Như các đồng chí đã biết, hợp tác quốc tế về biển trong Luật biển Việt Nam, trước hết, là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế và đường lối đối ngoại của Đảng ta. Thật vậy, Trong toàn bộ nội dung phong phú của tư tưởng Hồ Chí Minh, những tư tưởng về ngoại giaohợp tác quốc tế nói chung chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Người cho rằng: “Ngoại giao là một mặt trận”, và phải được tiến hành bằng con đường ngoại giao “nhân dân” chứ không phải kiểu “ngoại giao pháo hạm”, “ngoại giao áp đặt” như một số nước lớn đã từng tiến hành. Với quan điểm đó, Người luôn chủ trương xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng, đó là sách lược để triệt tiêu cơ sở, điều kiện nảy sinh các vi phạm về chủ quyền biên giới của nhau, góp phần xây dựng “phên dậu từ xa”.
Trang 1Đề cương HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ BIỂN TRONG ĐIỀU 6 CỦA LUẬT
BIỂN VIỆT NAM NĂM 2012 (Dành cho Báo cáo viên Pháp luật)
A ĐẶT VẤN ĐỀ Kính thưa các đồng chí!
Ngày 21 tháng 6 năm 2012 Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật biển Việt Nam và ngày 02 tháng 7 năm 2012 Chủ tịch nước ký Lệnh số 16/2012/L-CTN công bố Luật biển Việt Nam có hiệu lực
từ ngày 01/01/2013 Việc Quốc hội thông qua Luật biển Việt Nam là một
“mốc son” có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc hiện nay
Luật biển gồm 7 chương, 55 điều, đề cập đến nhiều nội dung; trong thêi gian 30 phót h«m nay, t«i chØ ®i s©u lµm râ néi dung với các đồng chí nội dung tại Điều 6, đó là “Hợp tác quốc tế về Biển”
B BỐ CỤC Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn trong hợp tác quốc tế về biển Phần 2: Nội dung hợp tác quốc tế về biển
Phần 3: Một số định hướng tuyên truyền.
C NỘI DUNG PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN 1.Cơ sở lý luận trong hợp tác quốc tế về biển:
Như các đồng chí đã biết, hợp tác quốc tế về biển trong Luật biển
Việt Nam, trước hết, là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về
hợp tác quốc tế và đường lối đối ngoại của Đảng ta
Thật vậy, Trong toàn bộ nội dung phong phú của tư tưởng Hồ Chí Minh, những tư tưởng về ngoại giao-hợp tác quốc tế nói chung chiếm một
vị trí vô cùng quan trọng Người cho rằng: “Ngoại giao là một mặt trận”,
và phải được tiến hành bằng con đường ngoại giao “nhân dân” chứ không phải kiểu “ngoại giao pháo hạm”, “ngoại giao áp đặt” như một số nước
lớn đã từng tiến hành Với quan điểm đó, Người luôn chủ trương xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng, đó là sách lược để triệt tiêu cơ sở, điều kiện nảy sinh các vi phạm về chủ quyền biên giới của
nhau, góp phần xây dựng “phên dậu từ xa”
Tháng 3-1961, Bác Hồ đến thăm Bộ đội Hải quân lần thứ hai Sau khi
nghe lãnh đạo đơn vị báo cáo, Bác căn dặn: “Các chú phải tìm ra cách
Trang 2bảo vệ đảo sao cho phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển, hải đảo của ta, và vũ khí trang bị mình có Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó” Đó cũng chính là quan điểm cốt lõi trong vấn đề
hợp tác quốc tế về Biển đảo Tức là, hợp tác phải đi đôi với bảo vệ, hợp tác phải trên cơ sở hòa bình ổn định, giữ vững chủ quyền…
Hai là, Trong quá trình lãnh đạo đất nước hội nhập quốc tế chúng ta
thấy, Đảng ta rất quan tâm đến hợp tác quốc tế về Biển đảo, Tháng 5/1993,
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 03 (khóa VI) đã nhận định: “tiến ra biển trở thành một hướng phát triển của loài người”
Đến Đại hội IX của Đảng Đảng ta khẳng định: “phải phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao thúc đẩy các vùng kinh tế khác và phải phát triển kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển”.
