnxuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình nguồn vốn
- Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh và kết quả tàichính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán
- Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố ảnh hưởng đếntình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp có hiệu quả để khắc
Trang 8phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềm tàng của doanh nghiệp đểnâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp cho việc raquyết định về mặt tài chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tương lai của doanh nghiệpnên thông tin sử dụng để phân tích tài chính không chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứucác báo cáo tài chính mà phải mở rộng sang các lĩnh vực :
- Các thông tin chung về kinh tế, thuế, tiền tệ
- Các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Thông tin chung
Đây là các thông tin về tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp trong năm Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tácđộng mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động của giá cả các yếu tố đầu vào vàthị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng có lợi, hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận tăng và nhờ đó kết quả kinh doanh trong năm
là khả quan Tuy nhiên khi những biến động của tình hình kinh tế là bất lợi, nó sẽ ảnhhưởng xấu đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy để có được sự đánhgiá khách quan và chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, chúng ta phải xemxét cả thông tin kinh tế bên ngoài có liên quan
1.2.2 Thông tin theo ngành kinh tế
Nội dung nghiên cứu trong phạm vi ngành kinh tế là việc đặt sự phát triển củadoanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành kinh doanh
Đặc điểm của ngành kinh doanh liên quan tới:
-Tính chất của các sản phẩm
- Quy trình kỹ thuật áp dụng
- Cơ cấu sản xuất : công nghiệp nặng hoặc công nghiệp nhẹ, những cơ cấu sản xuấtnày có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn dự trữ
- Nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế
Việc kết hợp các thông tin theo ngành kinh tế cùng với thông tin chung và cácthông tin liên quan khác sẽ đem lại một cái nhìn tổng quát và chính xác nhất về tình hìnhtài chính của doanh nghiệp Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉ tiêutrung bình ngành là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thể đánh giá, kết luận chínhxác về tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.3 Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ mục tiêu của
dự đoán tài chính Từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, thông tin sốlượng đến thông tin giá trị đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra nhận xét, kết luận sátthực Tuy nhiên, thông tin kế toán là nguồn thông tin đặc biệt cần thiết Nó được phản ánhđầy đủ trong các báo cáo kế toán của doanh nghiệp Phân tích tài chính được thực hiệntrên cơ sở các báo cáo tài chính được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán
Trang 9Các báo cáo tài chính gồm có:
1.2.3.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của mộtdoanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đấy là một báo cáo tài chính phản ánhtổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, dưới hình tháitiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản Xét về bản chất, bảng cân đối kếtoán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phảitrả( nguồn vốn)
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là bản cân đối
kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát tình hình tàichính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế,tài chính của doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:
- Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là phần nguồn vốn
- Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản, phần dưới là phầnnguồn vốn
Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần luôn luôn bằng nhau.Tài sản = Nguồn vốn
Hay Tài sản = Vốn chủ sở hữu+ Nợ phải trả
Phần tài sản : Bao gồm có tài sản lưu động và tài sản cố định.
Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản
lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai
Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổng quát về quy
mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụng vốn của doanhnghiệp
Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, phản ánh cácnguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp
Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất củadoanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn( Nhà nước, ngân hàng, cổ đông, các bên liêndoanh ) Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm củadoanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh, về số tài sản hình thành và tráchnhiệm phải thanh toán các khoản nợ( với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhànước )
Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sản hiện có, căn
cứ vào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồng thời phần nguồn vốncũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán:
Trang 10+ Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉtiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn.
+ Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp : tài sản lưuđộng, tài sản cố định
+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và các khoản phảitrả
+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp
1.2.3.2 Báo cáo kết quả kinh doanh
Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tàichính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Khác với bảng cânđối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của vốn trongquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó cho phép dự tính khả năng hoạt độngcủa doanh nghiẹp trong tương lai Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũnggiúp cho nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch
vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ
sở đó, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh : lãi hay lỗ trong năm Như vậy,báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánhtình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nó cung cấp nhữngthông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹthuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Biểu mẫu “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” có 3 phần:
+ Phần I: Lãi, lỗ
+ Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
+ Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm.Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được lập trên cơ sở cáctài liệu:
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước
+ Sổ kế toán trong kỳ của các tài khoản từ loại 5 đến loại 9
+ Sổ kế toán các tài khoản 133 “Thuế GTGT được khấu trừ” và tài khoản 333
“Thuế GTGT phải nộp”
Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu, lợinhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp Do đó,phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta đánh giá khái quát tình hìnhtài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh có lãi hay bị lỗ, tỷsuất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là bao nhiêu Từ đó tính được tốc độ tăng trưởng của
kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai
Trang 11Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, ta biếtđược doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không Nếu số thuế còn phải nộp lớnchứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là không khả quan.
Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có nhữngnhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳdoanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanhnghiệp Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải (tài sản) và nguồn gốccủa những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phátsinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệđược lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tìnhhình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp Những luồng vào ra của tiền và các khoản coinhư tiền được tổng hợp thành ba nhóm : lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinhdoanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động bấtthường
1.2.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tình hìnhsản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồng thời giải thích thêmmột số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày nhằm giúp cho ngườiđọc và phân tích các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính có một cái nhìn cụ thể và chi tiết hơn
về sự thay đổi những khoản mục trong bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động kinhdoanh
“Thuyết minh báo cáo tài chính” được lập căn cứ vào những số liệu và những tàiliệu sau:
+ Các sổ kế toán kỳ báo cáo
+ Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo
+ Thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước, năm trước
“ Thuyết minh báo cáo tài chính” trình bày 7 chỉ tiêu nhằm cụ thể hoá các chỉ tiêu
mà bảng cân đối kế toán không thể nêu lên hết được bao gồm:
+ Chỉ tiêu 1: Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
+ Chỉ tiêu 2: Chính sách kế toán áp dụng tại doanh nghiệp
Khi lập hai chỉ tiêu này, phải quán triệt các nguyên tắc chung sau:
- Phần trình bày bằng lời văn phải ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu
- Phần trình bày bằng số liệu phải thống nhất với số liệu trên cỏc báo cáo khác
Trang 12- Các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp phải thống nhấttrong cả niên độ kế toán d?i với các báo cáo quý Nếu có sự thay đổi phải trình bày rõràng những lý do thay đổi.
- Trong các biểu số liệu, cột “số kế hoạch” thể hiện số liệu kế hoạch của kỳ báocáo, cột” số thực tế kỳ trước” thể hiện số liệu của kỳ ngay trước kỳ báo cáo
- Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp chỉ sửdụng trong thuyết minh báo cáo tài chính năm
+ Chỉ tiêu 3: “Chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính” bao gồm:
o Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố: phản ánh toàn bộ chi phí sản xuấtkinh doanh phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp, được phân chia theo các yếu tốchi phí như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu
- Chi phí nhân công
- Chi phí khấu hao tài sản cố định
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí khác bằng tiền
o Tình hình tăng giảm tài sản cố định: phản ánh tổng số tăng giảm của tài sản cốđịnh hữu hình, tài sản cố định thuê tài chính, tài sản cố định vô hình theo từngnhóm tài sản trong kỳ báo cáo như nhà cửa, máy móc, thiết bị cả về nguyêngiá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại và lý do tăng, giảm chủ yếu
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ các tài khoản 211, 212, 213, 214 trong
sổ cái
o Tình hình thu nhập của công nhân viên: phản ánh tổng số thu nhập bình quâncủa công nhân viên từ tiền lương và các khoản tiền thưởng, các khoản phụ cấp,trợ cấp có tính chất luong và các khoản tiền thưởng trước khi trừ các khoảngiảm trừ trong kỳ báo cáo
o Tình hình tăng giảm vốn chủ sở hữu: phản ánh tổng số tăng giảm các nguồn vốnchủ sở hữu trong kỳ báo cáo như nguồn vốn kinh doanh, quỹ đầu tư phát triển,quỹ dự phòng tài chính theo từng loại nguồn vốn và theo từng nguồn cấp nhưngân sách cấp, chủ sở hữu góp, nhận vốn góp liên doanh và lý do tăng giảmchủ yếu
o Tình hình tăng giảm các khoản đầu tư vào đơn vị khác: phản ánh tổng số tăng,giảm, kết quả các khoản đầu tư vào đơn vị khác theo từng loại đầu tư trong kỳbáo cáo như đầu tư chứng khoán, góp vốn liên doanh ngắn hạn, dài hạn và lý
do tăng giảm chủ yếu
o Các khoản phải thu và nợ phải trả: phản ánh tình hình tăng giảm các khoản phảithu và nợ phải trả, các khoản đã quá hạn thanh toán, đang tranh chấp hoặc mấtkhả năng thanh toán trong kỳ báo cáo theo từng đối tượng cụ thể và lý do chủyếu
Trang 13+ Chỉ tiêu 4: “Giải thích và thuyết minh một số tình hình và kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh”.
