Vấn đề là: tăng trưởng kinh tế ở mức cao, nhằm đảm bảo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vững chắc, phát triển cân đối giữa các ngành; trong thời kỳ tới 2011 - 2020, sự hỗ trợ từ công nghiệp
Trang 1Phần mở đầu
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỉnh Bình Dương được tách ra từ tỉnh Sông Bé theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX ngày 06/11/1996 và đi vào hoạt động từ năm 1997
Qua 13 năm (1997 - 2009) xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương đã đạt nhiều thành tựu rất đáng trân trọng: tốc độ tăng trưởng GDP liên tục tăng ở mức cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, đồng bộ, mạnh mẽ, nhất là quá trình xây dựng khu công nghiệp thu hút được nhiều nguồn vốn đầu
tư tạo nên bước tăng trưởng đột phá với GTSX công nghiệp đạt từ trên 25%/năm đến 35%/năm, Bình Dương cũng là địa phương luôn xếp thứ nhất - nhì về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Đồng thời sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Dương cũng đã tạo được kết quả xếp hàng đầu so với 63 tỉnh (TP) trong cả nước về: sản lượng mủ cao su (177 ngàn tấn, chiếm 26,35%), chăn nuôi heo, gà theo phương thức công nghiệp ở doanh nghiệp và trang trại (số lượng heo nuôi trang trại, doanh nghiệp chiếm: 80% tổng đàn với 100% số lượng heo giống lai 3 - 4 máu ngoại và 63% số lượng gia cầm nuôi ở trang trại với năng suất và chất lượng khá cao), 13 dự án có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp tạo ra giá trị sản xuất: 688,75 tỷ đồng, chiếm 8,21% so với tổng GTSX của ngành nông nghiệp, v.v…
Bên cạnh những kết quả kể trên, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của tỉnh Bình Dương vẫn còn không ít hạn chế như:
- Sản xuất phát triển thiếu bền vững và còn tiềm ẩn khá nhiều rủi ro
- Ngoại trừ cao su, bưởi, chăn nuôi heo, gà công nghiệp có năng suất khá cao còn phần lớn cây trồng, vật nuôi năng suất thấp, chất lượng kém, giá thành cao nên rất khó cạnh tranh trên thị trường
- Mặt trái của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và cơ chế kinh tế thị trường ảnh hưởng đến sử dụng đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả (đất lúa bị bỏ vụ hoặc bỏ hoang hóa, vườn cây tạp, …) Đặc biệt, một số vùng sản xuất trồng cây đặc sản truyền thống như: vườn cây ăn trái Lái Thiêu, vùng bưởi ven sông Đồng Nai, vùng trồng rau ở Suối Cát, Suối Giữa tạo ra sản phẩm hàng hóa có thị trường tiêu thụ với giá trị và thu nhập cao nhưng đã và đang bị thu hẹp diện tích thậm chí bị xóa tên trên bản đồ do bị chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp
- Các mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là định hướng phát triển của nông nghiệp Bình Dương lại chưa hình thành và thiếu các mẫu hình thích hợp với thực tế Bình Dương v.v…
Trang 2Theo báo cáo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đến năm 2020, tỉnh Bình Dương sẽ trở thành đô thị loại I, bối cảnh trong nước và quốc tế sau khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế được dự báo là sẽ phục hồi phát triển từ năm 2011, tác động đến nông, lâm, ngư nghiệp Đặc biệt, cả nước trong đó có tỉnh Bình Dương đã và đang triển khai thực hiện đường lối, cơ chế chính sách mới về nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa X) và nghị quyết số: 24/NQ-CP của Chính phủ, Chương trình hành động số 77/CTHĐ-TU của Tỉnh ủy Bình Dương.
Xuất phát từ yêu cầu bức thiết thực hiện các chủ trương, chính sách mới của Đảng, Chính phủ và tỉnh Bình Dương, đồng thời tiếp tục phát huy các thành tựu, kết quả mà sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đã đạt được, nhanh chóng khắc phục các hạn chế nhằm xây dựng nông, lâm, ngư nghiệp tỉnh Bình Dương đến năm 2020 phát triển bền vững tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh cao gắn với xây dựng nông thôn mới đặt ra cần phải lập quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư nghiệp tỉnh Bình Dương đến năm 2020 Ngày 17 tháng 8 năm 2009, Ủy ban nhân dân Tỉnh đã ban hành quyết định số: 3714/QĐ-UBND phê duyệt đề cương, dự toán lập quy hoạch và chỉ định đơn vị tư vấn là Phân viện Quy hoạch và TKNN
Tài liệu quy hoạch nông, lâm, ngư nghiệp tỉnh Bình Dương đã được báo cáo thông qua các Sở, Ngành; Hội đồng nghiệm thu của tỉnh; UBND tỉnh và Ban thường
vụ tỉnh ủy Tiếp thu ý kiến đóng góp tại các hội nghị và ý kiến kết luận của các ông chủ trì các hội nghị, cơ quan tư vấn đã chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện báo cáo Nay, kính trình UBND tỉnh phê duyệt
II CÁC TÀI LIỆU LÀM CƠ SỞ PHÁP LÝ TIẾN HÀNH LẬP QUY HOẠCH
1 Các văn bản của Đảng và Chính phủ Việt Nam:
1.1 Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 của Chính Phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp – nông thôn
1.2 Nghị quyết số: 63/NQ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
1.3 Nghị quyết số: 48/2009/NQ-CP ngày 23/9/2009 của Chính phủ về cơ chế chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, v.v…
1.4 Quyết định số: 750/QĐ-TTg ngày 03/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển cao su đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
1.5 Chỉ thị số: 751/CT-TTg ngày 03/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm (2011-2015)
Trang 31.6 Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ Tướng Chính Phủ ban hành bộ tiêu chí về nông thôn mới
1.7 Nghị quyết số: 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
1.8 Nghị quyết số: 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
1.9 Quyết định số: 589/QĐ-TTg ngày 20/5/2008 về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng TP Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 (trong đó
có phần quy hoạch xây dựng liên quan đến tỉnh Bình Dương)
2.10 Quyết định số: 10/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020
1.11 Quyết định số: 107/2008/QĐ-TTg ngày 30/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất chế biến, tiêu thụ rau quả… an toàn đến năm 2015
1.12 Nghị định số: 92/2006/NĐ-CP và Nghị định số: 04/2007/NĐ-CP về quản
lý quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội và quy hoạch ngành
1.13 Văn bản số: 289/TTg ngày 01/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về ý kiến chỉ đạo công tác quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành đến năm 2020
1.14 Quyết định số: 18/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020
1.15 Quyết định số: 2194/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020
1.16 Quyết định số: 81/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020
1.17 Quyết định số: 242/2006/QĐ-TTg ngày 25/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển xuất khẩu thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
1.18 Quyết định số: 10/2006/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
1.19 Nghị quyết số: 09/2006/NQ-CP của Chính phủ về một số chủ trương chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế về tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
1.20 Nghị quyết số: 23-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về phát triển Kinh tế - xã hội vùng Đông Nam bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Trang 41.21 Quyết định số: 146/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương hướng phát triển kinh tế - xã hội Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
1.22 Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiêp và nông thôn
2 Các văn bản của Bộ ngành Trung ương:
2.1 Thông tư số: 01/2007/TT-BKH và Thông tư số: 03/2008/TT-BKH của Bộ
Kế hoạch và đầu tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số: 92/2006/NĐ-CP và Nghị định số: 04/2008/NĐ-CP của Chính phủ
2.2 Quyết định số: 60/2007/QĐ-BTC ngày 11/7/2007 của Bộ Tài chính về lãi suất cho vay của quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã
2.3 Các quyết định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
- Quyết định số: 721/QĐ-BNN-KH ngày 17/3/2009 về việc ban hành quy định
về quy hoạch quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Quyết định số: 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành quy trình thực hiện sản xuất nông nghiệp tốt đối với rau, quả tươi an toàn tại Việt Nam (gọi tắt là Viet GAP)
- Quyết định số: 106/2007/QĐ-BNN ngày 28/12/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy định về quản lý sản xuất kinh doanh rau an toàn
- Quyết định số: 39/2007/QĐ-BNN ngày 02/5/2007 phê duyệt quy hoạch phát triển ngành điều đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
- Quyết định số: 52/2007/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt quy hoạch phát triển rau quả và hoa cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020
- Quyết định số: 1039/QĐ-BNN-NN ngày 09/5/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt đề án đổi mới hệ thống chăn nuôi gia cầm
3 Những tài liệu (văn bản) của các cấp thuộc tỉnh Bình Dương:
- Quyết định số 462/QĐ - UBND của chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương về việc ban hành bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh Bình Dương
- Quyết định số: 418/QĐ-UBND ngày 17/2/2009 của Ủy ban nhân dân Tỉnh Bình Dương về việc phê duyệt kết quả rà soát, quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bình Dương giai đoạn 2008 - 2020
- Quyết định số: 2409/QĐ-UBND ngày 10/6/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi tỉnh Bình Dương đến năm 2020
Trang 5- Quyết định số: 02/2009QĐ-UBND ngày 13/01/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc ban hành một số chính sach khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2009 - 2010.
- Quyết định số: 3714/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương phê duyệt đề cương dự toán lập quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Bình Dương đến năm 2020
- Quyết định số: 4578/QĐ-UBND ngày 23/10/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc phê duyệt đề án xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Tiến Hùng
- Quyết định số: 3801/QĐ-UBND ngày 24/8/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc phê duyệt đề án xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao An Thái
- Báo cáo số: 24/BC-UBND ngày 11/3/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc thống kê đất đai năm 2008 (01/01/2009) trên địa bàn tỉnh Bình Dương
- Kế hoạch hành động số: 58/SNN-KH ngày 03/4/2009 của Sở Nông nghiệp và PTNT về triển khai thực hiện Chương trình hành động số 77/CTHĐ-TU của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
- Chương trình hành động số: 77/CTHĐ-TU của Tỉnh ủy Bình Dương về thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
- Nghị quyết số: 29/2007/NQ-HĐND ngày 12/12/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương về kết quả rà soát, quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bình Dương giai đoạn 2008 - 2020
- Quyết định số: 330/QĐ-UBND ngày 26/01/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương phê duyệt quy hoạch phát triển chăn nuôi tỉnh Bình Dương giai đoạn
2006 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
- Quyết định số: 106/2007/QĐ-UB ngày 09/10/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc ban hành một số chính sách hỗ trợ nhằm phục hồi và phát triển vùng cây ăn trái đặc sản huyện Thuận An
- Quyết định số: 147/QĐ-UBND ngày 15/01/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương phê duyệt dự án đầu tư phát triển vườn bưởi đặc sản xã Bạch Đằng huyện Tân Uyên
- Quyết định số: 1013/QĐ-UBND ngày 15/02/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc phê duyệt và ban hành đề án nông nghiệp công nghệ cao tỉnh Bình Dương giai đoạn 2007 - 2010
Trang 6- Quyết định số: 3123/QĐ-UBND ngày 11/7/2007 của Ủy ban nhân dân Tỉnh về việc phê duyệt phương án quy hoạch các đơn vị hành chính tỉnh Bình Dương đến năm 2020.
- Quyết định số: 64/2004/QĐ-CT ngày 18/6/2004 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc phê duyệt báo cáo điều chỉnh quy hoạch nông, lâm, ngư nghiệp tỉnh Bình Dương đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
- Các tài liệu do các Sở ngành và UBND các huyện (TX) xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt:
+ Quy hoạch phát triển ngành du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020
+ Đề án điều chỉnh bổ sung quy hoạch khu công nghiệp tỉnh Bình Dương đến năm 2020
+ Quy hoạch xây dựng hệ thống giao thông tỉnh Bình Dương đến năm 2020.+ Quy hoạch khu đô thị tập trung của tỉnh Bình Dương
+ Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 6 huyện và TX Thủ Dầu Một đến năm 2020
+ V.v…
Trang 7Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC LIÊN QUAN ĐẾN
PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM, NGƯ, NGHIỆP TỈNH BÌNH DƯƠNG
I ĐÁNH GIÁ SỐ LƯỢNG VÀ MỨC ĐỘ KHAI THÁC CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM, NGƯ NGHIỆP.
I.1 Vị trí địa lý kinh tế: (hình 1 trang sau)
Tỉnh Bình Dương thuộc vùng Đông Nam bộ và nằm trong Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) với tổng diện tích tự nhiên là: 269.522 ha; dân số trung bình năm 2009 là: 1.497.117 người Bình Dương còn là một cạnh của tứ giác công nghiệp TP Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu Cự ly tính từ đường ranh giới của Bình Dương về trung tâm TP Hồ Chí Minh là gần nhất và thuận tiện hơn so với các tỉnh lân cận, hơn nữa hệ thống giao thông cho phép kết nối trong vùng Đông Nam bộ với vùng Tây Nguyên thì tỉnh Bình Dương được xem vừa là cửa ngõ vừa là nơi trung chuyển tải vận hàng hóa và hành khách, v.v…
Từ vị trí địa lý gắn với tiềm năng lợi thế của các nguồn lực đã tạo ra các thuận lợi - khó khăn đối với phát triển nông, lâm, ngư nghiệp Bình Dương như sau:
- Thuận lợi:
+ Tỉnh Bình Dương nằm ngay trong thị trường tiêu thụ hàng hóa nông, lâm, thủy sản lớn nhất Việt Nam (kể cả về số lượng, sức mua và mức độ tiêu dùng so với thu nhập) Bởi vùng KTTĐPN với dân số năm 2008 là: hơn 16 triệu người, đến 2020 dự báo tăng lên: 22 triệu (Bình Dương năm 2020 là: 2,0 triệu người) GDP/người/năm gấp 1,5 - 2,0 lần bình quân của cả nước và số lượng khách du lịch ước tính đến hơn 20,0 triệu lượt người/năm Do vậy, đây là cơ hội rất tốt để sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tỉnh Bình Dương tận dụng khai thác triệt để Riêng TP Hồ Chí Minh dự báo dân số 2020 sẽ tăng lên 10 triệu người đã hình thành 03 chợ đầu mối nông thủy sản, hệ thống bán sỉ và bán lẻ, nhất là chuỗi siêu thị, đây là những nhà phân phối và bán lẻ lớn mà nông nghiệp tỉnh Bình Dương có thể thiết lập các kênh gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ
+ Bên cạnh lượng hàng hóa nông lâm thủy sản tiêu thụ trực tiếp cho người, ngay tại Bình Dương và Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh còn là nơi tập trung số lượng lớn các cơ sở công nghiệp chế biến mà nguyên liệu chính là nông lâm sản, do đó xây dựng các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi, cây lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến cũng được xem là lợi thế mà ngành nông nghiệp tỉnh Bình Dương phải đặc biệt quan tâm
Trang 8+ Do hệ thống giao thông kết nối với các đường sông, đường biển, đường hàng không, đường sắt, đường bộ với cự ly vận chuyển ngắn và khá tiện lợi cũng được xem là lợi thế khi chọn sản xuất các hàng hóa nông, lâm sản xuất khẩu.
