1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

71 1,9K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 227,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với ngành nông nghiệp qua 12 năm 2000 - 2012 triển khai thực hiện quyết định của UBND huyện phê duyệt “Báo cáo rà soát, bổ sung quy hoạch nông nghiệp - nông thôn huyện Tân Thành thời

Trang 1

Phần mở đầu

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Huyện Tân Thành được thành lập theo quyết định số 45/QĐ-CP ngày 02/6/1994 của Chính phủ Qua 18 năm (1994 - 2012) xây dựng - phát triển từ 01 huyện nghèo, cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (bình quân GDP năm 1995 chỉ 78 USD/người và tỉ trọng khu vực nông lâm ngư nghiệp chiếm 55,22% so với tổng sản phẩm), đến năm 2012 huyện Tân Thành đã trở thành địa phương có nền kinh tế phát triển (giá trị GDP bình quân đầu người đạt 2.977 USD, gấp 1,96 lần cả nước, tổng thu ngân sách nhà nước 9.707,87 tỉ đồng, ước tính tỉ trọng GDP khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 93,0%, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 43.742,0 tỉ đồng và GDP khu vực nông lâm nghiệp – thủy sản giảm còn 1,39% Đối với ngành nông nghiệp qua 12 năm (2000 - 2012) triển khai thực hiện quyết định của UBND huyện phê duyệt “Báo cáo rà soát, bổ sung quy hoạch nông nghiệp - nông thôn huyện Tân Thành thời kỳ 2001 - 2010” trong bối cảnh có nhiều khó khăn như: Diện tích đất nông nghiệp giảm 4.685,5 ha, địa bàn chăn nuôi bị thu hẹp, môi trường nước sông Thị Vải ô nhiễm trầm trọng, quy hoạch - triển khai thực hiện quy hoạch xây dựng các khu - cụm công nghiệp và đô thị tập trung đã ảnh hưởng trực tiếp và gây trở ngại đối với ngành nông nghiệp, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng bởi thiên tai

- dịch bệnh,… Song, sản xuất nông nghiệp huyện Tân Thành vẫn phát triển và đạt một số kết quả như sau:

- Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2011 đạt: 438,6 tỉ đồng (giá cố định 1994)

- Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, tỉ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2011 chiếm 45,23% so với tổng giá trị sản xuất nông nghiệp

- Loại hình tổ chức chăn nuôi trang trại được nhân rộng với tỉ lệ vật nuôi (gà, cút, heo, bò sữa) ở loại hình kinh tế trang trại tăng dần qua các năm

- Một số cây trồng chủ lực của ngành trồng trọt: Rau an toàn, hồ tiêu, cà phê được chú trọng phát triển

Bên cạnh các kết quả đáng ghi nhận kể trên, ngành nông nghiệp huyện Tân Thành vẫn còn một số hạn chế - yếu kém như sau:

- Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản thiếu ổn định qua các năm và kém bền vững về kinh tế - xã hội

- Mô hình nông nghiệp mới phù hợp với đô thị hóa chậm được hình thành Đặc biệt, quan hệ giữa nông lâm ngư nghiệp với các ngành kinh tế khác trong phân bố không gian trên địa bàn huyện còn khá nhiều bất cập

- Phần lớn các cây trồng có năng suất ở mức trung bình và thấp hơn so với mức bình quân ở vùng Đông Nam bộ

- Số lượng các loại vật nuôi (trâu, bò, heo, dê) năm 2012 thấp hơn so với các năm trước đó

- Chất lượng nông sản có được cải thiện nhưng vẫn chưa cao

Trang 2

- Tình trạng trồng quảng canh cây lâu năm (điều,…) và có hiện tượng trồng sau đó chặt bỏ gây lãng phí tài nguyên và vốn đầu tư; vẫn còn tình trạng đất sản xuất nông nghiệp bị bỏ vụ hoặc bỏ hoang hóa.

Những hạn chế nêu trên có các nguyên nhân chủ quan và khách quan rất cần phân tích rõ để có biện pháp khắc phục trong giai đoạn 2013 - 2020

Hơn nữa, theo báo cáo rà soát, điều chỉnh quy hoạch nông nghiệp, nông thôn huyện Tân Thành chỉ đến năm 2010; trong khi Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất nông nghiệp đến năm 2020, đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm 2020 và các chiến lược phát triển lâm nghiệp, thủy sản của cả nước đến năm 2020, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 Ủy ban nhân dân tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu đã ban hành các quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp, quy hoạch phát triển chăn nuôi, quy hoạch phát triển 5 ngành hàng (rau - hoa - cây cảnh, hồ tiêu, điều, nhãn xuồng cơm vàng, mãng cầu) đến năm 2020 Trên địa bàn huyện Tân Thành cũng đang lập quy hoạch sử dụng đất, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đề án thành lập thị xã Phú Mỹ,…

Do vậy, để xây dựng ngành nông nghiệp huyện Tân Thành đến năm 2020 phát triển bền vững, đảm bảo thống nhất với các quy hoạch có liên quan, đồng thời phát huy kết quả ngành nông nghiệp đã đạt được, khắc phục các hạn chế, tiếp tục khai thác tài nguyên phát triển các nông thủy sản chủ lực có lợi thế so sánh, gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới Xây dựng ở huyện Tân Thành nền nông nghiệp sinh thái đô thị - nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào năm 2020 được xác định là việc làm cấp thiết

Báo cáo “Điều chỉnh quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp huyện Tân Thành đến năm 2020” đã được trình bày tại hội thảo lần I ngày 25/10/2013 và lần II ngày 29/11/2013 do UBND huyện tổ chức; tiếp thu các ý kiến tại hội nghị cơ quan Tư vấn đã chỉnh lý, bổ sung hoàn chỉnh tài liệu, trình UBND huyện thẩm định và phê duyệt; đến ngày 01/04/2014 báo cáo “Điều chỉnh quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp huyện Tân Thành đến năm 2020” đã được UBND huyện Tân Thành ra quyết định phê duyệt

II CÁC VĂN BẢN LÀ CĂN CỨ LẬP QUY HOẠCH.

1 Các văn bản của Ban chấp hành Trung ương khoá IX, X, XI về chủ trương, đường lối, định hướng phát triển nông nghiệp, nhất là Nghị Quyết số 26/NQTW Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

2 Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về phát triển Kinh tế - xã hội vùng ĐNB đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

3 Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030

4 Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

Trang 3

5 Quyết định số 1113/QĐ-TTg ngày 09/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung đô thị mới Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2030.

6 Quyết định số 969/QĐ-BXD ngày 07/10/2013 của Bộ Xây dựng công nhận thị trấn Phú Mỹ mở rộng đạt chuẩn đô thị loại IV

7 Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 29/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020

8 Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 07/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc chương trình phát triển công nghệ cao quốc gia đến năm 2020

9 Quyết định số 15/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thời

13 Quyết định số 258/QĐ-UBND-SNN ngày 25/01/2010 của chủ tịch UBND tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu về việc phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020

14 Quyết định số 552/QĐ-UBND-SNN ngày 04/03/2010 của chủ tịch UBND tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu về việc phê duyệt dự án quy hoạch vùng chăn nuôi, giết mổ, chế biến

và tiêu thụ gia cầm tập trung tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2008 - 2020

15 Quyết định số 1814/QĐ-UBND ngày 04/9/2012 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Mãng cầu đến năm 2020

16 Quyết định số 1815/QĐ-UBND ngày 04/9/2012 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Hồ tiêu đến năm 2020

17 Quyết định số 1816/QĐ-UBND ngày 04/9/2012 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Nhãn xuồng cơm vàng đến năm 2020

18 Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 04/9/2012 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Điều đến năm 2020

19 Quyết định số 1906/QĐ-UBND ngày 12/9/2012 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Rau, hoa, cây cảnh đến năm 2020

20 Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 12/5/2010 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bà Rịa

- Vũng Tàu về xây dựng và phát triển đô thị mới Phú Mỹ

21 Quyết định số 2793/QĐ-UBND ngày 23/10/2012 của UBND Huyện phê duyệt đề cương và dự toán quy hoạch phát triển Nông nghiệp huyện Tân Thành đến năm 2020

Trang 4

22 Quyết định số 10218/QĐ-UBND ngày 11/12/2012 của Ủy ban nhân dân huyện Tân Thành phê duyệt đề cương dự toán điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020.

23 Dự thảo báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ngày 19/9/2013 của Tỉnh ủy tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

III GIỚI HẠN ĐỐI TƯỢNG LẬP QUY HOẠCH.

- Đối tượng lập báo cáo điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp huyện Tân Thành gồm 05 lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản nước ngọt, trong đó:

+ Xây dựng mới quy hoạch phát triển trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.+ Kế thừa 02 quy hoạch của 2 ngành:

• Quy hoạch nuôi trồng thủy sản (kế thừa quy hoạch tổng thể ngành thủy sản tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020 do Phân viện Quy hoạch Thủy sản phía Nam, xây dựng năm 2012)

• Quy hoạch lâm nghiệp (kế thừa quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu đến năm 2020 do Phân viện Điều tra quy hoạch Lâm nghiệp xây dựng năm 2013

• Đồng thời, kế thừa các chỉ tiêu phân khai quy hoạch sử dụng đất huyện Tân Thành đến năm 2020 và kế hoạch 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015)

IV PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN LẬP QUY HOẠCH.

- Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu khoa học về nông lâm nghiệp và nuôi thủy sản, các kết quả điều tra nông nghiệp - nông thôn trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2012 có liên quan đến quy hoạch nông nghiệp huyện Tân Thành

- Kế thừa và phân tích mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị, nhất là nông nghiệp

đô thị ứng dụng công nghệ cao của TP Hồ Chí Minh, TP Hà Nội,… vận dụng vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Tân Thành

- Tiếp cận hệ thống đa chiều (Sơ đồ 1 trang sau)

Trang 5

PHẦN THỨ NHẤT Phân tích - đánh giá các nguồn lực liên quan đến

nông nghiệp huyện Tân Thành

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN.

1 Vị trí địa lý trong phát triển nông nghiệp (Hình 1).

- Huyện Tân Thành nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và ở khu vực nhân thuộc địa bàn phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, đây là khu vực động lực phát triển kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam và cả nước

- Địa giới hành chính của huyện Tân Thành:

+ Phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai;

+ Phía Nam giáp TP Bà Rịa và TP Vũng Tàu;

+ Phía Đông giáp huyện Châu Đức;

+ Phía Tây giáp TP Hồ Chí Minh

- Huyện Tân Thành ở vị trí cửa ngõ phía Tây của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thông qua Quốc lộ 51, trục đường giao thông huyết mạch nối huyện Tân Thành với các tỉnh –

TP của vùng Đông Nam bộ, hệ thống các cảng trên sông Thị Vải, trong đó có cảng nước sâu Cái Mép là dịch vụ vận tải biển đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh

tế biển Việt Nam mở cửa hội nhập với thế giới

- Kết hợp giữa phát triển kinh tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với các nguồn lực, nhất là tài nguyên thiên nhiên - nguồn nhân lực - điều kiện

tự nhiên của huyện Tân Thành cho thấy những lợi thế của ngành nông nghiệp địa phương như sau:

+ Huyện Tân Thành ở ngay trong thị trường có nhu cầu tiêu thụ hàng nông thủy sản lớn nhất cả nước Đây là điều kiện rất quan trọng khi chọn cây trồng, vật nuôi sản xuất phải phù hợp với thị trường và sản phẩm hàng hóa phải có chất lượng cao

+ Sản phẩm công nghiệp là đầu vào của sản xuất nông thủy sản (phân bón, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản,…) và đầu ra là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông thủy sản (chế biến thức ăn chăn nuôi, ép dầu, hạt điều,…) hoặc xuất khẩu cao su, hồ tiêu khá thuận lợi do ở gần các nhà máy chế biến và các doanh nghiệp xuất khẩu quy mô lớn

và vừa đảm nhận

+ Huyện Tân Thành ở gần các viện, trường, trung tâm đào tạo nhân lực và nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp (khu nông nghiệp công nghệ cao TP Hồ Chí Minh, Trung tâm công nghệ sinh học tỉnh Đồng Nai,…) nên có điều kiện đào tạo lao động, tham quan học tập và hợp đồng chuyển giao các công nghệ mới - công nghệ cao,… vào phát triển nền nông nghiệp sinh thái đô thị trong tương lai

Trang 6

Song, vị trí địa lý kinh tế cũng có một số hạn chế đối với sản xuất ngành nông nghiệp huyện Tân Thành, đó là:

+ Nông nghiệp luôn phải chịu áp lực rất lớn do chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp và đô thị hóa gây ra (lao động nông nghiệp bị già hóa, giá thuê nhân công cao, ô nhiễm môi trường nếu không kiểm soát tốt)

+ Trên thực tế đã xảy ra việc thu hồi đất nông nghiệp xây dựng cụm công nghiệp,

mở rộng đô thị, hoặc tình trạng đầu cơ đất nhưng thiếu nguồn lực đầu tư dẫn đến đất sản xuất nông nghiệp sau thu hồi bị bỏ hoang hóa gây lãng phí rất lớn

+ Đặc biệt, quan điểm xem nhẹ nông nghiệp do tỉ lệ đóng góp của ngành vào tổng sản phẩm ít hoặc lợi ích kinh tế thấp của các cơ quan thuộc hệ thống chính trị và việc trồng quảng canh cây trồng nhằm giữ đất chờ chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp

+ Để xây dựng nền nông nghiệp đô thị như ở các nước công nghiệp phát triển trên thế giới hay đang triển khai ở TP Hồ Chí Minh cần phải đổi mới tư duy và nhận thức, cách làm, cơ chế chính sách và yêu cầu vốn đầu tư lớn – công nghệ hiện đại Điều này ở huyện Tân Thành hiện đang còn thiếu

