trường đại học nông lâm CHÁNG VĂN CƯỜNG “NGHIấN CỨU PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA LOÀI CÂY SA MỘC DẦU CUNNINGHAMIA KONISHII HAYATATẠI KHU BẢO TỒN TÂY CễN LĨNH -TỈNH HÀ GIANG” kh
Trang 1trường đại học nông lâm
CHÁNG VĂN CƯỜNG
“NGHIấN CỨU PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA LOÀI
CÂY SA MỘC DẦU (CUNNINGHAMIA KONISHII HAYATA)TẠI
KHU BẢO TỒN TÂY CễN LĨNH -TỈNH HÀ GIANG”
khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyờn ngành : Quản lý tài nguyờn rừng
Trang 2trường đại học nông lâm
CHÁNG VĂN CƯỜNG
“NGHIấN CỨU PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA LOÀI
CÂY SA MỘC DẦU (CUNNINGHAMIA KONISHII HAYATA)TẠI
KHU BẢO TỒN TÂY CễN LĨNH -TỈNH HÀ GIANG”
khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyờn ngành : Quản lý tài nguyờn rừng
Thỏi Nguyờn, 2014
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp có vai trò rất quan trọng đối với mỗi sinh viên sau quá trình học tập tại trường.Đây là thời gian để mỗi sinh viên làm quen, cọ xát với những thực tế mà sau này mình ra trường sẽ làm,đồng thời qua thực tập giúp cho sinh viên hệ thống lại những kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn nghiên cứu,từ đó nâng cao năng lực của bản thân nhằm phục vụ tốt cho công việc
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc
dầu (Cunninghamia konishii Hayata)tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh -tỉnh
Hà Giang”
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận đượcsự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp,đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn T S Hồ Ngọc Sơn.Cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của Hạt Kiểm Lâm huyện Hoàng Su Phì
và Hạt Kiểm lâm Rừng Đặc Dụng Tây Côn Lĩnh - tỉnh Hà Giang cùng các bạn bè đồng nghiệp.Nhân dịp này,tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến tất
cả mọi người đã tận tình giúp đỡ tôi
Mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành khóa luận,nhưng do thời gian
và kiến thức cá nhân còn nhiều hạn chế.Vì vậy,khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót.Tôi kính mong được sự hướng dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy,cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Cháng Văn Cường
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Mục đích nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa học tập 2
1.4.2 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 3
1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 10
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 10
2.3.1.1 Vị trí địa lý 10
2.3.1.2 Địa hình 11
2.3.2 Khí hậu, thủy văn 11
2.3.2.1 Khí hậu 11
2.3.2.2 Thủy văn 12
2.3.3 Giao thông 12
2.3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 12
2.3.5 Tài nguyên rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh 13
2.3.5.1 Hệ thực vật 13
2.3.5.2 Hệ động vật 13
Phần 3:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 15
Trang 63.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 15
3.3 Nội dung nghiên cứu 15
3.3.1 Xác định phân bố của SMD tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh (theo địa lý, độ cao) 15
3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm lâm học của SMD 15
3.3.3 Nghiên cứu giá trị sử dụng Sa mộc dầu 15
3.3.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển SMD 15
3.4 Phương pháp nghiên cứu 16
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 16
3.4.2 Công tác chuẩn bị 16
3.4.3 Công tác ngoại nghiệp 17
Phần 4:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Đặc điểm phân bố của loài Sa mộc dầu 20
4.1.1 Đặc điểm cấu trúc mật độ 20
4.1.2 Cấu trúc tổ thành 21
4.1.3 Cấu trúc tầng thứ 31
4.1.4 Mức độ thường gặp và mức độ thân thuộc 31
4.2 Đặc điểm lâm học loài Sa mộc dầu 32
4.2.1 Đặc điểm hình thái 32