+ Bình Dương còn có một thuận lợi trong phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phải kể đến là: nơi tập trung nhiều cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học Trong quá trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chất lượng cao dựa trên cơ sở ứng dụng khoa học và công nghệ mới thì 2 vấn đề phải coi trọng chính là đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao khoa học công nghệ có ý nghĩa quyết định nên Bình Dương có thể liên kết hợp tác trong đào tạo nhân lực cũng như ứng dụng khoa học - công nghệ với các cơ sở kể trên để bắt kịp xu thế phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
+ Trong vùng KTTĐPN nhất là TP Hồ Chí Minh có các nhà đầu tư tiềm năng trong phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa mà tỉnh Bình Dương luôn được xem là điểm đến đầu tư khá lý tưởng Thời kỳ 2011 - 2020 khi Bình Dương chú trọng phát triển nông nghiệp sinh thái đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cần tạo ra môi trường thu hút các nhà đầu tư kể trên, chủ động tiếp nhận sự lan tỏa các mô hình nông nghiệp mới có hiệu quả tạo ra mô hình sản xuất và phương thức sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến trong phát triển nông nghiệp chất lượng hiệu quả cao
Tình trạng ô nhiễm môi trường do rác, nước thải công nghiệp và dân sinh đô thị chưa được thu gom và xử lý triệt để đã thấm vào đất hòa vào nước nên một số nơi bị ô nhiễm không thể tiếp tục sản xuất nhất là thực phẩm an toàn Đồng thời một số khu đất (đất vườn, đất ruộng) còn bị nông dân bỏ hoang hóa do người có đất ít chịu đầu tư hoặc thực tế sử dụng đất thiếu ổn định “chờ” chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp
Giá sang nhượng đất xây dựng trang trại sản xuất nông lâm nghiệp và giá thuê nhân công cao Lao động trẻ có trình độ văn hóa, có khả năng tiếp nhận khoa học để xây dựng phương thức sản xuất nông nghiệp hiện đại ngày càng ít dần, lao động nông nghiệp bị “già hóa”
+ Các loại nông thủy sản nhất là vật nuôi (trâu, bò, heo, gà, …) vận chuyển từ các tỉnh ngoài vào cung cấp cho các cơ sở giết mổ chế biến tại Bình Dương và qua Bình Dương đến TP Hồ Chí Minh nếu không được kiểm dịch đầy đủ và giám sát chặt chẽ sẽ tiềm ẩn lây lan dịch bệnh cho vật nuôi tại Bình Dương
Trang 9I.2 Thổ nhưỡng:
- Vật liệu hình thành nên loại phát sinh đất của tỉnh Bình Dương chủ yếu là phù sa; trong đó, phù sa cổ là chính Phân loại đất theo quy trình lập bản đồ đất tỷ lệ 1/50.000: có 225.590 ha đất phù sa cổ (83,7% DTTN), phù sa mới: chỉ có: 19.955 ha (7,4% DTTN) Ngoài ra còn có một số loại đất đất hình thành tại chỗ (chiếm 8,9%)
- Thành phần cơ giới đất là thịt nhẹ (c) và cát pha (b) nên khả năng giữ nước và phân kém) Dinh dưỡng trong đất (đạm, lân, kali) ở mức trung bình đến nghèo, nhất là đất xám và đất nâu vàng trên phù sa cổ Đất có phản ứng chua, pH thấp
- Xét về loại phát sinh và tính chất lý hóa đất ở tỉnh Bình Dương không thể so sánh với đất đỏ bazan của các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Đaklak, … và cũng không thể so sánh với đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng để được xếp vào mức rất thích nghi với cà phê, hồ tiêu, cao su trồng trên đất bazan hay lúa trồng trên đất phù sa Do vậy xét tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp Bình Dương ít có lợi thế đối với lúa, ngô, mía, cà phê, tiêu… mà chỉ thích hợp với cao su trên quy
mô lớn và trồng rau, cây ăn quả chỉ thích hợp với đất phù sa phân bố ở cù lao và ven sông Đồng Nai, sông Sài Gòn
Trải qua hơn 300 năm khai thác sử dụng với phương châm đất nào cây ấy là khá đúng đắn, nay gắn với sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường thì việc sử dụng đất có một số bất hợp lý như sau: cây cao su tràn xuống đất thấp (ít thích hợp), các cây ưu tiên phát triển như cây
ăn quả, rau an toàn, cỏ chăn nuôi lại có xu hướng giảm, đặc biệt tình trạng bỏ hóa, bỏ vụ đối với đất lúa, đất vườn tạp ở phía Nam Bình Dương diễn ra khá phổ biến, gây lãng phí tài nguyên Chính vì vậy cần xây dựng đề án, chương trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đảm bảo bền vững về sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn gắn với xây dựng các vùng chuyên canh cây trồng hoặc mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị Theo số liệu của sở Tài nguyên Môi trường tính đến ngày 1/1/2009 tổng diện tích đất lúa là: 15.027 ha nhưng theo số liệu của cục thống kê năm 2009 thì tổng diện tích gieo trồng chỉ có: 11.733 ha (hệ số quay vòng đất rất thấp: 0,78 lần/năm) Đất vườn tạp ít hiệu quả: 27.686 ha (chiếm 15,80% đất trồng cây lâu năm) Hai đối tượng đất lúa và đất cây lâu năm khác được xem là sử dụng đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả cần có phương án chuyển đổi loại hình sử dụng đất hợp lý hơn ở thời kỳ
2011 - 2020
I.3 Đánh giá nguồn nước và chế độ thủy văn:
I.3.1 Nguồn nước:
- Nguồn nước mặt:
Phạm vi ranh giới tỉnh Bình Dương có liên quan đến nguồn nước mặt của 3 sông lớn ở vùng Đông Nam bộ là: sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và các sông suối khác như: sông Thị Tính, suối Giai, suối Giữa, v.v…
Trang 10Theo số liệu quan trắc về lưu lượng nước của 3 sông như sau:
Bảng 1: Một số đặc trưng của 3 sông chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Nguồn: Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam
Như vậy, tổng lượng nước đến (W0) tại Phước Hòa là 6,25 tỷ m3, sông Đồng Nai tại Trị An là: 15,73 tỷ m3, sông Sài Gòn tại Thủ Dầu Một là: 2,8 tỷ m3 Tổng cộng tổng lượng nước đến (W0) là rất lớn Song do đặc điểm địa hình, phân bố cây trồng, chênh lệch độ cao giữa mặt nước với cao trình đất sản xuất nông nghiệp, nhất là giải pháp xây dựng từng công trình phức tạp và đòi hỏi suất đầu tư cao Do vậy tuy lượng nước dồi dào nhưng lại ít được khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp và nuôi thủy sản ở tỉnh Bình Dương Đây chính là hạn chế lớn đối với phát triển cây trồng có tưới ở tỉnh Bình Dương
Tính đến 2009 toàn tỉnh đã xây dựng: 46 công trình thủy lợi, trong đó có 38 công trình cấp nước (5 hồ, 9 đập, 12 cản, 11 trạm bơm điện) tổng công suất tưới khoảng: 5.000 ha; ngoài ra nông hộ còn sử dụng máy bơm khai thác nguồn nước mặt tưới cho cây trồng theo mùa vụ nên tổng diện tích được tưới năm 2009 là18.887 ha
So với tổng lượng nước đến của các sông suối thì lượng nước khai thác tưới cho cây trồng là rất ít, hơn nữa so sánh số lượng công trình thủy lợi, công suất thiết kế, công suất thực tế với đất sản xuất nông nghiệp cũng cho thấy sản xuất nông nghiệp có tưới ở tỉnh Bình Dương không lớn Dự kiến khi hoàn thành xây dựng hệ thống thủy lợi Phước Hòa thì vùng hưởng lợi từ dự án sẽ tăng diện tích tưới thêm 1.950 ha
Tóm lại, nước mặt khai thác sử dụng cho sản xuất nông ngư nghiệp ở tỉnh Bình Dương có giới hạn nên việc mở rộng diện tích, tăng vụ, thâm canh tăng năng suất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng gặp không ít khó khăn.
Trang 11- Nguồn nước ngầm: Phân vùng nước ngầm có thể chia thành 3 khu vực:
+ Khu vực giàu nước ngầm: Phân bố ở các xã ven sông Sài Gòn thuộc huyện
Dầu Tiếng và một phần huyện Bến Cát Khảo sát các giếng đào cho thấy lưu lượng nước từ 0,1 - 1,1 l/s, cá biệt gặp mạch nước có thể đạt 5 - 30 l/s (riêng điểm 1317 ở xã Thanh Tuyền có lưu lượng lớn nhất: 250 l/s); bề dày tầng chứa nước: 1,5 - 20m Với trữ lượng và lưu lượng nước như vậy, hoàn toàn có thể khai thác phục vụ sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và một phần cho sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, ở khu vực ven sông Đồng Nai thuộc huyện Tân Uyên cũng xuất hiện nước ngầm tầng nông và giàu trữ lượng
+ Khu vực nước ngầm có trữ lượng trung bình: Phân bố ở các huyện Thuận
An, một phần Dĩ An, thị xã Thủ Dầu Một và một phần phía Nam huyện Tân Uyên Các giếng đào có lưu lượng: 0,05 - 0,6 l/s, những nơi gặp mạch nước, lưu lượng có thể đạt: 1,3 – 5,0 l/s; bề dày tầng chứa nước từ 10 - 12m Khu vực này cũng là nơi phát triển mạnh ngành công nghiệp và dịch vụ nên nước ngầm khai thác chủ yếu chỉ để phục vụ sinh hoạt và sản xuất công nghiệp
+ Khu vực nghèo nước ngầm: Phân bố ở một phần các huyện Bến Cát, Phú
Giáo và Bắc Tân Uyên Lưu lượng các giếng đào từ 0,05 - 4,0 l/s; song do bề dày tầng chứa nước mỏng lại xuất hiện khá sâu nên khó khai thác, được xếp vào khu vực nghèo nước ngầm
Ngoài ra, ở các vùng đất thấp, triền giồng, thường xuất hiện những mạch lộ có áp, nước ngầm từ dưới lòng đất trào lên mặt rộng (gọi là nước mọi) Có thể tận dụng nguồn nước này để tưới cho cây trồng Tóm lại, nước ngầm là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, cần được khai thác và quản lý sử dụng một cách có hiệu quả Ưu tiên khai thác nước ngầm phục vụ sinh hoạt và công nghiệp, những nơi có nguồn nước ngầm giàu có thể khai thác phục vụ tưới cây ăn quả đặc sản, rau an toàn, hoa cây kiểng và cho chăn nuôi Trong quá trình khai thác và sử dụng nước ngầm cần hết sức tiết kiệm và tránh làm ô nhiễm nước ngầm
1.3.2 Chế độ thủy văn:
- Thủy triều: sông suối lớn ở vùng phía Nam tỉnh Bình Dương chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều với biên độ từ 50 cm - 100 cm Khu vực đất thấp ven sông Sài Gòn: thuộc huyện Thuận An, TX Thủ Dầu Một và huyện Bến Cát, huyện Dầu Tiếng lợi dụng chênh lệch biên độ triều để tiêu tự chảy, có thể tưới với diện tích không lớn Vấn đề quan tâm hiện nay là ảnh hưởng tác động của biến đổi khí hậu - nước biển dâng trong khi Hồ Dầu Tiếng xả lũ vào thời điểm triều cường trùng với mưa lớn tập trung gây ngập úng cục bộ phá hoại cây trồng như đã gây ra ở một số năm gần đây, nhất là năm 2009 là đáng lo ngại
- Xâm nhập mặn: thời điểm mùa khô (tháng 4) mặn với nồng độ 1% có ảnh hưởng đến nước sông Sài Gòn đoạn thuộc Thuận An nhưng ít gây tác hại đến nông ngư nghiệp
Trang 12I.4 Khí hậu - thời tiết:
Khí hậu tỉnh Bình Dương mang đặc trưng nhiệt đới cận xích đạo gió mùa với nền nhiệt cao đều quanh năm (nhiệt độ: 250C - 270C), tổng tích ôn lớn (9.4680C -9.6840C), lượng nhiệt bức xạ cao và ổn định (75 - 80 Kcal/cm/năm), nắng nhiều (2.401 giờ/năm), trong năm có đến 11 tháng có số giờ nắng ≥ 200 giờ/tháng Mưa phân bố theo mùa rõ rệt, thời gian bắt đầu mùa mưa thực sự ngày 10 - 20 tháng 5 và kết thúc ngày 10 - 30 tháng 10 (kéo dài 158 - 179 ngày) với lượng mưa chiếm trên 84% so với tổng lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài 131 - 150 ngày song mưa rất ít chỉ chiếm 12 - 15% so với lượng mưa cả năm Do vậy trong khi đất thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước nhanh, giữ nước kém và hệ thống thủy lợi cấp nước tưới có số lượng không lớn nên tại tỉnh Bình Dương nhà nông đã chọn trồng cao su, khoai mỳ, điều với diện tích lớn, đây là giải pháp bố trí cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu
Ngoài ra lượng nước tưới cho 1 vụ cây trồng như lúa mùa khô từ 9.000 đến 10.000 m3/ha, cà phê: 4.500 - 5.000 m3/ha … mà năng suất lại thấp nên buộc phải thu hẹp diện tích Riêng cây ăn quả, rau, hoa cây cảnh nên sử dụng phương pháp tưới tiết kiệm nước (tưới nhỏ giọt, tưới phun sương - phun mưa, tưới bán thấm … kết hợp sử dụng các biện pháp phủ đất, giữ ẩm
I.5 Tài nguyên sinh vật:
- Cây rừng: cây rừng tự nhiên và cây rừng trồng ở Bình Dương ít đa dạng, đối với cây rừng tự nhiên gồm cây họ dầu, họ đậu, họ cánh bướm, … cây rừng trồng có xà cừ, dầu, tràm, v.v…
- Cây nông nghiệp: quá trình canh tác hơn 300 năm đã đưa vào trồng trọt rất nhiều giống cây qua chọn lọc của nhà nông đã có bộ giống cây trồng khá phong phú góp phần đa dạng hóa cây trồng, tăng năng suất, tăng sản lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường tiêu thụ, vườn cây ăn trái Lái Thiêu đã hình thành hơn 150 năm được xem là nơi có tính đa dạng sinh học cao Tại tỉnh Bình Dương đã có được tập đoàn giống rau, giống cây ăn quả, giống cao su… đặc biệt có một số cây ăn quả đặc sản nhiệt đới nổi tiếng như: bưởi đường lá cam, bưởi xanh da láng, măng cụt,… cần được thu thập, bình tuyển, phục tráng phục vụ trồng theo hướng chuyên canh, chất lượng cao
- Các loại vật nuôi: trong sản xuất khá phong phú nhất là heo, gà, vịt, cút, bò, bò sữa, dê… trong đó đàn heo giống và gà giống chuyên thịt hoặc chuyên trứng nhập từ nước ngoài vào nuôi ở tỉnh Bình Dương được đánh giá đạt chất lượng khá cao, đây là cơ sở cho việc đẩy mạnh việc sản xuất giống vật nuôi chất lượng cao phục vụ phát triển ngành chăn nuôi của tỉnh và cung cấp cho các địa phương lân cận (Bình Phước, Tây Ninh,…)
- Nguồn lợi thủy sản:
+ Theo điều tra nguồn lợi thủy sản tại các thủy vực ở tỉnh Bình Dương có 41 loại cá thuộc 14 họ trong đó có một số loài cá quý hiếm chất lượng cao như: cá lăng, cá trèn, cá ngát, cá thát lát,… Ngoài ra còn có các loại tôm càng xanh, tép ruộng,… song do ít chú trọng bảo vệ và khai thác tùy tiện đã làm cho số lượng và trữ lượng các loại thủy sản giảm đáng kể, chưa nói đến một số thủy vực nước bị ô nhiễm cá tôm không sống được
Trang 13Tóm lại, tài nguyên sinh vật ở tỉnh Bình Dương khá phong phú, song các loài sinh vật tự nhiên đã và đang giảm, riêng các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản nuôi đã được “nhà nông” và ngành nông nghiệp tích cực tìm kiếm, du nhập, phục tráng nhất là các loại rau, quả và heo, gà Đây là các vật liệu quan trọng cho việc chọn lọc bố trí cây trồng vật nuôi có chất lượng theo hướng sản xuất hàng hóa đạt hiệu quả cao theo phương châm “nhất giống”.
II ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN CÁC NGUỒN LỰC KINH TẾ - XÃ HỘI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NÔNG, LÂM, NGƯ NGHIỆP TỈNH BÌNH DƯƠNG.
II.1 Tổng quan các nguồn lực kinh tế tỉnh Bình Dương
II.1.1 Đánh giá khái quát về một số chỉ tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Bình Dương là một tỉnh được biết đến như “một hiện tượng - một điểm sáng” về tăng trưởng và phát triển kinh tế kể từ 1997 đến 2009, các số liệu chi tiết dẫn ra dưới đây:
Bảng 2: Một số chỉ tiêu tổng hợp về kinh tế tỉnh Bình Dương.
Số
Năm 2000
Năm 2005
Năm 2009
Tốc độ tăng bình quân %/năm 2001-
2005
2009
2006-I Tổng sản phẩm (triệu đồng)
1 Tính theo giá cố định 1994 4.156.169 8.482.020 14.227.224 15,34 13,80
2 Tính theo giá thực tế 6.067.007 14.938.642 34.543.431
- Công nghiệp - xây dựng 3.524.058 9.492.694 21.530.183
- Dịch vụ - thương mại 1.530.480 4.195.367 11.196.021
- Nông - lâm - ngư nghiệp 1.012.469 1.250.581 1.817.227
III Bình quân GDP/người/năm
IV Các chỉ tiêu khác
1 Thu chi ngân sách (triệu đồng)
2 Đầu tư phát triển (triệu đồng) 5.607.100 13.450.800 23.476.600 19,12 14,94
3 Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) 530,05 3.045,80 6.993,78 41,87 23,10
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm 2009
Trang 14+ Tốc độ tăng giá trị tổng sản phẩm (GDP) luôn ở mức cao nhất so với các tỉnh (TP) trong cả nước, giai đoạn 1997 - 2000: 14,15%/năm, giai đoạn 2001 - 2005: 15,34%/năm và 3 năm (2006 - 2008) là: 14,99%/năm Năm 2009 ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế nhưng GDP vẫn tăng 10,3%/năm; mức tăng GDP từ năm 1997 đến 2009 của tỉnh Bình Dương luôn gấp 2,0 lần mức tăng bình quân của cả nước.
+ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, phát huy hiệu quả với tốc độ chuyển dịch mạnh Năm 2005 cơ cấu 3 khu vực là: KV1 (8,4%) – KV2 (63,5%) – KV3 (28,1%) thì đến 2009, các khu vực tương ứng là: 5,3% - 62,3% - 32,4% Trong 63 tỉnh
- TP cả nước chỉ có 3 tỉnh giá trị GDP khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm trên 60% trong đó: có tỉnh Bình Dương
+ Bình quân GDP đầu người năm 2009 đạt: 23,07 triệu đồng gấp 1,5 lần mức bình quân của cả nước
+ Nguồn thu ngân sách tăng rất cao năm 2009 đạt: 14.218 tỷ đồng so với năm
2005 gấp: 2,6 lần và chi ngân sách cũng tăng: 2,8 lần
+ Đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2009 đạt: 23.476 tỷ đồng so với năm 2005 chỉ là: 13.450 tỷ đồng, tăng: +10.026 tỷ đồng
+ Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt: 6.993 triệu USD, tăng gấp: 2,3 lần
so với năm 2005
+ Đặc biệt, theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng với dự án nâng cao năng lực cạnh tranh (Dự án USAID tài trợ) đã tính toán chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh từ năm 2005 đến 2009 thì tỉnh Bình Dương đã 3 năm liền (2005 - 2006 - 2007) xếp thứ 1 và 2 năm 2008, 2009 xếp thứ 2 so với các tỉnh (thành phố) của Việt Nam
Qua 13 năm (1997 - 2009) phát triển kinh tế ở tỉnh Bình Dương đạt các thành tựu hết sức to lớn, đã tận dụng tốt các lợi thế, khai thác hiệu quả tiềm năng; nhất là xây dựng các khu công nghiệp - đô thị, tạo được ấn tượng, phát huy cao độ nội lực và gia tăng hấp thụ ngoại lực đầu tư phát triển Vấn đề là: tăng trưởng kinh tế ở mức cao, nhằm đảm bảo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vững chắc, phát triển cân đối giữa các ngành; trong thời kỳ tới (2011 - 2020), sự hỗ trợ từ công nghiệp và dịch vụ đối với nông, lâm, ngư nghiệp chắc chắn sẽ ở mức độ cao hơn
Trong những năm qua, đầu tư phát triển từ ngân sách tỉnh Bình Dương cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp qua các năm luôn ở mức ít nhất so với 63 tỉnh (thành phố) của Việt Nam Để sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững với thu nhập tăng tương ứng; giảm khoảng cách với khu vực công nghiệp và dịch vụ thì việc đầu tư cho nông, lâm, ngư nghiệp trong những năm tới ở tỉnh Bình Dương sẽ phải tăng nhanh cả về số lượng và tỷ trọng
Trang 15Bảng 3: Đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước tỉnh ĐVT: Triệu đồng.
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm 2009.
Bình quân 1 năm ngân sách tỉnh Bình Dương chỉ đầu tư cho nông, lâm nghiệp: 39,3 tỷ đồng, chiếm: 3,26% so với tổng đầu tư cho các ngành kinh tế là quá ít; so sánh với 63 tỉnh (TP) thì Bình Dương xếp vào nhóm các địa phương có số lượng và tỷ lệ vốn ngân sách đầu tư thấp nhất cho ngành nông, lâm nghiệp, trong khi theo quy hoạch nông, lâm, ngư nghiệp và thực tế chính sách của Đảng và Chính phủ ban hành có nhiều hạng mục áp dụng vào tỉnh Bình Dương cần được ngân sách hỗ trợ Qua số liệu trên Ngành nông nghiệp cần xem xét kỹ hơn để có chương trình, dự án, đề án và triển khai thực hiện các chính sách về nông nghiệp trình UBND tỉnh bố trí vào ngân sách hỗ trợ, có như vậy nông nghiệp tỉnh Bình Dương mới tiếp tục phát triển, trong đó nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cần nhiều vốn ngân sách
II.1.2 Đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp: II.1.2.1 Hiện trạng giao thông:
Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh về cơ bản đáp ứng được yêu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách trên địa bàn tỉnh:
+ Đường bộ: Trên địa bàn tỉnh hiện có 3.730 tuyến đường các loại với tổng chiều dài trên 5 ngàn km; trong đó, quốc lộ có 3 tuyến (quốc lộ 13, quốc lộ 1K và quốc
lộ 1A) tổng chiều dài 68,85km; đường tỉnh 10 tuyến (ĐT 741, ĐT 742, ĐT 743, ĐT
744, ĐT 745, ĐT 746, ĐT 747, ĐT 751 và ĐT 30) tổng chiều dài 457km; trong đó đường nhựa chiếm trên 60%; đường huyện có khoảng 240 tuyến với tổng chiều dài gần 700km; trong đó, đường nhựa chiếm 35%; đường liên ấp và nội bộ ấp có 3.500 tuyến, tổng chiều dài 2.500km Ngoài ra, ở các vùng nông thôn còn có hệ thống đường chuyên dùng như đường trong lô cao su, đường nội đồng…Nhìn chung, mạng lưới đường bộ về cơ bản đáp ứng được yêu cầu vận chuyển và đi lại của nhân dân; tuy nhiên, hệ thống đường giao thông đồng ruộng đang còn nhiều bất cập, có thể coi là một trong những khó khăn đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tỉnh Bình Dương
Trang 16+ Đường sắt: Tuyến đường sắt quốc gia chạy qua huyện Dĩ An khoảng 8km; trong đoạn này có 2 ga Sóng Thần và Dĩ An Theo quy hoạch, tuyến đường sắt Dĩ An
- Lộc Ninh sẽ được phục hồi trong dự án “đường sắt xuyên Á”; hai ga này sẽ được
mở rộng; đặc biệt là ga Sóng Thần sẽ là đầu mối vận chuyển hàng hoá quan trọng nhất phía Nam
+ Đường thuỷ: Sông Đồng Nai và sông Sài Gòn là 2 tuyến đường thuỷ để vận chuyển vật tư nông sản, hàng hoá và hành khách; trong tương lai, khi ngành du lịch phát triển thì đây cũng sẽ là hai tuyến du lịch quan trọng Các sông suối khác như sông Bé, sông Thị Tính… do lòng sông hẹp, độ dốc lớn nên không giao thông được Trong tương lai, khi sông Thị Tính được nạo vét hoàn chỉnh có thể sử dụng làm tuyến giao thông phục vụ khách du lịch và vận chuyển vật tư hàng hoá bằng tàu thuyền có tải trọng nhỏ
Tóm lại, giao thông ở Bình Dương được đánh giá là địa phương có tốc độ phát triển nhanh so với cả nước; đặc biệt là hệ thống đường bộ đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân; tuy nhiên, hệ thống giao thông đồng ruộng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, gây khó khăn cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vận chuyển vật tư, nông sản; cần phải đầu tư để cải tạo, nâng cấp và nhất là xây mới các tuyến đường đồng ruộng tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi một cách bền vững
II.1.2.2 Hiện trạng Thuỷ lợi:
Ngành thuỷ lợi đã tiến hành nâng cấp, sửa chữa và xây mới các công trình thuỷ lợi; tính đến cuối năm 2009, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 46 công trình thuỷ lợi; trong đó có 5 hồ (công suất thiết kế tưới cho 2.960 ha; công suất thực tế 1.295 ha); 9 đập (công suất thiết kế tưới cho 565 ha; công suất thực tế 136 ha), 12 cản (công suất thiết kế tưới cho 401 ha; công suất thực tế 284 ha), 11 trạm bơm (công suất thiết kế tưới cho 1.110 ha; công suất thực tế 655,6 ha), 2 hệ thống đê bao (ngăn lũ cho 2.189 ha), 7 hệ thống kênh tiêu, tiêu nước cho 5.525 ha