2 Khi hậu thời tiết (phụ biểu 1).

- Khí hậu của huyện Tân Thành mang đặc trưng nhiệt đới cận xích đạo gió mùa có nhiệt độ cao đều quanh năm (trung bình 26,3oC), tổng tích ôn lớn (9.599oC/năm), nắng nhiều (2.696 giờ/năm), một năm có 2 mùa mưa và khô rõ rệt Với các trị số khí hậu thời tiết kể trên nếu chủ động nước, có giống tốt, phân bón, lao động,… cho phép phát triển trồng trọt theo hướng thâm canh, tăng vụ, nhất là với các cây trồng nhiệt đới điển hình như hồ tiêu, cao su, điều, xoài, bắp, mía, các loại rau nhiệt đới, hoa,…

- Phân bố mưa theo mùa là một đặc điểm cần lưu ý khi trồng trọt nhờ nước mưa:

Bảng 1: Lượng mưa, phân bố mưa ở các trạm liên quan huyện Tân Thành

Chỉ tiêu Long Thành Trạm Bình Ba Trạm Bà Rịa Trạm

5 Số ngày chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa (ngày) 27 16 19

7 Số ngày chuyển tiếp từ mùa mưa sang mùa khô (ngày) 34 24 23

9 Tổng lượng mưa trong mùa mưa thực sự (mm) 1679 1805 1163

10 Tổng số ngày có mưa trong mùa mưa thực sự (ngày) 106 106 70

Nguồn: Trung tâm Khí tượng - Thủy văn Nam bộ

Khu vực ở phía Bắc huyện Tân Thành có số ngày trong mùa mưa thực sự nhiều hơn số ngày trong mùa khô thực sự từ 5 - 20 ngày, nhưng tổng thời gian trong mùa mưa thực sự cũng chỉ có 162 - 165 ngày; phía Nam của huyện có lượng mưa ít và số ngày trong mùa mưa thực sự chỉ có 142 ngày Mặt khác, lượng mưa tập trung trong mùa mưa

Trang 7

chiếm từ 85 - 93% nên chỉ các đất có nguồn gốc bazan, do giữ ẩm tốt mới có thể tận dụng nước mưa để canh tác 2 vụ cây ngắn ngày tương đối an toàn (ngô, đậu,…); các loại đất

có thành phần cơ giới nhẹ, nếu không có nguồn nước tưới bổ sung thì chỉ có thể canh tác một vụ/năm và dễ gặp hạn ngay trong mùa mưa

- Các hiện tượng và giá trị thời tiết cực đoan kể từ năm 2000 đến 2013 xảy ra với tần suất ngắn hơn và diễn biến bất thường là bão (2 trận bão năm 2006 và năm 2012), mưa trái vụ, sương mù, dông lốc ảnh hưởng thiệt hại đáng kể đến sản xuất nông nghiệp

và nuôi thủy sản

3 Địa hình.

- Huyện Tân Thành có kiểu địa hình chính là đồng bằng, đồi bằng lượng sóng và đồi núi

+ Địa hình đồng bằng: Phân bố tập trung ở khu vực kẹp giữa sông Thị Vải và quốc

lộ 51 thuộc các xã Mỹ Xuân, Thị trấn Phú Mỹ, xã Phước Hòa, xã Tân Hòa, Tân Hải và một phần sông Dinh thuộc xã Châu Pha Thực tế, địa hình đồng bằng sông Thị Vải sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp và trồng rừng ngập mặn, chỉ có đồng bằng xã Châu Pha là sản xuất lúa, rau, đậu, bắp

+ Địa hình núi: Gồm núi Dinh, núi Thị Vải với diện tích tự nhiên 4.853 ha, độ dốc

>8o, tầng đất canh tác mỏng, đá lộ đầu nhiều nên sử dụng vào mục đích lâm nghiệp

+ Địa hình đồi bằng lượn sóng: Phân bố tập trung ở các xã Sông Xoài, Hắc Dịch, Tóc Tiên, phía Tây xã Mỹ Xuân Đây là khu vực đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu của huyện Tân Thành

Nhìn chung, địa hình của huyện Tân Thành bị chia cắt khá mạnh nên gây khó khăn cho việc cải tạo mặt bằng đồng ruộng, áp dụng cơ giới sản xuất nông nghiệp, xây dựng hệ thống kênh mương cấp nước tưới cho cây trồng

4 Tài nguyên đất.

- Theo phân loại đất phát sinh huyện Tân Thành có 9 nhóm đất và 14 loại đất (đơn

vị chú giải bản đồ đất tỉ lệ 1/25.000) được trình bày chi tiết ở phụ biểu 2

- Nhóm đất có diện tích lớn nhất là đất xám (9.474,4 ha, chiếm 28,01% DTTN), đất phèn (8.200,0 ha, chiếm 24,24% DTTN), nhóm đất đỏ vàng (7.627,7 ha, chiếm 25,55% DTTN) và ít nhất là nhóm đất cát 106,0 ha

- Tổng diện tích đất xấu (do thành phần cơ giới hoặc hàm lượng dinh dưỡng có trong đất) là 25.838,38 ha, chiếm 76,39 % DTTN Đây được xem là hạn chế lớn đối với ngành trồng trọt huyện Tân Thành và lý giải tại sao phần lớn năng suất cây trồng ở mức thấp Đất tốt (gồm đất phù sa 630,57 ha, đất đen 375,08 ha, đất đỏ bazan 4.262,53 ha) có tổng diện tích 5.268,18 ha, chiếm 15,57% DTTN tập trung khai thác trồng cà phê, hồ tiêu, cao su, cây ăn quả và trồng lúa và rau thực phẩm

- Phân bố các nhóm đất theo xã (TT) trình bày ở phụ biểu 3:

+ Đất cát chỉ có ở xã Tân Hải

+ Đất phù sa phân bố ở xã Châu Pha

+ Đất phèn, đất mặn ở xã Tân Hòa, Tân Hải, Mỹ Xuân, Phước Hòa và Thị trấn Phú Mỹ

Trang 8

+ Đất xám phân bố các xã, thị trấn xã Sông Xoài.

+ Đất đỏ vàng có ở tất cả các xã thị trấn song tập trung ở xã Sông Xoài, Hắc Dịch.+ Đất xói mòn trơ sỏi đá phân bố ở 4 xã và thị trấn Phú Mỹ nhưng tập trung ở xã Tân Hòa, Phước Hòa, Châu Pha

- Về tính chất lý hóa học đất (phụ biểu 4):

+ Đất có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng gồm: đất cát, đất xám, đất nâu vàng và đất trơ sỏi đá Đất có tỉ lệ cát cao từ 40,0 đến 70,0%, kết cấu rời rạc, dễ mất nước, giữ phân kém, đồng thời tỉ lệ mùn tổng số thấp: 0,8 - 1,5%, đạm tổng số nghèo: 0,07 - 0,11%, nghèo lân (0,12 - 0,23%), kali tổng số chỉ có 0,021 - 0,033% Đây được xem là điểm hạn chế thứ hai trong nghiên cứu đất phát triển nông nghiệp của huyện Tân Thành, bởi cần đầu tư nhiều phân bón, bón làm nhiều lần và thường bị hao hụt do phân

dễ bị hòa tan mất đi theo nước,…

+ Đất có thành phần cơ giới nặng, dinh dưỡng trung bình có đất đỏ bazan, dốc tụ, phù sa Tỉ lệ sét vật lý 38,0 - 45,0% kết cấu viên cục, giữ nước và phân tốt Mùn tổng số 1,5 - 2,5%, đạm tổng số 0,12 - 0,24%, lân tổng số 0,23 - 0,38%, kali 0,028 - 0,041%,… Ở đất bazan sử dụng trồng cây ăn trái đặc sản, cà phê, cao su, tiêu,… và vùng lúa trồng ở đất phù sa

+ Đất có thành phần cơ giới nặng, có nồng độ các độc tố cao là đất mặn (Cl-

>4‰), đất phèn (SO4-2 > 0,02%, Fe+3 và Al+3 cao), rất dễ gây độc cho cây trồng khi bị mặn xâm nhập hoặc gặp hạn do thiếu nước

Tóm lại, tài nguyên đất huyện Tân Thành xét ở góc độ sử dụng cho nông nghiệp được xem là có nhiều hạn chế Diện tích đất có vấn đề (đất xấu) chiếm 76,39% (trong đó 11.415,0 ha rất ít có khả năng canh tác nông nghiệp) Ở các loại đất nghèo dinh dưỡng, nồng độ độc tố Cl-, SO4-2 cao, đầu tư cải tạo đất tốn kém, chi phí sản xuất cao, năng suất cây trồng thấp, giá thành cao,… Do vậy, khi bố trí cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp phải lựa chọn cơ cấu cây trồng thích hợp với từng loại đất Phân bố ở nội thị hoặc ven đô thị thuộc TX Phú Mỹ trong tương lai

5 Nguồn nước và chế độ thủy văn.

5.1 Nguồn nước mặt.

- Sông Thị Vải: Là sông nhánh thuộc hạ lưu sông Đồng Nai đổ ra biển Đông Đoạn sông Thị Vải thuộc huyện Tân Thành dài trên 30,0 km, rộng 200 - 400 m, sâu 5,0 - 20,0 m Nước sông có độ mặn > 4 g/l suốt 12 tháng trong năm Trước năm 2000, người dân địa phương đào ao nuôi thủy sản nước lợ, nhưng sau năm 2000 nước sông Thị Vải bị

ô nhiễm ở mức cao nên không thể sử dụng nuôi thủy sản Theo kết quả quan trắc chất lượng nước của Tổng cục Môi trường, nước sông Thị Vải bị ô nhiễm rất cao, vì tiếp nhận nước thải công nghiệp chưa qua xử lý của các khu, cụm và cơ sở công nghiệp mà điển hình là Công ty Vedan Trên thực tế, có 77 khu công nghiệp, cơ sở công nghiệp ở ven sông Thị Vải, trong đó có 56 khu công nghiệp - cơ sở công nghiệp xả nước thải vượt tiêu chuẩn ra sông Thị Vải với tổng lượng nước 33.000 m3/ngày Nồng độ kẽm vượt tiêu chuẩn 3,9 - 5,3 lần, nồng độ Ni tơ Amonia vượt 8 - 15 lần, ô nhiễm vi sinh vật vượt 21 -

445 lần,… Do vậy, nước sông Thị Vải không thể sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi thủy sản

Trang 9

- Sông Dinh: Diện tích lưu vực 305 km2, đoạn sông Dinh là ranh giới huyện Tân Thành dài 14,0 km Đầu nguồn đã xây dựng Hồ Đá Đen với dung tích chứa 33,4 triệu m3, cấp nước tưới cho 2.773,0 ha và cấp nước sinh hoạt 102.400 m3/ngày đêm, trong đó huyện Tân Thành 444,0 ha (khu tưới Châu Pha, Sông Xoài).

- Các sông khác: Sông Cỏ Rang, Mỏ Nhát, Cá Lóc bị nhiễm mặn quanh năm và bị

ô nhiễm

- Các suối: Suối Sao, suối Nhum, suối Ba Sinh, suối Ngọt, suối Nghệ, suối Rạch Chanh, suối Giao Kèo, suối Châu Pha chỉ có dòng chảy trong mùa mưa nên ngành thủy lợi địa phương đã xây dựng đập dâng lấy nước phục vụ sản xuất nông nghiệp

Tính đến năm 2012, trên địa bàn huyện đã xây dựng 5 hồ chứa nước, 20 đập dâng, tổng công suất thiết kế tưới 3.641,0 ha, công suất thực tế tưới ở huyện Tân Thành chỉ có 1.288,0 ha, chiếm 9,66% so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp Đây là hạn chế lớn thứ hai sau đất xấu đối với sản xuất nông nghiệp của huyện

Diện tích (ha)

Tỉ lệ (%/DTTN)

1 Diện tích chứa nước ngầm giàu và rất giàu >15,0 5.212,0 16,01

2 Diện tích chưa nước ngầm nghèo >7,0 - 15,0 6.740,0 19,94

3 Diện tích chứa nước ngầm nghèo 2,0 - 7,0 4.046,0 11,97

4 Diện tích chứa nước ngầm rất nghèo <2,0 2.440,0 7,22

5 Diện tích nước ngầm mặn, nhiễm mặn 8.376,0 24,79

6 Vùng không chứa nước ngầm 3.502,0 10,36

Nguồn: Đoàn địa chất thủy văn 707

Nguồn nước ngầm mặn và nhiễm mặn phân bố ở phía Tây Quốc lộ 51 ở địa hình thấp và đất mặn, đất phèn, vùng không chứa nước và vùng chứa nước ngầm rất nghèo phân bố ở xung quanh núi Thị Vải, núi Dinh, núi Tóc Tiên, vùng nước ngầm giàu có ở khu trung tâm thị trấn Phú Mỹ và Mỹ Xuân - Hắc Dịch, nước ngầm nghèo tập trung ở các

xã Sông Xoài, bắc xã Tóc Tiên, bắc xã Châu Pha,…

Trữ lượng nước khai thác an toàn (số lỗ khoan được bố trí trên 1 km2) ở hệ tầng chứa nước bazan (Hắc Dịch) là: 2,99 lỗ khoan/km2 và hệ tầng Bà Miên (Mỹ Xuân - Phước Hòa) là: 1,70 lỗ khoan/km2

Đánh giá về nước ngầm cho thấy có đến 18.364,0 ha (chiếm 53,84% diện tích tự nhiên) là nghèo đến rất nghèo hoặc nước bị nhiễm mặn Nên đây cũng là một khó khăn lớn đối với việc giải quyết nhu cầu dùng nước; song trên bản đồ phân bố nước ngầm từ giàu đến trung bình lại khá trùng với đất sản xuất nông nghiệp nên có hi vọng kết hợp khai thác nước ngầm phục vụ sinh hoạt và tận dụng tưới cho một số cây như hồ tiêu, cây

ăn trái đặc sản hoặc vùng chuyên canh rau với quy mô vừa phải, nhằm sử dụng nước tiết kiệm và kinh tế Hơn nữa, nước ngầm là tài nguyên “vô cùng quý giá”, việc khai thác phải đi đôi với việc quản lý bảo vệ một cách hữu hiệu tránh gây ô nhiễm và làm cạn kiệt nước ngầm