Và đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 về chiến
lược biển Việt Nam đến năm 2020 cũng đưa ra quan điểm chỉ đạo: “khai thác mọi nguồn lực để phát triển, tích cực mở cửa, phát huy có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc chủ quyền Biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam ” Như
vậy, hợp tác quốc tế về biển được xem là một đối sách quan trọng, một chiến lược quan trọng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
2 Cơ sở thực tiễn trong hợp tác quốc tế về biển
Thực tiễn cho thấy, từ khi thành lập đến nay Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến hợp tác quốc tế về biển, nhằm khai thác, bảo vệ tài nguyên biển; đồng thời để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc
Việc Quốc Hội Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 Đã giúp cho Việt Nam nhận được sự ủng hộ rất lớn của bạn bè quốc tế khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển,
và coi đó như là một thứ “vũ khí mềm” vô cùng quan trọng mà một nước nhỏ như Việt Nam cần phải tranh thủ để tạo ra khung pháp lý vững chắc cho tiến trình xây dựng Luật biển của chúng ta
Tại Mátxcơva ngày 19-6-1981 Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên bang Xôviết đã ký Hiệp định thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Dầu khí Việt - Xônăm
Trang 31981) và Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro đã ra đời từ đó và đến nay tập đoàn Vietsovpetro đã có nhiều đóng góp lớn trong phát triển kinh tế đất nước
Trong tiến trình từng bước hội nhập quốc tế, chúng ta cũng đang hợp tác với rất nhiều quốc gia trên lĩnh vực khai thác dầu khí ở Biển đông, như Canada, Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore, Anh Quốc…Đặc biệt gần đây, ngày 26-4, Tổng công ty Dầu khí VN và tổ hợp các nhà thầu gồm Công ty Thăm
dò khai thác dầu khí (VN) - Công ty Talisman (Canada) đã ký các thỏa thuận hợp đồng khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam
Các hợp tác trên lĩnh vực bảo vệ môi trường biển, khai thác nguồn lợi hải sản, bảo đảm hàng hải… cũng đạt được nhiều kết quả cao
Năm 1982 Việt Nam và Campuchia đã ký Hiệp định về vùng nước, trong đó xác định rõ chủ quyền đảo của mỗi bên theo một đường mà toàn quyền Đông Dương Jules Brevie đề xuất năm 1939, thiết lập một vùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau kiểm soát và quản lý, các hoạt động đánh bắt hải sản được thực hiện theo tập quán cũ và mọi hoạt động liên quan đến thăm dò dầu khí trong vùng nước lịch sử phải có ý kiến nhất trí của bên kia mới được tiến hành và năm 1983 tiếp tục ký hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới
Ngày 05/6/1992 tại Kuala Lampur, Việt Nam và Malaixia đã ký bản thỏa thuận (MOU) về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn Ngày 09/8/1997 Bộ trưởng Ngoại giao nước ta và Thái Lan ký Hiệp định về biên giới biển Việt Nam – Thái Lan, chấm dứt 1/4 thế kỷ tranh cãi giữa hai nước về giải thích và áp dụng luật biển trong phân định vùng chồng lấn Việt Nam – Thái Lan
Năm 2000 Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ, Hiệp định
về hợp tác nghề cá trong vịnh giữa hai nước
Ngày 26/6/2003 Việt Nam và Inđônêxia đã ký hiệp định về phân định thềm lục địa giữa hai nước nhân dịp Tổng thống Inđônêxia sang thăm Việt Nam
Chúng ta đã ký kết với nhiều đối tác nước ngoài trong xây dựng cảng biển, thăm dò khai thác dầu khí…Như hợp tác với Ấn Độ thăm dò khai thác dầu khí ở các vùng biển ngoài khơi Nam Trung Bộ, hợp tác với Nga đang khai thác các mỏ dầu khí đốt vùng biển phía Nam, hợp tác với một số nước Nhật Bản, Nga, Ấn Độ… xây dựng thành công Nhà máy lọc dầu Dung Quất, hợp tác với Hà Lan đóng tàu cỡ lớn vươn ra Biển…
Trang 4Bên cạnh việc ký kết các hiệp định, Việt Nam hoan nghênh và tán thành các khuyến nghị của Hội nghị khu vực được tổ chức tại Băng Đung
(In-đô-nê-xi-a) năm 1991 về Biển Đông, Đó là, “Mọi tranh chấp về lãnh