Phân theo đơn vị hành chính:
Bảng 4 Các công trình thuỷ lợi phân theo đơn vị hành chính
Chỉ tiêu Toàn tỉnh TX TDM Dầu Tiếng Bến Cát Phú Giáo Tân Uyên Thuận An Dĩ An
Trang 17Bến Cát
Phú Giáo
Tân Uyên
Thuận An
Dĩ An
Nguồn: Theo báo cáo của các phòng Kinh tế huyện (TX)
Ghi chú: không kể máy bơm của các nông hộ Xem số liệu chi tiết từng công trình ở phụ lục số 17A
Hiện nay, hệ thống thuỷ lợi Phước Hoà đang được khẩn trương thi công xây dựng dự kiến sẽ hoàn thành vào tháng 3 năm 2011 Sau khi đưa vào sử dụng, dự án sẽ cung cấp nước thô cho dân sinh, sản xuất công nghiệp và một phần cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bình Dương (1.950ha)
Nhìn chung, Các công trình thuỷ lợi ở Bình Dương đã và đang phát huy hiệu quả tương đối tốt; hầu hết các công trình đều đáp ứng được nhiệm vụ đề ra; tuy nhiên, hiệu suất sử dụng công trình còn thấp (công suất tưới đạt 49,7% công suất thiết kế); có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như: địa hình khi tưới nước phức tạp, đất có thành phần cơ giới nhẹ (tỷ lệ thất thoát nước lớn); một số công trình xuống cấp; khu tưới lại phân tán; mặt khác, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển đổi cơ cấu cây trồng nói riêng, một số diện tích cây hàng năm được chuyển sang cây lâu năm không cần tưới như cao su, đặc biệt có một số khu tưới đã chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp
II.1.2.3 Hiện trạng điện:
+ Nguồn lưới điện quốc gia gồm các tuyến cao thế và các trạm biến thế trung gian 500KV, 220KV, 110KV; nguồn tại chỗ chỉ có nhà máy điện VSIP nằm trong khu công nghiệp Việt Nam - Singapore
+ Các tuyến trung thế vận hành ở các cấp điện áp 15KV, 22KV và 35KV với tổng chiều dài là 1.500km; các tuyến ha thế dài khoảng 10.000km
+ Theo số liệu thống kê, đến nay, 100% số xã phường trên địa bàn tỉnh đã có điện từ nguồn lưới điện quốc gia, tỷ lệ hộ được sử dụng điện trong toàn tỉnh là 95%
Trang 18việc cải tạo lưới và nâng cấp hệ thống điện nhằm phục vụ tốt nhu cầu sử dụng điện ở khu vực nông thôn Tuy nhiên, do dặc điểm phân bố dân cư, hạn chế về nguồn vốn và
cả nguồn điện nên chất lượng điện nông thôn ở một số nơi còn kém do thiếu trạm biến
áp đủ công suất; khoảng cách từ trạm đến các phụ tải quá xa, dây dẫn không đủ tiết diện… gây nên tình trạng sút áp; đặc biệt trong các giờ cao điểm, ảnh hưởng nhiều đến
độ bền của phụ tải; đây là một trong những nguyên nhân làm cho điện ở nông thôn chưa phục vụ nhiều cho sản xuất (chỉ khoảng 15 – 20% sản lượng điện dùng cho các trạm bơm điện, trang trại chăn nuôi hoặc các cơ sở xay xát, sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp) Để chuyển dịch cơ cấu sử dụng điện trong nông thôn, tăng tỷ lệ điện phục vụ sản xuất lên 35 – 40% ngành điện lực cần tiếp tục cải tạo hệ mạng lưới điện
II.1.3 Đánh giá tác động của công nghiệp chế biến và thương mại dịch vụ đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tỉnh Bình Dương:
II.1.3.1 Tác động của công nghiệp chế biến:
Bình Dương và Đồng Nai là 2 tỉnh phân bố tập trung nhiều các cơ sở công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản và ngành nghề chế biến cũng phong phú, đa dạng vào bậc nhất so với 63 tỉnh - TP của cả nước
Nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến không chỉ sản xuất tại Bình Dương, các tỉnh phía Nam và kể cả nhập khẩu Các sản phẩm của công nghiệp chế biến cung ứng cho thị trường cả nước và xuất khẩu Đây là cơ hội rất thuận lợi hỗ trợ cả
“đầu vào” và “đầu ra” đối với sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tỉnh Bình Dương
Theo số liệu thống kê năm 2009 sáu lĩnh vực chế biến (đồ nông sản và thực phẩm) gồm: thuốc lá, sản phẩm gỗ và lâm sản, giấy và sản phẩm giấy, sản phẩm cao su và plastic và giường tủ bàn ghế) đã có đến: 2.887 cơ sở; chiếm 41,54% so với tổng số lượng cơ sở công nghiệp của tỉnh Bình Dương, tạo ra giá trị sản xuất (giá thực tế) lên đến: 96.540 tỷ đồng (chiếm 43,92% tổng giá trị sản xuất công nghiệp) Riêng hàng nông lâm thủy sản xuất khẩu đạt 1.761,7 triệu USD; chiếm khoảng 45% so với tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản cả nước
Nông, lâm, ngư nghiệp gắn với quan điểm phát triển sản xuất công nghiệp chế biến luôn đúng và cần tôn trọng khi lập quy hoạch phát triển các ngành hàng nông lâm thủy sản Đây cũng là chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và lãnh đạo tỉnh Bình Dương
Đối với các cơ sở công nghiệp sơ chế và chế biến sâu các sản phẩm có liên quan đến sản xuất nông lâm nghiệp tỉnh Bình Dương đóng vai trò đầu ra gồm có:
Trang 19Bảng 5 Công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở tỉnh Bình Dương
Công nghiệp chế
1 Chế biến cao su
- Sơ chế mủ cao su Các nhà máy chế biến cao su của 3 công ty cao su: Phước
Hòa, Dầu Tiếng và Công ty Becamex, Trung tâm nghiên cứu cao su Bến Cát đã có tổng công suất chế biến 180.000 tấn sản phẩm/năm (chưa kể các cơ sở chế biến nhỏ của nông hộ, trang trại đã đảm bảo chế biến 100% sản lượng mủ cao su tươi sản xuất ở tỉnh Bình Dương
- Chế tạo xăm, lốp
2 Chế biến điều
Có 14 cơ sở với tổng công suất: 72.000 tấn hạt điều nguyên liệu, năm 2008 chế biến: 17.744 tấn điều nhân (71.000 tấn hạt điều), sản lượng hạt điều của Bình Dương năm 2009: 3.461 tấn, chỉ đáp ứng khoảng 5% công suất thiết kế Công
ty Nhật Huy sản xuất hạt điều ăn liền xuất khẩu sang Mỹ
3 Chế biến gỗ và
lâm sản
Có 780 cơ sở, đặc biệt có các công ty chế biến đồ gỗ xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam (Savimex, Trường Thành, Thanh Hùng, …), lâm sản khai thác tại Bình Dương năm 2009 chỉ có 1.166m3 gỗ tròn nên gần như 100% gỗ nguyên liệu phải nhập khẩu hoặc mua từ tỉnh - TP khác với số lượng hơn 0,5 triệu m3
4 Chế biến SP
C.nuôi
- Giết mổ gia súc -
gia cầm
Có 46 cơ sở, hàng ngày giết mổ bình quân 150 con trâu bò,
980 - 1.000 con heo và 10.000 - 11.000 con gia cầm Các cơ sở giết mổ được Chi cục Thú y kiểm tra giám sát chặt chẽ
- Giết mổ và chế biến
thịt heo, bò
- Công ty SanMiguel Pure có công suất thiết kế: thịt xẻ heo : 2.530 tấn/năm, thịt mảnh: 1785 tấn/năm, thịt nguội: 600 tấn/năm và giết mổ gia công: 1.162 tấn/năm
- Có 3 công ty chế biến thực phẩm ăn liền từ thịt bò, heo là Công ty TNHH Tuyền Ký, Thanh Thủy, Hòa Trang với tổng công suất hơn 1.000 tấn/năm
Nam chế biến sữa tươi - sữa đặc có đường, Công ty thực phẩm F&N chế biến sữa tươi tiệt trùng, Công ty cổ phần Bình Dương AND sản xuất sữa tươi tiệt trùng Năm 2009 sản lượng sữa tươi ở Bình Dương chỉ đáp ứng <10% nhu cầu sữa nguyên liệu
Trang 20Công nghiệp chế biến nông lâm sản với dây chuyền thiết bị công nghệ chế biến khá đồng bộ và tiên tiến (ngoại trừ 46 cơ sở giết mổ gia súc gia cầm) đã tạo ra sản phẩm có chất lượng, góp phần nâng cao giá trị gia tăng, đáp ứng yêu cầu về sản phẩm đạt chất lượng tiêu thụ ở trong nước và xuất khẩu Song quan hệ hợp đồng đầu tư hoặc hợp đồng trung hoặc dài hạn thu mua sản phẩm giữa “nhà nông” sản xuất với cơ sở chế biến trên thực tế rất ít được thực hiện Nên khi giá bán sản phẩm trên thị trường biến động theo hướng giảm thì phần thiệt hại luôn thuộc về nhà nông sản xuất nguyên liệu Đây được xem là tồn tại cần khắc phục nhất là khi nhà nhập khẩu hoặc nhà phân phối yêu cầu truy nguyên nguồn gốc xuất xứ hàng hóa.
Hai loại nông sản là quả và rau ở Bình Dương mới chỉ có VinaMit thu mua và sấy mít, tại Bình Dương có nhà máy chiếu xạ trái thanh long xuất khẩu Còn các cơ sở rau quả khác hầu như chưa hình thành nên tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch là khá cao và rất khó cho việc kiểm tra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
Đối với các cơ sở công nghiệp tạo ra sản phẩm là “đầu vào” của nông ngư nghiệp tỉnh Bình Dương năm 2009 gồm có:
+ Công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi: 23 doanh nghiệp, hàng năm sản xuất ra: 915.737 tấn, trong đó đủ đảm bảo tổng nhu cầu thức ăn cho số vật nuôi của tỉnh Bình Dương mà còn bán ra ngoài tỉnh
+ Công nghiệp sản xuất thuốc trừ sâu: với số lượng sản phẩm: 4.000 tấn/năm.+ Công ty thuốc thú y Minh Dũng: chuyên sản xuất thuốc thú y, các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại thuốc có thị phần lớn và uy tín đối với ngành chăn nuôi
Các sản phẩm là thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản, thuốc trừ sâu, thuốc thú y sản xuất tại tỉnh Bình Dương đã phục vụ khá tốt cho yêu cầu phục vụ phát triển sản xuất nông ngư nghiệp tại địa phương
II.1.3.2 Tác động của dịch vụ - thương mại:
- Ở góc độ “đầu vào” các hoạt động thương mại, dịch vụ, tín dụng…đã cung ứng khá đầy đủ cho nông nghiệp cả về số lượng, chủng loại và thời điểm các loại vật
tư, tiền vốn; ở góc độ “đầu ra”, hệ thống thương mại nhất là chợ, siêu thị, hộ kinh doanh nông sản ở Bình Dương cũng đã góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, kích thích sản xuất và góp phần phân công lại lao động; tuy nhiên các hoạt động dịch vụ thương mại ở Bình Dương chủ yếu là doanh nghiệp tư vấn cho nông dân về việc lựa chọn sản xuất các loại sản phẩm hàng hóa, chưa kết nối được các kênh phân phối một cách bền vững
- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Dương thời kỳ 2008 - 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 4459/QĐ-UB ngày 26/12/2007; theo đó trên địa bàn tỉnh sẽ có 6 cụm du lịch: Châu Thới - Lồ ồ - Bình An, cụm Núi Cậu - hồ
Trang 21Dầu Tiếng, cụm TX Thủ Dầu Một và lân cận, cụm Lái Thiêu, cụm địa đạo Tây Nam Bến Cát (Tam giác sắt) và cụm Tân Uyên (chiến khu D) với 3 tuyến chính là tuyến theo sông Sài Gòn, tuyến theo sông Đồng Nai từ và tuyến theo đường quốc lộ 13, 14 Các cụm, tuyến du lịch này đều gắn liền với vườn cây ăn quả đặc sản nổi tiếng như bưởi Bạch Đằng, măng cụt Lái Thiêu, Bến Cát… chính những vườn cây ăn quả đã góp phần hình thành các điểm du lịch và ngược lại khi các cụm du lịch hình thành sẽ thúc đẩy nông nghiệp phát triển, đầu ra của những loại hình nông nghiệp phục vụ du lịch không chỉ là những sản phẩm nông nghiệp mà còn là những cảnh quan sinh động góp phần thu hút và giữ chân khách du lịch.
Tóm lại, các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Bình Dương có tốc độ tăng trưởng cao (16 - 18%/năm) và chiếm tỷ trọng lớn (công nghiệp và dịch vụ chiếm 94,3% trong cơ cấu kinh tế toàn tỉnh, nông nghiệp chỉ còn 5,7%); phát triển nhanh của các lĩnh vực này đã và đang tác động tích cực đến nông nghiệp về quan điểm, mục tiêu phát triển, công nghệ sản xuất và hình thức tổ chức sản xuất.
II.2 Đánh giá thực trạng các nguồn lực xã hội có liên quan.