5.3 Chế độ thủy văn.

Trang 10

Các sông như: sông Thị Vải, sông Dinh, sông Cỏ Rang, sông Mỏ Nhát đều thông

ra biển (vịnh Gành Rái) nên chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông Tại cầu sông Dinh (TP Bà Rịa) mực nước trung bình năm là -12 cm, đỉnh triều cực đại +172 cm, đỉnh triều cực tiểu -298 cm, biên độ triều lên đến 368 cm Tại Thị Vải, biên độ triều trung bình khoảng trên 281 cm, cực đại 415 cm và cực tiểu -143 cm

Do ở gần biển nên cường độ truyền triều cao, tốc độ dòng chảy ngược khá mạnh,

do vậy có thể tận dụng thủy triều trong việc nuôi thủy sản, sản xuất diêm nghiệp cũng như tiêu nước tự chảy cho các vùng đất ven sông

6 Tài nguyên rừng.

Kết quả kiểm kê rừng của Hạt Kiểm lâm huyện Tân Thành đến 31/12/2012 như sau:

- Đất có rừng 4.457,1 ha, trong đó rừng tự nhiên 978,7 ha (rừng gỗ 174,5 ha, rừng ngập mặn 804,2 ha), rừng trồng 3.478,4 ha

- Trữ lượng rừng trồng khoảng 10.000 m3 bởi chủ yếu là rừng ở cấp tuổi I và II.Tóm lại, tài nguyên rừng của huyện Tân Thành không lớn và trồng rừng với mục đích phòng hộ là chính (rừng phòng hộ 4.812,63 ha, chiếm 99,17%)

7 Môi trường nước và nguồn lợi thủy sản.

7.1 Vùng nước ngọt.

- Môi trường nước của vùng ngọt ở Tân Thành có 5 hồ chứa là Đá Đen, Châu Pha, Suối Đá, Nhà Bè, Hải Sơn và các ao nuôi của nông hộ biến động theo mùa, song chất lượng nước tốt cho phép nuôi thả các loại thủy sản nước ngọt

- Nguồn lợi thủy sản nước ngọt: Tại các thủy vực thuộc huyện Tân Thành đã xác định được 94 loài cá các loại, 12 loài tôm nước ngọt thuộc họ Palaemonidae; song có sự phân bố không đều tại các thủy vực

Bảng 3: Động thực vật nổi và đáy ở các thủy vực ngước ngọt

Trang 11

cảng Thị Vải đi vào hoạt động, chất lượng nước biến đổi theo xu hướng xấu, mức độ ô nhiễm liên tục tăng do nước và rác thải công nghiệp còn chưa được kiểm soát chặt chẽ, sản lượng thủy sản khai thác giảm và nuôi thủy sản gặp nhiều rủi ro Việc nuôi thủy sản chỉ có thể tiến hành trong một số tháng lưu lượng nước lớn và phải luôn kiểm tra chất lượng nước khi đưa vào ao lắng trước khi đưa vào đầm nuôi.

- Các chỉ số môi trường nước: nhiệt độ dao động 27,5 - 31,0oC, trung bình 29,0oC, pHH2O 8,02 - 9,00, độ mặn 17 - 35,6 ppt, oxy hòa tan 5,02 - 7,84 mg/l

- Thực vật nổi (Phytoplankton) mùa khô có 33 loài với số lượng dao động 160.000 -

580.000 cá thể/lít, mùa mưa gồm 21 loài với số lượng từ 80.000 đến 260.000 cá thể/lít

Động vật nổi (Zoophonkton) mùa khô có 17 loài phân bố với số lượng 2.000 - 88.500 cá

thể/m3, mùa mưa 25 loài số cá thể từ 12.000 đến 52.000 cá thể/m3

- Nguồn lợi thủy sản: Tại thủy vực nước lợ - mặn có 69 loài cá, trong đó 38 loài có nguồn gốc từ biển và 31 loài các nước lợ (trong đó chỉ có 40 loài là có giá trị kinh tế), 17 loài tôm, 7 loài giáp xác,… nhưng nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt do nước bị ô nhiễm trầm trọng, các loại thủy sản rất khó có thể sống được

II CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ - XÃ HỘI.

1 Đánh giá khái quát về kinh tế huyện Tân Thành từ năm 2005 đến 2012.

Bảng 4: Một số chỉ tiêu kinh tế chính của huyện Tân Thành

Nông lâm thủy sản 201,00 279,83 258,67 258,34 6,84 -3,92 3,65

Công nghiệp - Xây dựng 222,18 728,69 1.316,00 654,19 26,81 -5,25 16,68

Thương mại - dịch vụ 429,20 2.793,00 3.121,20 4.571,00 45,44 27,93 40,21

1.2 Giá thực tế (tỉ đồng) 1.427,72 4.559,23 5.498,44 6.942,29

Nông lâm thủy sản 314,72 607,03 337,24 951,79

Công nghiệp - Xây dựng 313,05 1.318,80 2.040,00 1.419,50

Thương mại - dịch vụ 799,95 2.633,40 3.121,20 4.571,00

Nông lâm thủy sản 22,04 13,31 6,13 13,71

Công nghiệp - Xây dựng 21,93 28,93 37,10 20,45

Nguồn: Phòng Tài chính - Kế hoạch và Chi cục Thống kê huyện Tân Thành

Trang 12

- Theo báo cáo điều chỉnh quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 –

2015, định hướng đến năm 2020, tổng sản phẩm GDP khu vực nông lâm nghiệp – thủy sản năm 2010 là 288,0 tỉ đồng (giá 1994) và giá thực tế là 644,0 tỉ đồng, chiếm 1,39% so với tổng GDP trên địa bàn huyện

- Qua bảng 4 cho thấy:

+ Giá trị gia tăng (VA) từ năm 2006 đến 2012 tăng bình quân ở mức cao 30,45%/năm Trong đó, khu vực thương mại - dịch vụ tăng rất cao 40,21%/năm và thấp nhất là khu vực nông lâm thủy sản tăng 3,65%/năm

+ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: Khu vực nông lâm ngư nghiệp giảm, khu vực thương mại - dịch vụ tăng (năm 2012 chiếm 65,84%)

+ Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2012 đạt 9.707,87 tỉ đồng, và chi ngân sách 646,36 tỉ đồng (nguồn thu ngân sách nhà nước lớn hơn so với nhiều tỉnh trong cả nước)

+ Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, đến năm 2012 đạt 39,93 triệu đồng/người/năm, gấp 5,0 lần so với năm 2005

+ GDP bình quân đầu người năm 2012 đạt 2.977 USD/người, gấp 1,96 lần bình quân cả nước

Đặc biệt, huyện Tân Thành ở vào vị trí “trọng điểm của trọng điểm” đối với tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu, vùng KTTĐPN và cả nước bởi có khá nhiều lĩnh vực xếp thứ nhất so với các huyện của nước ta, như sau:

+ Có 10 khu công nghiệp tập trung với tổng diện tích 5.344,25 ha, 4 cụm công nghiệp; đã lấp đầy 5 khu công nghiệp với diện tích đất cho thuê trên 80%

+ Có 32 cảng biển và cảng nội địa đang triển khai với tổng số vốn đầu tư đăng ký khoảng 103.146 tỉ đồng (5,42 tỉ USD) Đã có 14 cảng đang khai thác, 14 cảng đang xây dựng,… cảng quốc tế Cái Mép quy hoạch cầu cảng dài 1.800 m có thể tiếp nhận tàu 100.000 DWT Năm 2012 ước tính lượng hàng hóa qua cảng 16,2 triệu tấn Khi hoàn thành đi vào hoạt động sẽ tăng lên 143,45 triệu tấn/năm

+ Trong các khu công nghiệp tập trung có 166 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư gần 10,0 tỉ USD Trong đó có 117 dự án đã đi vào hoạt động với giá trị sản xuất theo giá thực tế năm 2011 là 90.000 tỉ đồng

+ Khu công nghiệp khí - điện - đạm Phú Mỹ có tổng mức đầu tư 6,0 tỉ USD với nhà máy điện tổng công suất đến 3.900 MW (chiếm 40% công suất điện năng cả nước), nhà máy đạm Phú Mỹ CSKT 800.000 tấn phân Urê và 20.000 tấn Amoniac/năm

Công nghiệp và dịch vụ cảng là 2 ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Tân Thành đang trên đà phát triển, lớn mạnh toàn diện; góp phần hình thành đô thị Phú Mỹ và có tác động mạnh đến việc chuyển dịch mô hình nông nghiệp hiện tại thành mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị ứng dụng công nghệ cao - phát triển bền vững trong tương lai gần

2 Dân số - lao động.

2.1 Dân số.

- Huyện Tân Thành là huyện có tốc độ tăng dân số lớn nhất tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Điều tra ngày 01/4/1999 dân số 88.083 người, đến năm 2012 tăng lên 141.312 người

Trang 13

(tăng +53.229 người) chủ yếu là tăng cơ học Tốc độ tăng dân số bình quân 2006 - 2012

2.2 Số lượng và chất lượng lao động (phụ biểu 6).

- Theo số liệu thống kê năm 2012: Số người trong độ tuổi lao động của huyện Tân Thành là 97.448 người, chiếm 70,95% dân số, lao động đang làm việc cho các ngành kinh tế: 51.794 người Đây là chỉ tiêu cho thấy lao động trẻ do di dân tìm việc là chính tại các khu - cụm công nghiệp Lao động nông lâm ngư nghiệp 19.102 người, chiếm 36,75%

so với lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế

- Chất lượng lao động (phụ biểu 7): Tổng số lao động đã qua đào tạo năm 2010 là

12.952 người, chiếm 14,43% so với lao động xã hội

+ TT Phú Mỹ có tỉ lệ lao động qua đào tạo cao nhất 3.610 người, chiếm 23,0%, xã Hắc Dịch xếp thứ hai 1.485 người, chiếm 17,99% và TT Mỹ Xuân 2.878 người, chiếm 16,0%,… ít nhất là xã Sông Xoài 216 người, chiếm 4,97%

- Trình độ lao động qua đào tạo: Trong số 12.952 lao động qua đào tạo được phân theo trình độ như sau:

+ Sơ cấp và CNKT: 3.097 người, chiếm 23,91%

+ Trung cấp nghề hoặc TCCN: 4.753 người, chiếm 36,7%

+ Cao đẳng nghề hoặc CĐCN: 1.824 người, chiếm 14,08%

+ Đại học: 3.217 người, chiếm 24,84%

+ Trên đại học: 61 người, chiếm 0,47%

Song, tỉ lệ lao động nông lâm ngư nghiệp qua đào tạo thường rất thấp Điều tra ngày 01/7/2011, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chỉ có 2,71% và 3 xã (Sông Xoài, Châu Pha, Tóc Tiên) cũng không đạt tiêu chí 14 do tỉ lệ lao động đã qua đào tạo thấp hơn so với quy định Trên thực tế, lao động nông nghiệp chỉ được hướng dẫn kỹ thuật thông qua các lớp khuyến nông ngắn hạn nên không được cấp bằng (ví dụ, năm 2012 theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp - PTNT, huyện Tân Thành đã tổ chức 20 lớp tập huấn, trong đó

11 lớp trồng trọt, 05 lớp chăn nuôi - thú y, 04 lớp thủy sản cho 700 lượt nông dân tham dự), tổ chức cho 100 lượt nông dân tham quan học tập mô hình trồng bưởi an toàn theo hướng VietGAP, trồng bắp năng suất cao, tổ chức 12 lớp bảo vệ thực vật cho 420 lượt nông dân

Do vậy, tuy tỉ lệ lao động nông nghiệp đã qua đào tạo còn chiếm tỉ lệ khá thấp nhưng họ được hướng dẫn kỹ thuật qua các lớp khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ thực vật,… nên việc tiếp cận kỹ thuật mới khá thuận lợi Song, để hình thành nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vẫn còn nhiều bất cập về chất lượng lao động

Trang 14

3 Công tác giảm nghèo - giải quyết việc làm.

Theo thống kê tỉ lệ hộ nghèo đến 31/12/2012 là 943 hộ, chiếm 7,22% (trong đó

348 hộ nghèo theo chuẩn quốc gia), giải quyết việc làm cho 2.258 lao động, đạt 100%

kế hoạch Công tác giảm nghèo bền vững được hệ thống chính trị từ ấp, xã đến huyện đều tập trung giải quyết khá căn cơ Đây là chỉ tiêu đạt khi so sánh với tiêu chí của Bộ Xây dựng trong báo cáo đề xuất thành lập thị xã Phú Mỹ

4 Đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp

4.1 Hiện trạng các công trình thủy lợi.

Bảng 5: Hiện trạng các công trình thủy lợi huyện Tân Thành đến năm 2012 Số

Ghi chú Thiết kế Thực tế

4 Đập sông Giao Kèo Tóc Tiên 7 60 60

5 Đập Tập đoàn 4 Sông Xoài 30 58 58

6 Đập Rạch Chanh 1 Tân Hòa 7 50 50

13 Đập Anh Đào Mỹ Xuân 6 30 30

14 Đập Suối Đôi Tóc Tiên 30 30

Nguồn: Chi Cục Quản lý Thủy nông.

Ghi chú: Hồ Đá Đen xây dựng tại xã Sông Xoài và huyện Châu Đức; diện tích lưu vực 149 km 2 , diện tích tưới theo thiết kế 1.903 ha (trong đó huyện Tân Thành 444 ha, nhưng chưa có kênh dẫn nước tưới).