thổ, quyền tài phán ở Biển Đông cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình thông qua thương lượng, đối thoại; các bên tranh chấp cần tự kiềm chế không làm cho tình hình phức tạp thêm; xem xét các lĩnh vực có thể hợp tác không làm tổn hại đến các đòi hỏi về lãnh thổ và quyền tài phán ” Trong những năm qua, vấn đề hợp tác quốc tế về biển đảo đã thật sự
đi vào chiều sâu và có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực Thành tựu mà chúng ta đạt được là vô cùng to lớn, hàng năm thu nhập từ hợp tác kinh tế biển (khai thác khoáng sản, đánh bắt cá, hoạt động du lịch ) đạt tới 30% GDP/năm Phải nói rằng thành quả trên các lĩnh vực hợp tác về biển là rất lớn
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, thì tình hình Biển Đông cũng không phải là khu vực phẳng lặng Cái không gian và địa thế Biển Đông vốn hàng ngàn năm yên bình đã có những đợt sóng trào dâng tưởng chừng như những cơn hung thần dữ dội muốn nuốt chửng các quốc gia nhỏ bé trong khu vực trong đó có Việt Nam chúng ta Sự gia tăng căng thẳng về tranh chấp trên Biển Đông có chiều hướng phức tạp, bất chấp những cơ sở pháp lý quốc tế và tính lịch sử quốc gia Đó là, Ngày 6/5/2009, Trung Quốc trình tấm bản đồ 9 đường gián đoạn (đường lưỡi bò) trên biển Đông lên Tổng thư ký Liên hợp quốc Chỉ sau đó một ngày, tức ngày 7/5/2009, Việt Nam đã lên tiếng phản đổi, bác bỏ đường lưỡi bò của Trung Quốc Không chỉ đối với Việt nam mà cả một số nước ASEAN như Indonesia, Philippines…cũng phản đối kịch liệt
Đứng trước những thách thức đó, việc ra đời Luật biển Việt Nam là một đòi hỏi khách quan, là nguyện vọng tha thiết của nhân dân, các cơ quan tổ chức trong và ngoài nước có được những khung pháp lý hoàn chỉnh để hợp tác làm ăn chính đáng trên vùng biển thuộc chủ quyền của chúng ta, tạo ra các cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc
PHẦN 2 HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ BIỂN
1 Trước hết, quan điểm của Đảng ta khẳng định: Nhà nước đẩy
mạnh hợp tác quốc tế về biển với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên cơ sở pháp luật quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, các bên cùng có lợi.
Điều đó đã khẳng định chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước
ta là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” và xác định rõ cơ sở của sự
Trang 5hợp tác là giải quyết các tranh chấp liên quan biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước Luật Biển năm 1982
Tại khoản 2, điều 2 của chương I, Luật biển Việt Nam cũng quy định: nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác so với các quy định của Luật biển Việt Nam thì áp dụng các quy định của Công ước luật biển 1982 Điều này, đã thể hiện nhất quán quan điểm giải quyết tranh chấp biển đảo của Nhà nước ta là tuân thủ các điều khoản của luật pháp quốc tế, cụ thể là hiến chương Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 Trên thực tế, chúng ta đang kiên trì thực hiện chủ trương này và cho đến nay đã giải quyết được một số tranh chấp với các nước láng giềng và khẳng định vấn đề hợp tác quốc tế về giải quyết tranh chấp trên biển không chỉ giữ vững độc lập chủ quyền mà còn tạo ra sự ổn định bền vững cho từng quốc gia tham gia hợp tác
2 Nội dung hợp tác quốc tế về biển bao gồm:
Bên cạnh những chế định về nguyên tắc hợp tác quốc tế về biển thì luật biển Việt Nam cũng xác định 7 nội dung có liên quan đến hợp tác quốc tế về biển
Một là, Điều tra, nghiên cứu biển, đại dương; ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
Có thể nói, với đường bờ biển dài hơn 3.260km cùng hàng nghìn hòn đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí địa chính trị hết sức quan trọng tạo ra tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ khí đốt.… với những tiềm năng, lợi thế to lớn về kinh tế biển như vậy, nếu chúng ta có những chủ trương hợp tác ứng dụng tiến bộ KHKT vào khai thác, đầu tư trang thiết bị khai thác có hiệu quả sẽ mang lại những đóng góp to lớn cho đất nước từ kinh tế biển
Hai là, Ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống và cảnh báo thiên tai.