II.2.1 Dân số và lao động nông, lâm, ngư nghiệp:
- Dân số: Bình Dương là tỉnh có tốc độ tăng dân số ở mức cao, chủ yếu là tăng cơ
học do dòng dân cư từ các tỉnh trong cả nước đến tìm việc làm tại các khu công nghiệp
Theo số liệu thống kê tại thời điểm 31/12/2009, toàn tỉnh có 1.552.061 người; dân số trung bình năm 2009 là 1.497.117 người; do kinh tế phát triển nhanh, Bình Dương thu hút nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác; trong 14 năm, dân số Bình Dương đã tăng gấp 2,25 lần, là tỉnh có tốc độ tăng dân số cao nhất cả nước (7,78%/năm); trong đó, chủ yếu là tăng cơ học (tăng tự nhiên ở mức 1,01%/năm và có
xu thế giảm) Đến năm 2020, Bình Dương sẽ trở thành đô thị loại I, dự báo dân số lên đến 2 triệu người; trong đó, dân cư nông thôn chiếm 33 - 35%
Bảng 6: Một số chỉ tiêu về lao động nông, lâm ngư nghiệp
HẠNG MỤC Năm Năm Năm So sánh (tăng +, giảm -)
2005 – 2000 2009 - 2000
1 Lao động trong độ tuổi (người) 422.326 874.593 1.146.444 +452.267 +724.118
2 Lao động đang làm việc
trong các ngành kinh tế (người) 374.940 722.518 958.539 +347.578 +583.599
- Tỷ lệ so với LĐ trong độ tuổi (%) 88,78 82,61 83,60 -6,17 -5,18
3 L.động nông lâm ngư nghiệp
- Tỷ lệ % so với LĐ đang làm
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương.
Trang 22Lao động nông, lâm, ngư nghiệp giảm nhanh, năm 2005: 138.521 người (chiếm 19,17%), đến năm 2009 còn: 122.193 người (chiếm 12,75% so với tổng số lao động làm việc cho các ngành kinh tế), giảm 16.328 người Tỷ lệ lao động nông, lâm, ngư nghiệp < 20% là chỉ tiêu đặt ra đối với tiêu chí xã đạt nông thôn mới Ngoài ra, tỉnh Bình Dương có trên 20 ngàn lao động làm việc ở các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, trong đó: 1.358 lao động làm việc ở 13 dự án có vốn đầu tư nước ngoài.
Chất lượng lao động nông, lâm, ngư nghiệp xếp ở mức trung bình khá Bởi có đến gần 30% số lao động đã qua đào tạo Trong đó có 31.944 lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp và trang trại nông, lâm, ngư nghiệp
Song, vấn đề chất lượng lao động vẫn đang là điều đáng lo ngại bởi số lượng lao động trực tiếp sản xuất và lao động làm công tác quản lý nhà nước trong ngành nông nghiệp, cán bộ khoa học kỹ thuật… có rất ít người được đào tạo chuyên môn về phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nhất là trong ngành trồng trọt, công nghệ sinh học, sản xuất nông thủy sản theo tiêu chuẩn Viet GAP, Global GAP… Trong khi đó quan điểm - mục tiêu phát triển nông, lâm, ngư nghiệp của tỉnh Bình Dương thời kỳ 2011 - 2020 lại chính là các mô hình và tiêu chuẩn chất lượng kể trên Sự thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn sâu dẫn đến thiếu ý tưởng và chưa đủ khả năng thực hiện việc tổ chức xây dựng cũng như quản lý phát triển nông lâm nghiệp bền vững được xem là vấn đề cần quan tâm giải quyết đối với ngành nông nghiệp tỉnh Bình Dương
Sự thiếu hụt lao động trầm trọng trong nông, lâm, ngư nghiệp là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đất lúa bị bỏ vụ hoặc bỏ hoang; đất vườn tạp rất ít được đầu tư Ngoài ra còn phải kể đến độ tuổi lao động nông, lâm, ngư nghiệp ở tỉnh Bình Dương ngày một cao, làm cho mùa vụ căng thẳng ở những khâu nặng nhọc và chất kượng thâm canh cây trồng, vật nuôi giảm đáng kể
Tóm lại, chất lượng nguồn nhân lực nông, lâm, ngư nghiệp ở Bình Dương có 3 vấn đề hạn chế: số lượng và cơ cấu lao động được đào tạo mất cân đối, thiếu lao động chất lượng cao, khó thuê nhân công sản xuất nông nghiệp và giá thuê cao sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, nông nghiệp sinh thái đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
II.2.2 Đánh giá thực trạng các loại hình tổ chức sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
- Kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp:
Theo điều tra nông nghiệp - nông thôn đối với một số cây trồng ở tỉnh Bình Dương cho thấy:
+ Hộ trồng cao su: có 33.798 hộ (chiếm 56,47%) Trong đó diện tích cao su ≤ 1,0 ha có: 14.197 hộ (42% so với số hộ trồng cao su), 9.258 hộ có từ 1,0 đến dưới 2,0
ha cao su, 8.221 hộ có từ 2,0 đến dưới 5,0 ha và chỉ có 2.122 hộ có diện tích cao su từ
5 ha trở lên
Trang 23+ Hộ trồng hồ tiêu: có 5.135 hộ, trong đó diện tích trên 1 hộ dưới 0,5 ha, chiếm 88% (4.521 hộ).
+ Hộ trồng lúa: có 11.306 hộ Trong đó số lượng hộ sử dụng dưới 0,5 ha là: 6.662 hộ (chiếm 58,92% số hộ trồng lúa), hộ sử dụng từ 0,5 ha đến dưới 2,0 ha là: 4.303 hộ (chiếm: 38,06%) và hộ sử dụng từ 2,0 ha đất lúa trở lên chỉ rất ít: 340 hộ
Đặc biệt các hộ nông nghiệp ở các huyện Thuận An, Dĩ An, TX Thủ Dầu Một, Nam Bến Cát và Nam Tân Uyên có quy mô ruộng đất rất nhỏ do quá trình đô thị hóa và chuyển đất sản xuất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
Qua nghiên cứu cho thấy vai trò kinh tế hộ nông, lâm, ngư nghiệp đã và đang giảm dần, đây là quy luật tất yếu của kinh tế thị trường Hơn nữa với nền sản xuất hàng hóa yêu cầu số lượng phải đủ lớn, cơ giới hóa, ứng dụng kỹ thuật và công nghệ mới, sản phẩm đạt chất lượng cao đủ sức cạnh tranh trên thị trường thì nông hộ rất khó thực hiện trong khi chủ trương của Đảng, Chính phủ và của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Dương khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, doanh nghiệp và kinh tế hợp tác
- Kinh tế trang trại:
Đến năm 2009 tỉnh Bình Dương có 1.785 trang trại khai thác 18.093 ha đất sản xuất nông nghiệp (chiếm 8,3% diện tích đất nông nghiệp) và sử dụng 11.406 lao động (chiếm 11,34% lao động nông, lâm, ngư nghiệp) Sau thời kỳ đầu tư xây dựng cơ bản, các trang trại hiện đang đầu tư theo chiều sâu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ mới về giống, kỹ thuật canh tác, bảo quản sản phẩm, tìm kiếm thị trường nên sản xuất kinh doanh ở các trang trại thực sự có hiệu quả kinh tế cao, tổng giá trị sản xuất của trang trại đạt 759 tỷ đồng, bình quân 1 trang trại có doanh thu 425 triệu đồng và bình quân 1 ha có thu nhập 39,6 triệu đồng, đặc biệt chăn nuôi trang trại ở Bình Dương tỏ ra có hiệu quả và góp phần quan trọng trong chăn nuôi heo, gà hàng hóa của tỉnh Kinh tế trang trại ở Bình Dương đã khẳng định rõ vai trò các nguồn tài nguyên, khai thác tốt nguồn vốn trong dân, giải quyết lao động cho xã hội, hình thành quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn, tạo ra mô hình sản xuất có tỷ trọng hàng hóa cao và bước đầu có sự gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, có mức đầu tư cao trên một đơn vị diện tích cả về tiền vốn, lao động và khoa học kỹ thuật, trang trại đã không chỉ là mô hình mẫu cho các nông hộ trong vùng mà còn đóng vai trò tư vấn kỹ thuật, dịch vụ và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ
- Kinh tế hợp tác:
Đến cuối năm 2009 tỉnh Bình Dương có 2.852 tổ hợp tác (tăng 401 tổ so với 2008), trong đó có: 901 tổ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với 15.180 thành viên (bình quân một tổ hợp tác có 17 thành viên) Có 12 HTX nông nghiệp (giảm 5 HTX) với số xã viên là 722 (bình quân 1 HTX có 60 xã viên) Qua phân tích đánh giá cho thấy tổ hợp tác hoạt động khá tốt, riêng HTX nông nghiệp sản xuất - kinh doanh kém hiệu quả Nguyên nhân HTX hoạt động kém hiệu quả chủ yếu do con người tổ chức quản lý và cơ chế chính sách chưa thật phù hợp, lợi ích do HTX mang lại chưa đủ sức thu hút nông hộ tham gia
Trang 24- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào kinh doanh nông lâm nghiệp:
Tính đến cuối năm 2009 toàn tỉnh có 13 dự án đầu tư trong nông nghiệp, tổng số vốn đăng ký: 164,47 triệu USD, trong đó vốn pháp định: 92, 06 triệu USD, tạo việc làm cho 1.358 lao động (chiếm 1,07% so với lao động nông lâm ngư nghiệp), tạo ra giá trị sản xuất theo giá cố định: 191.362 triệu đồng, so với năm 2001 tăng: 135,217 triệu đồng; theo giá thực tế: 688.752 triệu đồng (chiếm 8,21% so với tổng GTSX nông nghiệp), GTSX bình quân/lao động: 507 triệu đồng/năm, gấp 7,68 lần so với bình quân của các thành phần kinh tế)
- Doanh nghiệp trong nước sản xuất, kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp:
Đến năm 2009, toàn tỉnh có 31 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp và 01 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ngư nghiệp đang sử dụng 20.547 lao động (chiếm 16,23% so với lao động nông lâm ngư nghiệp) Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông nghiệp chủ yếu thuộc 2 công ty cao su Phước Hòa và Công ty Cao su Dầu Tiếng thuộc Tập đoàn Cao su Việt Nam Tổng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước theo giá thực tế đạt 2.329,0 tỷ đồng (bình quân 1 người lao động có giá trị sản xuất: 113,35 triệu đồng/người/năm, gấp 1,7 lần mức bình quân của các thành phần kinh tế)
Tóm lại, loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp hiệu quả nhất ở Bình Dương là kinh tế trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài Đây là các loại hình được xem là phù hợp với nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, phát triển trong cơ chế kinh tế thị trường cần khuyến khích phát triển Riêng loại hình kinh tế HTX tỏ ra chưa thật phù hợp trên thực tế phải giải thể do hiệu quả sản xuất - kinh doanh kém, xã viên HTX không còn tiếp tục tự nguyện tham gia sản xuất, đây cũng là loại hình hướng đến nên phải khảo sát, có biện pháp củng cố kịp thời
Trang 25Phần thứ hai
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ CÁC DỰ BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM, NGƯ NGHIỆP TỈNH BÌNH DƯƠNG
I ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP.