Trang 15

- Trên địa bàn huyện đã xây dựng 05 hồ chứa, tổng công suất thiết kế tưới cho 2.773

ha (trong đó hồ Đá Đen có công suất thiết kế tưới lớn nhất: 1.903 ha, trong đó huyện Tân Thành 444 ha nhưng chưa đầu tư xây dựng kênh dẫn nước) Tổng công suất thực tế tưới cho 420 ha (đạt 48,28% CSTK và cấp nước sinh hoạt 103.200 m3/ngày đêm

- Đến năm 2012 trên địa bàn huyện đã đầu tư xây dựng 20 đập, theo công suất thiết kế tưới cho 868 ha

Như vậy, tổng công suất thực tế tưới của 24 công trình thủy lợi (chưa kể hồ Đá Đen) trên địa bàn huyện Tân Thành là 1.288 ha, chiếm 9,67% so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp

- Đầu tư kiên cố hóa kênh mương (phụ biểu 9): Tổng chiều dài kênh tưới 23,834

km, trong đó đã kiên cố hóa 20,184 km, đạt 84,67% Hệ thống kênh kiên cố hóa tưới cho lúa dài 17,612 km, tưới cho rau màu - cây công nghiệp là 2,572 km Kết quả là giảm tỉ lệ thất thoát nước, góp phần đảm bảo chất lượng nước và tăng tốc độ dòng chảy của nước qua kênh từ đó hỗ trợ tích cực cho trồng trọt

Vấn đề tồn tại là vùng hưởng lợi từ hồ Đá Đen tưới cho 444 ha cần sớm bố trí vốn đầu tư xây dựng kênh mương để sử dụng đất và áp dụng kỹ thuật đạt hiệu quả cao hơn, trong đó ưu tiên trồng rau an toàn là cây trồng chủ lực của trồng trọt huyện Tân Thành

4.2 Hiện trạng giao thông.

Đầu tư xây dựng đường giao thông ở huyện Tân Thành luôn được coi trọng bởi giao thông là động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội, đến năm 2012 trên địa bàn huyện đã xây dựng các tuyến đường chính như sau:

Bảng 6: Một số thông tin về đường giao thông H Tân Thành năm 2012.

Số

T

Năm đưa vào

sử dụng

Chiều dài (km)

Kích thước (m)

Kết cấu mặt đường Nền

đường

Mặt đường

2 Đường Mỹ Xuân - Ngãi Giao 1999 17 9 7 “

3 Đường Phú Mỹ - Tóc Tiên 1996 7,5 9 7 “

4 Đường Tóc Tiên - Hồng Bái 1996 10 9 7 “

5 Đường Châu Pha - Tóc Tiên - Hắc Dịch 2006 7,8 9 7 “

6 Đường Châu Pha - Bàu Phương - Hắc Dịch 2006 8,2 9 6 Rải nhựa

7 Đường Sông Xoài - Cù Bị 2006 5,8 9 7 “

8 Đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải 19,65 Bê tông nhựa

9 Đường thị trấn Phú Mỹ 70

10 Đường giao thông nông thôn 243,5

Nguồn: Báo cáo điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Tân Thành giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020.

- Các tuyến đường giao thông đã xây dựng đã đáp ứng khá tốt cho việc lưu thông của các phương tiện vận tải, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Trang 16

- Đến năm 2012, đường ô tô đã đến 100% trung tâm xã, ấp của huyện Song, đường giao thông còn một số hạn chế như sau:

+ 3 xã xây dựng NTM (Sông Xoài, Châu Pha, Tóc Tiên) so sánh với tiêu chí số 2 - giao thông vẫn chưa đạt

+ Thiếu đường đồng ruộng, nhất là các cánh đồng trồng lúa - rau ở Châu Pha

4.3 Hiện trạng điện phục vụ nông nghiệp, nông thôn.

Điện lưới trên địa bàn huyện Tân Thành khá hoàn chỉnh (1.200 km đường trung thế và hạ thế, tổng công suất của 631 máy biến áp là 146.568 KVA Điện lưới quốc gia đã kéo về 100% số xã (TT), tỉ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 99,4% Đây là mức cao nhất so với

cả nước

Song, điện phục vụ công nghiệp, sinh hoạt là chính, điện phục vụ sản xuất nông nghiệp còn hạn chế chủ yếu là cho các trang trại chăn nuôi, hệ thống điện 3 pha ở các vùng trồng rau tập trung còn thiếu và máy nông nghiệp vận hành bằng động cơ điện còn

ít được trang bị

4.4 Cơ giới hóa nông nghiệp.

Theo báo cáo của Chi Cục Thống kê huyện Tân Thành, trên địa bàn huyện có 24 máy kéo lớn (tổng công suất 3.479 CV), 104 máy kéo nhỏ (tổng công suất 895 CV), máy bơm nước 5.611 cái (tổng công suất 52.262 CV), 19 máy tuốt lúa,…

Trang bị cơ giới hóa đảm nhận 98% khâu làm đất, chủ yếu phục vụ sản xuất lúa, khoai mì, bắp,… Cơ giới hóa góp phần giảm nhẹ sức lao động, đảm bảo gieo trồng kịp thời vụ, giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

5 Đánh giá tác động của công nghiệp - dịch vụ đối với nông nghiệp.

5.1 Tác động của công nghiệp.

- Các sản phẩm là đầu vào của sản xuất nông nghiệp gồm có: Phân U rê 807.013 tấn/năm, phân NPK (của HydroAgi) 20.586 tấn/năm, phân hỗn hợp NPK (Baconco) 183.456 tấn/năm,… hoàn toàn đáp ứng đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, kịp thời vụ cho trồng trọt huyện Tân Thành

- Các cơ sở công nghiệp tiêu thụ nông sản hàng hóa có 22 cơ sở xay xát gạo CSTK 63,5 tấn/giờ đảm bảo xay xát 100% sản lượng lúa sản xuất tại huyện Tân Thành, chế biến điều CSTK 5.500 tấn hạt/năm

Nói chung, công nghiệp trên địa bàn huyện Tân Thành ít tác động đến nông nghiệp cả “đầu vào và đầu ra” của quá trình sản xuất - tiêu thụ nông thủy sản

5.2 Tác động của dịch vụ - thương mại.

- Tác động khu vực dịch vụ - thương mại:

+ Theo báo cáo điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Tân Thành đã ghi nhận đến năm 2012 có 423 doanh nghiệp và 9.113 cơ sở hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ: tổng doanh thu ước thực hiện năm 2012 là 6.530 tỉ đồng, trong đó thương mại 4.107 tỉ đồng

Trang 17

+ Trên địa bàn huyện đã xây dựng 15 chợ loại III phân bố tại 10 xã - thị trấn, hệ thống chợ cơ bản đáp ứng nhu cầu buôn bán và phục vụ hàng hóa tiêu dùng tại địa phương, trong đó có các loại nông thủy sản.

+ Hộ kinh doanh giống cây trồng (hạt rau, lúa, bắp, giống cây ăn quả): 14 hộ phân

bố ở 5 xã Châu Pha, Tóc Tiên, Tân Hải, Tân Phước, Phước Hòa

Nhìn chung, chủ trương thương mại hóa các hoạt động dịch vụ nông nghiệp đã đáp ứng khá tốt yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp của địa phương Song, thanh tra

- kiểm tra của ngành chức năng kết hợp với Phòng Nông nghiệp - PTNT vẫn phát hiện một số cơ sở kinh doanh dịch vụ vi phạm và đã xử lý, riêng chất lượng cây giống lâu năm (cây giống ca cao, cây giống các loại quả) không thể truy nguyên nguồn gốc cây đầu dòng được ngành chức năng cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn

6 Đánh giá thực trạng loại hình tổ chức sản xuất - kinh doanh nông nghiệp.

từ nông lâm ngư nghiệp là 6.148 hộ

Từ năm 1986 đến 2000 kinh tế hộ đã phát huy tốt vai trò trong phát triển sản xuất nông nghiệp Nhưng kể từ sau năm 2000, với chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa lớn thì kinh tế hộ lại được coi là thách thức lớn bởi muốn có khối lượng hàng hóa đủ lớn đạt chất lượng và có thể truy nguyên nguồn gốc thì kinh tế hộ khó có thể đáp ứng

Đối với huyện Tân Thành, kinh tế hộ đã và đang chiếm tỉ trọng lớn, nhất là trồng trọt, thủy sản Do vậy, cần nghiên cứu biện pháp hỗ trợ, khuyến khích, tuyên truyền vận động để kinh tế hộ tham gia các loại hình kinh tế hợp tác hoặc kinh tế trang trại

6.2 Kinh tế trang trại (phụ biểu 11, 12, 13, 15, 16, 17, 18).

Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp và PTNT, tính đến 31/12/2012 trên địa bàn huyện có 119 trang trại chăn nuôi, trong đó: 43 trang trại chăn nuôi heo, 38 trang trại chăn nuôi gia cầm, 17 trang trại nuôi bò sữa, 5 trang trại nuôi cút và 16 trang trại nuôi chim yến (thống kê theo Thông tư liên tịch giữa Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng Cục Thống kê Việt Nam, chưa thống kê theo thông tư số 27/TT-BNNPTNT), số lượng vật nuôi ở trang trại bò sữa chiếm 100%, cút 100%, chim yến 100%, 70% tổng đàn gia cầm

và 25% so với tổng đàn heo

Trang 18

- Số lượng trang trại trồng trọt 24 với diện tích đất sản xuất nông nghiệp 146,4 ha, tổng đầu tư 24,5 tỉ đồng, sử dụng 130 lao động, doanh thu bình quân năm 2012 là 32,0 tỉ đồng Loại cây trồng trang trại chọn phát triển là cây lâu năm (hồ tiêu, cà phê, bưởi da xanh, thanh long,…).

Trong phát triển chăn nuôi, loại hình tổ chức kinh tế trang trại có vai trò quan trọng vì đa số chủ trang trại có hiểu biết và kiến thức kỹ thuật về chăn nuôi, các cơ quan quản lý nhà nước có thể giám sát Đây là loại hình tổ chức sản xuất - kinh doanh trong nông nghiệp được khuyến khích phát triển Song, quá trình đô thị hóa đã ảnh hưởng đến kinh tế trang trại với lí do nằm ngoài vùng quy hoạch cho phép phát triển chăn nuôi, bởi trang trại thành lập trước khi quy hoạch theo thống kê có đến 16 trang trại chăn nuôi heo nằm ngoài vùng quy hoạch Vì vậy, khi xem xét xử lý cần hết sức linh hoạt nhằm đảm bảo cho trang trại sản xuất - kinh doanh trong giới hạn thời gian nhất định

7 Thực trạng các xã nông thôn mới (phụ biểu 42).

Ban chỉ đạo NTM tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chọn 3 xã Sông Xoài, Châu Pha, Tóc Tiên để xây dựng NTM Kết quả đến tháng 10/2013 thực trạng xây dựng nông thôn mới của 3 xã so với với bộ tiêu chí quốc gia theo quyết định 491/QĐ-TTg và quyết định số 342/QĐ-TTg đạt được như sau:

- Xã Châu Pha đạt 19/19 tiêu chí

- Xã Sông Xoài đạt 14/19 tiêu chí (còn 5 tiêu chí chưa đạt là: TC2, TC3, TC6, TC9 và TC17)

Trang 19

- Xã Tóc Tiên đạt 12/19 tiêu chí (còn 7 tiêu chí chưa đạt là: TC2, TC4, TC5, TC6, TC10, TC15 và TC 17).

 

PHẦN THỨ HAI Đánh giá thực trạng và các dự báo có liên quan đến

nông nghiệp huyện Tân Thành

I ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP.

1 Diễn biến sử dụng đất nông nghiệp.

Kết quả kiểm kê, thống kê hiện trạng sử dụng đất huyện Tân Thành ngày

01/01/2000, 2005 và 2013 được tổng hợp trình bày ở bảng 7 và phụ biểu 19

Bảng 7: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Tân Thành qua các năm.

ĐVT: ha

Số

So sánh tăng (+) giảm (-) 2013/2000 2013/2005 ĐẤT NÔNG NGHIỆP 23.925,43 23.403,86 19.239,95 -4.685,48 -4.163,91

I Đất sản xuất nông nghiệp 16.047,84 15.357,65 13.323,69 -2.724,15 -2.033,96

1 Đất trồng cây hàng năm 4.648,34 3.763,97 2.908,01 -1.740,33 -855,96 1.1 Đất trồng lúa 2.437,94 1.540,33 848,29 -1.589,65 -692,04 1.2 Đất có dùng chăn nuôi 166,24 28,81 -137,43 1.3 Đất cây hàng năm khác 2.210,40 2.057,40 2.030,91 -179,49 -26,49

2 Đất trồng cây lâu năm 11.399,50 11.593,68 10.415,68 -983,82 -1.178,00

Nguồn: Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Qua 13 năm (2000 - 2013), đất nông nghiệp huyện Tân Thành đã có nhiều biến động theo mục đích sử dụng như sau:

- Đất nông nghiệp và cơ cấu đất nông nghiệp giảm đáng kể khi so sánh năm 2013 với năm 2000 và 2005 Trong đó:

+ Đất nông nghiệp năm 2013 giảm còn 19.239,95 ha (giảm tuyệt đối so với năm

2000 là 4.685,48 ha và so với năm 2005 giảm 4.163,91 ha chuyển sang đất phi nông nghiệp (chủ yếu là sử dụng vào mục đích xây dựng khu - cụm công nghiệp tập trung, xây dựng cảng và hệ thống giao thông, khu dân cư đô thị,…)

+ Đất sản xuất nông nghiệp năm 2013: 13.323,69 ha, giảm 2.723,79 ha so với năm

2000 và giảm 2.033,96 ha so với năm 2005, riêng đất lúa giảm 1.587,65 ha so với năm

2000 và đất trồng cây lâu năm giảm 1.178,0 ha so với năm 2005

Trang 20

+ Đất lâm nghiệp năm 2013 so với năm 2005 giảm 1.874,97 ha, trong đó 100% là diện tích rừng phòng hộ ven sông Thị Vải.