4.2.2 Đặc điểm vật hậu 33
4.2.3 Đặc điểm sinh thái hoàn cảnh rừng nơi có Sa mộc dầu phân bố tự nhiên 33
4.2.4 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh 34
Trang 74.3 Giá trị sử dụng loài cây Sa mộc dầu 35
4.4 Một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu 35
4.4.1 Nhóm các giải pháp về kỹ thuật 35
4.4.2 Nhóm các giải pháp về chính sách pháp luật 35
4.4.3 Giải pháp về kinh tế - xã hội 36
Phần 5:KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Tồn tại 38
5.3 Kiến nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
I Tài liệu tiếng Việt 40
II Tài liệu tiếng Anh 41
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 4.1: Khu vực phân bố của Sa mộc dầu tại khu bảo tồnTây Côn Lĩnh 20 Bảng 4.2: Thống kê diện tích phân bố của loài cây Sa mộc dầu ở
các khu vực 21 Bảng 4.3: Hệ số tổ thành tầng cây cao tại OTC 1 tuyến xã Túng Sán(Độ cao
900-1000m) 21 Bảng 4.4: Hệ số tổ thành tầng cây cao nơi có Sa mộc dầu phân bố tại OTC 2
tuyến xã Túng Sán (Độ cao 1000-1100m) 22 Bảng 4.5: Hệ số tổ thành tầng cây cao nơi có Sa mộc dầu phân bố tại OTC 3
tuyến xã Túng Sán(Độ cao 1100-1200m) 23 Bảng 4.6: Hệ số tổ thành tầng cây caotại OTC 4 tuyến xã Tả Sử Chóong (Độ
cao 900-1000m) 24 Bảng 4.7: Hệ số tổ thành tầng cây cao nơi có Sa mộc dầu phân bố tại OTC 5
thuộc tuyến xã Tả Sử Chóong (Độ cao 1000-1100) 25 Bảng 4.8: Hệ số tổ thành tầng cây cao tại OTC 6 tuyến xã Tả Sử Chóong (Độ
cao 1100-1200m) 26 Bảng 4.9: Hệ số tổ thành tầng cây cao nơi có Sa mộc dầu phân bố tại OTC 7
thuộc tuyến 3 xã Bản Nhùng (Độ cao 900-1000m) 27 Bảng 4.10: Hệ số tổ thành tầng cây cao tại OTC 8 tuyến xã Bản Nhùng (Độ
cao 1000-1100m) 28 Bảng 4.11: Hệ số tổ thành tầng cây cao tại OTC 9 tuyến xã Bản Nhùng
(Độ cao 1100-1200m) 29 Bảng 4.12: Tổng hợp kết quả điều tra Sa mộc dầu theo tuyến tại khu vực
nghiên cứu 30
Trang 10bị giảm đi nhanh chóng, chất lượng bị suy thoái và tạo nên những vùng đất trống đồi trọc ngày càng rộng lớn gây ra ô nhiễm nguồn nước, suy thoái môi trường sinh thái
Bảo vệ và phát triển rừng có vai trò rất quan trọng trong việc chống biến đổi khí hậu và hạn chế các thiên tai của tự nhiên.Bên cạnh vấn đề trồng rừng để phủ xanh đất trống đồi núi trọc Chúng ta cũng cần chú ý đến việc bảo tồn, khai thác và phát triển các nguồn gen quý hiếm Sa mộc dầu là nguồn gen quý hiếm được phân hạng ở cấp VU A1adC1 trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và xếp nhóm 2 trong danh lục thực vật rừng động vật rừng nguy cấp quý hiếm của Nghị định số 32/2006/ND/CP của Chính phủ Loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất cao Gỗ Sa
mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) là loại bền, ít mối mọt, có hoa vân,
màu sắc rất đẹp và rất được ưa dùng để làm các đồ thủ công mỹ nghệ, làm các vật dụng trong gia đình, làm nhà nên đang là đối tượng bị khai thác mạnh và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên nếu không có biện pháp
Trang 11bảo tồn kịp thời Qua các kết quả điều tra, nghiên cứu về đa dạng thực vật đã khẳng định, Sa mộc dầu có phân bố ở một số vùng thuộc khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang Tuy nhiên, các thông tin, các dẫn liệu khoa học và các nghiên cứu chuyên sâu về loài cây quý hiếm này chưa có nhiều Để góp phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát triển loài cây này, được sự nhất trí của khoa Lâm nghiệp, ban giám hiệu nhà trường, thầy giáo hướng dẫn, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu
(Cunninghamia konishii Hayata) tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh - tỉnh Hà Giang”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu
+ Các giải pháp về kinh tế, xã hội và chính sách của nhà nước
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu đề tài
1.4.1 Ý nghĩa học tập
- Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa to lớn trong việc áp dụng lý thuyết
đã học vào thực tiễn, đây là một phương pháp hệ thống củng cố những kiến thức đã học trong mấy năm qua
Trang 12- Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành lâm nghiệp nước nhà
- Giúp cho sinh viên bước đầu làm quen,hiểu thêm về kiến thức phục cho công tác điều tra ngoài thực tế,vận dụng cả lý thuyết và thực hành nhằm đạt kết quả và chất lượng cao trong quá trình học tập tại nhà trường
- Qua nghiên cứu đề tài để làm tiền đề cho mỗi sinh viên sau khi ra trường nắm được một số kiến thức vững vàng bước sang giai đoạn phục vụ Đảng,Nhà nước trên các cương vị khác nhau
1.4.2 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học
- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về việc nghiên cứu chuyên sâu loài cây quý hiếm SMD
- Qua kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp bảo tồn và phát triển loài SMD
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu khai thác và sử dụng bền vững nguồn gen thực vật là cơ sở quan trọng nhằm nâng cao năng suất nông lâm nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và xóa đói giảm nghèo Đa dạng di truyền hay biến dị di truyền là cơ sở quan trọng của việc cải tạo giống cây trồng, nâng cao năng suất chất lượng cây trồng Tuy nhiên, nhiều nguồn gen thực vật quan trọng cho sự phát triển cho ngành nông lâm nghiệp trong tương lại đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các cấp độ khác nhau Báo cáo về tình trạng lưu giữ nguồn gen trên thế giới của tổ chức FAO (1996) tổng hợp từ các báo cáo quốc gia thành viên cho thấy tình hình suy thoái nguồn gen diễn ra rất nghiêm trọng trên toàn thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển Quá trình xói mòn di truyền đang diễn ra rất nghiêm trọng Điều đáng quan tâm đó là việc mất mát nguồn gen không thể phục hồi được do sự suy giảm, sự tuyệt chủng của nhiều loài thực vật Xuất phát từ thực tế đó mà Kế hoạch Hành động Toàn cầu đầu tiên
về bảo tồn, sử dụng và phát triển bên vững nguồn gen cây rừng đã được Ủy ban Tài nguyên Di truyền Nông nghiệp và lương thực của FAO chấp thuận vào tháng 4 năm 2013 Các lĩnh vực ưu tiên chính của Hành động bao gồm: Cải thiện giá trị và tiếp cận các thông tin về nguồn gen cây rừng: Phát triển chiến lược bảo tồn trên toàn thế giới; sử dụng phát triển và quản lý bền vững nguồn gen cây rừng; thiết lập và xem xét các khuôn khổ pháp lý và các chính sách có liên quan đến quản lý bền vững nguồn gen cây rừng, và tăng cường năng lực thể chế và con người
Trang 14Các tài liệu nghiên cứu gần đây của Tổ chức Bảo tồn thế giới (IUCN) cho thấy ở phạm vi toàn cầu có khoảng 13% số loài thực vật trên thế giới đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, đe dọa tiềm năng sử dụng của nhân loại trong tương lai Qua xem xét dữ liệu từ 189 quốc gia và vùng lãnh thổ, mới đây các nhà khoa học Mỹ cho thấy có khoảng 22-47% số loài thực vật có thể bị đe dọa, cao hơn nhiều so với dự đoán 13% của IUCN Các số liệu công
bố năm 1998 cho thấy ở Hoa Kỳ, có tới 29% số loài thực vật (4.669 loài trong tổng số 16.108 loài) đã được liệt kê vào danh sách bị đe dọa Con số các loài thực vật bị đe dọa ở Thổ Nhĩ Kỳ là 21,7%; Tây Ban Nha là 19,5%; Cu Ba 13,6%; Pê Ru 13,1%; Nhật Bản 12,7%; Ôxtrâylia là 14,4% và Braxin là 2,4% (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Xuân Liệu, 2006)
Các nghiên cứu ở Thái Lan, Philipin và Malaisia cho thấy nhiều giống cây trồng địa phương đã và đang bị thay thế bằng những giống cây khác, cây nhập nội Báo cáo của FAO (1996) trích dẫn nghiên cứu ở Hàn Quốc cho thấy 74% giống của 14 loài cây trồng phổ biến trên trang trại 1985 thì đã bị thay thế vào năm 1993 Tại Châu Phi thì việc suy thoái và phá hủy rừng là những nguyên nhân chính của việc suy thoái nguồn gen Báo cáo từ hầu hết các nước