+ Chỉ tiêu 5: “Phương pháp lập một số chỉ tiêu đánh giá khái quát thực trạng tàichính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ” bao gồm:
- Bố trí cơ cấu tài sản và nguồn vốn
- Khả năng thanh toán
- Tỷ suất sinh lời
+ Chỉ tiêu 6: “ Đánh giá tổng quát các chỉ tiêu” Đây là phần doanh nghiệp tựđánh giá khái quát tình hình thực hiện các chỉ tiêu trong kỳ báo cáo của mình cùng nhữngkhó khăn, thuận lợi mà doanh nghiệp gặp phải trong kỳ báo cáo
+ Chỉ tiêu 7: “ Các kiến nghị”
Doanh nghiệp đề xuất các kiến nghị với các cơ quan hữu quan về các vấn đề liênquan đến chế độ, chính sách trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tác dụng của việc phân tích” Thuyết minh báo cáo tài chính”
Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính sẽ cung cấp bổ sung những thông tin chitiết, cụ thể hơn về một số tình hình liên quan đến hoạt động kinh doanh trong kỳ củadoanh nghiệp Cụ thể:
+ Phân tích chỉ tiêu “Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố” sẽ cho ta biết tìnhhình biến động của chi phí trong kỳ theo từng yếu tố chi phí: nguyên vật liệu, nhân công,khấu hao
+ Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình tăng giảm tài sản cố định” sẽ cho ta biết đượctình hình biến động của tài sản cố định trong kỳ theo từng loại Qua đó, đánh giá đượctình hình đầu tư, trang bị tài sản cố định của doanh nghiệp và xây dựng được kế hoạchđầu tư
+ Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình thu nhập của công nhân viên” sẽ giúp ta có nhữngđánh giá chính xác hơn về sự phát triển của doanh nghiệp bởi vì không thể nói một doanhnghiệp kinh doanh có hiệu quả nếu thu nhập của người lao đông có xu hướng giảm theothời gian và thấp so với mặt bằng chung được Thu nhập của công nhân viên phải gắn liềnvới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
+ Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình tăng giảm nguồn vốn chủ sở hữu” để thấy đượctình hình biến động của tổng số nguồn vốn chủ sở hữu cũng như từng loại nguồn vốn chủ
sở hữu của doanh nghiệp Qua đó, đánh giá được tính hợp lý của việc hình thành và sửdụng từng nguồn vốn chủ sở hữu
+ Phân tích “Tình hình tăng giảm các khoản đầu tư vào các đơn vị khác” để nắmđược tình hình đầu tư và hiệu quả đầu tư vào các đơn vị khác
+ Phân tích chỉ tiêu “Các khoản phải thu và nợ phải trả” sẽ nắm được tình hìnhthanh toán các khoản phải thu và các khoản nợ phải trả trong kỳ của doanh nghiệp
Trang 14Tình hình thanh toán các khoản phải thu và các khoản phải trả là một trongnhững chỉ tiêu phản ánh khá sát thực chất lượng hoạt động tài chính Nếu hoạt động tàichính tốt, lành mạnh doanh nghiệp sẽ thanh toán kịp thời các khoản nợ phải trả cũng nhưthu kịp thời các khoản nợ phải thu, tránh được tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau cũngnhư tình trạng công nợ dây dưa kéo dài, tình trạng tranh chấp, mất khả năng thanh toán.
+ Phân tích các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận sẽ phản ánh hiệu quả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Các tỷ suất lợi nhuận càng lớn so với trước thì chứng tỏ hiệuquả kinh doanh càng tăng
1.3 Tiến hành phân tích tài chính
1.3.1.Các bước tiến hành phân tích tài chính
1.3.1.1 Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minhthực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính Nóbao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kếtoán và những thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị trong đócác thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, lànhững nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế làphân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.3.1.2 Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thậpđược Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụngkhác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt
ra : Xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất địnhnhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạtđược phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
1.3.1.3 Dự đoán và quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết đểngười sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra những quyết định tài chính Có thể nóimục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính Đối với chủ doanhnghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra những quyết định liên quan đến mục tiêu hoạtđộng của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá giátrị doanh nghiệp
1.3.2.Trình tự phân tích tài chính
Trình tự tiến hành phân tích tài chính tuân theo các nghiệp vụ phân tích thích ứng vớitừng giai đoạn dự đoán tài chính theo sơ đồ sau :
Trang 15Giai đoạn dự đoán Nghiệp vụ phân tích
Chuẩn bị và xử lý các nguồn thông tin
- Thông tin kế toán nội bộ
- Thông tin khác từ bên ngoài
- Biểu hiện hoặc hội chứng khó khăn
- Điểm mạnh và điểm yếu
- Cân bằng tài chính
- Năng lực hoạt động tài chính
- Cơ cấu vốn và chi phí vốn
- Cơ cấu đầu tư và doanh lợi
Phân tích thuyết minh
- Nguyên nhân khó khăn
- Phương tiện thành công và điều kiện bất lợi Tổng hợp quan sát
1.4 Các phương pháp phân tích tài chính
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụng tàisản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan hệ và tình hình biếnđộng của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính vớinhau
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai phương pháp:phương pháp phân tích ngang và phương pháp phân tích dọc báo cáo tài chính
Phân tích ngang báo cáo tài chính là việc so sánh đối chiếu tình hình biến động cả
về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính, còn phântích dọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉtiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính với nhau để rút ra kết luận
Trang 16Cụ thể, trong thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
1.4.1 Phương pháp so sánh.
Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất và là phương pháp chủ yếu trongphân tích tài chính để đánh kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến đổi của chỉ tiêu phântích
Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳ thuộc vào mụcđích và yêu cầu của việc phân tích
+ So sánh chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu kế hoạch, dự kiến hoặc định mức Đây
là phương thức quan trọng nhất để đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu kế hoạch, định mức
và kiểm tra tính có căn cứ của nhiệm vụ kế hoạch được đề ra
+ So sánh chỉ tiêu thực hiện giữa các kỳ trong năm và giữa các năm cho thấy sựbiến đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu tương ứng của doanhnghiệp cùng loại hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh
+ So sánh các thông số kinh tế- kỹ thuật của các phương án sản xuất kinh doanhkhác nhau của doanh nghiệp
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánhđược của các chỉ tiêu:
+ Khi so sánh các chỉ tiêu số lượng phải thống nhất về mặt chất lượng
+ Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng phải thống nhất về mặt số lượng
+ Khi so sánh các chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp phải thống nhất về nội dung, cơ cấucủa các chỉ tiêu
+ Khi so sánh các chỉ tiêu hiện vật khác nhau phải tính ra các chỉ tiêu này bằngnhững đơn vị tính đổi nhất định
+ Khi không so sánh được bằng các chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể so sánh bằng cácchỉ tiêu tương đôí Bởi vì, trong thực tế phân tích, có một số trường hợp, việc so sánh cácchỉ tiêu tuyệt đối không thể thực hiện được hoặc không mang một ý nghĩa kinh tế nào cả,nhưng nếu so sánh bằng các chỉ tiêu tương đối thì hoàn toàn cho phép và phản ánh đầy
đủ, đúng đắn hiện tượng nghiên cứu
Trong phân tích so sánh có thể sử dụng số bình quân, số tuyệt đối và số tương đối
Số bình quân phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự phát triển khôngđồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng đó, hay nói cách khác, số bình quân đãsan bằng mọi chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu Số bình quân có thể biểu thị dưới dạng
số tuyệt đối hoặc dưới dạng số tương đối( tỷ suất) Khi so sánh bằng số bình quân sẽ thấymức độ đạt được so với bình quân chung của tổng thể, của ngành, xây dựng các địnhmức kinh tế kỹ thuật
Trang 17Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy rõ khối lượng, quy mô của hiện tượng kinh tế.Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội dung phản ánh, cách tính toán xácđịnh, phạm vi, kết cấu và đơn vị đo lường.
Sử dụng số tương đối để so sánh có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu của hiệntượng kinh tế, đặc biệt có thể liên kết các chỉ tiêu không giống nhau để phân tích so sánh.Tuy nhiên số tương đối không phản ánh được thực chất bên trong cũng như quy mô củahiện kinh tế Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi so sánh cần kết hợp đồng thời cả số tuyệtđối và số tương đối
1.4.2 Phương pháp loại trừ
Phương pháp này được áp dụng rộng rãi để xác định xu hướng và mức độ ảnhhưởng của từng nhân tố đối với chỉ tiêu phân tích Khi phân tích, để nghiên cứu ảnhhưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác
Trong thực tế phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích kinh tế dưới 2dạng là: phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch
1.4.2.1 Phương pháp thay thế liên hoàn.
Là phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách thay thế lần lượt
và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêukhi nhân tố đó thay đổi Sau đó so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉtiêu khi chưa có biến đổi cuả nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng củanhân tố đó
Điều kiện áp dụng phương pháp là mối quan hệ giữa nhân tố cần đo ảnh hưởng vàchỉ tiêu phân tích phải thể hiện được dưới dạng công thức Ngoài ra việc sắp xếp các nhân
tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đối với các chỉ tiêu phân tích phải theothứ tự từ nhân tố số lượng đến nhấn tố chất lượng Trình tự thay thế các nhân tố phải tuântheo nguyên tắc nhất định vừa phù hợp với ý nghĩa của hiện tượng nghiên cứu vừa phảiđảm bảo mối liên hệ chặt chẽ về thực chất của các nhân tố
Trình tự thực hiện phương pháp thay thế liên hoàn:
+ Bước 1: Sơ bộ phân tích về mặt lý luận mối quan hệ giữa các nhân tố và chỉ tiêukết quả và phân loại các nhân tố thành nhân tố số lượng và nhân tố chất lượng
+ Bước 2: Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự: nhân tố đứng sau chất lượng hơn nhân
Trang 18X03= a1*b1*c1*d0
+ Bước 4: Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách lấy tích số thứhai trừ đi tích số thứ nhất, tích số thứ ba trừ đi tích số thứ hai, tích số thứ tư trừ đi tích sốthứ thứ ba
Ưu điểm của phương pháp thay thế liên hoàn: Xác định được mức độ và chiều
hướng ảnh hưởng của các nhân tố, sắp xếp các nhân tố theo mức độ ảnh hưởng củachúng, từ đó sẽ có biện pháp nhằm khai thác, thúc đẩy những nhân tố tích cực và hạn chếnhững nhân tố tiêu cực
Nhược điểm của phương pháp thay thế liên hoàn:
- Không có khả năng luận cứ rõ ràng trình tự cụ thể về sự thay thế của các nhân tốcũng như tính quy ước của việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng thành các nhân tố sốlượng và các nhân tố chất lượng Điều này càng trở nên khó khăn khi có nhiều nhân tốtrong tính toán phân tích
- ảnh hưởng của mỗi nhân tố được xem xét tách rời, không tính đến mối quan hệqua lại của nó với các nhân tố khác, mặc dù sự thay đổi của một trong các nhân tố dẫn tới
sự thay đổi của các nhân tố khác
1.4.2.2 Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch thực chất là phương pháp rút gọn của phương phápthay thế liên hoàn Do vậy, nó cũng đòi hỏi những điều kiện và cũng có những ưu điểm,hạn chế như thay thế liên hoàn
Theo phương pháp này, mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đó đối với chỉ tiêutổng hợp được xác định bằng số chênh lệch của nhân tố đó nhân với các nhân tố khácđược cố định trong khi lập tích số
Trình tự tiến hành phương pháp số chênh lệch:
- Xác định số chênh lệch tuyệt đối với dấu tương ứng của mỗi một nhân tố
- Nhân số chênh lệch của mỗi một nhân tố với số kế hoạch của các nhân tố khácchưa đo ảnh hưởng và với số thực tế của các nhân tố khác đã đo ảnh hưởng
1.4.3 Phương pháp liên hệ
Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ mật thiết với nhau giữa các mặt, các bộphận Để lượng hoá các mối liên hệ đó, ngoài các phương pháp đã nêu, trong phân tích
Trang 19kinh doanh còn phổ biến các cách nghiên cứu liên hệ phổ biến như: liên hệ cân đối, liên
hệ thuận nghịch, liên hệ tương quan
1.4.3.1 Phương pháp liên hệ cân đối
Phương pháp liên hệ cân đối thường thể hiện dưới hình thức phương thức trìnhkinh tế hoặc bảng cân đối kinh tế
Nội dung chủ yếu của bảng cân đối kinh tế gồm hai hệ thống chỉ tiêu có quan hệtrực tiếp với nhau về mặt chỉ tiêu Khi thay đổi một thành phần hệ thống chỉ tiêu đó sẽdẫn tới sự thay đổi một hoặc một số thành phần khác nhưng sự thay đổi đó vẫn đảm bảo
sự cân bằng của bảng cân đối kinh tế Khi phân tích thường dùng để kiểm tra việc ghichép hoặc để tính toán các chỉ tiêu
Để tính mức độ ảnh hưởng của nhiều nhân tố một cách đồng thời đến một chỉ tiêunào đó:
Δ Tổng= ∑
i=1
n Δi
1.4.3.2 Phương pháp liên hệ thuận nghịch.
C=
T N
Trong đó: C- chỉ tiêu cá biệt mà ta đang nghiên cứu
T- chỉ tiêu trực tiếp hoặc chỉ tiêu thuận chiều
N- chỉ tiêu ngược chiều
- Mức độ ảnh hưởng của nhân tố trực tiếp(T)
Δ CT=
100 ΔT 100+ΔN (%)
- Mức độ ảnh hưởng của nhân tố ngược chiều(N) đến chỉ tiêu nghiên cứu:
ΔC N=
100 ΔN 100+ΔN (%)
- Tổng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu nghiên cứu:
Δ C= ΔC T+ ΔC N =
100( ΔT +ΔC )
Trong đó:
Δ T, Δ N: số chênh lệch tương đối của chỉ tiêu T và N
Δ CT, Δ CN, Δ C: mức độ ảnh hưởng của chỉ tiêu T, N và của 2 chỉ tiêu T,
N đến chỉ tiêu cá biệt đang nghiên cứu
1.4.3.3.Phương pháp liên hệ tương quan
Trang 20Là phương pháp phân tích tương quan nhằm xác định sự tồn tại và dạng của mốiliên hệ giữa các đại lượng ngẫu nhiên và cho phép đánh giá mức độ chặt chẽ giữa cácmối quan hệ đó.
Trình tự tiến hành:
- Phân tích lý luận để giải thích sự tồn tại và bản chất mối liên hệ
- Thăm dò các mối quan hệ đó
- Lập phương trình hồi quy căn cứ vào số tiêu thức, số lần quan sát
- Tính toán các tham số của chương trình
- Giải thích ý nghĩa kinh tế của các tham số
1.4.4.Phương pháp dupont
Công ty Dupont là công ty đầu tiên ở Mỹ sử dụng các mối quan hệ tương hỗ giữa các
tỷ lệ tài chính chủ yếu để phân tích các tỷ số tài chính Vì vậy, nó được gọi là phươngpháp Dupont Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhândẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phươngpháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhậptrên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗicác tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng củacác tỷ số đối với các tỷ số tổng hợp
Trước hết ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu(ROE) với tỷ số doanh lợi tài sản (ROA)
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Lợi nhuận sau thuế
ROA = x = (1)
Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản
Tỷ ROA cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu
- Một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Tiếp theo, ta xem xét tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (ROE):
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
Trang 21Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu
Nếu tài sản của doanh nghiệp chỉ được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì doanh lợi vốn vàdoanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bằng nhau vì khi đó tổng tài sản = tổng nguồn vốn
Lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu Tổng tài sản Vốn CSH
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Tổng tài sản
= x x
Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản – Nợ
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu 1
= x x
Doanh thu Tổng tài sản 1- Rd
Trang 22Với Rd = Nợ / Tổng tài sản là hệ số nợ và phương trình này gọi là phương trìnhDupont mở rộng thể hiện sự phụ thuộc của doanh lợi vốn chủ sở hữu vào doanh lợi tiêuthụ, vòng quay toàn bộ vốn và hệ số nợ.
Từ đây ta thấy sử dụng nợ có tác dụng khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu nếudoanh nghiệp có lợi nhuận trong kỳ, hệ số nợ càng lớn thì lợi nhuận càng cao và ngượclại, nếu doanh nghiệp đang bị lỗ thì sử dụng nợ càng tăng số lỗ
Phương pháp phân tích Dupont có ưu điểm lớn là giúp nhà phân tích phát hiện vàtập trung vào các yếu điểm của doanh nghiệp Nếu doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanhnghiệp thấp hơn các doanh nghiệp khác trong cùng ngành thì nhà phân tích có thể dựa vào
hệ thống các chỉ tiêu theo phương pháp phân tích Dupont để tìm ra nguyên nhân chínhxác Ngoài việc được sử dụng để so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành,các chỉ tiêu đó có thể được dùng để xác định xu hướng hoạt động của doanh nghiệp trongmột thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khăn doanh nghiệp có thể sẽ gặp phải Nhàphân tích nếu biết kết hợp phương pháp phân tích tỷ lệ và phương pháp phân tích Dupont
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp
Ngoài các phương pháp phân tích chủ yếu trên, người ta còn sử dụng một số phương
pháp khác: phương pháp đồ thị, phương pháp biểu đồ, phương pháp toán tài chính, kể
cả phương pháp phân tích các tình huống giả định
Trong quá trình phân tích tổng thể thì việc áp dụng linh hoạt, xen kẽ các phươngpháp sẽ đem lại kết quả cao hơn khi phân tích đơn thuần, vì trong phân tích tài chính kếtquả mà mỗi chỉ tiêu đem lại chỉ thực sự có ý nghĩa khi xem xét nó trong mối quan hệ vớicác chỉ tiêu khác Do vậy, phương pháp phân tích hữu hiệu cần đi từ tổng quát đánh giáchung cho đến các phần chi tiết, hay nói cách khác là lúc đầu ta nhìn nhận tình hình tàichính trên một bình diện rộng, sau đó đi vào phân tích đánh giá các chỉ số tổng quát vềtình hình tài chính và để hiểu rõ hơn ta sẽ phân tích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng củadoanh nghiệp, so sánh với những năm trước đó, đồng thời so sánh với tỷ lệ tham chiếu đểcho thấy được xu hướng biến động cũng như khả năng hoạt động của doanh nghiệp so vớimức trung bình ngành ra sao
1.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp có thể được trình bày theo hai cách sau:
- Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
- Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính
1.5.1 Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính là nội dung phân tích
mà đồ án sử dụng Vì vậy, nội dung phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tàichính, không được nêu chi tiết ở phần này mà đựơc trình bày chi tiết ở phần sau ( Chương2)
Trang 231.5.1.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, trước tiên phải so sánhtổng tài sản và tổng nguồn vốn giữa kì và đầu năm Qua so sánh, có thể thấy được sự thayđổi quy mô vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ cũng như khả năng huy động vốn củadoanh nghiệp Tuy nhiên, số tổng cộng của tài sản và nguồn vốn tăng giảm là do nhiềunguyên nhân khác nhau, do đó cần đi sâu phân tích các mối quan hệ giữa các chỉ tiêutrong bảng cân đối kế toán