Nội dung này chúng ta thấy rằng: Hàng năm chúng ta có tới hàng chục cơn bão đổ bộ vào đất liền từ biển, hiện tượng nước biển dâng cao do các tảng băng ở Bắc cực dãn ra…gây ra sóng thần, lũ lụt, bão tố Trên biển hàng ngày chúng ta có hàng trăm nghìn tàu bè hoạt động khai thác đánh bắt hải sản và bảo vệ vùng biển…thì việc ứng phó, phòng chống và cảnh báo thiên tai là hết sức quan trọng, nếu không có kế hoạch, biện pháp ứng phó, phòng chống, cảnh báo sớm thì hậu quả sẽ không lường trước được
Trang 6Chúng ta cũng đã thấy vụ động đất và sóng thần lịch sử ở Nhật Bản ngày 11/3/2011 làm ba tỉnh miền đông bắc nước Nhật và nhiều tỉnh lân cận chịu thiệt hại nặng nề với 16.000 người chết và hàng nghìn người mất tích,
và hiện nay, ước tính vẫn còn khoảng 300.000 người sống sót phải sống trong các khu nhà tạm Chính phủ Nhật Bản dự tính những nỗ lực xây dựng lại có thể phải mất thêm 10 năm nữa.…
Còn ở Việt Nam theo số liệu báo cáo của Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương và Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn tại Hội nghị trực tuyến Tổng kết công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn năm
2012, thì : Năm 2012 có 10 cơn bão và 2 áp thấp nhiệt đới trên biển Đông, trong đó có 4 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta, gây thiệt hại nặng
nề về người và tài sản Thiên tai đã làm 258 người chết và mất tích, hơn
6200 ngôi nhà bị đổ, sập, trôi, 408.000ha lúa và hoa màu bị thiệt hại, sạt lở hơn 3 triệu m3 đất đá… Ước tính tổng thiệt hại về vật chất khoảng 16.000
tỷ đồng tương đương 8 tỷ đô la Từ những hậu quả trên thì ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống và cảnh báo thiên tai có ý nghĩa hết sức quan trọng
Xin báo cáo với các đồng chí, đứng trước tình hình đó chỉ trước mấy ngày Quốc Hội thông qua Luật Biển thì Bộ Chính Trị cũng đã có
Nghị Quyết số 24-NQ/TW “ về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” đã được Hội nghị
TW 7 (khóa XI) thông qua Đây là sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời với quyết tâm cao của Đảng ta nhằm phòng tránh tối đa hậu quả thiên tai
Ba là, Bảo vệ đa dạng sinh học biển, hệ sinh thái biển.