Mỹ La tinh cũng cho thấy sự suy giảm nguồn gen của những loài cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế
Đa dạng sinh học và giá trị văn hóa có sự liên hệ chặt chẽ với nhau.Đa dạng sinh học có giá trị văn hóa, được thể hiện qua những kiến thức kinh nghiệm sử dụng của, quản lý tài nguyên lâu đời của người dân.Công ước đa dạng sinh học cũng đã đề cập tới vấn đề này Do vậy, việc mất mát đa dạng sinh học sẽ dẫn đến sự mất mát những kiến thức, kinh nghiệm của người dân địa phương gắn với loài sinh vật đó Hiện nay thì chưa có hệ thống theo dõi giám sát sự suy giảm, mất mát nguồn gen cũng như những kiến thức bản địa liên quan Việc suy thoái nguồn gen sẽ làm suy giảm nguyên liệu di truyền
Trang 15cho các thế hệ tương lai Bên cạnh đó thì cánh cửa cho những lựa chọn tiến hóa và phát triển của nhiều loài cũng sẽ đóng lại Sự đơn điệu về gen là một trong những thảm họa cho di truyền tiến hóa và phát triển
Hiện nay nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã nhận ra tầm quan trọng của việc điều tra đánh giá toàn diện các loài cây trồng, các loài hoang
dã, các hệ sinh thái và những kiến thức liên quan Những điều tra như vậy sẽ giúp xây dựng chiến lược quản lý, lưu giữ và đảm bảo sự cân bằng tối ưu giữa lưu giữ nội vi (in situ conservation) việc thu thập mẫu cho lưu giữ ngoại vi (ex situ) Bảo tồn nội vi và bảo tồn ngoại vi là hai phương thức duy trì bổ sung hỗ trợ cho nhau Lưu giữ nội vi là hình thức lý tưởng để bảo tồn nguồn gen Hình thức phổ biến và là việc hình thành các khu bảo vệ nguồn gen Các khu bảo vệ nguồn gen được coi là cái xương sống của bảo tồn đa dạng sinh học Nhờ nỗ lực của các quốc gia mà số khu bảo tồn trên toàn thế giới tăng nhanh trong những năm gần đây Theo báo cáo của Tổ chức bảo tồn quốc tế (IUCN,2011) thì số khu bảo tồn trên toàn thế giới tính đến năm 2010 là 161.000 khu chiếm khoảng 15% diện tích bề mặt trái đất tăng hơn 160 lần so với năm 1962, khoảng 1000 khu Tuy nhiên, ngoại trừ một số loài cây rừng thì nhiều loài cây trồng, cây hoang dại khác vẫn chưa được chú ý bảo tồn đúng mức do nhiều lý do khác nhau Ở nhiều nước thì người dân cũng tham gia vào việc bảo tồn nguồn gen thông qua việc duy trì những giống địa phương truyền thống Tuy nhiên, các dự án tập trung chủ yếu duy trì các loài cây nông nghiệp như lúa, ngô, rau, đậu, đỗ trên vườn, trang trại hộ gia đình, chưa quan tâm đúng mức đến các loài cây Lâm nghiệp có giá trị kinh tế và văn hóa
Chỉ có một số ít loài cây trồng rừng được lưu giữ ngoại vi, chủ yếu thông qua duy trì các bộ sưu tập sống hỗ trợ bởi các chương trình bảo tồn và phát triển nguồn gen quốc tế Trong các báo cáo thì hầu hết các quốc gia đều
Trang 16chỉ rõ việc thiếu kiến thức về nguồn gen các loài thực vật bản địa, địa phương
Do đó việc điều tra, nghiên cứu phân loại các loại thực vật bản địa là rất cần thiết, đặc biệt là những loài có giá trị về văn hóa với các cộng đồng địa phương Việc điều tra sẽ giúp đề ra các chiến lược bảo tồn nhằm ngăn chặn sự tuyệt chủng của những loài đó, kéo theo sự mất đi các giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng địa phương Hiện nay các nước có nền lâm nghiệp tiên tiến cũng tập trung bảo tồn nguồn gen cho một số cây trồng rừng chủ yếu Ví dụ, ở Châu Âu tập trung ở nhóm cây lá kim, ở Trung Cận Đông là nhóm Sồi giẻ
(Quercus) Ở các nước Bắc Âu, bảo tồn nguồn gen cũng chỉ tập trung ở một
số lá kim thuộc các chi Picea, Pinus, Psendotauga, Larix và một số loài cây lá rộng thuộc chi Populus Tại Thái Lan, quốc gia Châu Á gần Việt Nam, việc bảo tồn nguồn gen tại chỗ cũng chỉ tập trung cho 5 loài cây ưu tiên là: Gỗ đỏ
(Aflezia xylocrpa), Dầu rái (Dipterocarpus alatus), Sao đen (Hopea odorata), Giáng hương quả to (Pterocarpus maorocarpa) và Tếch (Tectona grandis)
(Lê Trần Chấn, 2010)