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định Hai loại tàisản này được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nhưng cân đối này chỉ mangtính lí thuyết tức là nguồn vốn chủ sở hữu chủ doanh nghiệp đủ trang trải các loại tài sảncho các hoạt động chủ yếu mà không phải đi vay hoặc chiếm dụng Thực tế thường xảy ra
1 trong 2 trường hợp sau:
- Trường hợp doanh nghiệp thừa nguồn vốn, không sử dụng hết nên sẽ bị chiếm dụng
- Trường hợp doanh nghiệp thiếu vốn để trang trải tài sản nên doanh nghiệp phải đi vayhoặc chiếm dụng vốn từ bên ngoài
Qua phân tích các mối quan hệ cân đối, cho thấy số vốn doanh nghiệp bị chiếmdụng (hoặc đi chiếm dụng) đúng bằng số chênh lệch giữa số tài sản phải thu và nợ phảitrả
Bên cạnh đó, trong phân tích tổng quát ta còn tính toán và so sánh các chỉ tiêu tỉsuất tài trợ đẻ thấy được khả năng đảm bảo về mặt tài chính và tính chủ động trong kinhdoanh của công ty (phần này được trình bày trong phân tích kết cấu nguồn vốn của doanhnghiệp) Bên cạnh đó, về khả năng thanh toán cũng cần được quan tâm chú ý ( được trìnhbày ở phần nhu cầu và khả năng thanh toán)
1.5.1.2 Phân tích chi tiết tình hình tài chính
Trong phân tích chi tiết tình hình tài chính ta đi phân tích tình hình phân bổ vốn,xem xét doanh nghiệp đã phân bổ vốn hợp lí và phát huy hiệu quả chưa? Để phân tích, tatiến hành xác định tỉ trọng từng khoản vốn ở thời điểm đầu kì và cuối kì và so sánh sựthay đổi về tỉ trọng giữa đầu kì và cuối kì nhằm tìm ra nguyên nhân của sự chênh lệchnày Qua so sánh ta thấy được sự thay đổi về số lượng, quy mô và tỉ trọng của từng loạivốn Để có thể thấy được tình hình thay đổi của tài sản là hợp lí hay không cần đi sâunghiên cứu sự biến động của tài sản Việc đầu tư chiều sâu, mua sắm trang thiết bị, đổimới công nghệ để tạo tiền đề tăng năng suất lao động và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quảhoặc đầu tư tài chính dài hạn được xem xét thông qua các chỉ tiêu: Tỉ suất đầu tư chung, tỉsuất đầu tư tài sản cố định, tỉ suất đầu tư tài chính dài hạn Bên cạnh đó việc phân tích kếtcấu nguồn vốn; phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán; phân tích hiệu quả vàkhả năng sinh lợi của vốn; phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinhdoanh sẽ được phân tích một cách cụ thể và được trình bày cụ thể trong Chương 2 của đồ
án này
1.5.2 Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính.
1.5.2.1 Phân tích các tỷ lệ tài chính
Trang 24Trong phân tích tài chính, các tỷ lệ tài chính chủ yếu thường được phân thành 4nhóm chính Đó là : nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về khả năng cân đốivốn, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lãi Nhìn chung, mốiquan tâm trước hết của các nhà phân tích tài chính là tình hình tài chính của doanh nghiệp
có lành mạnh không? Liệu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được những khoản nợ đếnhạn không? Nhưng tuỳ theo mục đích phân tích tài chính mà nhà phân tích tài chính chútrọng nhiều hơn đến nhóm tỷ lệ này hay nhóm tỷ lệ khác Chẳng hạn, các chủ nợ ngắn hạnđặc biệt quan tâm đến tình hình khả năng thanh toán của người vay Trong khi đó, các nhàđầu tư dài hạn quan tâm nhiều hơn đến khả năng hoạt động có lãi và hiệu quả sản xuấtkinh doanh Họ cũng cần nghiên cứu tình hình về khả năng thanh toán để đánh giá khảnăng của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu chi trả hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự tínhkhả năng trả nợ cuối cùng của doanh nghiệp Bên cạnh đó, họ cũng chú trọng tới tỷ lệ cânđối vốn vì sự thay đổi tỷ lệ này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới lợi ích của họ
Các tỷ lệ tài chính cung cấp cho người phân tích khá đầy đủ các thông tin về từngvấn đề cụ thể liên quan tới tài chính doanh nghiệp Nhiệm vụ của người phân tích là phảitìm hiểu mối liên hệ giữa các nhóm tỷ lệ để từ đó đưa ra kết luận khái quát về toàn bộ tìnhhình tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quá trình phân tích nên lưu ý rằng một tỷ lệtài chính riêng rẽ thì tự nó không nói lên điều gì Nó cần phải được so sánh với tỷ lệ ở cácnăm khác nhau của chính doanh nghiệp đó và so sánh với tỷ lệ tương ứng của các doanhnghiệp hoạt động trong cùng ngành
Mỗi nhóm tỷ lệ trên bao gồm nhiều tỷ lệ và trong từng trường hợp các tỷ lệ đượclựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất, quy mô của hoạt động phân tích
Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét cả bốn nhóm tỷ lệ thường dùng để phântích và đánh giá hoạt động tài chính doanh nghiệp
1.5.2.1.1 Các tỷ lệ về khả năng thanh toán :
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để tài trợ cho các tài sản của mìnhcác doanh nghiệp không chỉ dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu mà còn cần đến nguồn tài trợkhác là vay nợ Việc vay nợ này được thực hiện với nhiều đối tượng và dưới nhiều hìnhthức khác nhau Cho dù là đối tượng nào đi chăng nữa thì để đi đến quyết định có chodoanh nghiệp vay nợ hay không thì họ đều quan tâm đền khả năng thanh toán của doanhnghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa cáckhoản phải có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ Việcphân tích các tỷ lệ về khả năng thanh toán không những giúp cho các chủ nợ giảm đượcrủi ro trong quan hệ tín dụng và bảo toàn được vốn của mình mà còn giúp cho bản thândoanh nghiệp thấy được khả năng chi trả thực tế để từ đó có biện pháp kịp thời trong việcđiều chỉnh các khoản mục tài sản cho hợp lý nhằm nâng cao khả năng thanh toán
Các tỷ lệ về thanh toán bao gồm :
Trang 25Hệ số thanh toán hiện hành
Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động cho nợ ngắn hạn Tài sản lưuđộng thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng, các khoản phải thu và dựtrữ (tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các
tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả khác Cả tài sản lưuđộng và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định - tới một năm Tỷ lệ khả năng thanh toánchung là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độcác khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyểnthành tiền trong một giai đoạn tương ứng với thời hạn của các khoản nợ đó
Công thức của khả năng thanh toán chung như sau :
Hệ số thanh toán hiện
Hệ số thanh toán nhanh:
Một tỷ lệ thanh toán chung cao chưa phản ánh chính xác việc doanh nghiệp có thểđáp ứng nhanh chóng được các khoản nợ ngắn hạn trong thời gian ngắn với chi phí thấphay không vì nó còn phụ thuộc vào tính thanh khoản của các khoản mục trong tài sản lưuđộng và kết cấu của các khoản mục này Vì vậy, chúng ta cần phải xét đến hệ số thanhtoán nhanh của doanh nghiệp
Hệ số thanh toán nhanh được tính bằng cách chia tài sản quay vòng nhanh cho nợngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thànhtiền, bao gồm : tiền, chứng khoán ngắn hạn và các khoản phải thu Hàng tồn kho là tài sảnkhó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ khi đem bán Do vậy, tỷ
lệ khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn khôngphụ thuộc vào việc bán dự trữ (tồn kho)
Hệ số thanh toán nhanh
(thanh toán tức thời) =
Tiền + Đầu tư ngắn hạn + Khoản phải thu
Nợ ngắn hạnNói chung tỷ lệ này thường biến động từ 0,5 đến 1 Tuy nhiên, cũng giống nhưtrương hợp của hệ số thanh toán ngắn hạn để kết luận giá trị của hệ số thanh toán tức thời
là tốt hay xấu cần xét đến đặc điểm và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Nếu hệ sốnày nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ
1.5.2.1.2.Các tỷ lệ về khả năng cân đối vốn
Tỷ lệ này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp
so với phần tài trợ của chủ nợ cho doanh nghiệp Nó còn được coi là tỷ lệ đòn bẩy tài
Trang 26vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp để thể hiện mức độ tin tưởng vào sự bảo đảm an toàncho các món nợ Nếu chủ sở hữu chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn thì rủi
ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh là do các chủ nợ gánh chịu Mặt khác, bằng cáchtăng vốn thông qua vay nợ, các chủ doanh nghiệp vẫn nắm được quyền kiểm soát và điềuhành doanh nghiệp Ngoài ra, các khoản vay cũng tạo ra những khoản tiết kiệm nhờ thuế
do chi phí cho vốn vay là chi phí trước thuế
Những doanh nghiệp có tỷ lệ này thấp phải chịu rủi ro lỗ ít hơn khi nền kinh tế suythoái đồng thời có lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn so với doanh nghiệp có tỷ lệ này cao trongnền kinh tế bùng nổ Hay nói cách khác, những doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao có nguy cơ
lỗ lớn nhưng lại có cơ hội nhận được lợi nhuận cao Tuy lợi nhuận kỳ vọng cao nhưngphần lớn các nhà đầu tư đều rõ´t so? rủi ro Vì thế quyết định về sử dụng nợ phải đượccân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro
Trên cơ sở phân tích kết cấu nguồn vốn, doanh nghiệp sẽ nắm được khả năng tự tàitrợ về mặt tài chính, mức độ chủ động trong sản xuất kinh doanh hay những khó khăn màdoanh nghiệp gặp phải trong việc khai thác nguồn vốn
Mức độ ảnh hưởng của DFL được xác định như là tỷ lệ thay đổi về doanh lợi vốnchủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi về lợi nhuận trước thuế và lãi vay phải trả
DLF = Q (P - V) - F
Q (P - V) – F - 1Trong đó : Q là sản lượng
P là giá bán đơn vị sản phẩm
V là chi phí biến đổi mỗi đơn vị sản phẩm
F là chi phí cố định
I là chi phí lãi vay phải trả
Từ công thức trên ta thấy khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay không đủ lớn để trangtrải lãi vay thì doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bị giảm sút Nhưng khi lợi nhuận trước thuế và
Trang 27lãi vay đã đủ lớn để trang trải lãi vay phải trả thì chỉ cần một sự gia tăng nhỏ về sản lượngcũng mang lại một biến động lớn về doanh lợi vốn chủ sở hữu.