+ Đất nuôi thủy sản năm 2013 so với năm 2000 giảm 1.493,57 ha chỉ còn 436,32

ha (2013)

Xu thế giảm đất nông nghiệp là tất yếu khách quan để xây dựng đô thị Phú Mỹ theo chủ trương của Đảng và Nhà nước Đặc biệt là bố trí lại không gian lãnh thổ nhằm khai thác tiềm năng, tận dụng lợi thế, xây dựng huyện Tân Thành trở thành địa phương trọng điểm về công nghiệp và dịch vụ cảng của Việt Nam

2 Phân tích tài chính - kinh tế các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Tân Thành năm 2012.

Kết quả điều tra nông hộ về tài chính kinh tế các loại hình sử dụng đất sản xuất

nông nghiệp được xử lý tổng hợp trình bày ở bảng 8 trang sau và có nhận xét:

- Trồng chuyên canh 1 vụ, 2 vụ, 3 vụ lúa/năm có hiệu quả kinh tế thấp, trong đó bình quân 1 năm trên 1 ha trồng 3 vụ lúa lãi trước thuế 11,47 triệu đồng, 2 vụ lúa 9,45 triệu đồng và 1 vụ lúa chỉ lãi 3,91 triệu đồng Thu nhập của nông dân trồng lúa bình quân

1 vụ tương ứng với 3 vụ là 15,46 triệu đồng/ha, 2 vụ 13,21 triệu đồng/ha và 1 vụ chỉ là 6,51 triệu đồng/ha Tỉ lệ lãi/chi phí ở mức thấp 25,37%, lý do đất ở huyện Tân Thành ít thích nghi với trồng lúa và trồng lúa nhờ nước mưa nên hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật kém, năng suất thấp Do vậy, nếu xét về hiệu quả kinh tế thì không nên tiếp tục trồng lúa ở huyện Tân Thành

- Luân canh lúa với cây trồng cạn (bắp, rau, dưa hấu) Hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng chuyên canh lúa, nhưng chi phí sản xuất cao hơn (chi phí bình quân 46,23 - 95,59 triệu đồng/ha/năm) lợi nhuận thu được gấp 3,0 - 4,0 lần so với trồng chuyên canh lúa, nhất là luân canh lúa với rau có tỉ lệ lãi/chi phí đạt 43,35%

- Trồng chuyên canh rau màu có 11 loại hình sử dụng đất, trong đó trồng chuyên canh rau 3 - 4 vụ/năm có tổng giá trị sản lượng 241,11 - 413,28 triệu đồng/ha/năm, chi phí 148,52 - 285,8 triệu đồng/ha/năm và thu nhập 142,5 - 245,37 triệu đồng/năm Rau là cây trồng thế mạnh và là sản phẩm hàng hóa chủ lực của huyện Tân Thành; nên đã và đang được ưu tiên đầu tư

- Trồng cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, hồ tiêu, điều): Cây điều có hiệu quả kinh tế thấp nhất, một năm chỉ cho thu nhập 12,75 triệu đồng, so với hồ tiêu chỉ bằng 11,65% và bằng 1/3 so với cao su,… Song, các cây hồ tiêu, cà phê chỉ trồng có hiệu quả trên đất bazan có tưới thuộc 2 xã Hắc Dịch, Sông Xoài nên quy mô trồng cây công nghiệp có tưới có giới hạn Riêng cao su được trồng từ sau năm 2005 nên cần xem xét kĩ lại bởi khi trở thành thị xã Phú Mỹ diện tích đất trồng cao su ở 5 phường nội thị sẽ chuyển đổi thành đất chuyên dùng

- Cây ăn quả (nhãn xuồng cơm vàng, mãng cầu, bưởi da xanh, xoài): Vườn cây ăn quả hỗn hợp có mức lãi và thu nhập thấp hơn trồng chuyên canh nhãn xuồng, mãng cầu, bưởi da xanh Giá trị sản lượng của 3 cây chuyên canh đạt trên 90,0 - 96,0 triệu đồng/ha/năm, thu nhập 48,9 - 51,68 triệu đồng/ha/năm Do vậy, khi lập quy hoạch trồng trọt chọn tập trung phát triển 3 cây ăn quả chủ lực là mãng cầu, nhãn và bưởi da xanh

- Các mô hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp khác (chưa phổ biến rộng):

Trang 21

• Trồng hoa phong lan cắt cành có giá trị sản lượng 4,0 tỉ đồng/ha/năm song chi phí lên đến 3,2 tỉ đồng/ha, thu nhập bình quân 1,2 tỉ đồng/ha/năm.

• Trồng hoa cũng mang lại giá trị sản lượng cao 1,2 tỉ đồng/ha/năm, thu nhập bình quân 471,6 triệu đồng/ha/năm

• Trồng cây cảnh có giá trị sản lượng 490 triệu đồng/ha/năm, chi phí 295,0 triệu đồng/ha/năm, lãi 195,0 triệu đồng/ha/năm

03 Mô hình sử dụng đất kể trên phù hợp với mô hình nông nghiệp đô thị sử dụng

ít đất, thu nhập cao; nhưng đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn, ứng dụng kĩ thuật, công nghệ cao mới thành công

Qua phân tích các mô hình sử dụng đất đã định hướng cho việc chọn các loại hình

sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho đến năm 2020 là: Trồng chuyên canh rau an toàn, luân canh lúa - rau, trồng hồ tiêu, cà phê, bưởi da xanh ở vùng sản xuất nông nghiệp thuộc 5 xã ven đô thị (Châu Pha, Sông Xoài, Tân Hải, Tân Hòa, Tóc Tiên) và mô hình vườn hỗn hợp sinh thái, hoa cây cảnh, cây xanh đô thị cho 5 phường nội thị (Phú Mỹ, Hắc Dịch, Sông Xoài, Phước Hòa, Tân Phước)

II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN 2012.

1 Vị trí vài trò của ngành nông nghiệp huyện Tân Thành.

- Ngành nông nghiệp trong tổng thể kinh tế - xã hội huyện Tân Thành:

+ Tổng lượng nước khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp chiếm 90%

+ Lao động làm việc trong nông lâm nghiệp và thủy sản là 23.247 người, chiếm 25,37%

+ Số hộ nông lâm nghiệp và thủy sản 9.187 hộ, chiếm 27,43%

+ Nguồn thu nhập chính của nông hộ từ nông lâm nghiệp thủy sản 6.089 hộ, chiếm 23,12%

+ Tổng sản phẩm (GDP) ngành nông nghiệp chiếm 1,4% so với tổng GDP trên địa bàn huyện

Các chỉ tiêu trên cho thấy xét góc độ sử dụng các nguồn tài nguyên đất - nước, lao động và mang lại thu nhập chính cho kinh tế hộ thì nông nghiệp huyện Tân Thành giữ vai trò quan trọng Với mức độ đóng góp 1,4% so với tổng giá trị GDP của huyện là không đáng kể, song nông nghiệp - nông thôn huyện Tân Thành vẫn giữ vai trò không thể thiếu trong cung cấp thực phẩm tươi sống cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân địa phương, đảm bảo cân bằng sinh thái (rừng + cây lâu năm) Đặc biệt, sản xuất nông nghiệp góp phần ổn định trật tự xã hội và giữ gìn an ninh quốc phòng tại địa phương

- Nông nghiệp huyện Tân Thành trong nông nghiệp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Bảng 9: Một số chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp huyện Tân Thành năm 2011

trong nông nghiệp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Trang 22

4 Tổng sản lượng hồ tiêu “ 888,00 8,16 Xếp thứ 3

5 Tổng sản lượng hạt điều “ 1.723,00 11,05 Xếp thứ 3

6 Số lượng đàn heo Con 42.329,00 13,96 Xếp thứ 3

7 Số lượng đàn gà “ 996.453,00 31,22 Xếp thứ 2

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Qua bảng 9 cho thấy: Nông nghiệp huyện Tân Thành có đóng góp đáng kể đối với ngành nông nghiệp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về giá trị sản xuất nông nghiệp và sản lượng rau, chăn nuôi gà và trồng cà phê, hồ tiêu,… Do vậy, rất cần được sự quan tâm chỉ đạo phát triển sản xuất cũng như đầu tư của Sở Nông nghiệp - PTNT đối với cây trồng - vật nuôi và hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện

2 Đánh giá diễn biến giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Tân Thành.

Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Chi Cục Thống kê và phòng Nông nghiệp - PTNT về giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản của huyện Tân Thành từ năm 2005 đến 2012 được xử lý tổng hợp trình bày ở bảng 10

Bảng 10: Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.

Trong đó: Nuôi trồng thủy sản 33,24 42,37 42,37 55,65

Trang 23

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Chi cục Thống kê H Tân Thành

Nhận xét:

- Tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (nông lâm nghiệp - thủy sản) từ năm

2005 đến 2012 (theo giá cố định 1994) có xu hướng tăng nhưng kém ổn định qua các năm, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2012 là 1,13%/năm, trong đó sản xuất nông nghiệp tăng 1,35%/năm, lâm nghiệp giảm 20,6%/năm, ngư nghiệp tăng 2,05%/năm Tuy tốc độ tăng toàn ngành 1,13%/năm, đây là kết quả đáng ghi nhận bởi đất nông nghiệp năm 2012 so với năm 2005 giảm 4.163,91 ha

- Trong sản xuất nông nghiệp, trồng trọt liên tục giảm qua 5 năm (2006 - 2010), giảm 0,22%/năm và 2 năm (2011, 2012) giảm 9,14%/năm nhưng chăn nuôi lại tăng liên tục và bình quân 7 năm (2006 - 2012) đạt 8,29%/năm trong điều kiện dịch cúm gia cầm H5N1, dịch heo tai xanh, giá thức ăn tăng cao và thị trường tiêu thụ luôn biến động bất lợi đối với người nuôi

Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (giá hiện hành) năm 2012 đạt 1.521,4 tỷ đồng Giá trị sản xuất trồng trọt – chăn nuôi và nuôi thủy sản bình quân trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp và đất nuôi thủy sản năm 2012 ở Tân Thành đạt 113,9 triệu đồng/ha (trong đó, trồng trọt 63,53 triệu đồng/ha, chăn nuôi 46,3 triệu đồng/ha và nuôi thủy sản 4,04 triệu đồng/ha)

- Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản chuyển dịch khá mạnh, năm 2000 tỉ trọng 3 chuyên ngành là 90,52% - 2,12% - 7,36% thì đến 2012 là 94,99% - 0,34% - 4,67% Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò lớn nhất trong tổng thể ngành nông nghiệp huyện Tân Thành

- Cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ nông nghiệp chuyển dịch rất mạnh, giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2005: 29,95% đến 2012 đã chiếm 41,88% (riêng năm

2011 chăn nuôi chiếm 45,23%) so với tổng giá trị sản xuất nông nghiệp

Qua số liệu bảng 10 cho thấy một số hạn chế:

+ Giá trị sản xuất lâm nghiệp (giá cố định 1994) giảm rất mạnh (giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2005: 9,25 tỉ đồng, đến năm 2012 giảm còn 1,93 tỉ đồng (giảm tuyệt đối 7,32 tỉ đồng)

+ Giá trị sản xuất trồng trọt (giá cố định 1994) năm 2012 chỉ đạt 206,42 tỉ đồng, giảm 46,37 tỉ đồng so với năm 2005

+ Giá trị sản xuất thủy sản (giá cố định 1994) năm 2012: 26,82 tỉ đồng, so với năm

2005 giảm 2,72 tỉ đồng

Diễn biến giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp, từng phân ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) và từng lĩnh vực (trồng trọt, chăn nuôi) qua 7 năm (2005 - 2012) luôn kém ổn định do tác động của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp và tình trạng đầu cơ đất chờ chuyển mục đích sử dụng cộng với tỉ

Trang 24

trọng vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp quá ít trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn huyện Tân Thành Hơn nữa, mô hình nông nghiệp như thế nào ở một huyện có đến 10 khu công nghiệp, 2 cụm công nghiệp, chuỗi cảng trên sông Thị Vải và các khu dân cư còn ít được các cơ quan địa phương quan tâm tới.

3 Đánh giá thực trạng sản xuất nông nghiệp Tân Thành 2005 đến 2012.