Tại Đài Loan, Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) cũng được
coi là gỗ tốt nên bị khai thác trên quy mô lớn, kết quả là các quần thể hiện tại
bị chia cắt, nằm rải rác không tập trung Nguồn gen Sa mộc dầu tại Đài Loan đang được lưu giữ bảo tồn trong Ngân hàng hạt giống (Tree Seed Bank) cùng với 152 loài thực vật khác (Huang et al., 2008) Bên canh đó nguồn gen Sa mộc dầu còn được lưu tại một số Vườn thực vật ở Châu Âu Tại Đài Loan, sau nhiều thập kỷ khai thác cạn kiệt, từ năm 1950 chương trình trồng rừng quy mô lớn được thực hiện đã góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen loài này Tại Đài Loan Sa mộc dầu phân bố ở độ cao 1300-2800m Sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt độ trung bình năm 17-22oC và lượng mưa 2000-3500mm/năm Trên các điều kiện phù hợp cây có thể tăng 1m về chiều cao và 1cm đường kính một năm Nhằm nâng cao chất lượng gỗ và sinh trưởng thì nhiều chương
Trang 17trình nghiên cứu, khảo nghiệm đã được thực hiện từ những năm 1970 Từ những năm 1990 chính phủ đã đóng cửa rừng nhằm ngăn chặn suy giảm nguồn gen lâm nghiệp đồng thời nâng cao giá trị giải trí của rừng (Chung et al., 2009)
2.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tài nguyên rừng ở nước ta rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, do nạn khai thác rừng bừa bãi cũng như khai hoang, trồng cây công nghiệp vượt quá khả năng cho phép nên hiện nguồn tài nguyên thực vật ở nước ta bị suy giảm nghiêm trọng, một số loài đã bị tuyệt chủng hoặc đang đứng trước nguy
cơ tuyệt chủng Vì thế, bảo tồn nguồn và phát triển nguồn gen cây rừng là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay Bảo tồn nguồn gen cây rừng là lưu giữ các nguồn gen cây rừng phong phú và đa dạng hiện có, làm nền tảng cho công tác giống cây rừng ở nước ta Vì thế nó vừa phục vụ cho công tác giống vừa gắn liền với việc cung cấp giống trước mắt và lâu dài, đồng thời thiết thực phục
vụ các chương trình trồng rừng trong nước và trao đổi giống quốc tế.Mặt khác, các hoạt động cải thiện giống cung cấp giống cũng đang làm phong phú thêm hoạt động bảo tồn nguồn gen cây rừng ở nước ta Khai thác và phát triển nguồn gen sẽ vừa góp phần phát triển kinh tế xã hội vừa góp phần bảo tồn nguồn gen
Ở Việt Nam rừng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và xóa đói giảm nghèo vùng miền núi, có 25 triệu người sống trong và gần rừng chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam là
cơ quan đầu ngành trong nghiên cứu và phát triển nguồn gen ở Việt Nam với nhiều chương trình dự án do chính phủ cũng như tổ chức quốc tế tài trợ trong
đó có CSIRO (Úc) Ví dụ dự án “Bảo tồn nguồn gen lâm nghiệp” do Viện Khoa học lâm nghiệp thực hiện từ năm 2001-2005 với khoảng trên 100 loài quan trọng trên diện tích khoảng 150ha tại Cầu Hai (Phú Thọ), Trảng Bom
Trang 18(Đồng Nai), Lang Hanh (Lâm Đồng), Cúc Phương (Ninh Bình) Ngoài ra việc bảo tồn ngoại vi các lâm phần giống cây rừng cũng được thực hiện với 9 loài cây gỗ quan trọng như Lim xanh, Vối thuốc, Pơ mu, Trò chỉ, Sao với gần 10.000 cây cá thể từ hạt hoặc hom Trong dự án “Đa dạng loài và bảo tồn ngoại vi các loài tre ở Việt Nam” do Biodiversity International tài trợ từ năm 2003-2005 đã xác định được danh sách 216 loài tre và hạt trần bị đe dọa,
trong đó có Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) được xếp vào nhóm
bị đe dọa (VU A1cd) (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2008)
Ở nước ta các chương trình trồng rừng trước đây, đặc biệt là Chương trình 327 và chương trình 5 triệu ha đã có một số đề xuất danh mục các loài cây trồng rừng áp dụng cho 9 vùng lâm nghiệp gồm: Tây Bắc, Đông Bắc, Trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, và Tây Nam Bộ gồm 104 loài, trong đó có những