Khả năng thanh toán lãi vay hay số lần có thể trả lãi
Tỷ lệ này được xác định bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi vay cho
lãi tiền vay
Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi
Lãi tiền vayKhả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo cho khả năng trảlãi hàng năm Việc không trả được các khoản nợ này có thể làm cho doanh nghiệp bị phásản Cùng với tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ này giúp ta thấy được tình trạng thanh toáncông nợ của doanh nghiệp tốt hay xấu Một tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cao cộng với khảnăng thanh toán lãi thấp so với mức trung bình của ngành sẽ khiến cho doanh nghiệp gặpkhó khăn trong việc muốn gia tăng nợ
Tỷ lệ về cơ cấu tài sản
Đồng thời với việc xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý, doanh nghiệp cầnphải xem xét việc sử dụng vốn đó như thế nào để đáp ứng yêu cầu kinh doanh và nângcao hiệu qủa kinh tế của đồng vốn Việc phân tích tình hình phân bổ vốn hay kết cấu tàisản của doanh nghiệp sẽ cho ta thấy việc sử dụng vốn của doanh nghiệp có hợp lý haykhông, có phù hợp với đặc điểm loại hình kinh doanh không và sự thay đổi kết cấu tài sảnqua từng thời kỳ có ảnh hưởng gì đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tỷ lệ về cơ cấu tài sản = Tài sản cố định hoặc tài sản lưu động
Tổng tài sảnChỉ tiêu này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung và máymóc thiết bị nói riêng của doanh nghiệp Nó cho biết năng lực sản xuất và xu hướng pháttriển lâu dài của doanh nghiệp Giá trị của chỉ tiêu này tuỳ thuộc vào từng ngành kinhdoanh cụ thể
1.5.2.1.3 Các tỷ lệ về khả năng hoạt động
Các tỷ lệ về khả năng hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồnvốn của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệp được đầu tư cho các loại tài sản khácnhau như tài sản cố định, tài sản lưu động Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm
Trang 28đến việc đo lường hiệu quả sử dụng của tổng nguồn vốn mà còn chú trọng tới hiệu quả sửdụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp
Chỉ tiêu doanh thu thuần được sử dụng chủ yếu trong các tỷ lệ này nhằm tính tốc
độ quay vòng của một số đại lượng rất cần cho quản lý tài chính ngắn hạn Các tỷ lệ nàycho ta những thông tin hữu ích để đánh giá mức độ cân bằng tài chính và khả năng thanhkhoản của doanh nghiệp
Vòng quay tiền
Tiền là khoản mục có tính lỏng cao nhất trong tổng tài sản của doanh nghiệp Việcgiữ tiền và các tài sản tương đương tiền đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi thế như chủđộng trong kinh doanh, mua hàng trả tiền ngay được hưởng chiết khấu, ngoài ra khi vật tưhàng hoá rẻ doanh nghiệp có thể dữ trữ với lượng lớn tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất.Tuy nhiên, tiền được lưu giữ ở mức không hợp lý có thể gây ra nhiều bất lợi Thứ nhất,điều kiện thiếu vốn đang phổ biến ở các doanh nghiệp thì việc giữ quá nhiều tiền sẽ gây ứđọng vốn, hạn chế khả năng đầu tư vào các tài sản khác, do đó lợi nhuận của doanhnghiệp có thể bị giảm Thứ hai, do có giá trị theo thời gian và do chịu tác động của lạmphát, tiền sẽ bị mất giá Vì vậy, cần quan tâm đến tốc độ vòng quay tiền sao cho đem lạikhả năng sinh lợi cao nhất cho doanh nghiệp
Vòng quay tiền = Doanh thu thuần
Tiền và chứng khoán ngắn hạn dễ bán
Vòng quay hàng tồn kho
Dự trữ và tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động của doanhnghiệp Vì vậy, một mặt ta phải giới hạn mức dự trữ này ở mức tối ưu, mặt khác tăngvòng quay của chúng Dự trữ là một khoản đầu tư cần thiết để đảm bảo tính liên tục củasản xuất và không bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh Khoản đầu tư này được giải phóng saukhi sản phẩm được tiêu thụ
Vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó được xác định bằng công thức dưới đây
Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần
Hàng tồn khoChỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần hàng tồn kho được bán ra trong
kỳ kế toán và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn luân chuyển Con số này càng caochứng tỏ khả năng bán ra càng lớn Trên góc độ chu chuyển vốn thì hệ số quay vòng tồnkho lớn sẽ giảm bớt được số vốn đầu tư vào công việc này, hiệu quả sử dụng vốn sẽ caohơn Tuy nhiên, khi phân tích cũng cần phải chú ý đến những nhân tố khác ảnh hưởng đến
hệ số quay vòng tồn kho như việc áp dụng phương thức bán hàng, kết cấu hàng tồn kho,
Trang 29thị hiếu tiêu dùng, tình trạng nền kinh tế, đặc điểm theo mùa vụ của doanh nghiệp, thờigian giao hàng của nhà cung cấp
Biến động của chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho cung cấp cho ta nhiều thông tin.Việc giảm vòng quay vốn hàng tồn kho có thể do chậm bán hàng, quản lý dự trữ kém,trong dự trữ có nhiều sản phẩm lạc hậu Nhưng việc giảm vòng quay hàng tồn kho cũng
có thể là kết quả của quyết định của doanh nghiệp tăng mức dự trữ nguyên vật liệu khibiết trước giá cả của chúng sẽ tăng hoặc có thể có sự gián đoạn trong việc cung cấp cácnguyên vật liệu này (có đình công, suy giảm sản xuất) Ngược lại, việc tăng vòng quayhàng tồn kho có thể do những cải tiến được áp dụng trong khâu bán hàng hay hàng hoácủa doanh nghiệp đạt chất lượng cao, kết cấu hợp lý Đây là điều đáng khích lệ Còn nếudoanh nghiệp duy trì mức tồn kho thấp thì cũng làm cho hệ số quay vòng hàng tồn khotăng cao nhưng điều này đôi khi gây ra tình trạng thiếu hàng để bán và ảnh hưởng đếnviệc tăng doanh thu
Kỳ thu tiền bình quân
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tồn tại các khoản phải thu là điều khótránh khỏi Nhờ bán chịu, doanh nghiệp có thể thu hút thêm khách hàng, mở rộng thịtrường và duy trì thị trường truyền thống, do đó có thể giảm hàng tồn kho, duy trì đượcmức sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị Hơn nữa, nó còn có thể manglại lợi nhuận tiềm năng cao hơn nhờ việc tăng giá do khách hàng mua chịu Song việc bánhàng chịu cũng đẩy doanh nghiệp vào tình trạng phải đối mặt không ít với các rủi ro Đó
là giá trị hàng hoá lâu được thực hiện dẫn đến giảm tốc độ chu chuyển của vốn, đặc biệttrong tình trạng thiếu vốn doanh nghiệp phải huy động nguồn tài trợ cho việc bán chịu;một điều đáng lo ngại hơn là rủi ro về khả năng thu nợ, chi phí đòi nợ Vì vậy, nhiệm vụcủa người quản lý doanh nghiệp là phải quan tâm đến kỳ thu tiền bình quân và có biệnpháp rút ngắn thời gian này
Kỳ thu tiền bình quân được tính theo công thức sau (đơn vị của công thức này làngày) :
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu x 360
Doanh thu thuầnTrong phân tích tài chính, chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thu hồivốn trong thanh toán của doanh nghiệp Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vàonhiều yếu tố :
- Tính chất của việc doanh nghiệp chấp nhận bán hàng chịu : Một số doanh nghiệp
có chính sách mở rộng bán chịu và chấp nhận kéo dài thời hạn thanh toán hơn các đối thủcạnh tranh để phát triển thị trường
- Tình trạng của nền kinh tế : Khi tình hình thuận lợi các doanh nghiệp có khuynhhướng dễ dàng chấp nhận bán chịu và ngược lại Nếu chấp nhận tăng thời gian bán chịucho khách hàng mà không tăng được mức tiêu thụ thì đó là dấu hiệu xấu về tình hình kinhdoanh Doanh nghiệp cần phải thay đổi chính sách tiêu thụ để giữ khách hàng hoặc nângcao khả năng cạnh tranh của sản phẩm Nhưng tình trạng đó cũng có thể là do khách hàng
Trang 30gặp khó khăn trong chi trả nhất là ở vào thời kỳ kinh tế suy thoái Tình huống đó gây khókhăn dây chuyền cho các doanh nghiệp bán chịu.