3.1 Thực trạng ngành trồng trọt (bảng 10 a trang sau và phụ biểu 22, 23).

- Đến năm 2013, ngành trồng trọt có giá trị sản xuất chiếm tỉ trọng lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp (chiếm 57,48%) cũng là ngành sử dụng nhiều đất (13.323,69 ha, chiếm 69,2% đất sản xuất nông nghiệp) và tạo ra nhiều việc làm nhất cho lao động khu vực nông thôn Song, trước bối cảnh đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, tình trạng các

cá nhân - tổ chức được giao quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp luôn đặt trong thế

bị động bởi quy hoạch xây dựng 10 cụm công nghiệp (đến 2013 chỉ mới triển khai được

2 cụm), các dự án xây dựng khu dân cư đô thị và cơn sốt đầu cơ đất chờ chuyển mục đích từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất ngành trồng trọt (trồng quảng canh giữ đất, thậm chí đất sản xuất nông nghiệp bị bỏ vụ hoặc

để hoang hóa,…)

- Diễn biến diện tích các cây trồng từ năm 2005 đến 2012: So sánh diện tích trồng cây hàng năm 2012 với 2005 xác nhận ngoại trừ rau thực phẩm còn lại tất cả các cây (lúa, bắp, đậu, khoai mì, đậu nành, mía, khoai lang,…) đều giảm diện tích Trong đó, lúa giảm 440,11 ha, khoai mì giảm 231,0 ha, đậu giảm 195,0 ha,… Chỉ có rau thực phẩm tăng 527,13 ha,… Đặc biệt, diện tích gieo trồng từng loại cây trồng 5 năm (2006 - 2010) và 2 năm (2011 - 2012) tăng giảm không ổn định, một số cây không còn trồng trên địa bàn huyện Tân Thành như: bông vải, đậu nành

- Diễn biến diện tích cây lâu năm:

+ Cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, ca cao, dừa) Diện tích trồng cà phê liên tục giảm từ 1.354 ha (2005) còn 1.076 ha (2012), giảm tuyệt đối 278,0

ha Diện tích điều, hồ tiêu, ca cao tăng giảm rất không ổn định Diện tích điều năm 2006 tăng lên 3.034 ha (tăng 666 ha so với năm 2005) nhưng sau đó giảm xuống 2.168 ha (2010) rồi lại tăng lên 2.611 ha (2012) Cây hồ tiêu năm 2006 đạt 664 ha, cao nhất trong

7 năm (2005 - 2012) nhưng sau đó giảm xuống 399 ha (2011) rồi lại tăng lên 417 ha (2012) Riêng cây cao su tăng liên tục từ 25 ha (2005) lên 342 ha (2012) nhưng trồng cao

su phân tán ở 5 xã (Mỹ Xuân, Phước Hòa, Tóc Tiên, Hắc Dịch, Sông Xoài) nên rất khó cho việc xây dựng cơ sở công nghiệp chế biến Trong số các cây công nghiệp lâu năm chỉ

có cà phê, hồ tiêu là có số lượng sản phẩm hàng hóa khá lớn và chiếm tỉ trọng đáng kể trong ngành trồng trọt Hai loại cây này phù hợp với sản xuất nông nghiệp ven đô thị của thị xã Phú Mỹ nên cần tiếp tục duy trì đến năm 2020

+ Diễn biến diện tích cây ăn quả: Giảm nhanh qua 7 năm (2005 - 2012), đến năm

2012 chỉ còn 1.300 ha, bằng 49,71% diện tích cây ăn quả năm 2005 Nguyên nhân chính là một phần đất trồng cây ăn quả theo quy hoạch buộc phải chuyển sang đất phi nông nghiệp và trước năm 2005 nông dân trồng các giống cây ăn quả chất lượng thấp nên rất khó tiêu thụ, giá bán sản phẩm thấp và hiệu quả kinh tế không cao (cụ thể là trồng nhãn long, xoài 3 mùa mưa, chôm chôm Java,…) Các loại cây ăn quả được chọn

ưu tiên tiếp tục mở rộng diện tích trồng là mãng cầu, nhãn xuồng cơm vàng, bưởi da xanh, mít nghệ, mít Thái Lan,…

Trang 25

- Diễn biến năng suất cây trồng:

+ Cây hàng năm: Các cây hàng năm đều có mức năng suất bình quân năm 2012 cao hơn năm 2005 gồm: lúa (+1,03 tấn/ha), rau thực phẩm (+1,38 tấn/ha), bắp (+0,21 tấn/ha), khoai lang (+4,86 tấn/ha), mía (+5,0 tấn/ha) Đây chính là xu hướng đầu tư thâm canh theo chiều sâu, nhất là áp dụng các tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất Song, mức năng suất các cây trồng ở huyện Tân Thành thấp so với mức bình quân của vùng Đông Nam bộ và cả nước (ngoại trừ rau đạt khá 21,06 tấn/ha) do đất sản xuất nghèo dinh dưỡng và phần lớn diện tích cây trồng canh tác nhờ nước mưa

+ Năng suất cây lâu năm: Chỉ có hồ tiêu đạt năng suất khá cao: 2,3 tấn/ha và khoai

mì 25,46 tấn/ha còn cao su chỉ có 1,64 tấn/ha, điều 0,87 tấn/ha đều thấp hơn so với cây này được trồng ở vùng Đông Nam bộ

- Sản lượng cây trồng: Diện tích trồng giảm nên sản lượng phần lớn các cây trồng

ở huyện Tân Thành đều giảm (ngoài trừ 05 cây: lúa, khoai mì, cao su, hồ tiêu, rau) Trong

đó, cà phê giảm 996,0 tấn, cỏ trồng giảm 10.916,0 tấn, trái cây giảm 2.670,0 tấn, khoai lang giảm 137,9 tấn,… Đặc biệt, sản lượng rau thực phẩm năm 2009 đã đạt 70.620,0 tấn nhưng đến năm 2012 giảm còn 59.809,0 tấn (giảm 10.811,0 tấn sau khi đã tăng 25.098 tấn kể từ năm 2005 đến 2009)

Tóm lại, 7 năm (2005 - 2012) ngành trồng trọt ở huyện Tân Thành luôn biến động

về diện tích và sản lượng cây trồng, năng suất bình quân chỉ ở mức trung bình thấp (ngoại trừ hồ tiêu, khoai mì, rau) Nguyên nhân của các hạn chế ngành trồng trọt được xác định như sau:

+ Nông hộ sản xuất tự phát còn khá phổ biến trong ngành trồng trọt

+ Trồng trọt chịu tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa và xây dựng các khu - cụm công nghiệp tập trung, trong đó có việc chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp với số lượng lớn

+ Hệ thống chính trị, ngành nông nghiệp và nông hộ ở huyện Tân Thành còn tỏ ra lúng túng, bị động và chưa có cơ chế chính sách mang tính đột phá trong việc phát triển trồng trọt ở một địa phương đang diễn ra đô thị hóa - công nghiệp hóa trên diện rộng

+ Phương thức canh tác trồng trọt truyền thống, nhất là dựa vào khai thác tài nguyên có giới hạn là đất, nước, nhân lực tỏ ra không còn thích hợp với thực tế ở huyện Tân Thành Trong các mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tập trung phát triển cây trồng chủ lực chưa được coi trọng đúng mức, đồng thời cũng rất thiếu các ý tưởng và nguồn lực để đổi mới ngành trồng trọt

3.2 Thực trạng chăn nuôi huyện Tân Thành.

- Vị trí và xu hướng gia tăng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi

Kết quả đáng ghi nhận nhất của ngành nông nghiệp huyện Tân Thành trong thời gian từ năm 2005 đến 2012 chính là chăn nuôi bởi giá trị sản xuất chăn nuôi liên tục tăng

ở mức khá cao (giá trị sản xuất bình quân tăng 8,29%/năm) và tỉ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi cũng tăng từ 29,25% (năm 2005) lên 41,88% (năm 2012)

- Diễn biến quy mô đàn vật nuôi (bảng 10 b trang sau và phụ biểu 23, 24)

+ Số lượng 4 loại vật nuôi (trâu, bò, heo, dê) năm 2012 thấp hơn so với 2005, trong đó đàn trâu giảm 3,22%/năm do sức kéo của gia súc đã thay bằng máy làm đất - vận chuyển; đàn bò giảm mạnh từ 10.472 con (2005) xuống chỉ còn 3.732 con (2012)

Trang 26

giảm tuyệt đối 6.740 con, do địa bàn chăn nuôi thu hẹp và hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò thịt không cao; đàn heo năm 2012: 41.889 con, giảm 5.059 con so với năm 2005 do dịch heo tai xanh, … đàn dê giảm từ 5.850 con xuống còn 2.515 con (bằng 42,99% so với tổng đàn dê năm 2005).

+ Chỉ có đàn gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) tăng trong hoàn cảnh dịch cúm gia cầm H5N1 còn tiềm ẩn có thể tái phát Tổng đàn gia cầm năm 2005: 384.068 con, tăng lên 1.284.266 con (gấp 3,34 lần so với năm 2005), trong đó đàn gà 1.248.638 con, gấp 3,4 lần và đàn vịt, ngan, ngỗng tăng 2,11 lần

+ Ngoài ra, trên địa bàn huyện Tân Thành còn có 5 trang trại nuôi cút với tổng đàn 117.000 con và 16 cơ sở nuôi chim yến

- Địa bàn chăn nuôi: Chăn nuôi phân bố ở 9 xã và thị trấn Phú Mỹ, song tập trung

số lượng vật nuôi đáng kể theo xã như sau:

+ Nuôi bò sữa tập trung ở xã Châu Pha và một số ít ở xã Phước Hòa, Tóc Tiên.+ Nuôi bò thịt tập trung ở xã Châu Pha, Tóc Tiên, Sông Xoài, Tân Hải

+ Nuôi heo tập trung ở xã Sông Xoài, Châu Pha, Hắc Dịch,…

+ Nuôi gia cầm phân bố tập trung ở xã Sông Xoài (52,49% tổng đàn), xã Hắc Dịch (19,53% tổng đàn), xã Châu Pha, xã Tân Phước

+ Nuôi dê phân bố tập trung ở xã Sông Xoài (44,13% tổng đàn)

+ Nuôi cút ở 4 xã (Châu Pha, Phước Hòa, Tóc Tiên, Tân Phước) và nuôi yến phân

bố tập trung ở 2 xã Tân Hòa, Mỹ Xuân

- Phương thức nuôi: Qua khảo sát cho thấy tồn tại song song 3 phương thức nuôi

là truyền thống, bán công nghiệp và công nghiệp, trong đó nuôi công nghiệp chỉ có ở 2 loại vật nuôi là gà công nghiệp và heo Đặc biệt, phương thức chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao (nuôi chuồng lạnh) đã có ở 3 trang trại chăn nuôi heo (Vĩnh Tân, Nguyễn Nam Phương 1, Nguyễn Nam Phương 2) và 11 trang trại chăn nuôi gà phân bố tập trung ở xã Sông Xoài, chủ yếu nuôi gia công cho 3 công ty (CP, JAFA và EMIVEST), trong đó có trang trại của công ty Hưng Tân có quy mô đàn lớn nhất (220.000 con gà thịt)

- Hiệu quả kinh tế các loại vật nuôi (Phụ biểu 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33)

Điều tra tháng 4 năm 2013 tại các nông hộ - trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện xác nhận hiệu quả kinh tế đối với các loại vật nuôi như sau:

+ Nuôi bò sữa có lợi nhuận khá cao, đối với bò sữa F2 Hà Lan, tính bình quân 1 chu kì cái vặt sữa lãi 21,06 triệu đồng, bình quân 1 lít sữa lãi 3.524 đồng, tỉ suất lợi nhuận tăng theo quy mô đàn nuôi: 1 - 5 con/hộ (55,22% - 66,18%), 6 - 10 con/hộ (69,16% - 82,26%)

+ Nuôi gà thịt công nghiệp: Thời điểm 01/4/2013 không có lãi mà lỗ bình quân 30.715 đồng/con (do giá bán gà thịt cho thương lái thấp hơn giá thành)

+ Nuôi gà thịt thả vườn: Lợi nhuận thấp, chỉ 5,46%, bình quân lãi 3.620 đồng/con (do giá bán chỉ 32.000 đồng/kg, giảm 8.000 đồng/kg so với trước năm 2012)

+ Nuôi vịt chạy đồng và vịt đẻ đều có lãi 29,02% - 30,52%, lãi bình quân 12.392 đồng/con vịt thịt và 135.000 đồng/con vịt đẻ trong 36 tháng

Trang 27

Tóm lại, ngành chăn nuôi huyện Tân Thành đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận trong giai đoạn 2006 - 2012, loại hình chăn nuôi trang trại - nuôi gia công cho các công ty đã góp phần duy trì quy mô đàn vật nuôi Đặc biệt, phương thức nuôi hiện đại đã được một số trang trại đầu tư, góp phần tăng năng suất trong chăn nuôi gà công nghiệp và heo hướng nạc, đảm bảo vệ sinh thú y và chủ động phòng trừ dịch bệnh gây hại.

4 Hiện trạng lâm nghiệp huyện Tân Thành.

- Theo Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, giá trị sản xuất giảm rất mạnh

từ 13,36 tỉ đồng (2005) xuống còn 5,52 tỉ đồng (giảm tuyệt đối 7,84 tỉ đồng), trong đó giá trị sản xuất lâm nghiệp chỉ còn ở khâu chăm sóc và bảo vệ rừng phòng hộ là chính

- Quỹ đất lâm nghiệp giảm từ 6.727,72 ha (2005) xuống còn 4.852,75 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ 4.812,63 ha, chiếm 99,18% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng sản xuất chỉ có 40,12 ha phân bố ở xã Châu Pha

- Trong cơ cấu đất rừng năm 2012 có đến 20,15% là rừng tự nhiên nhưng do đất rừng có tầng canh tác mỏng, độ dốc khá cao và có nhiều đá lộ đầu hoặc đất mặn – phèn, nước bị ô nhiễm nên cây rừng sinh trưởng kém, trữ lượng lâm sản rất thấp

- Hoạt động lâm nghiệp tập trung vào quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng và thực hiện một số biện pháp lâm sinh

5 Nuôi thủy sản huyện Tân Thành

- Nuôi thủy sản nước lợ giảm đáng kể do nước bị ô nhiễm đến mức khó có thể tiếp tục nuôi cá, tôm nước lợ dọc theo sông Thị Vải Hiện chỉ có 21 hộ đang nuôi thủy sản nước lợ bằng lồng bè trên ngã ba sông Rạch Chanh nhưng lại vi phạm quy định giao thông đường thủy

- Nuôi thủy sản nước ngọt không ổn định qua các năm và có xu hướng giảm dần Năm 2006, diện tích nuôi 454,0 ha, sản lượng 3.422,0 tấn Sau đó, giảm đến năm 2012 diện tích nuôi 402,5 ha, sản lượng 1.215,0 tấn (bằng 35,58% sản lượng năm 2006)

- Nuôi thủy sản nước ngọt có ở 6 xã (thị trấn) nhưng tập trung nhiều nhất là xã Sông Xoài 280 ha, chiếm 69,56% và xã Châu Pha 91,7 ha, chiếm 22,88% so với tổng diện tích nuôi thủy sản nước ngọt trên địa bàn huyện

- Loại thủy sản nuôi là cá các loại (cá lóc, cá rô phi, cá trắm, cá chép, cá mè,…) với phương thức nuôi quảng canh cải tiến và bán thâm canh nên năng suất bình quân chỉ

là 3,02 tấn/ha

Nuôi thủy sản là loại hình canh tác khá thích hợp với nông nghiệp phát triển theo hướng sinh thái đô thị ở huyện Tân Thành Do vậy, cần nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kĩ thuật mới phù hợp với các thủy vực nhằm duy trì - phát triển nuôi thủy sản theo mô hình kép (VA - vườn ao) và tận dụng nước hồ (hồ Châu Pha, hồ Đá Đen,…)

III ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH SỐ UBND ĐẾN NĂM 2010.