loài đáng chú ý như: Chò chỉ (Parashorea chinesis), Dầu rái (Diptericarpus alatus), Giáng hương quả to (Pterocarpus maorocarpa), Gỗ đỏ (Aflezia xylocrpa) (Lê Trần Chấn, 2010) Trong danh sách các loài cây trồng rừng có
nhiều loài thuộc nhóm đối tượng cần bảo tồn nguồn gen là các loài bản địa, đặc biệt là các loài có nguycơ tuyệt chủng, được ghi vào sách đỏ Việt Nam
Đó là những loài quý hiếm có giá trị khoa học, kinh tế cao như: Hoàng đàn
(Cupresus torulosa), Thông đỏ bắc (Taxus chinensis), Thông pà cò (Pinus kwangtungensis) hay Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata)
Tại Nghệ An nghiên cứu đã được tiến hành để xác định toàn bộ khu vực phân bố của loài Sa mộc dầu trong tỉnh và nghiên cứu các đặc điểm sinh học và sinh thái của loài Nghiên cứu tại Vườn Quốc Gia Pù Mát, Nghệ An cho thấy tình hình tái sinh của Sa mộc dầu rất kém Cây tái sinh chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn cây mạ và khi chuyển sang giai đoạn cây con thì ít bắt gặp, tỷ
lệ cây con có triển vọng thấp Đây là một vấn đề và là một thách thức lớn
Trang 19đang đạt ra trong công tác bảo tồn loài quý hiếm này Quả Sa mộc dầu sau khi chín thì hạt không được tách ra mà vẫn nằm nguyên ở trên nón Nón rụng xuống gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm cây tái sinh ngay trên nón.Hiện tượng này hoàn toàn khác so với các loài thuộc ngành Hạt trần mà chúng ta đã nghiên cứu và tìm hiểu Qua đây chúng ta có thể giải thích được tại sao trong
tự nhiên thường thấy Sa mộc dầu tái sinh theo cụm hoặc theo đám (Nguyễn Văn Sinh, 2009)
Tại Hà Giang, đầu năm 2006 tỉnh đã triển khai dự án “Bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học ở xã Thài Phìn Tùng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”, viết tắt là VN/02/2004, do Quỹ môi trường toàn cầu (UNDP-GEF/SGP) tài trợ nhằm bảo tồn và phát triển 4 loài thực vật hạt trần quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng Đó là Thông tre lá ngắn
(Podocarpus pilgori), Thông đỏ bắc (Taxus chinensis), Dẻ tùng sọc nâu (Amentotaxus hatuyenensis), và Hoàng đàn rủ (Cupressus funebris) Các loài
này nằm trong số 33 loài thuộc họ Thông của thế giới, được xác định là có giá trị kinh tế và sinh thái đặc biệt cao, góp phần thiết thực cho công tác bảo tồn
và phát triển bốn loài hạt trần này ở Hà Giang và Việt Nam (Lê Trần Chấn và
cs, 2006)
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 20Phương Độ, Phương Thiện - thị xã Hà Giang và xã Túng Sán - huyện Hoàng
Su Phì
Tổng diện tích khu bảo tồn là: 15.043 ha Trong đó:
-Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 7.406 ha
-Phân khu phục hồi sinh thái: 7.173 ha
Khu vực có ranh giới hành chính như sau:
-Phía Bắc giáp bản Nà Toong - xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên
-Phía Nam giáp thôn Bó Đướt - xã Thượng Sơn, huyện Vị Xuyên
-Phía Đông giáp thôn Cao Bành- xã Phương Thiện, thị xã Hà Giang
-Phía Tây giáp xã Thèn Chu Phìn, huyện Hoàng Su Phì
2.3.1.2 Địa hình
Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh nằm ở phía Tây của tỉnh Hà Giang, đây là khu vực với nhiều dãy núi cao, độ dốc lớn, địa hình chia cắt mạnh, hiểm trở Dãy núi chạy dài từ Tây sang Đông, nổi tiếng với đỉnh Tây Côn Lĩnh, có độ cao 2.428,5m, từ đây phát triển thành một dãy núi lớn khác chạy xuống phía Nam Đường phân thủy phía Tây đổ xuống sông Chảy, phía Đông đổ xuống sông Lô
Do địa hình hiểm trở cho nên vùng quy hoạch cho khu bảo tồn vẫn còn giữ được một khu rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới với diện tích liền vùng khá lớn (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt với diện tích là 7.406 ha)
Là vùng núi cao, độ dốc lớn, địa hình chia cắt mạnh cho nên tạo ra các tiểu vùng có địa hình, khí hậu, đất đai, nguồn nước tương đối đa dạng phong phú
2.3.2.Khí hậu, thủy văn