- Chính sách tín dụng và chi phí bán hàng chịu : khi lãi suất tín dụng cấp cho cácdoanh nghiệp để tài trợ cho kinh doanh tăng, các doanh nghiệp có xu hướng giảm thờigian bán chịu vì nếu tiếp tục kéo dài thời hạn sẽ rất tốn kém về chi phí tài chính
- Ngoài ra độ lớn của các khoản phải thu còn phụ thuộc vào các khoản trả trướccủa doanh nghiệp
Vòng quay vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần
Vốn lưu độngChỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ Nếu số vòngquay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại Chỉ tiêu này còn được gọi là
hệ số luân chuyển Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn sẽ góp phần giải quyết nhu cầu vềvốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanhthu trong kỳ Tài sản cố định ở đây được xác định là giá trị còn lại tới thời điểm lập báocáo tức là bằng nguyên giá tài sản cố định trừ đi hao mòn luỹ kế
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần
Giá trị còn lại của tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Tỷ lệ này cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Nó cũng thểhiện số vòng quay trung bình của toàn bộ vốn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Hệ sốnày làm rõ khả năng tận dụng vốn triệt để vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Việc tăng vòng quay vốn kinh doanh này là yếu tố quan trọng làm tăng lợi nhận chodoanh nghiệp đồng thời làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng uy tín của doanh nghiệp trênthị trường
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản
1.5.2.1.4 Các tỷ lệ về khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là kết quả tổng hợp chịu tác động của nhiều nhân tố vì thế khácvới các tỷ lệ tài chính phân tích ở trên chỉ phán ánh hiệu quả từng hoạt động riêng biệt củadoanh nghiệp, tỷ lệ về khả năng sinh lời phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinhdoanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp Mục đích chung của các doanh nghiệp làlàm sao để một đồng vốn bỏ ra mang lại hiệu quả cao nhất và khả năng sinh lời nhiềunhất Để đánh giá khả năng sinh lời người ta dùng các chỉ tiêu sau:
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Trang 31Chỉ tiêu trên phản ánh số lợi nhuận sau thuế có trong một đồng doanh thu Chỉ tiêunày có thể tăng giảm giữa các kỳ tuỳ theo sự thay đổi của doanh thu thuần và chi phí Nếudoanh thu thuần giảm hoặc tăng không đáng kể trong khi đó chi phí tăng lên với tốc độlớn hơn sẽ dẫn đến lợi nhuận sau thuế giảm và kết quả là doanh lợi tiêu thụ sản phẩmthấp Khi đó, doanh nghiệp vẫn cần xác định rõ nguyên nhân của tình hình để có giải phápkhắc phục.
Doanh lợi vốn chủ sở hữu
Được xác định bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cho vốn chủ sở hữu Nó phản ánhkhả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họquyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu cũng làmục tiêu của hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp Ta xét các nhân tố ảnh hưởng đếndoanh lợi vốn chủ sở hữu như sau:
Lợi nhuận sau thuế
= Lợi nhuận sau thuế X Doanh thu thuần x Tổng tài sảnVốn chủ sở hữu Doanh thu thuần Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Như vậy, doanh lợi vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của ba nhân tố :
-Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
-Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
-Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
Vì vậy, khi xem xét sự biến động của doanh lợi vốn chủ sở hữu ta cần phân tích sựthay đổi của cả ba yếu tố trên để đưa ra những kết luận đúng đắn
Doanh lợi vốn = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Tổng tài sản
1.5.2.2 Phân tích các hoạt động tài chính
1.5.2.2.1 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính là bảng nguồn vốn và
sử dụng vốn (bảng tài trợ) Nó giúp các nhà quản lý xác định rõ các nguồn cung ứng vốn
và mục đích sử dụng các nguồn vốn
Trong phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta thường xem xét sựthay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh nghiệp trong mộtthời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán
Trang 32Để lập được bảng này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi của các khoản mục trênbảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở hai cột sửdụng vốn và nguồn vốn theo nguyên tắc :
Sử dụng vốn : tăng tài sản hoặc giảm vốn.
Nguồn vốn : giảm tài sản hoặc tăng vốn.
Việc thiết lập bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn là cơ sở để tiến hành phân tíchtình hình tăng giảm nguồn vốn, sử dụng vốn, chỉ ra những trọng điểm đầu tư vốn vànhững nguồn vốn chủ yếu được hình thành để tài trợ cho những đầu tư đó Từ đó có giảipháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.5.2.2.2 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn lưu động thường xuyên
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có tài sản bao gồm tàisản lưu động và tài sản cố định Để hình thành hai nguồn tài sản này phải có các nguồn tàitrợ tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảng thờigian dưới một năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm nợ ngắn hạn, nợ quá hạn,
nợ nhà cung cấp và nợ ngắn hạn phải trả khác
Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạt động kinhdoanh, nó có thời hạn trên một năm và bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay nợtrung hạn và dài hạn
Nguồn vốn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành tài sản cố định (TSCĐ),phần dư của nguồn vốn dài hạn được đầu tư để hình thành tài sản lưu động (TSLĐ).Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn và tài sản cố định hay giữa tài sản lưu động và nợngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạnphụ thuộc vào độ lớn của vốn lưu động thường xuyên
VLĐ thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn - TSCĐ = TSLĐ - Nợ ngắn hạn
Có 3 trường hợp có khả năng xảy ra như sau:
- Vốn lưu động thường xuyên > 0, nghĩa là nguồn vốn dài hạn lớn hơn tài sản cốđịnh, phần dư thừa đó đầu tư vào tài sản lưu động Đồng thời, tài sản lưu động lớn hơn nợngắn hạn nên khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt
- Vốn lưu động thường xuyên = 0, có nghĩa nguồn vốn dài hạn vừa đủ tài trợ chotài sản cố định và tài sản lưu động đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn, tìnhhình tài chính như vậy là lành mạnh
- Vốn lưu động thường xuyên < 0, nguồn vốn dài hạn không đủ để tài trợ cho tàisản cố định Doanh nghiệp phải đầu tư một phần nguồn vốn ngắn hạn vào tài sản cố định,tài sản lưu động không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toáncủa doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần tài sản cố định đểthanh toán nợ ngắn hạn đến hạn phải trả
Như vậy, vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng đểđánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, nó cho biết :
- Một là, doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không?
Trang 33- Hai là, tài sản cố định của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằngnguồn vốn dài hạn không?
Từ công thức tính vốn lưu động thường xuyên ta có thể thấy các yếu tố làm thayđổi vốn lưu động thường xuyên là những nghiệp vụ làm thay đổi nguồn vốn dài hạn và tàisản cố định của bảng cân đối kế toán
Các nghiệp vụ làm giảm vốn lưu động thường xuyên :
- Tăng tài sản cố định : tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình và tài sản
cố định tài chính
- Giảm nguồn vốn dài hạn :
Giảm vốn chủ sở hữu : do chia lợi tức cổ phần, lỗ trong kinh doanh
Hoàn trả tiền vay : bao gồm trả tiền vay trung và dài hạn, hoàn trả trái phiếuđáo hạn
Các nghiệp vụ làm tăng vốn lưu động thường xuyên :
- Tăng nguồn vốn dài hạn :
Tăng vốn chủ sở hữu : phát hành thêm cổ phiếu thường, giữ lại lợi nhuận khôngchia
Tăng vay nợ trung, dài hạn; phát hành trái phiếu dài hạn
- Giảm tài sản cố định thông qua nhượng bán
Những thay đổi tài sản lưu động hoặc nợ phải trả ngắn hạn không làm thay đổi vốnlưu động thường xuyên, bởi vì việc tăng của một loại tài sản lưu động sẽ dẫn đến hoặcgiảm một loại tài sản lưu động khác, hoặc tăng một dòng nợ ngắn hạn Chẳng hạn, khibán sản phẩm tồn kho sẽ làm giảm tồn kho và tăng tương ứng ở mục nợ phải thu (nếu bánchịu), hoặc tăng tiền mặt (nếu bán thu tiền ngay) Ta cũng cần chú ý là chính sách khấuhao có tác động lớn vào vốn lưu động thường xuyên, nếu doanh nghiệp áp dụng chế độkhấu hao nhanh thì vốn luân chuyển sẽ cao hơn so với áp dụng phương pháp khấu haotheo đường thẳng
Vốn lưu động thường xuyên thể hiện mức độ an toàn, đảm bảo cho doanh nghiệpchống lại rủi ro làm mất giá trị tài sản hoặc rủi ro làm giảm tốc độ luân chuyển vốn dựtrữ Vì vậy, mọi biến động của vốn lưu động thường xuyên phải được chú ý theo dõi Tạicác thời điểm khác nhau có ba tình huống xảy ra :
- Tăng vốn lưu động thường xuyên
Trong trường hợp này, an toàn của doanh nghiệp tăng vì phần lớn tài sản cố địnhđược nguồn vốn dài hạn tài trợ Tuy nhiên, cần phải thấy rằng để đạt được sự an toàn đó,doanh nghiệp phải tăng nợ dài hạn Nếu khối lượng nợ dài hạn càng lớn sẽ dẫn đến chiphí tài chính càng cao, từ đó làm giảm kết quả kinh doanh Nếu tăng vốn lưu động thườngxuyên bằng việc tăng vốn chủ sở hữu thì tình hình tài chính doanh nghiệp được cải thiện,nhưng doanh nghiệp phải chịu chi phí sử dụng vốn cao hơn nợ vay và có thể phải chia sẻquyền kiểm soát doanh nghiệp Do vậy, quyết định tăng vốn lưu động và tăng bằng cáchnào đòi hỏi một quyết định đúng
Trang 34Mặt khác, khi vốn lưu động thường xuyên đã tài trợ đủ cho tài sản cố định còn dưthừa, nếu sử dụng vốn lưu động thường xuyên tài trợ toàn bộ cho tồn kho không phải làquyết định quản trị tốt, vì có thể doanh nghiệp đã sử dụng nguồn vốn dài hạn tốn kém chođầu tư tài sản ngắn hạn mà lẽ ra việc sử dụng này phải do tín dụng ngắn hạn tài trợ.