Biển chúng ta có hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau, có nhiều loài động vật biển quý, hiếm; hệ sinh thái rừng ngập mặn chiếm tới 210.000 ha rất đa dạng Tuy nhiên, sự
ô nhiêm môi trường biển diễn ra mau lẹ và ngày càng nghiêm trọng, việc đánh bắt cá, khai thác tài nguyên theo kiểu tận diệt, ồ ạt…đã tạo nên những nguy cơ suy thoái môi trường biển nghiêm trọng Do vậy, không chỉ riêng
cơ quan chuyên trách mà phải nói đến toàn dân, nhất là những tổ chức, cá nhân hoạt động trên biển phải chấp hành tốt và phải có những quy định cụ thể dưới Luật thì mới bảo vệ tốt đa dạng sinh học biển và hệ sinh thái biển như Luật đã đề ra
Bốn là, Phòng chống ô nhiễm môi trường biển, xử lý chất thải từ hoạt động kinh tế biển, ứng phó sự cố tràn dầu:
Lưu lượng dầu chuyên chở qua biển đông với những khối lượng khổng lồ, có thể tính đến hàng chục tỷ tấn/năm, trong đó Trung Quốc là quốc gia vận chuyển số lượng dầu qua Biển Đông lớn nhất thế giới, nếu
Trang 7xẩy ra tràn dầu sẽ có nguy cơ ô nhiễm rất lớn đến môi trường biển Theo thống kê của Tạp chí thông tin pháp luật- xã hội của Chính phủ trong những năm gần đây đã có tới 14 vụ tràn dầu trên vùng biển Việt Nam nhưng sô tiền bồi thường thiệt hại cũng chỉ tới 5.501USD và 886.500.000đồng, số tiền rất nhỏ so với kinh phí khắc phục Mới đây, ngày
1/3/1013 Thủ tướng chính phủ đã ban hành quy chế “ Hoạt động ứng phó
sự cố tràn dầu trên biển Việt Nam”, được cho là có tính khả thi nhất Báo chí, nhiều người cho đây là “cơn mưa mùa hạ” trong tình trạng “thiếu luật nghiêm trọng” về bảo vệ tài nguyên “biển bạc” trong tình hình hiện
nay Song, khi Luật biển ra đời cùng với quy chế này thì việc thực thi phòng chống ô nhiễm môi trường biển, xử lý chất thải từ hoạt động kinh tế biển, ứng phó sự cố tràn dầu trên biển sẽ có nhiều thuận lợi…
Năm là, Tìm kiếm, cứu nạn trên biển.
Tìm kiếm, cứu nạn trên biển là một hoạt động đặc thù, khó khăn, đòi hỏi phải có sự hợp tác của nhiều quốc gia Như vụ chìm tàu biển Vinalines Queen ngày 25/12/2011 tại vùng biển gần Philippines khiến 22 thuyền viên mất tích, mặc dù đã hợp tác với Nhật Bản, Philippines tìm kiếm nhưng hết sức khó khăn, duy nhất 1 người sống sót Và qua đây, có thể thấy, việc tăng cường hợp tác tìm kiếm cứu nạn trên biển là hết sức cần thiết, nhất là tăng cường hợp tác nội khối ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc…với nhiều lực lượng tham gia thì mói giảm được các hậu quả tai nạn rủi ro trên biển
Vừa qua, ngày 19/6/2013 Học Viện Ngoại Giao đã phói hợp với
ASEAN, Trung Quốc tổ chức Hội thảo “ Tăng cường hợp tác ASEAN – Trung Quốc trong tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ đối với người và tàu thuyền
đi biển gặp nạn trên Biển Đông” đã thu hút nhiều đại biểu, quan chức các
nước này tham gia hội thảo bàn về hợp tác nhân đạo, chính sách hợp tác, biện pháp phối hợp tìm kiếm, cứu hộ khi cần thiết cũng như xây dựng lòng tin chiến lượng trong hợp tác về biển Qua đây, đã tăng cường sự tin cậy hiểu biết lẫn nhau, góp phần củng cố môi trường ổn định và lòng tin chiến lược trong bối cảnh gia tăng tranh chấp chủ quyền Biển đảo ở biển đông hiện nay…
Sáu là, Phòng, chống tội phạm trên biển.
Có thể nói, hoạt động này là một yêu cầu bức thiết hiện nay, tình trạng cướp biển, tội phạm trên biển…luôn là nỗi ám ảnh của các ngư dân
và các Tổ chức, hoạt động tinh vi có tổ chức, thậm chí hoạt động xuyên quốc gia trên biển gây bức xúc trong dư luận, bất ổn an ninh trên biển Vấn
đề này, Luật cũng đã đề cập và quy định cụ thể đến các tổ chức liên quan như Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quân, dân quân biển với những chức năng nhiệm vụ thực thi hiệu quả pháp luật trên biển…
Trang 8Bảy là, Khai thác bền vững tài nguyên biển, phát triển du lịch biển.