Trang 21- Mùa Đông có gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4năm sau Chế độ nhiệt: + Nhiệt độ trung bình năm: 22,6- 230C
+ Nhiệt độ trung bình cao nhất: 27,2- 27,50C + Nhiệt độ tối thấp trung bình: 1,50C
Các tháng 11, 12 đến 1,2 năm sau nhiệt độ xuống rất thấp, nhiều vùng nhiệt độ xuống dưới 00C, nhiều năm xuất hiện băng, tuyết
2.3.2.2 Thủy văn
Các Suối ở phía Đông dãy Tây Côn Lĩnh như suối Thanh Thủy, suối Sửu, suối Nậm Má đều đổ ra sông Lô Các suối phía Tây như suối Nậm Khốc, suối Nậm Song đổ ra sông Chảy Nhìn chung, các sông, suối đều dốc, nhiều thác ghềnh do ảnh hưởng của địa hình Một số suối đã và đang được khảo sát, xây dựng thủy điện
2.3.3 Giao thông
100% các xã đều có đường ô tô và điện lưới đến đến trung tâm xã, các
xã Thanh Thủy, Phương Tiến, Phương Độ, Phương Thiện, Quảng Ngần, Thượng Sơn có đường nhựa đến UBND xã
Mạng lưới giao thông lâm nghiệp chưa có, do đặc điểm của khu bảo tồn
là có độ cao lớn cho nên vào khu bảo tồn phải đi bộ
2.3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
Các xã trong khu bảo tồn đều là những xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang, điều kiện địa hình hiểm trở.Cư dân sống trong vùng thuộc 11 dân tộc Đó là các dân tộc H’mông, Mường, Dao, Kinh, Tày, Cờ lao, La Chí, Hán (Hoa), Giấy, Mường, Nùng Tổng số nhân khẩu của các xã trên 5.300 hộ và xấp xỉ 30.000 nhân khẩu, có những dân tộc có rất ít người như dân tộc Cao Lan có 5 khẩu, La Chí 3 khẩu, Mường 2 Khẩu và dân tộc Giấy có 1 khẩu Các dân tộc chung sống với nhau rất hòa thuận và đoàn kết, tuy nhiên mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, chính vì vậy mà họ
Trang 22thường sống theo cộng đồng dân tộc riêng rẽ Nhìn chung, các dân tộc phân
bố không đều, sống rải rác trên các sườn dốc, sườn núi Người H’Mông sống
ở vùng cao nhất, thấp hơn là người Dao, thấp hơn nữa là người Tày, Nùng.Người Kinh chủ yếu sống ở vùng thấp nhất và thuận tiện giao thông, trung tâm xã, nơi thuận tiện giao thương hàng hóa
2.3.5 Tài nguyên rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh
2.3.5.1 Hệ thực vật
Khu hệ thực vật ở đây có 796 loài thuộc 162 họ, trong đó 54 loài quý hiếm, trong các loài quý hiếm có 49 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam (2007) chiếm khoảng 6,2% và chiếm khoảng 11,4% tổng số loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam Trong đó có 3 loài thuộc cấp rất nguy hiểm (CR), 19 loài thuộc nhóm nguy cấp (EN), 27 loài thuộc nhóm sẽ nguy cấp (VU) 4 loài nằm trong Danh lục đỏ của IUCN (2007): 3 loài thuộc cấp ít nguy cấp (LR), 1 loài sẽ nguy cấp (VU), chiếm khoảng 0,4% tổng số loài đã biết 14 loài nằm trong
NĐ 32/2006 NĐ-CP chiếm khoảng 1,8% tổng số loài đã biết và chiếm khoảng 27% tổng số loài có tên trong NĐ 32/2006 NĐ-CP, trong đó 11 loài nằm ở nhóm IA, 3 loài nằm ở nhóm IIA 5 loài nằm trong phụ lục II của công ước CITES 2008 chiếm khoảng 0,6% tổng số loài đã biết trong khu bảo tồn
2.3.5.2 Hệ động vật
Khu hệ thú:
Trong số 58 loài thú, đã xác định 20 loài thú quý hiếm (chiếm 34,5%) Trong số này có 14 loài thú ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2007); 19 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007); 17 loài ghi trong ND 32/2006/NĐ-
CP (2006) của Chính Phủ và 15 loài ghi trong Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã bị đe dọa)
Khu hệ chim:
Trang 23Có 100 loài chim thuộc 33 họ, 12 bộ Trong số này họ khướu có số lượng loài nhiều nhất 26 loài (chiếm 26,3% tổng số loài), họ chim chích có 9 loài, họ chích chòevà họ cu cu 6 loài Trong số loài ghi nhận được có 5 loài được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) bao gồm Gà lôi tía, Gà lôi trắng, Hồng hoàng, Trèo cây lưng đen và Trèo cây mỏ vàng
Khu hệ bò sát, ếch nhái:
Đã ghi nhận tổng số 55 loài thuộc 16 họ, 4 bộ bao gồm 25 loài bò sát thuộc 8 họ, 2 bộ và 30 loài loài ếch nhái thuộc 8 họ, 2 bộ Họ có số lượng loài nhiều bao gồm họ Rắn nước (Colubridae: 10 loài), họ Ếch nhái (Ranidae: 7 loài); họ Ếch cây (Rhacophoridae: 7 loài), họ Ếch nhái chính thức (Dicroglossidae: 5 loài) và họ Cóc bùn (Megophryidae: 5 loài) Trong đó có
11 loài quý hiếm (chiếm 20% tổng số loài ghi nhận được)
Trang 24Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài cây Sa mộc dầu (Cuninghamia konishii Hayata) hay còn gọi là Sa
mộc quế phong, Ngọc am, hay Sa mu dầu thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae)
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây SMD trong khu bảo tồn
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện
Địa điểm nghiên cứu: Khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang
Thời gian nghiên cứu: Từ 31/12/2013- 20/4/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Xác định phân bố của SMD tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh
3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm lâm học của SMD
- Đặc điểm hình thái và vật hậu: Thân, lá, hoa/nón quả
- Đặc điểm sinh thái bao gồm hoàn cảnh rừng nơi SMD phân bố, đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi SMD phân bố (Mật độ, tổ thành, tầng thứ, thường gặp)
- Đặc điểm tái sinh tự nhiên (Mật độ, cấu trúc tổ thành cây tái sinh, chất lượng cây tái sinh, phân cấp theo chiều cao và cây có triển vọng, đặc điểm tái sinh)
3.3.3 Nghiên cứu giá trị sử dụng Sa mộc dầu
Thuốc bổ, thủ công mỹ nghệ, đồ gia dụng…
3.3.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển SMD
Các giải pháp kỹ thuật, kinh tế xã hội, chính sách
Trang 253.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp kế thừa:
+ Tham khảo kế thừa có chọn lọc các tài liệu có liên quan đến đề tài tại phòng nông nghiệp phát triển nông thôn, ban quản lý khu bảo tồn, hạt kiểm lâm huyện như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương cùng tài liệu liên quan về vấn đề nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước phục
vụ cho báo cáo
+ Nghiên cứu các văn bản, chính sách có liên quan đến đề tài như: Luật bảo vệ và phát triển rừng, luật đa dạng sinh học, các văn bản hướng dẫn của tỉnh về bảo vệ và phát triển rừng
+ Kế thừa các kết quả nghiên cứu tại địa phương có liên quan đến loài cây Sa mộc dầu và công tác trồng rừng tại địa phương
+ Xử lý số liệu điều tra:Thu thập xử lý chọn lọc tài liệu thu thập được
về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp điều tra /phỏng vấn:
+ Phỏng vấn cán bộ thuộc ban quản lý khu bảo tồn hay kiểm lâm phụ trách khu bảo tồn cũng như kiểm lâm địa bàn, cán bộ phòng nông nghiệp phát triển nông thôn
+ Điều tra khảo sát địa hình lập địa nơi phân bố loài Sa mộc dầu
Trang 26+Máy định vị GPS
+Thước dây
+Máy ảnh kỹ thuật số
+Biểu điều tra, phiếu phỏng vấn người dân
3.4.3.Công tác ngoại nghiệp
- Điều tra phỏng vấn 20 phiếu: Đối tượng phỏng vấn là người dân, cán
bộ kiểm lâm, cán bộ quản lý, người chế biến tinh dầu và những nhà khoa học đã từng nghiên cứu về Sa mộc dầu
Phỏng vấn người dân trong khu bảo tồn về giá trị và tình hình phân bố
Những nhà khoa học đã từng nghiên cứu về loài Sa mộc dầu
- Điều tra sơ bộ:Đi quan sát thực tế để có thể nắm bắt được các thông
tin sơ bộ về đối tượng nghiên cứu để kịp thời bổ sung các thông tin cần thiết cho đề tài
- Điều tra tỷ mỷ:
Sử dụng phương pháp quan sát, mô tả trực tiếp hình thái và xác định kích thước cũng như theo dõi sự biến đổi các bộ phận (Cành, chồi, hoa, quả) của cây Sa mộc dầu
Dựa vào điều kiện địa hình và kế thừa các thông tin từ một số công trình nghiên cứu trước, tôi tiến hành lập 3 tuyến điều tra đi qua khu vực có SMD phân bố và những trạng thái thực bì khác nhau
Trên mỗi tuyến lập 3OTC tạm thời 1000m2 ở các đai cao 900-1000m; 1000-1100m; 1100-1200m Tiến hành điều tra các nhân tố trong OTC gồm