- Giảm vốn lưu động thường xuyên
Khi một doanh nghiệp giảm vốn lưu động thường xuyên sẽ làm cho mức độ antoàn tài chính của doanh nghiệp giảm xuống Tuy vậy, nếu việc giảm vốn này nhằm tàitrợ cho các khoản đầu tư sinh lời mới góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp thì cũngcần quan tâm xem xét kỹ
- Giữ ổn định vốn lưu động thường xuyên
Tình huống này thể hiện tình trạng giữ ổn định các hoạt động của doanh nghiệp;
để điều chỉnh cơ cấu đầu tư do lợi nhuận không tăng hoặc mức tăng trưởng giảm lâu dài,khi cần đánh giá thực trạng của tình huống này cần tiến hành nghiên cứu nguồn có khảnăng tạo ra lợi nhuận để xem xét
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Tại một thời điểm nào đó, vốn lưu động thường xuyên chỉ rõ mức độ an toàn màdoanh nghiệp có được nhằm tài trợ cho chu kỳ kinh doanh của nó Vì thế ta phải nghiêncứu một cách đầy đủ bằng cách so sánh giữa vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốnlưu động thường xuyên Vậy nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là gì?
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần đểtài trợ cho một phần tài sản lưu động, đó là hàng dự trữ và các khoản phải thu (tài sản lưuđộng không phải là tiền)
Như vậy, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên phụ thuộc vào ba tham số : dự trữ,tồn kho và sản phẩm dở dang; nợ phải thu; nợ ngắn hạn Nhưng tầm quan trọng của batham số này thay đổi theo tính chất của ngành và mức độ hoạt động, điều kiện quản lý vànhững biến động giá cả Vì vậy, ta cần phải xem xét sự biến động của nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên theo tính chất của ngành và mức độ hoạt động, điều kiện quản lý vànhững biến động giá cả
Nhu cầu VLĐ thường xuyên = Dự trữ và các khoản phải thu - Nợ ngắn hạn
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và tính chất của ngành mà doanh nghiệphoạt động : nhìn chung có mối liên hệ chặt chẽ giữa nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
và giá trị gia tăng do doanh nghiệp tạo ra Các doanh nghiệp có giá trị gia tăng thấp vàchu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn (ngành thương mại) thì nhu cầu vốn lưu động thườngxuyên nhỏ thậm chí âm do dự trữ ít và tận dụng được nguồn kinh phí từ bán chịu của nhàcung cấp Các doanh nghiệp có giá trị gia tăng cao và chu kỳ sản xuất dài thường có nhucầu vốn lưu động thường xuyên lớn Đó là các doanh nghiệp chấp nhận bán hàng chịutrong thời gian dài và khối lượng tồn kho lớn (doanh nghiệp công nghiệp chế tạo máy).Tuy nhiên một số doanh nghiệp có thể giảm vốn lưu động thường xuyên bằng cách yêucầu khách hàng ứng trước cho những hợp đồng mà họ đang thực hiện
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và mức độ hoạt động diễn ra theo chu kỳ :
nợ phải thu từ khách hàng và nợ phải trả đối với nhà cung cấp gần như tỷ lệ thuận vớidoanh thu Tuy nhiên, dù tình hình tiêu thụ bị chậm lại thì nhu cầu vốn lưu động thường
Trang 35xuyên cũng không giảm ngay vì những đơn đặt hàng đã ký kết không thể huỷ bỏ, dự trữ
và tồn kho vẫn tăng do tốc độ bán hàng chậm lại
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và sự biến động giá cả : trong thời kỳ lạmphát, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên tăng vì việc tăng nợ phải trả không đủ bù đắpmức tăng các khoản tồn kho và nợ phải thu, nhất là trong ngành công nghiệp Tình trạng
đó làm cho các doanh nghiệp phải vay mượn nhiều hơn để tài trợ cho các nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và quản lý : quản lý tồn kho cũng như quản
lý bán chịu cho khách hàng là tiền đề làm tăng hay giảm nhu cầu vốn lưu động thườngxuyên Khi tốc độ vòng quay dự trữ tăng để giảm dự trữ cũng như tăng cường nhận ứngtrước của khách hàng sẽ góp phần làm giảm nhu cầu vốn lưu động thường xuyên vàngược lại
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên có thể nhận các giá trị sau :
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0, tức là tồn kho và các khoản phải thu lớnhơn nợ ngắn hạn Tại đây các sử dụng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồnvốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốndài hạn để tài trợ vào phần chênh lệch Trong trường hợp này doanh nghiệp cần có biệnpháp để giải phóng tồn kho và giảm các khoản phải thu từ khách hàng
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên = 0, tức là các nguồn vốn từ bên ngoài vừa
đủ để tài trợ cho các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp
- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0 có nghĩa là các nguồn vốn từ bên ngoài
đã dư thừa để tài trợ cho các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp Doanh nghiệp khôngcần nhận thêm nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh doanh
Tiền
Tiền = Vốn lưu động thường xuyên - Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Nếu tiền < 0 sẽ xảy ra tình trạng mất cân đối trong nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn( vốn ngắn hạn nhiều, vốn dài hạn ít ) hoặc mất cân đối trong đầu tư dài hạn ( đầu tư dàihạn quá nhiều)
1.5.2.2.3 Phân tích các dòng ngân quỹ của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, tiền của doanh nghiệp là một yếu tố rất quan trọng Ởmột thời điểm nhất định, tiền chỉ phản ánh và có ý nghĩa như một hình thái biểu hiện củatài sản lưu động; nhưng trong quá trình kinh doanh, sự vận động của tiền được xem làhình ảnh trung tâm của hoạt động kinh doanh, phản ánh năng lực tài chính của doanhnghiệp Mặt khác, thông tin về luồng tiền của doanh nghiệp rất hữu dụng trong việc cungcấp cho người sử dụng một cơ sở để đánh giá khả năng hoạt động của doanh nghiệp trongviệc tạo ra tiền và nhu cầu của doanh nghiệp trong việc sử dụng luồng tiền đó Ngoài ra,
nó còn giúp doanh nghiệp lập kế hoạch tài chính ngắn hạn, dự báo các luồng tiền phátsinh để chủ động trong đầu tư hoặc huy động vốn tài trợ Chính vì thế, trong hệ thống báocáo tài chính phải có bản báo cáo bắt buộc để công khai về sự vận động của tiền thể hiệnđược lượng tiền doanh nghiệp đã thực thu trong kỳ kế toán
Trang 36Trong quản lý ngân quỹ người ta quan tâm đến chu kỳ vận động của tiền mặt Chu
kỳ vận động của tiền mặt là độ dài thời gian từ khi thanh toán tiền mua nguyên vật liệu(NVL) đến khi thu được tiền từ những khoản phải thu do việc bán sản phẩm cuối cùng, nóđược tính bằng công thức sau :
Chu kỳ vận
động của tiền
= Thời gian vậnđộng của NVL
+ Thời gian thu hồi cáckhoản phải thu
+ Thời gian chậm trảcác khoản phải thu Công thức trên cho thấy chu kỳ tiền mặt cũng là một chỉ tiêu để đánh giá hiệu quảquản lý vốn lưu động của doanh nghiệp
Thời gian vận động của nguyên vật liệu = Hàng tồn kho X 360
Doanh thu thuầnThời gian thu hồi các khoản phải thu = Phải thu X 360
Doanh thu thuầnThời gian chậm trả các khoản phải trả = Phải trả X 360
Doanh thu thuầnMục tiêu doanh nghiệp là rút ngắn chu kỳ vận động của tiền Chu kỳ nay càng dàithì nhu cầu tài trợ từ bên ngoài càng lớn và mỗi nguồn tài trợ đều có chi phí
Để phân tích tài chính đạt được hiệu quả tốt nhất các nhà phân tích tài chính phảibiết kết hợp giữa phân tích các tỷ lệ và phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạtđộng kinh doanh thì mới đưa ra tổng thể tình hình tài chính
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng phân tích tài chính
Phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng khác nhau, ảnhhưởng đến các quyết định đầu tư, tài trợ Tuy nhiên, phân tích tài chính chỉ thực sự pháthuy tác dụng khi nó phản ánh một cách trung thực tình trạng tài chính doanh nghiệp, vịthế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong ngành Muốn vậy, thông tin sửdụng trong phân tích phải chính xác, có độ tin cậy cao, cán bộ phân tích có trình độchuyên môn giỏi Ngoài ra, sự tồn tại của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành cũng là mộttrong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính
1.6.1.Chất lượng thông tin sử dụng
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tài chính, bởimột khi thông tin sử dụng không chính xác, không phù hợp thì kết quả mà phân tích tàichính đem lại chỉ là hình thức, không có ý nghĩa gì Vì vậy, có thể nói thông tin sử dụngtrong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chính
Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệp đến nhữngthông tin bên ngoài liên quan đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp, người phântích có thể thấy được tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự đoán
xu hướng phát triển trong tương lai
Tình hình nền kinh tế trong và ngoài nước không ngừng biến động, tác động hàngngày đến điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa, tiền lại có giá trị theo thời
Trang 37gian, một đồng tiền hôm nay có giá trị khác một đồng tiền trong tương lai Do đó, tính kịpthời, giá trị dự đoán là đặc điểm cần thiết làm nên sự phù hợp của thông tin Thiếu đi sựphù hợp và chính xác, thông tin không còn độ tin cậy và điều này tất yếu ảnh hưởng đếnchất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp
1.6.2.Trình độ cán bộ phân tích
Có được thông tin phù hợp và chính xác nhưng tập hợp và xử lý thông tin đó nhưthế nào để đưa lại kết quả phân tích tài chính có chất lượng cao lại là điều không đơngiản Nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ thực hiện phân tích Từ các thông tinthu thập được, các cán bộ phân tích phải tính toán các chỉ tiêu, thiết lập các bảng biểu.Tuy nhiên, đó chỉ là những con số và nếu chúng đứng riêng lẻ thì tự chúng sẽ không nóilên điều gì Nhiệm vụ của người phân tích là phải gắn kết, tạo lập mối liên hệ giữa các chỉtiêu, kết hợp với các thông tin về điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp để lý giảitình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định thế mạnh, điểm yếu cũng như nguyên nhândẫn đến điểm yếu trên Hay nói cách khác, cán bộ phân tích là người làm cho các con số
“biết nói” Chính tầm quan trọng và sự phức tạp của phân tích tài chính đòi hỏi cán bộphân tích phải có trình độ chuyên môn cao
1.6.3 Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành
Phân tích tài chính sẽ trở nên đầy đủ và có ý nghĩa hơn nếu có sự tồn tại của hệthống chỉ tiêu trung bình ngành Đây là cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hành phântích Người ta chỉ có thể nói các tỷ lệ tài chính của một doanh nghiệp là cao hay thấp, tốthay xấu khi đem so sánh với các tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp khác có đặc điểm vàđiều kiện sản xuất kinh doanh tương tự mà đại diện ở đây là chỉ tiêu trung bình ngành.Thông qua đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lý tài chính biếtđược vị thế của doanh nghiệp mình từ đó đánh giá được thực trạng tài chính doanh nghiệpcũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN DƯỢC VẬT TƯ Y TẾ HẢI DƯƠNG
Trang 382.1 Khái quát chung về công ty cổ phần dược vật tư y tế Hải Dương
- Tên công ty: Công ty cổ phần Dược vật tư y tế Hải Dương
- Tên giao dịch: HDPHARMA
-Tên tiếng Anh: HAI DUONG PHARMACEUTICAL MEDICAL MATERIAL JOINTSTOCK COMPANY
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0403000046 do sở kế hoạch và đầu tư tỉnh HảiDương cấp ngày 04/04/2003, ký thay đổi lần 2 ngày 06/05/2008
- Vốn điều lệ của Công ty trong Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh số 0403000046đăng ký thay đổi lần 2 ngày 06/05/2008 là 20.250.000.000 đồng Vốn thực góp của Công
ty là 10.260.000.000 đồng
- Địa chỉ: Số 102, phố Chi Lăng, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương, tỉnh HảiDương
- Điện thoại: 0320.3853 848 - Fax: 0320.3853 848
- Ngành nghề kinh doanh: sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu thuốc chữa bệnh, thực
phẩm chức năng, hoá chất, mỹ phẩm, vật tư y tế; sản xuất, thu mua, nuôi trồng dượcliệu
- Thương hiệu HD PHARMA đã vượt qua hơn 70 thương hiệu khác lọt vào TOP 13thương hiệu mạnh tỉnh Hải Dương năm 2009
- Chào bán cổ phiếu ra công chúng
+ Tên cổ phiếu :Cổ phiếu Công ty cổ phần Dược Vật tư Y tế Hải Dương
+ Mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu
+ Giá bán
Cho cổ đông hiện hữu và CBNV: 20.000 đồng/cổ phiếu
Cho cổ đông chiến lược 30.000 đồng/cổ phiếu
Tổng số lượng dự kiến chào bán, trong đó: 1.974.000 cổ phiếu
Cho cổ đông hiện hữu 1.026.000 cổ phiếu
Cho cán bộ công nhân viên 50.000 cổ phiếu
Cho cổ đông chiến lược 898.000 cổ phiếu
Tổng giá trị dự kiến chào bán (theo mệnh giá) 19.740.000.000 VNĐ
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần Dược vật tư y tế Hải Dương tiền thân là xí nghiệp liên hợp dượcHải Hưng Xí nghiệp thành lập ngày 01/07/1983 theo quyết định số 07/TC ngày23/06/1983 của UBND tỉnh Hải Hưng Xí nghiệp được thành lập trên cơ sở sát nhập công
ty dược phẩm và xí nghiệp dược phẩm tỉnh
Trang 39Ngày 02/12/1999 Xí nghiệp liên hợp dược được đổi tên thành công ty Dược vật tư y tếHải Dương theo quyết định số 2749/1999/QD-UB của UBND tỉnh Hải Dương
Ngày 18/06/2002 UBND tỉnh Hải Dương có quyết định số 2750/QĐ- UB đồng ý chocông ty Dược vật tư y tế Hải Dương chuyển đổi hình thức sở hữu từ doanh nghiệp nhànước sang công ty cổ phầnCông ty Cổ phần Dược Vật tư Y tế Hải Dương được cổ phầnhoá năm 2003 trên cơ sở Doanh nghiệp Nhà nước Ngày 10 và 11/03/2003, Đại hội cổđông thứ nhất thông qua và phản ánh Điều lệ Công ty Cổ phần Dược Vật tư Y tế HảiDương
Ngày 01/04/2003 Công ty Cổ phần Dược Vật tư Y tế Hải Dương chính thức đượcthành lập và đi vào hoạt động với tên giao dịch Haduphaco Trụ sở chính của Công ty tại
102 đường Chi Lăng, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương Điện thoại0320.853848, Fax 0320.853848
Tháng 06/2007 Công ty đổi tên giao dịch thành HDPHARMA
Với nỗ lực phấn đấu không ngừng, đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm và tay nghề cao,
sự đoàn kết gắn bó của Ban lãnh đạo cùng tập thể cán bộ công nhân viên, trong nhữngnăm qua, Công ty luôn giữ vững sự ổn định và phát triển Đến nay, Công ty đã trở thànhmột trong nhưng doanh nghiệp dược có uy tín, có được sự tin cậy của khách hàng, các đốitác trong và ngoài nước Quy mô sản xuất công ty ngày càng được mở rộng, năng lực sảnxuất ngày càng được nâng cao, Công ty đã có 05 dây chuyền sản xuất thuốc đạt tiêuchuẩn GMP - WHO
Dây chuyền thuốc tiêm tiệt trùng cuối, thuốc tiêm không tiệt trùng cuối, hỗn dịchtiêm, nhũ dịch tiêm, thuốc nhỏ mắt, thuốc nhỏ mũi không chứa kháng sinh nhóm b -lactam
Dây chuyền thuốc viên nén, viên bao phim, viên bao đường, viên nang cứng, viênnang mềm, thuốc bột, thuốc cốm, trà nhúng, sirô, thuốc nước uống, thuốc nướcdùng ngoài, rượu thuốc, cao thuốc có nguồn gốc từ dược liệu
Dây chuyền thuốc viên nang mềm không chứa kháng sinh nhóm b - lactam
Dây chuyền thuốc nước uống, thuốc nước dùng ngoài, hỗn dịch, nhũ dịch khôngchứa kháng sinh nhóm b - lactam
Dây chuyền thuốc kem, thuốc mỡ và gel không chứa kháng sinh nhóm b - lactam
Hệ thống kho đạt tiêu chuẩn GSP hệ thống phân phối thuốc đạt tiêu chuẩn GDP,GPP phòng kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn GLP
Với hàng trăm mặt hàng ở nhiều nhóm bệnh, phong phú dạng bào chế, mẫu mãđẹp, giá thành hợp lý, có hiệu quả điều trị tốt đã làm vừa lòng người tiêu dùng trong cảnước Sản phẩm của công ty đã thắng thầu trong nhiều bệnh viện lớn từ Trung ương đến