Kết quả thống kê, kiểm kê về quản lý sử dụng diện tích đất nông nghiệp của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương qua 3 năm 2000, 2005 và ngày 01/01/2010 được tổng hợp ở bảng số 7:
Bảng 7: Diễn biến tình hình sử dụng đất nông nghiệp
(ha)
Năm 2005 (ha)
01/01/2010 (ha) So sánh tăng (+) giảm (-)
1.1.2 Đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi 349,00 180,00 134,43 -169,00 -45,57 -214,57
1.1.3 Đất cây hàng năm khác 20.833,00 12.980,00 5.206,29 -7.853,00 -7.773,71 -15.626,71
1.2 Đất trồng cây lâu năm 169.559,00 174.206,20 179.250,02 4.647,20 5.043,82 9.691,02
1.2.1 Đất trồng cây CN lâu năm 110.184,00 139.306,00 164.680,07 29.122,00 25.374,07 54.496,07
1.2.2 Đất trồng cây ăn quả 7.844,00 8.944,00 3.272,21 1.100,00 -5.671,79 -4.571,79
1.2.3 Đất trồng CLN khác + vườn tạp 51.531,00 25.956,20 11.297,74 -25.574,80 -14.658,46 -40.233,26
2 Đất lâm nghiệp 12.791,00 12.650,74 15.138,13 -140,26 2.487,39 2.347,13
3 Đất nuôi thủy sản 409,00 512,80 347,39 103,80 -165,41 -61,61
4 Đất nông nghiệp khác - 430,50 585,24 430,50 154,74 585,24
Nguồn: Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Bình Dương
- Về diễn biến diện tích đất:
+ Diện tích đất nông nghiệp năm 2009 (01/01/2010) so với năm 2000 giảm: 19.566,72 ha (bình quân 1 năm giảm: 1.956,67 ha), trong đó 5 năm (2001 - 2005) giảm 9.596,36 ha và 4 năm (2006 - 2009) giảm: 9.970,36 ha do quy hoạch chuyển sang đất phi nông nghiệp (đất xây dựng khu công nghiệp, đô thị và đất chuyên dùng, …)
+ Đất sản xuất nông nghiệp giảm từ năm 2000 đến năm 2009 là: 22.437,48ha trong đó, 5 năm (2001 - 2005) giảm: 9.990,4 ha…Trong đất sản xuất nông nghiệp thì đất trồng cây hàng năm giảm nhiều nhất: (-32.128,5ha) do chuyển sang đất phi nông nghiệp và chuyển đổi sang trồng cây lâu năm
+ Riêng cơ cấu đất cây hàng năm giảm là hợp lý, do hiệu quả sử dụng đất thấp, cụ thể đất lúa (2000 - 2009) giảm 16.287,22 ha; cây hàng năm khác giảm 15.626,71 ha và đất trồng cỏ chăn nuôi giảm 214,57 ha
Trang 26+ Đất trồng cây lâu năm từ năm 2000 đến 2009 tăng 9.691 ha; trong đó, giai đoạn 2001 – 2005 tăng 4.647,2 ha và giai đoạn 2006 – 2009 tăng 5.043,82 ha
+ Đất lâm nghiệp sau 9 năm (2000 - 2009) tăng 2.347,13 ha Trong đó 5 năm (2001 - 2005) giảm 140,26 ha và 4 năm (2006 - 2009) tăng 2.487,39 ha
Xu thế diễn biến sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Bình Dương qua 9 năm (2000 - 2009) là đúng hướng, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu phát triển kinh tế của tỉnh theo chủ trương gia tăng tỷ trọng GDP khu vực công nghiệp và dịch vụ Đồng thời cũng chuyển đất cây hàng năm kém hiệu quả sang trồng cây lâu năm (chủ yếu là cao su), đây cũng là 6 mục tiêu: sử dụng kinh tế đất, tăng độ che phủ bảo vệ môi trường sinh thái, tận dụng khả năng ít đòi hỏi đầu tư chăm sóc nhưng vẫn sống của cây cao su (khác với cà phê, tiêu, cây ăn quả), sử dụng ít lao động và nếu có bị chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp sẽ được đền bù với mức khá cao
- Về những hạn chế đối với sử dụng đất nông nghiệp:
+ So sánh số liệu thống kê về quản lý sử dụng đất nông nghiệp của Sở Tài nguyên và Môi trường với hiện trạng sản xuất nông, lâm ngư nghiệp cho thấy có khá nhiều bất cập:
Đất lúa là một điển hình về sử dụng lãng phí và kém hiệu quả Theo số liệu quản lý sử dụng đất lúa năm 2009 là: 8.207,78 ha nhưng tổng diện tích gieo trồng lúa chỉ có: 10.369 ha Trong đó lúa Đông Xuân: 2.612 ha, lúa Hè Thu: 2.157 ha, lúa Mùa 5.60ha Như vậy, diện tích gieo trồng lúa trên tổng diện tích canh tác lúa chỉ có: 1,26 lần/năm Đây là hệ số sử dụng đất lúa rất thấp
Đất trồng cây lâu năm: 179.250 ha, chiếm 93% so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, song nếu trừ diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả thì diện tích đất cây lâu năm khác (đất vườn trồng cây tạp) lên đến 11.297,74 ha (chiếm 6,3% đất cây lâu năm) Qua điều tra sản phẩm thu được từ đất trồng cây lâu năm khác rất thấp (2 - 3 triệu đồng/ha/năm) Đây là đối tượng sử dụng kém hiệu quả phân bố chủ yếu ở Dĩ An, Thuận An, TX Thủ Dầu Một, Nam Bến Cát, Nam Tân Uyên
Ngay trong diện tích trồng cao su: 126.070 ha, trong đó diện tích cao su trồng mới từ năm 2005 đến 2009 là: 19.096 ha thì khoảng 15% (2.460 ha) trồng trên đất ít thích nghi với cao su (đất ở địa hình thấp có mực nước nguồn nông ≤ 1,0m, úng nước trong mùa mưa, thậm chí có cao su trồng trên đất líp phân bố ở ven sông Sài Gòn, sông Thị Tính, diện tích cao su trồng trên đất ít thích nghi sinh trưởng kém, năng suất chỉ khoảng 1,0 tấn/ha), thời gian khai thác mủ ngắn, giá thành mủ cao su cao gấp 1,3 – 1,35 lần so với cao su trồng ở nơi có điều kiện sinh thái thích nghi
Trang 27 Việc chuyển đất sản xuất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp ở Bình Dương là đúng hướng, hợp quy luật Song vẫn để lại một số hậu quả như sau:
Gây lãng phí trong sử dụng đất; đặc biệt là đất cây hàng năm (hiện tượng bỏ hoang và bỏ vụ ngày càng phổ biến) Thực tế này phù hợp với điều tra đánh giá của Viện Chính sách Nông nghiệp - PTNT là cứ 1 ha đất chuyển sang xây dựng khu công nghiệp - đô thị thì sẽ làm từ 1,0 - 2,0 ha đất sản xuất nông nghiệp liền kề bị bỏ hoang hoặc sử dụng kém hiệu quả trong khi quỹ đất sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Bình Dương có hạn và giá thuê đất sản xuất nông nghiệp khá cao
Khi chuyển đất sản xuất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (nhất là đất xây dựng khu - cụm công nghiệp, đô thị, …) ở tỉnh Bình Dương đã ít xem xét đến loại cây trồng truyền thống gắn với hiệu quả kinh tế cao của các hộ nông dân, nhất là ở các nơi trồng rau chuyên canh, cây ăn quả đặc sản Đây được xem là các loại nông sản tươi sống rất cần cho nhu cầu của người dân Bình Dương và cũng phù hợp với chủ trương phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Đất sản xuất nông nghiệp ở các huyện phía Nam và TX Thủ Dầu Một bị chia nhỏ do quá trình đô thị hóa và xây dựng các khu cụm công nghiệp và một số công trình thủy lợi xây dựng phục vụ sản xuất nông ngư nghiệp cũng bị
vô hiệu hóa
Trên thực tế có các nhà đầu tư rất muốn đến Bình Dương xây dựng trang trại hoặc doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp nhưng giá đất sang nhượng hoặc giá thuê cao dẫn đến rất khó có thể sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu quả Trong khi người dân được giao quyền sử dụng đất lại ít đầu tư hoặc bỏ hoang hóa gây lãng phí đất và làm mất cơ hội thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp hàng hóa
Nói chung, tài nguyên đất ở tỉnh Bình Dương đã được khai thác đến mức tối đa đưa vào sử dụng Song thực trạng sử dụng đất nông nghiệp cũng như đất phi nông nghiệp còn lãng phí: đối với đất nông nghiệp tiềm năng tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vẫn còn một khi có các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng mô hình khuyến nông khuyến ngư…đặc biệt là có cơ chế chính sách khuyến khích; trong đó 2 đối tượng còn nhiều tiềm năng là đất ruộng và đất vườn (khoảng 45.000 ha)
Trang 28II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM, NGƯ NGHIỆP.
II.1 Đánh giá tốc độ tăng GTSX và cơ cấu Nông, Lâm, Ngư nghiệp.
Bảng 8 GTSX và tốc độ tăng GTSX nông, lâm, ngư nghiệp
CHỈ TIÊU DIỄN BIẾN QUA CÁC NĂM (triệu đồng)
Tăng BQ
Nguồn: Cục Thống Kê tỉnh Bình Dương
Kết quả đạt được kể trên đã được đặt trong bối cảnh đất sản xuất nông nghiệp liên tục giảm, ngành chăn nuôi bị dịch bệnh (H5N1, lở mồm long móng, heo tai xanh,…); giá thức ăn chăn nuôi tăng trong khi giá bán sản phẩm, không ổn định…
- Cơ cấu GTSX nông, lâm, ngư nghiệp và cơ cấu nội bộ từng ngành
Bảng 9: Một số chỉ tiêu cơ cấu GTSX nông, lâm, ngư nghiệp tỉnh Bình Dương
1 Trồng và nuôi rừng 4.085 4.191 4.646 5.243 6.511
2 Khai thác gỗ và lâm sản 46.257 57.528 67.574 71.433 76.462
3 Dịch vụ lâm nghiệp 11.054 15.329 20.233 19.735 25.642
III THỦY SẢN 50.344 65.575 78.898 83.587 127.115
1 Khai thác 4.943 7.104 8.328 7.675 8.361
Trang 291 Trồng và nuôi rừng 6,65 5,44 5,03 5,44 5,99
2 Khai thác gỗ và lâm sản 75,34 74,67 73,09 74,09 70,40
3 Dịch vụ lâm nghiệp 18,00 19,90 21,88 20,47 23,61
1 Khai thác 9,82 10,83 10,56 9,18 6,58
2 Nuôi trồng 85,29 84,36 83,94 86,53 90,60
3 Dịch vụ thủy sản 4,89 4,81 5,50 4,29 2,82
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương
+ Cơ cấu GTSX nông, ngư, nghiệp từ năm 2005 đến 2009 chuyển dịch chậm
Xu thế tăng tỷ trọng GTSX nông, ngư nghiệp và giảm tỷ trọng lâm nghiệp là hoàn toàn hợp lý Năm 2009, GTSX nông nghiệp: 10.887 tỷ đồng (chiếm 97,88%) tăng 0,33% so với năm 2005; ngư nghiệp: 127,11 tỷ đồng (chiếm 1,14%, tăng 0,04% so với năm 2005); lâm nghiệp: 108,61 tỷ đồng (chiếm 0,98% và giảm 0,37% so năm 2005)
+ Chuyển dịch nội bộ cơ cấu từng ngành:
• Cơ cấu GTSX trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2009 chuyển dịch khá rõ nét Năm 2005 là: 71,70% - 24,06% - 4,24% thì đến năm 2009 là: 69,34% - 26,16% - 4,50% (trồng trọt giảm: 2,36%; chăn nuôi tăng: 2,1%; dịch vụ nông nghiệp tăng: 0,26%) Đây là hướng chuyển dịch đúng nhằm phát huy tốt tiềm năng lợi thế và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường, cơ cấu lại lao động sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
• Trong ngư nghiệp, sự chuyển dịch lại càng rõ nét; nếu năm 2005 nuôi trồng chỉ chiếm 85,29% (khai thác 9,82%) trong tổng GTSX ngành thủy sản thì đến năm
2009 chiếm 90,6%, khai thác chỉ còn 6,58%
• Riêng lâm nghiệp rất ít biến động, tỷ trọng GTSX giữa trồng và nuôi rừng - khai thác gỗ và lâm sản - dịch vụ lâm nghiệp năm 2005 là: 6,65% - 75,34% - 18% tương ứng năm 2009 là: 5,99% - 70,4% - 23,61%
Trang 30Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu GTSX nông, lâm, ngư nghiệp và của nội bộ từng ngành là đúng hướng, phù hợp với xu thế phát triển nhằm khai thác tốt tiềm năng lợi thế nhất là sản xuất các sản phẩm hàng hóa chủ lực phù hợp với nền kinh tế thị trường ở tỉnh Bình Dương.
II.2 Đánh giá thực trạng sản xuất ngành nông nghiệp.
II.2.1 Ngành trồng trọt:
Trồng trọt là lĩnh vực sản xuất chính trong nông nghiệp tỉnh Bình Dương (chiếm gần 70% tổng GTSX ngành nông nghiệp), tạo ra nguồn thu nhập chính cho trên 60% số hộ nông nghiệp, sử dụng nhiều tài nguyên đất, nước và lao động, v.v… đồng thời còn góp phần đảm bảo độ che phủ, cân bằng sinh thái Sau đây là một số kết quả sản xuất của ngành trồng trọt tỉnh Bình Dương giai đoạn 2001 - 2009
a Về xu thế chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Bảng 10 GTSX và cơ cấu GTSX các nhóm cây trồng chính (giá thực tế)
ĐVT: triệu đồng, tỷ lệ %
Tổng GTSX ngành trồng trọt 1.643.122 100,00 3.189.712 100,00 7.549.470 100,00
2 Rau đậu và cây trồng gia vị 165.352 10,06 266.954 8,37 368.605 4,88
Nguồn: Niên giám thống kê
Giữa các nhóm cây trồng chính đang có sự chuyển dịch rất mạnh theo hướng tăng nhanh GTSX nhóm cây công nghiệp lâu năm (mà thực chất là cây cao su bởi cao
su chiếm tới 90% GTSX cây lâu năm) Các loại cây trồng khác đều có xu thế giảm; đây là một xu thế đúng, đáp ứng tốt yêu cầu cả về kinh tế, xã hội và môi trường; tuy nhiên, ngành nông nghiệp Bình Dương cần có những giải pháp tốt hơn để tăng nhanh
tỷ trong 2 loại cây rau đậu và cây ăn quả bởi đây là những loại cây trồng không thể thiếu đối với một tỉnh đang phát triển công nghiệp, đô thị và dịch vụ như Bình Dương
Trang 31b Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng chính.