Tài nguyên và du lịch biển là hai vị trí, tiểm năng kinh tế trọng yếu của đất nước hàng năm mang lại tới 30%GDP của thu nhập quốc dân Nếu chúng ta có cơ chế, chế tài và tổ chức hoạt động có hiệu quả trên hai lĩnh vực này thì hiệu quả kinh tế sẽ rất cao
- Như chúng ta đã đề cập Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ khí đốt Trữ lượng dầu khí dự báo tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác từ 4 đến 5 tỷ tấn Trữ lượng khí dự báo khoảng 1.000 tỷ m3 Về nguồn lợi hải sản trong vùng biển nước ta, theo Viện Hải dương học Nha Trang đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú, trong đó có các loài động vật đáy, cá (trong đó có 130 loài cá có giá trị kinh tế), rong biển, động vật phù sa, thực vật phù du và tôm biển… Trữ lượng cá biển ước tính trong khoảng từ 3,1 đến 4,1 triệu tấn, khả năng khai thác từ 1,4
đến 1,6 triệu tấn Ngoài ra, có Tytan, băng cháy, cát thủy tinh, muối…
- Đặc biệt, chúng ta có Di sản thiên nhiên Hạ Long, Phong Nha, Bích Động, Non nước… Các di tích lịch sử và văn hóa gần biển, ven biển như:
Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm… có thể phát triển và đa dạng các
loại hình du lịch hiện đại; nhiều du khách khi lên máy bay rời Việt Nam
đều thốt lên: “không thể tả hết, hẹn gặp lại lần sau, chào Việt Nam…” và xét ở tầm chiến lược, nếu chúng ta có các chính sách quảng bá tốt, đầu tư
có trọng điểm, quản lý chặt chẽ các hoạt động, hợp tác quốc tế…trong khai thác tài nguyên và phát triển du lịch theo luật thì chắc chắn đây là hai lĩnh
vực “xương sống” phát triển kinh tế của nước ta.
PHẦN 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TUYÊN TRUYỀN
Thưa toàn thể các đồng chí
Vươn ra biển, khai thác và bảo vệ biển là sự lựa chọn có tính chất sống còn của dân tộc Việt Nam Để phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam XHCN
Trước hết, Mỗi một cán bộ, chiến sỹ chúng ta phải quán triệt sâu sắc
các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết vấn đề trên Biển Đông, nhất là các nội dung quan hệ hợp tác về Biển được quy định trong Luật Biển Việt Nam
Trang 9Hai là, Tớch cực học tập rốn luyện nõng cao bản lĩnh người quõn
nhõn Cỏch mạng; thuần thục cỏc phương ỏn SSCĐ, nờu cao tinh thần huấn luyện giỏi, trỏch nhiệm cao, xõy dựng ý chớ quyết tõm sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Khụng để mơ hồ mất cảnh giỏc trong giải quyết cỏc tranh chấp lónh thổ trờn biển, hợp tỏc, hũa nhập nhưng khụng hũa tan
Ba là, Với phơng châm: tăng bạn, bớt thù, mỗi cán bộ, chiến sỹ
chúng ta phải có trách nhiệm trong việc giữ vững môi trờng hoà bình, để xây dựng đất nớc ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” Kiên quyết đấu tranh,
đập tan những âm mu, thủ đoạn chống phá cách mạng nớc ta của các thế lực thù địch Chống các quan điểm nhằm gây chia rẽ mối đoàn kết hữu nghị, hợp tác của Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta với các nớc trong khu vực
và trên thế giới (Nhất là mối quan hệ Việt - Trung hiện nay, chúng ta phải chống quan điểm: nên hợp tác với Mỹ để chống ảnh hởng của TQ, nên hợp tác với Trung Quốc để quay lng lại với Mỹ Cả hai nhận thức này không
đúng với quan điểm của Đảng ta: "Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế") Từ đó củng cố nhận thức giữ vững lập trờng, quan điểm của mình và khẳng định: Việc “tích cực, chủ động” quan hệ hợp tác với các nớc trên thế giới, nhất là hợp tác về biển có vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Nội dung tuyờn truyền về hợp tỏc quốc tế về biển trong Luật biển Việt Nam của tụi đến đõy là kết thỳc Kớnh chỳc cỏc đồng chớ hạnh phỳc và thành đạt.
Xin chõn thành cảm ơn cỏc đồng chớ đó lăng nghe !