63/QĐ-Kết quả thực hiện của ngành nông nghiệp đến năm 2010 so với các chỉ tiêu chính của báo cáo rà soát, điều chỉnh quy hoạch nông nghiệp huyện Tân Thành được tổng hợp

trình bày ở bảng 11 trang sau.

- Nhận xét - đánh giá:

Trang 28

+ Các chỉ tiêu đạt và vượt so với điều chỉnh quy hoạch nông nghiệp được duyệt:

• Giá trị sản xuất nông nghiệp vượt 12,06%, trong đó trồng trọt vượt 7,11%, chăn nuôi vượt khá cao 21,15% so với chỉ tiêu quy hoạch nông nghiệp

• Cơ cấu giá trị sản xuất chăn nuôi thực hiện đạt 41,48% giá trị sản xuất nông nghiệp so với chỉ tiêu quy hoạch nông nghiệp là 40,85% (vượt 1,54%)

• Sản lượng một số cây trồng vượt gồm rau thực phẩm (100,28%), khoai mì 1.348,0 tấn và bắp 3,44% so với chỉ tiêu quy hoạch nông nghiệp

• Diện tích điều thực hiện vượt 97,85% so với quy hoạch nông nghiệp

• Diện tích nuôi thủy sản vượt 96,22% và sản lượng vượt 116,81% so với chỉ tiêu quy hoạch nông nghiệp

+ Các chỉ tiêu thực hiện đạt thấp so với quy hoạch nông nghiệp đến năm 2010

• Diện tích trồng các loại cây ăn quả (nhãn, mãng cầu, xoài chỉ đạt 8,88% đến 30,99% so với chỉ tiêu quy hoạch nông nghiệp

• Diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm (cà phê, hồ tiêu) thực hiện đạt 64,47% - 54,07%

so với chỉ tiêu quy hoạch nông nghiệp

• Quy mô đàn vật nuôi (bò, heo, gia cầm) đạt từ 56,30% đến 92,89% và sản phẩm chăn nuôi (thịt hơi xuất chuồng và trứng gia cầm) thực hiện đạt 58,13% đến 83,39% so với quy hoạch nông nghiệp Các chỉ tiêu chăn nuôi gia cầm thực hiện năm 2012 đã vượt so với chỉ tiêu quy hoạch nông nghiệp được duyệt cho năm 2010

- Nguyên nhân các chỉ tiêu quy hoạch nông nghiệp đến năm 2010 thực hiện đạt thấp:+ Nguyên nhân khách quan:

• Dịch bệnh hại gia cầm và heo đã trở thành đại dịch (dịch cúm gia cầm H5N1 và dịch heo tai xanh) rất khó kiểm soát và luôn tiềm ẩn có thể tái phát

• Diễn biến các giá trị thời tiết cực đoan (bão, mưa trái vụ, sương mù,…) ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng, nhất là cây canh tác trong mùa mưa nhờ nước trời

• Giá các loại vật tư nông nghiệp là đầu vào của sản xuất nông nghiệp (giá thức ăn chăn nuôi, giá các loại phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật,…) tăng 2,5 - 3,0 lần khi

so sánh giá năm 2012 với 2005, giá thuê lao động nông nghiệp tăng từ 50.000 đồng lên 150.000 đồng/ngày công và khó thuê đã làm tăng chi phí sản xuất trong khi đầu ra sản phẩm gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ và giá bán chỉ tăng 1,5 - 2,0 lần, thậm chí giá bán heo, gà năm 2013 còn thấp hơn giá thành

+ Nguyên nhân chủ quan:

• Sản xuất nông nghiệp luôn bị động và có phần bị xem nhẹ bởi tỉ lệ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế không lớn, quy hoạch sử dụng đất đã chuyển diện tích khá lớn đất sản xuất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp là đúng hướng, nhưng sau đó đất thuộc đối tượng quy hoạch chuyển đổi không khả thi đã gây tâm lí thiếu yên tâm đầu tư sản xuất nông nghiệp, hơn nữa tình trạng đầu cơ đất sản xuất nông nghiệp rồi bỏ vụ, bỏ hoang đất đai gây lãng phí tài nguyên diễn ra khá phổ biến trên địa bàn huyện

Trang 29

• Tính chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch nông nghiệp còn ít được phát huy dẫn đến người sản xuất nông nghiệp phát triển tự phát.

• Các giải pháp đề xuất phải làm tốt trong nội dung quy hoạch nông nghiệp còn chưa được

hệ thống chính trị và ngành nông nghiệp địa phương quan tâm đúng mức và thiếu các nguồn lực đầu tư phát triển các cây trồng vật nuôi chủ lực (nhãn, mãng cầu, hồ tiêu, cà phê, gia cầm nuôi ở các trang trại)

• Các khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch nông nghiệp đã được phòng Nông nghiệp - PTNT ghi nhận và lập văn bản đề xuất các cách tháo gỡ nhưng vẫn chưa kịp thời và còn thiếu tính quyết liệt

IV MỘT SỐ DỰ BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUY HOẠCH NÔNG NGHIỆP.

1 Dự báo dân số và lao động nông nghiệp.

- Theo báo cáo điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện giai đoạn

2011 – 2015, định hướng đến năm 2020 và đề án đào tạo nghề lao động nông thôn đến năm 2020 trên địa bàn huyện Tân Thành có dự báo dân số, lao động như sau:

+ Kế hoạch năm 2015:

• Dân số 158.020 người trong đó dân số đô thị chiếm 69,54% so với tổng số dân

• Tổng số lao động trong độ tuổi 107.729 người, chiếm 68,17% dân số, trong đó lao động nông lâm ngư nghiệp chiếm khoảng 20% lao động làm việc trong các ngành kinh tế

+ Dự báo đến năm 2020:

• Dân số 179.844 người, trong đó dân số đô thị chiếm 74,62% so với tổng số

• Tổng số lao động trong độ tuổi 121.390 người, chiếm 67,0% so với tổng số dân Trong

đó, lao động làm việc trong ngành nông lâm ngư nghiệp chiếm khoảng 15% lao động làm việc trong các ngành kinh tế

Như vậy, tỉ lệ lao động nông lâm ngư nghiệp giảm, chuyển sang lao động phi nông nghiệp Để đảm bảo số lao động chuyển đổi có việc làm, đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đặt ra mục tiêu số lượng lao động được đào tạo nghề giai đoạn 2011 - 2020 là 5.500 người Đồng thời, chú trọng dạy nghề và cấp giấy chứng nhận đã qua đào tạo nghề cho số lao động nông nghiệp theo quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ

2 Dự báo thị trường tiêu thụ nông thủy sản sản xuất tại huyện Tân Thành.

2.1 Nhu cầu lương thực - thực phẩm cho dân số huyện Tân Thành và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Trên cơ sở dự báo dân số huyện Tân Thành và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm

2020 (theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội) căn cứ định mức tiêu dùng lương thực thực phẩm phù hợp với thể trạng của người Việt Nam do Viện Dinh dưỡng -

Bộ Y tế đề xuất nhằm đảm bảo đủ năng lượng cho cơ thể và năng lượng tiêu hao cho việc học tập - làm việc hàng ngày Kết quả tính toán nhu cầu lương thực - thực phẩm cho dân

số tại chỗ của huyện Tân Thành và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu như sau:

Trang 30

Bảng 12: Nhu cầu lương thực - thực phẩm cho dân số tại địa phương

9 Sữa (quy sữa tươi) triệu lít 1,55 2,1 9,9 14,16

10 Dầu ăn triệu lít 0,695 0,788 4,62 5,43

11 Nước chấm triệu lít 0,773 0,875 5,5 5,9

Trong số 12 loại lương thực - thực phẩm cần thiết cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày kể trên, so với số lượng nông thủy sản dự kiến phát triển sản xuất của huyện Tân Thành đến năm 2020 chỉ có thể đáp ứng được cho tiêu thụ nội huyện là rau thực phẩm, trái cây, thịt, trứng, sữa, dầu ăn; còn lại 6 loại là gạo, đậu đỗ, đường, nước chấm, muối, cá tôm phải đưa từ ngoài vào Trong đó, huyện Tân Thành có các nông sản cung cấp cho thị trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gồm: rau các loại, thịt gà - heo, trứng gia cầm, trái cây đặc sản (nhãn xuồng cơm vàng, mãng cầu, bưởi da xanh)

Khi tính toán phương án điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp huyện Tân Thành đến năm 2020 cơ quan tư vấn phải xem các loại lương thực - thực phẩm kể trên là đối tượng nghiên cứu phát triển; song trong nền nông nghiệp hàng hóa phát triển theo cơ chế thị trường luôn phải cạnh tranh quyết liệt ngay tại thị trường địa phương nên cần phải chọn một số nông sản chủ lực đủ sức cạnh tranh để ưu tiên đầu tư phát triển cho phù hợp với tiềm năng lợi thế của huyện Tân Thành

2.2 Dự báo thị trường tiêu thụ nông sản vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với dân số đến năm 2020 khoảng 22 triệu người (trong đó thành phố Hồ Chí Minh 10 triệu người); hiện tại và tương lai nơi đây là thị trường tiêu thụ nông thủy sản lớn nhất cả nước Nông sản hàng hóa mà huyện Tân Thành sản xuất được tiêu thụ ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhất là thành phố Hồ Chí Minh gồm có: rau các loại, thịt heo và gà, trứng, trái cây đặc sản (nhãn xuồng cơm vàng, mãng cầu, bưởi da xanh)

2.3 Dự báo thị trường xuất khẩu các nông sản sản xuất tại H Tân Thành.

Ngành nông nghiệp huyện Tân Thành có 4 nông sản hàng hóa có thể tham gia thị trường xuất khẩu là: cà phê, hồ tiêu, điều và cao su Sau đây là tóm tắt dự báo thị trường xuất khẩu 4 loại nông sản kể trên:

+ Hồ tiêu Việt Nam xuất khẩu tới 42 quốc gia, năm 2012 xuất khẩu 116.826 tấn, chiếm 47% thị phần buôn bán hạt tiêu trên thế giới, đạt giá trị 794 triệu USD Giá tiêu đen năm 2010 đến 2012 luôn ở mức cao 6.800 - 7.000 USD/tấn, và tiêu trắng là 9.300 USD/tấn Định hướng đến 2020 là duy trì diện tích tiêu cả nước 55.000 ha và sản lượng

Trang 31

xuất khẩu 115.000 - 120.000 tấn; song tập trung trồng tiêu có thương hiệu, cơ cấu lại sản phẩm theo hướng chế biến sâu để tăng kim ngạch xuất khẩu lên 1,0 tỷ USD.

+ Cao su Việt Nam xuất khẩu năm 2012 đạt 1.023.231 tấn, giá trị 2.589,8 triệu USD Sau năm 2010 giá cao su xuất khẩu giảm còn 60 - 65% giá năm 2010 Mủ cao su của Việt Nam xuất khẩu sang 27 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó 3 thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore chiếm 64% so với tổng lượng cao su xuất khẩu năm 2012 Hiện Hiệp hội Cao su phối hợp với bộ Công Thương đang xúc tiến mở rộng thị trường nhằm khắc phục tình trạng quá phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc

+ Hạt điều xuất khẩu năm 2012 là 221.483 tấn, đạt giá trị 1.470,3 triệu USD Nhân điều của Việt Nam đã xuất khẩu đến 80 quốc gia; song chủ yếu là 4 thị trường chính là Hoa Kỳ, các nước EU, Trung Quốc, Úc Giá xuất khẩu nhân điều năm 2013 giảm còn 6.450 - 6.500 USD/tấn Việt Nam hiện là nước xuất khẩu nhân điều thô lớn nhất thế giới; nhưng có hạn chế là không có vai trò quyết định giá như đối với hồ tiêu

3 Dự báo ảnh hưởng của biến đổi khí hậu - nước biển dâng đến nông nghiệp huyện Tân Thành.

Bộ Tài nguyên - Môi trường đã trình Thủ tướng chính phủ phê duyệt 3 kịch bản biến đổi khí hậu: kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2) và kịch bản phát thải cao Do tính chất phức tạp của biến đổi khí hậu cùng với yếu tố tâm lý, kinh

tế, xã hội, tính chưa chắc chắn về các kịch bản phát thải khí nhà kính nên hài hoà nhất là kịch bản trung bình (B2) được khuyến nghị các ngành và địa phương xây dựng chương trình kế hoạch chủ động ứng phó Theo kịch bản (B2) một số diễn biến của thời tiết liên quan đến huyện Tân Thành đến năm 2020 như sau:

+ Về nhiệt độ: Đến năm 2020 nhiệt độ trung bình năm trên địa bàn huyện có thể tăng thêm 0,3 - 0,50C; trong đó các tháng mùa khô tăng 0,3 - 0,40C, và các tháng mùa mưa tăng > 0,50C Nếu không có nước tưới thì mùa khô sẽ nóng hơn và dễ gây hạn hán cho cây trồng; nhưng trong điều kiện có nước tưới chủ động thì đây lại là cơ hội tăng năng suất với các cây nhiệt đới điển hình do có hệ số quang hợp cao

+ Về lượng mưa: Đến năm 2020 lượng mưa bình quân ở Tân Thành diễn biến khá phức tạp, 6 tháng mùa khô lượng mưa giảm từ 2,8- 3,0% và mùa mưa lại tăng thêm 0,3 - 2,6% sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất ngành trồng trọt, nên cần chủ động ứng phó

+ Nước biển sẽ dâng thêm 10 - 12 cm vào năm 2020, nên một số vùng đất thấp ven biển thuộc xã Phước Hòa cần có hệ thống đê kiểm soát xâm nhập mặn

Đặc biệt các giá trị thời tiết cực đoan (bão, giông lốc, mưa trái mùa,…) xuất hiện với tần suất thường xuyên hơn, sẽ gây thiệt hại đáng kể cho ngành nông nghiệp; nên cần xây dựng chương trình - kế hoạch chủ động đề phòng

4 Dự báo ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và khoa học công nghệ vào ngành nông nghiệp huyện Tân Thành.