+ Cây hàng năm
Bảng 11: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng một số cây hàng năm chính
ĐVT: DT: ha, NS: tấn/ha, SL: tấn
Số
TT Chỉ tiêu
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Tốc độ tăng BQ(%)
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Dương
+ 6/8 cây hàng năm giảm diện tích gieo trồng, trong đó: giảm mạnh nhất là mía từ 1.480 ha xuống 747 ha (giảm 733 ha) Đây cũng là 1 trong những nguyên nhân khiến nhà máy đường Bà Lụa (công ty mía đường Bình Dương) phải đóng cửa, bán thiết bị nhà máy bởi mía năng suất thấp, hiệu quả kém, nông dân chuyển sang trồng cây khác nên không đủ mía nguyên liệu cho nhà máy hoạt động
Trang 32+ Lúa, bắp và đậu phộng cũng giảm khá mạnh, từ 12 – 17%/năm, năm 2009 diện tích gieo trồng lúa chỉ còn 10.369 ha (giảm -9.488 ha so với năm 2005), bắp còn
539 ha (giảm -400 ha) do năng suất rất thấp, diện tích đậu phộng năm 2009 chỉ còn: 2.129 ha (giảm -2.438 ha)
+ 2 cây tăng diện tích gieo trồng là khoai mỳ và mè (năm 2005 mè chỉ có 30
ha đến 2009 tăng lên 356 ha do mè dễ trồng, ít đầu tư cho sản xuất nhất là lao động sống và giá bán hạt mè khá cao Song cây khoai mỳ và mè là cây phàm ăn nếu không bón phân đầy đủ dễ dẫn đến thoái hóa đất và không bền vững về sinh thái
+ Đặc biệt, năng suất cây hàng năm trồng ở Bình Dương ở mức rất thấp so với vùng Đông Nam bộ và cả nước là do:
Đất ít thích nghi với các loại cây hàng năm;
Đa số cây trồng (trừ lúa Đông Xuân, rau thực phẩm) là trồng có tưới còn lại trồng “nhờ nước trời” mà lượng mưa và thời gian mưa luôn biến động;
Nông dân đầu tư thâm canh thấp kể cả số lượng vật tư nông nghiệp và công chăm sóc cho một vụ Sau đây xin so sánh năng suất của một số cây hàng năm trồng ở tỉnh Bình Dương năm 2009 với vùng Đông Nam bộ và cả nước
Bảng 12 So sánh năng suất của một số cây hàng năm (2009)
ĐVT: tấn/ha
năm
Bắp (ngô)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam
Ghi chú: Năng suất lúa và bắp của tỉnh Bình Dương xếp thứ 60/63 tỉnh (TP) cả nước
Do vậy, trong quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Bình Dương theo Nghị quyết số: 09/2000/NQ-CP của Chính phủ phải nghiên cứu tiếp tục giảm mạnh diện tích trồng lúa, bắp, khoai lang, khoai mỳ… sang cây trồng khác như: rau an toàn, cỏ chăn nuôi, cây ăn quả đặc sản, đào ao nuôi thủy sản hoặc các mô hình tổng hợp: trồng trọt - nuôi thủy sản, vườn cây (quả - cây cảnh) với du lịch sinh thái vườn, v.v…
+ Sản lượng lúa, bắp, mía giảm rất mạnh nhất là 4 năm (2006 – 2009) tốc độ giảm sản lượng của 3 cây tương ứng là: -12,93%/năm; -10,87% và 14,59% Các cây có sản lượng tăng là: Khoai mỳ, mè, song với sản lượng của từng cây chỉ đủ cung cấp được một phần cho thị trường nội tỉnh
Trang 33+ Cây lâu năm
Bảng 13: Diễn biến diện tích và sản lượng một số cây lâu năm chính
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Dương
+ Cây công nghiệp lâu năm:
Cao su là cây trồng chính và là sản phẩm hàng hóa xuất khẩu chủ lực có lợi thế cạnh tranh cao của tỉnh Bình Dương Do vậy diện tích và sản lượng cao su liên tục tăng Năm 2009 diện tích trồng cao su: 126.070 ha (xếp thứ 2 sau Bình Phước) So với năm 2005 tăng: 19.096 ha, năng suất tăng từ 1,27 tấn/ha (2000) lên 1,77 tấn/ha (2009), tăng: 0,5 tấn/ha
Đặc biệt sản lượng mủ cao su năm 2009 đạt: 177.554 tấn (xếp số 1 so với các tỉnh - TP trong cả nước và chiếm 26,35% tổng sản lượng cao su Việt Nam) Đây là hướng đầu tư phát triển hoàn toàn đúng đắn cả về sinh thái, kinh tế và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên gắn với công nghiệp chế biến
Cây hồ tiêu: trồng chủ yếu ở huyện Phú Giáo và Tân Uyên, Bến Cát trên đất xám và nâu vàng phù sa cổ ở từng nông hộ với diện tích bình quân nhỏ hơn 0,5 ha/hộ Diện tích hồ tiêu giảm từ 814 ha (2005) xuống còn 482 ha (2009); năng suất bình quân: 2,47 tấn/ha (giảm 0,24 tấn qua 8 năm), sản lượng hồ tiêu 1.127 tấn Sự khác biệt
cơ bản với các vùng tiêu ở các tỉnh trọng điểm như Bình Phước, Gia Lai, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu là cây hồ tiêu trồng trên đất đỏ bazan màu mỡ, còn tiêu ở tỉnh Bình Dương trồng trên đất xám nên phải đầu tư nhiều phân bón, tưới nước… dẫn đến năng suất thấp hơn, giá thành cao hơn, tỷ lệ hạt có dung trọng >550 g/lit thấp hơn nên giá bán và lợi nhuận không cao như các tỉnh kể trên
Trang 34 Cây cà phê: giảm rất mạnh, đến năm 2009 chỉ còn 5 ha (giảm 427 ha so với năm 2005) đến sau năm 2010 sẽ không còn cây cà phê trên đất Bình Dương do chất lượng kém, đầu tư cao và khó cạnh tranh với cà phê trồng ở các tỉnh Tây Nguyên.
Cây điều : giảm rất mạnh về diện tích; đến năm 2009 còn 4.722 ha Năng suất: 0,65 tấn/ha, chỉ bằng 61,9% năng suất điều bình quân cả nước (1,05 tấn/ha), sản lượng đạt 3.461 tấn/ha Nguyên nhân diện tích điều giảm và năng suất thấp là do: đất xây dựng cơ bản tăng nhanh (chủ yếu lấy từ đất đang trồng điều); hơn nữa, tuy điều có được trồng bằng giống ghép nhưng chồi ghép chưa đạt tiêu chuẩn, bo ghép lấy từ cây điều đầu dòng chưa đạt theo quy định của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Điều trồng quảng canh, ít đầu tư chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật Cây điều ở Bình Dương đa số là trồng từ những năm trước khi tách tỉnh (1996) nên có biểu hiện già cỗi ; do vậy, cây điều tiếp tục giảm bởi không cạnh tranh được với các cây trồng khác nhất là cao su, cây ăn quả đặc sản, …
+ Cây ăn quả:
Cây ăn quả ở Bình Dương đến năm 2009 có 11 loại cây chính gồm: măng cụt (735 ha), bưởi (635 ha), sầu riêng (487 ha), xoài (475 ha), mít (410 ha), chôm chôm (321 ha), chuối (320 ha), cam quýt (290 ha), chanh tắc (238 ha), dâu – bon bon (225 ha) 3 loại cây ăn quả có xu hướng tăng diện tích kể từ năm 2000 đến 2009 là: măng cụt 557 ha 735 ha, bưởi 495 ha 635 ha, mít 342 ha 410 ha; các cây ổn định diện tích có dâu - bon bon trồng ở Lái Thiêu, các cây khác đều giảm, trong đó giảm mạnh nhất là nhãn (2.276 ha 824 ha), chôm chôm (672 321 ha), sầu riêng (734
ha 487 ha), chuối (685 ha 320 ha)…
Nhìn chung trong mấy năm gần đây, diện tích cây ăn quả đang có xu thế giảm mạnh; năm 2005, toàn tỉnh có 7.582 ha, đến năm 2009 giảm chỉ còn 4.768 ha Nguyên nhân dẫn đến tổng diện tích trồng cây ăn quả giảm do: Diện tích các loại cây
ăn quả giảm chủ yếu là nhãn long, xoài mủ, sầu riêng…phần lớn cây giống không rõ nguồn gốc, chất lượng kém, chủ vườn trồng quảng canh trên đất ít thích nghi, thiếu phân bón, nước tưới… nên năng suất chất lượng kém lại gặp đúng vào thời kỳ cây cao su cho hiệu quả cao nên các chủ vườn đồng loạt chuyển đổi sang trồng cao su (điển hình là ở vùng cây ăn quả bắc Bến Cát thuộc các xã Trừ văn thố, Cây Trường, Lai Uyên…); mặt khác, đất trồng cây ăn quả ở Nam Bình Dương được quy hoạch chuyển sang đất phi nông nghiệp
+ Cây nông nghiệp khác:
- Đồng cỏ dùng vào chăn nuôi: theo Sở Tài nguyên và Môi Trường, diện tích trồng cỏ năm 2000 là 349 ha, đến năm 2009 giảm còn: 298,47 ha, do chuyển sang đất phi nông nghiệp và trồng cao su) Sản lượng cỏ chưa đáp ứng yêu cầu thức ăn xanh cho phát triển chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò thịt, bò sữa, …)
Trang 35- Theo Trung tâm thông tin Bộ Nông nghiệp và PTNT, tổng diện tích trồng hoa cây cảnh của tỉnh Bình Dương năm 2009 là 103 ha (phân bố tập trung ở TX Thủ Dầu Một, huyện Thuận An và các xã Nam Tân Uyên, Nam Bến Cát) So với năm 2001 đã tăng gấp 4,0 lần, Bình Dương đã thành lập Hội Sinh vật cảnh, điển hình là mô hình trang trại Lê Thanh Phương ở TX Thủ Dầu Một trồng phong lan Mocara, Vanda, cây cảnh các loại Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng và phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị khi tỉnh Bình Dương đến năm 2020 trở thành đô thị loại I.
II.2.2 Đánh giá thực trạng ngành chăn nuôi tỉnh Bình Dương:
- Thành tựu và kết quả:
Chiến lược phát triển chăn nuôi tỉnh Bình Dương đến năm 2020 (quyết định số: 2409/QĐ-UBND ngày 16/6/2009) ghi rõ “ngành chăn nuôi Bình Dương tăng trưởng khá cao, tạo ra sự thay đổi rõ rệt trong cơ cấu GTSX nông nghiệp, chăn nuôi tập trung công nghiệp và chăn nuôi trang trại đã và đang thực sự giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến phát triển nhanh và bền vững, hình thành vùng chăn nuôi hàng hóa chất lượng cao, an toàn dịch bệnh”
Ngành chăn nuôi Bình Dương hiện đang dẫn đầu 63 tỉnh (TP) cả nước về:
+ Tỷ lệ heo nuôi tập trung ở trang trại, doanh nghiệp năm 2009: 275.515 con/214 trang trại, doanh nghiệp, chiếm trên 80,0% tổng đàn heo với phương thức nuôi tiên tiến “hệ thống chuồng lồng, chuồng sàn, hệ thống làm mát và sưởi ấm, hệ thống máng ăn, nước uống tự động”
+ 100% heo nái lai hướng ngoại, 100% heo nuôi thịt là giống heo lai 3-4 máu ngoại đạt chất lượng cao nên có năng suất cao (hệ thống quay vòng nuôi heo thịt đạt trên 2,5 vòng/năm, tăng trưởng bình quân 1 tháng của heo thịt đạt 17,5 kg - 18,5 kg)
+ Số lượng gà nuôi trang trại (276 trang trại) với số lượng chiếm 63,5% tổng đàn.+ Kiểm soát giống giết mổ, tiêm phòng dịch bệnh khá chặt chẽ, có hiệu quả nên chủ động ngăn chặn dịch bệnh
+ Tỷ lệ bò lai Sind chiếm 84,8% tổng đàn
+ Doanh nghiệp nước ngoài đầu tư phát triển chăn nuôi Có 3 công ty với số vốn và giá trị sản xuất chiếm 8,2% so với tổng GTSX nông nghiệp tỉnh Bình Dương
+ Sản lượng thịt hơi các loại bình quân thời kỳ 2001 - 2009 tăng: 13,41%/năm, riêng thịt heo tăng bình quân 15,53%/năm
Tóm lại, Bình Dương là tỉnh có ngành chăn nuôi phát triển mạnh cả về loại hình tổ chức chăn nuôi, phương thức chăn nuôi tiên tiến, giống vật nuôi đạt chất lượng cao và chăn nuôi heo, gà công nghiệp đạt năng suất cao, đảm bảo an toàn dịch bệnh Trong chăn nuôi đã ứng dụng công nghệ cao khá thành công nên chăn nuôi hàng hóa phát triển mạnh.