Nhân loại đã bước vào thập kỷ thứ 2 của thế kỉ XXI, khoa học công nghệ trở thành yếu tố đặc biệt quan trọng của lực lượng sản xuất và giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đã tạo nên đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả đối với cây trồng, vật nuôi của các quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới

Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của khoa học công nghệ và luôn xác định là biện pháp then chốt; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cả nước giai đoạn 2011

- 2020 đã xác định “Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ kĩ thuật và khoa học công nghệ hiện đại

Trang 32

vào sản xuất nông nghiệp, ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học, … tăng nhanh giá trị gia tăng trên đơn vị diện tích đất canh tác, … đẩy mạnh chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 - Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ ghi rõ quan điểm “phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội, là nội dung cần được tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp,… phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, làm cho khoa học công nghệ thật sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức” Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 176/QĐ-TTg phê duyệt đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 và Quyết định số 1895/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020,

Triển khai thực hiện chiến lược, nghị quyết của Đảng và các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ngành nông nghiệp huyện Tân Thành phải xem đây là nội dung cốt lõi

để chuyển nền nông nghiệp dựa vào khai thác tài nguyên có giới hạn hiện nay sang mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị ứng dụng công nghệ cao như TP Hồ Chí Minh đã thực hiện từ năm 2001 đến 2012 khá thành công

- Các công nghệ cao gồm 4 lĩnh vực: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, công nghệ tin học

+ Trong công nghệ sinh học tập trung vào lĩnh vực chọn tạo giống mới và kĩ thuật nhân giống vô tính, ứng dụng chế phẩm sinh học (phòng trừ sâu bệnh, điều hòa sinh trưởng,…), phân bón hữu cơ vi sinh

+ Vật liệu mới: Các loại màng phủ, các loại vật liệu không dính nước trong xây dựng chuồng trại chăn nuôi, vật liệu mới trong hệ thống tưới tiết kiệm, các loại giá thể,…

+ Tự động hóa: Trong mô hình chăn nuôi chuồng lạnh (phân phối thức ăn, nước uống, điều hòa nhiệt độ và độ ẩm), tự động tưới theo ẩm độ đất đối với từng loại cây trồng Ngoài ra, các kĩ thuật canh tác tổng hợp “1 phải 5 giảm”, canh tác cây trồng theo tiêu chuẩn VietGAP, sử dụng phân bón chuyên dùng cho từng cây, công nghệ bón phân hòa với nước trong các hệ thống tưới nhỏ giọt hoặc tưới phun

- Xây dựng hệ thống canh tác tối ưu cho từng cây trồng phù hợp với không gian

đô thị, ven đô thị và loại hình kinh tế trang trại, kinh tế hộ, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Tóm lại, trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển được thương mại hóa và dịch vụ chuyển giao công nghệ đã – đang dần hình thành Đây là thời cơ để nông nghiệp huyện Tân Thành tiếp cận, ứng dụng nhanh vào sản xuất tại địa phương

5 Dự báo đô thị hóa tác động đến ngành nông nghiệp huyện Tân Thành.

- Theo quyết định số 286/QĐ-TTg ngày 19/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung đô thị mới Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2020

- Căn cứ báo cáo Điều chỉnh quy hoạch chung đô thị mới Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2030

- Căn cứ đề án đề nghị thành lập thị xã Phú Mỹ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của Ủy ban nhân dân huyện Tân Thành - tháng 3 năm 2013

Trang 33

Thị xã Phú Mỹ đủ điều kiện thành lập theo các tiêu chuẩn ghi trong Nghị định số 62/2009/NĐ-CP của Chính phủ, thị xã có 10 đơn vị hành chính trực thuộc:

+ 5 phường nội thị: Phú Mỹ, Hắc Dịch, Mỹ Xuân, Phước Hòa, Tân Phước

+ 5 xã ngoại thị: Châu Pha, Sông Xoài, Tân Hải, Tân Hòa, Tóc Tiên

Trên có sở các đơn vị hành chính kể trên, điều chỉnh quy hoạch nông nghiệp sẽ tính toán cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng và từng loại cây trồng, loại vật nuôi - phương thức nuôi - loại hình tổ chức chăn nuôi theo các quy định hiện hành, phù hợp với quá trình đô thị hóa nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế và phát triển bền vững

6 Dự báo quỹ đất nông nghiệp huyện Tân Thành đến năm 2020.

Theo dự thảo lần 2 “Báo cáo quy hoạch sử dụng đất huyện Tân Thành đến năm

2020 và kế hoạch 5 năm kỳ đầu 2011 - 2015” đã phân bổ đất nông nghiệp toàn huyện ở

Chia ra Đất SXNN Đất lâm nghiệp

Đất nuôi thủy sản

Đất nông nghiệp khác Tổng số

Chia ra

Tổng số Rừng phòng

hộ

Rừng sản xuất

Cây hàng năm

Cây lâu năm Cộng

Trong đó đất lúa

Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường

Ghi chú: So với 01/01/2013 đất nông nghiệp giảm 6.066,98 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp giảm 4.653,0 ha, đất lâm nghiệp giảm 989,97 ha, đất nuôi thủy sản giảm 258,05 ha và đất nông nghiệp khác giảm 40,11 ha Riêng đất lúa giảm 363,96

ha, đất cây hàng năm còn lại giảm 412,3 ha và đất trồng cây lâu năm giảm 3.876,74 ha.

Trên cơ sở dự báo quỹ đất nông nghiệp được phân bố sẽ tính toán lại cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp theo hướng khai thác hợp lý tài nguyên, tăng hiệu quả kinh tế đất,

Trang 34

tái cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa hướng đến mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị bền vững.

V ĐÁNH GIÁ CHUNG.

1 Kết quả - thành tựu của ngành nông nghiệp đến năm 2012.

Qua 7 năm (2005 - 2012) ngành nông nghiệp huyện Tân Thành đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận như sau:

- Duy trì được giá trị sản xuất nông nghiệp tăng trưởng bình quân 1,35%/năm, trong đó giá trị sản xuất chăn nuôi tăng khá đạt 8,29 %/năm

- Từng bước đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính của nông nghiệp (năm

2012 tỉ trọng chăn nuôi chiếm 39,78% so với tổng giá trị sản xuất nông nghiệp)

- Ưu tiên phát triển chăn nuôi trang trại (năm 2012 có 104 trang trại), từng bước ứng dụng công nghệ cao đối với phương thức nuôi công nghiệp chủ động kiểm soát dịch bệnh và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

- Tập trung đầu tư sản xuất rau thực phẩm và hình thành được 02 hợp tác xã và 7 tổ sản xuất rau an toàn Tổng sản lượng rau của huyện chiếm 40,68% so với toàn tỉnh

Những kết quả có được kể trên trong bối cảnh đất nông nghiệp giảm 4.163,91 ha, phạm vi chăn nuôi bị thu hẹp, môi trường nuôi thủy sản nước mặn bị ô nhiễm trầm trọng, thiên tai (bão, mưa trái vụ, sương mù,…), dịch bệnh (H5N1, heo tai xanh, LMLM) và thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi gặp khá nhiều trở ngại nên càng phải trân trọng Đây là tiền đề cho phát triển nông nghiệp những năm tiếp theo

2 Thuận lợi.

- Huyện Tân Thành (hiện nay) - Thị xã Phú Mỹ (tương lai), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là thị trường tiêu thụ nông thủy sản với số lượng lớn; nhất là các loại thực phẩm tươi sống (rau, quả, thịt, trứng, sữa) mà nông nghiệp huyện Tân Thành có thể sản xuất

- Hồ tiêu, cà phê vối, điều là loại nông sản xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh cao của Việt Nam trên thị trường thế giới (Việt Nam chiếm thị phần lớn nhất so với các quốc gia xuất khẩu hồ tiêu, cà phê vối, nhân hạt điều trên toàn thế giới)

- Các tổ sản xuất rau an toàn, hợp tác xã rau an toàn và các trang trại chăn nuôi (gà công nghiệp, bò sữa, heo hướng nạc,…) là loại hình tổ chức sản xuất quan trọng để ngành nông nghiệp huyện Tân Thành hỗ trợ, khuyến khích và nhân rộng ra sản xuất đại trà

- Các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (rau, hoa, sinh vật cảnh,…) tại TP Hồ Chí Minh, hoặc chăn nuôi bò sữa ứng dụng công nghệ Israen của Công ty cổ phần TH True Milk cộng với chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi để huyện Tân Thành cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái đô thị ứng dụng công nghệ cao phát triển bền vững

- Huyện Tân Thành là địa phương có nguồn thu ngân sách rất lớn; do vậy, có thể phân bổ một lượng vốn đầu tư thích đáng cho các cây trồng - vật nuôi là hàng hóa chủ lực, nhất là cho phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo Quyết định số 176/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Trang 35

- Lao động tham gia sản xuất ngành nông nghiệp sẽ ngày một già hóa, giá thuê nhân công cũng sẽ tăng trong khi nền nông nghiệp hàng hóa nhất là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao lại yêu cầu lao động có tri thức.

- Huyện Tân Thành đã cơ bản hoàn thành việc giao đất sản xuất nông nghiệp cho các nông hộ, trước các áp lực của quá trình đô thị hóa và mở rộng các khu - cụm công nghiệp sẽ có một số không nhỏ các hộ ít quan tâm đến đầu tư sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong khi các nhà đầu tư muốn lập trang trại,… nếu sang nhượng đất sản xuất nông nghiệp với giá cao và khó có quy mô đủ lớn sẽ cản trở các chủ trương phát triển ngành trồng trọt, chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa lớn trên địa bàn huyện Tân Thành

Ngoài ra, ngành nông nghiệp huyện Tân Thành còn phải đối mặt với các thách thức:+ Sản xuất nông nghiệp ở huyện Tân Thành chủ yếu vẫn là kinh tế hộ, quy mô nhỏ, phân tán sẽ là thách thức lớn khi tổ chức phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trong cơ chế kinh tế thị trường

+ Phát triển nông nghiệp sinh thái đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là hoàn toàn đúng hướng, phù hợp với quy luật khách quan song ai là người làm? cơ chế chính sách đặc thù ai sẽ ban hành? đối với huyện hoặc thị xã (khác với TP Hồ Chí Minh) trong khi xây dựng nền nông nghiệp theo mô hình mới cần vốn và dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ mới cộng với cơ chế chính sách đồng bộ

+ Nông sản hàng hóa sản xuất tại huyện Tân Thành sẽ phải cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm cùng loại sản xuất từ nơi khác hoặc hàng hóa nhập khẩu

+ Khi đất nông nghiệp đến năm 2020 giảm 6.066,98 ha, đất xấu chiếm 76,39%, sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào nước mưa, còn tồn tại tư tưởng xem nhẹ nông nghiệp bởi tỉ lệ đóng góp vào GDP thấp sẽ kéo giá trị sản xuất nông nghiệp tăng trưởng

âm nếu lãnh đạo huyện và ngành nông nghiệp không có hệ thống các biện pháp mang tính đột phá cho phát triển ngành nông nghiệp

  

Ngày đăng: 23/04/2016, 09:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Lượng mưa, phân bố mưa ở các trạm liên quan huyện Tân Thành - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 1 Lượng mưa, phân bố mưa ở các trạm liên quan huyện Tân Thành (Trang 6)
Bảng 2: Diện tích chứa nước ngầm phân bố ở huyện Tân Thành - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 2 Diện tích chứa nước ngầm phân bố ở huyện Tân Thành (Trang 9)
Bảng 3: Động thực vật nổi và đáy ở các thủy vực ngước ngọt - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 3 Động thực vật nổi và đáy ở các thủy vực ngước ngọt (Trang 10)
Bảng 4: Một số chỉ tiêu kinh tế chính của huyện Tân Thành - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 4 Một số chỉ tiêu kinh tế chính của huyện Tân Thành (Trang 11)
Bảng 5: Hiện trạng các công trình thủy lợi huyện Tân Thành đến năm 2012 - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 5 Hiện trạng các công trình thủy lợi huyện Tân Thành đến năm 2012 (Trang 14)
Bảng 6: Một số thông tin về đường giao thông H. Tân Thành năm 2012. - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 6 Một số thông tin về đường giao thông H. Tân Thành năm 2012 (Trang 15)
Bảng 7: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Tân Thành qua các năm. - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 7 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Tân Thành qua các năm (Trang 19)
Bảng 9: Một số chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp huyện Tân Thành năm 2011 - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 9 Một số chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp huyện Tân Thành năm 2011 (Trang 21)
Bảng 12: Nhu cầu lương thực - thực phẩm cho dân số tại địa phương - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 12 Nhu cầu lương thực - thực phẩm cho dân số tại địa phương (Trang 30)
Bảng 13: Dự báo quỹ đất nông nghiệp huyện Tân Thành đến năm 2020 - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 13 Dự báo quỹ đất nông nghiệp huyện Tân Thành đến năm 2020 (Trang 33)
Bảng 14: Sản lượng một số loại nông sản chủ lực và thủy sản nuôi - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 14 Sản lượng một số loại nông sản chủ lực và thủy sản nuôi (Trang 37)
Bảng 20: Diện tích đất lâm nghiệp huyện Tân Thành đến năm 2020 - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 20 Diện tích đất lâm nghiệp huyện Tân Thành đến năm 2020 (Trang 48)
Bảng 21: Một số chỉ tiêu điều chỉnh quy hoạch nuôi thủy sản nước ngọt. - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 21 Một số chỉ tiêu điều chỉnh quy hoạch nuôi thủy sản nước ngọt (Trang 49)
Bảng 23: Một số chỉ tiêu kinh tế của phương án quy hoạch phát triển nông nghiệp - Quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 23 Một số chỉ tiêu kinh tế của phương án quy hoạch phát triển nông nghiệp (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w