Trang 36Bảng 14: Diễn biến quy mơ đàn vật nuơi qua các năm
HẠNG MỤC Năm 2005 2006 Năm Năm 2007 2008 Năm Năm 2009 Tăng BQ (%/năm) QUY MÔ ĐÀN (con)
Trong đó : - Cày kéo 7.705 7.049 7.011 5.378 4.328 -13,43
- Bò sữa 3.887 3.983 4.027 3.112 2.351 -11,81
Trong đó : - Heo nái 43.333 44.812 48.909 54.682 52.196 4,76
Gia cầm tồng số 1.720.697 2.022.164 2.057.577 1.963.176 2.406.501 8,75
Gà tổng số 1.651.719 1.939.262 1.957.606 1.820.811 2.303.245 8,67
Trong đó : - Gà đẻ 326.235 331.015 354.327 360.528 404.548 5,53
Vịt tổng số 68.978 82.902 99.971 105.365 103.152 10,58
Trong đó : - Vịt đẻ 10.496 14.193 18.495 21.355 18.567 15,33
SẢN PHẨM CHĂN NUÔI
Thịt hơi các loại (tấn) 34.440,00 37.534,00 48.702,00 54.548,00 58.351,00 14,09
- Thịt trâu 1.157,00 1.287,00 1.342,00 1.415,00 1.255,00 2,05
- Thịt bò 1.373,00 1.462,00 1.528,00 1.769,00 1.618,00 4,19
- Thịt heo 29.187,00 31.756,00 42.598,00 47.862,00 51.261,00 15,12
- Thịt gia cầm 2.502,00 2.785,00 2.987,00 3.317,00 4.093,00 13,09
- Thịt khác (dê, cừu,…) 221,00 244,00 247,00 185,00 124,00 -13,45
Sản lượng sữa (tấn) 8.532,00 8.578,00 10.285,00 11.622,00 9.824,00 3,59 Trứng (1.000 quả) 19.455,00 20.154,00 22.571,00 26.182,00 36.215,00 16,81
Nguờn: Cục Thớng kê tỉnh Bình Dương
+ Đàn Heo: Theo sớ liệu của Cục Thớng kê sau 13 năm tách tỉnh, sớ lượng đàn heo liên tục tăng Năm 1996 tởng đàn heo: 87.133 con, đến năm 2009 tăng lên 363.443 con (gấp 4,17 lần), tớc đợ tăng bình quân (1996 - 2000) ở mức rất cao: 19,7%/năm,
2001 - 2009 đạt: 8,12%/năm
+ Đàn gà: tăng mạnh trong 5 năm (1996 - 2000): 14,27%/năm song do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm (H5N1 cuới năm 2004) nên bình quân 5 năm (2001 - 2005) giảm 5,01%/năm Đến năm 2009 đàn gà đã phục hời với tởng đàn: 2,3 triệu con, tớc đợ tăng đàn (2006 - 2009) là: 8,67%/năm
Trang 37+ Đàn bò tăng không ổn định Năm 2007 số lượng bò nhiều nhất: 47.268 con,
so với năm 2000 tăng 20.140 con, nhưng sau đó giảm đến năm 2009 còn 36.417 con (giảm 10.851 con) do: địa bàn chăn nuôi bò bị thu hẹp, giá tiêu thụ bò thịt và bò sữa tươi giảm và rất không ổn định, …
Trong đó, đàn bò sữa tăng rất mạnh kể từ năm 1996 đến năm 2007, tổng đàn bò sữa năm 1996 chỉ có: 696 con, năm 2007 tăng lên: 4.027 con (tăng 5,79 lần), tốc độ tăng bình quân 5 năm (1996 - 2000) ở mức rất cao: 26,5%/năm, (2001 - 2005) cũng ở mức cao: 16,88%/năm nhưng 3 năm (2007 - 2009) lại giảm nhanh: 11,81%/năm Nguyên nhân giảm là do: chuyển đổi địa bàn chăn nuôi, đồng thời với việc bình tuyển lại chất lượng giống đàn bò sữa, giá thức ăn tăng cao trong khi giá sữa tăng chậm, …
+ Đối với đàn trâu, giảm đáng kể đến năm 2009 chỉ còn: 6.836 con (giảm -12.927 con) đàn vịt cũng biến động do dịch cúm nay đã phục hồi (2009: 103.152 con), đàn dê năm 2006: 6.421 con nay giảm chỉ còn: 3.535 con do chăn nuôi dê ít hiệu quả
- Sản phẩm chính của ngành chăn nuôi:
+ Tổng sản lượng thịt hơi các loại tăng liên tục ở mức cao, năm 1996 chỉ có: 9.141 tấn đến năm 2009 đã đạt 58.351 tấn (gấp 6,38 lần) Tốc độ tăng bình quân 5 năm (1996 - 2000) là: 19,77%/năm, (2001 - 2005): 12,86%/năm và (2006 - 2009): 14,09%/năm Bình quân (2001 - 2009) đạt 13,41%/năm Đây là mức tăng cao so với các tỉnh (TP) trong cả nước
+ Thịt heo hơi có tốc độ tăng cao nhất bình quân thời kỳ 2001 - 2009 đạt: 15,53%/năm Riêng 5 năm (1996 - 2000) tăng rất cao: 25,66%/năm Song đáng lưu ý là trong khi tốc độ tăng tổng đàn heo năm 2009/1996 là: 4,17 lần nhưng sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng tăng gấp 9,14 lần Như vậy, sản lượng thịt heo hơi tăng do tăng số lứa heo nuôi trong năm mà còn do tăng năng suất (tăng số lứa và tăng năng suất đã tăng sản lượng thịt heo hơi cao hơn độ tăng số lượng tổng đàn heo) Đây là hướng phát triển đối với gia tăng khả năng cạnh tranh của chăn nuôi heo ở tỉnh Bình Dương thông qua đổi mới loại hình tổ chức và đưa khoa học công nghệ mới vào phát triển ngành chăn nuôi
+ Giai đoạn 1996 – 2000 sản lượng sữa tươi tăng nhanh (32,28%/năm); giai đoạn 2001 – 2005 tăng chậm hơn (13,34%/năm) và trong 4 năm (2006 – 2009) chỉ còn tăng ở mức 3,59%/năm Năm 2008, sản lượng sữa tươi 11.622 tấn (là năm có sản lượng cao nhất, gấp 8,04 lần năm 1996), nhưng năm 2009 giảm 1.798 tấn xuống còn 9.824 tấn; do đàn bò sữa giảm còn 2.351 con, trong đó cái vắt sữa: 2.146 con
+ Trứng gia cầm đạt cao nhất là năm 2009: 36,2 triệu quả, so với năm 1996 tăng gấp 2,11 lần và so với năm 2000 tăng 8,9 triệu quả
Tóm lại, ngành chăn nuôi tỉnh Bình Dương sau 13 năm tách tỉnh đã đạt được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận, nhất là chăn nuôi heo và gà công nghiệp là 2 loại vật
Trang 38nuôi tạo ra sản phẩm hàng hóa chủ lực Nguyên nhân chính mà chăn nuôi heo và gà công nghiệp ở tỉnh Bình Dương đạt được kết quả cao là do:
Tận dụng được lợi thế về vị trí địa lý (vùng Bắc Bình Dương là vành đai thực phẩm của vùng KTTĐPN, Bình Dương đã ban hành cơ chế chính sách phù hợp, chỉ đạo điều hành tốt thu hút được doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, các chủ trang trại trong và ngoài tỉnh đến đầu tư với số lượng vốn khá lón, dây chuyền công nghệ tiên tiến, tiếp cận được công nghệ của ngành chăn nuôi khu vực và thế giới
Các chủ trang trại, doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư khá đồng bộ phát triển chăn nuôi: chuồng trại, giống, quy trình quản lý chăn nuôi
Sở Nông nghiệp và PTNT, nhất là Chi cục Thú y tỉnh Bình Dương hoạt động rất có hiệu quả
Chúng tôi cho rằng: bài học của việc phát triển ngành chăn nuôi đã tạo nên bước đột phá thành công cần được đúc rút thật sâu sắc để có thể áp dụng vào phát triển ngành trồng trọt tỉnh Bình Dương thời kỳ 2011 - 2020 Đặc biệt là việc hình thành các
mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị, trồng trọt ứng dụng công nghệ cao trong chuyển đổi có cấu cây trồng
II.2.3 Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ nông nghiệp:
Nhìn chung, dịch vụ nông nghiệp ở Bình Dương phát triển chưa tương xứng với
sự phát triển của các ngành sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi) mặc dù giai đoạn 2000 –
2009 tốc độ tăng trưởng bình quân 6,30%/năm; trong đó, các năm từ 2005 – 2009 có tốc độ tăng nhảy vọt 11,94%/năm; song, giá trị sản xuất theo giá hiện hành năm 2009 mới chỉ đạt 430 tỷ đồng và chiếm 5,13% so với tổng GTSX ngành nông nghiệp
Hiện tại, dịch vụ nông nghiệp ở Bình Dương mới chỉ dừng lại ở các dịch vụ buôn bán phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc, thuốc thú y và các điểm buôn bán giống cây trồng vật nuôi Các loại hình dịch vụ khác như làm đất, tưới nước, thu hoạch, vận chuyển vật tư sản phẩm, bảo hiểm cây trồng, vật nuôi, dịch vụ tài chính, tư vấn kỹ thuật, thị trường đầu ra… chưa được phổ biến rộng rãi
Lực lượng lao động tham gia các hoạt động dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn rất mỏng và chưa hội đủ các điều kiện như trình độ chuyên môn sâu rộng, nguồn thông tin đa dạng, đa chiều, được cập nhật thường xuyên, vốn đầu tư, phương tiện hoạt động và đặc biệt là cơ chế hoạt động…
II.3 Đánh giá thực trạng sản xuất lâm nghiệp tỉnh Bình Dương:
- Lâm nghiệp là ngành có giá trị sản xuất đứng thứ hai sau nông nghiệp; giai đoạn
2001 - 2009, tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành là 4,6%/năm; trong đó, trồng và nuôi rừng tăng 6,29%/năm, khai thác gỗ và lâm sản tăng 4,43%/năm và dịch vụ nông nghiệp tăng 4,96%/năm Tính theo giá hiện hành, năm 2009, giá trị sản xuất toàn ngành lâm nghiệp là 108,615 tỷ đồng, chiếm 0,98% giá trị sản xuất toàn khu vực nông, lâm, ngư nghiệp; trong đó, khai thác gỗ và lâm sản chiếm 70,40% giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp, dịch vụ lâm nghiệp chiếm, 23,61% trồng và nuôi rừng chiếm 5,99%
Trang 39Theo báo cáo kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bình Dương giai đoạn
2008 – 2020 đã được UBND tỉnh phê duyêt tại Quyết định số 418/QĐ –UBND ngày 17/2/2009, hiện trạng và cơ cấu các loại rừng sau khi rà soát như sau:
Bảng 15: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp năm 2009
Số
TT Loại rùng, đất rừng Tổng cộng
Lâm trường Phú Bình
BQL rừng Tân Uyên
UBND huyện Tân Uyên
BQLRPH Núi Cậu - D.Tiếng
Rừng Kiến An Đất lâm nghiệp 19.014,00 8.568,90 5.959,20 216,60 4.023,90 245,40
1 Rừng tự nhiên 1.147,50 385,90 - - 698,90 62,70
2 Rừng trồng 16.074,73 7.901,93 5.328,90 216,60 2.535,80 91,50
Có trữ lượng 3.177,40 1.224,80 1.952,60 - - - Chưa có trữ lượng 5.081,48 3.122,28 1.204,30 216,60 504,00 34,30 Cây CN và CAQ 7.815,85 3.554,85 2.172,00 - 2.031,80 57,20
C Rừng sản xuất 14.990,10 8.568,90 5.959,20 216,60 - 245,40
1 Rừng tự nhiên 448,60 385,90 - - - 62,70
2 Rừng trồng 13.538,93 7.901,93 5.328,90 216,60 - 91,50
Có trữ lượng 3.177,40 1.224,80 1.952,60 - - - Chưa có trữ lượng 4.577,48 3.122,28 1.204,30 216,60 - 34,30 Cây CN và CAQ 5.784,05 3.554,85 2.172,00 - - 57,20
Trang 40Số
TT Loại rùng, đất rừng Tổng cộng
Lâm trường Phú Bình
BQL rừng Tân Uyên
UBND huyện Tân Uyên
BQLRPH Núi Cậu - D.Tiếng
Rừng Kiến An
XDCB 356,60 176,80 179,80 - - -
Nguồn : Báo cáo rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bình Dương
Như vậy, tính đến năm 2009, tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh là 19.014 ha; trong đó:
- Chia theo hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp
+ Đất có rừng: 17.222,23 ha, chiếm 90,57% diện tích đất lâm nghiệp; trong đó, rừng tự nhiên 1.147,5 ha, chiếm 6,66% diện tích đất có rừng; rừng trồng 16.074,73 ha chiếm 93,33 % diện tích đất có rừng; (riêng trong đất rừng trồng có 3.177,4 ha là rừng
có trữ lượng, chiếm 19,76% diện tích rừng trồng; 7.815,85ha đất trồng các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả, chiếm 63,65% diện tích rừng trồng; còn lại 5.081,48ha là đất rừng chưa có trữ lượng, chiếm 31,61% diện tích rừng trồng)
+ Đất chưa có rừng: 887,27 ha chiếm 4,66% diện tích đất lâm nghiệp; Đất chưa
có rừng được chia ra 3 trạng thái: trạng thái cỏ, lau lách (Ia) 95,47 ha chiếm 10,76%; trạng thái cây bụi rải rác (Ib) 501,8ha, chiếm 56,56% và trạng thái gỗ tái sinh nhiều (Ic) 290ha, chiếm 32,68% Đây là đối tượng cần cải tạo hoặc trồng mới rừng
+ Đất khác: 904,5ha, chiếm 4,75% diện tích đất lâm nghiệp; Trong đó có đất trồng các loại cây nông nghiệp khác 547,9 ha, chiếm 60,57 % diện tích đất khác; đường xá và sông suối… 356,6 ha, chiếm 39,42%
- Chia theo 3 loại rừng:
+ Rừng phòng hộ: 4.023,9ha, chiếm 21,16% diện tích đất lâm nghiệp Trong
đó, đất có rừng 3.234,7ha (rừng tự nhiên 698,9ha, rừng trồng 2.535,8ha); đất chưa có rừng 783ha (trạng thái Ia = 0ha; Ib = 493,2 ha; Ic = 289,8ha) và đất khác 6,2 ha
+ Rừng sản xuất: 14.990,1 ha, chiếm 78,84% diện tích đất lâm nghiệp Trong
đó, đất có rừng 13.987,53ha (rừng tự nhiên 448,6ha, rừng trồng 13.538,93ha); đất chưa
có rừng 104,27ha (trạng thái Ia = 95,47ha; Ib = 8,8 ha; Ic = 0ha) và đất khác 898,3 ha
- Chia theo chủ quản lý rừng:
Bình): 8.568,9 ha (Rừng sản xuất)
+ Ban quản lý rừng phòng hộ núi Cậu – Dầu Tiếng: 4.269,3ha (Rừng phòng hộ; trong đó có 245,4 ha rừng Kiến An)
+ Ban quản lý rừng Tân Uyên: 5.959,2 ha (Rừng sản xuất)
+ UBND huyện Tân Uyên: 216,6 ha (Rừng sản xuất)
- Chia theo đơn vị hành chính: Huyện Phú Giáo: 8.568,9 ha Huyện Dầu
Tiếng: 4.269,3 ha Huyện Tân Uyên: 6.175,8 ha