Những cải tiến trong công nghệ thông tin đã mở đường cho sự phát triển của nhiềusản phẩm mới, góp phần thúc đẩy các công ty hoạt động trong lĩnh vực như viễn thông vàthông tin tham gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
KHOA NGÂN HÀNG
GVHD : PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Lớp : CHNHK24
Nhóm : Nhóm 4
DANH SÁCH NHÓM 4:
1 Nguyễn Thị Ngọc Hà 100%
2 Nguyễn Thị Mai Hương 100%
3 Trương Huỳnh Thảo Nhi 100%
4 Nguyễn Tấn Thuận 100%
5 Nguyễn Thu Thảo 100%
Tp HCM, ngày 14 tháng 04 năm 2016
Câu 1: Xu hướng phát triển của Hệ thống ngân hàng hiện đại.
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Trang 2Cùng với sự phát triển của các Tập đoàn đa quốc gia, ngành tài chính - ngân hàngthế giới chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các định chế tài chính - ngân hàng nhằmcung cấp sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Từ đó, xuất hiện xu hướng pháttriển Hệ thống ngân hàng toàn cầu trong vòng hai thập kỷ vừa qua, từ đó hình thành nênnhững Tập đoàn tài chính - ngân hàng lớn trên thế giới
Trên thực tế hầu hết các vụ sáp nhập và mua lại gần đây liên quan đến doanh nghiệpcạnh tranh trong cùng ngành Từ đó, việc hình thành các Tập đoàn tài chính - ngân hàngcũng xuất phát từ xu hướng này nhằm mục đích nâng cao doanh thu và tiết kiệm chi phí
Để giải quyết vấn đề giảm lợi nhuận từ những dịch vụ ngân hàng truyền thống, các ngânhàng chủ động đem đến cho khách hàng mục tiêu về những tiện ích vượt trội Sự hài lòngquyết định tính sẵn sàng chi trả của người sử dụng dịch vụ, từ đó ngân hàng có thể giatăng được lợi nhuận Một động lực cho việc cũng cố liên ngành là thị trường sản phẩmngày càng đa dạng (Ví dụ: các ngân hàng hiện nay cũng bán sản phẩm bảo hiểm hoặc cáccông ty bảo hiểm cũng cung cấp sản phẩm hỗn hợp) Do đó, các hoạt động kinh doanhsản phẩm và dịch vụ trở nên đa dạng, phong phú hơn
Những cải tiến trong công nghệ thông tin đã mở đường cho sự phát triển của nhiềusản phẩm mới, góp phần thúc đẩy các công ty hoạt động trong lĩnh vực như viễn thông vàthông tin tham gia vào thị trường dịch vụ tài chính- ngân hàng Ngoài ra, sự phát triểncông nghệ thông tin còn cung cấp cho các nhà quản trị các kỹ thuật quản lý rủi ro hiệuquả hơn, điều này đặc biệt có ý nghĩa trong ngành tài chính - ngân hàng, lĩnh vực đượcxem là kinh doanh khá rủi ro Những kỹ thuật này giúp các các nhà quản trị không nhữngquản trị được chính mình mà còn đánh giá được các tổ chức khác, phục vụ cho mục tiêusáp nhập, mua lại
Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hoá kinh tế và tự do hoá thương mại diễn ra mạnh
mẽ hơn bao giờ hết Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan dần được loại bỏ, tạo điềukiện thuận lợi cho các dòng ngân lưu gia tăng lưu lượng và di chuyển giữa các quốc gia.Cho nên sự hình thành các tập đoàn tài chính chính là để thích ứng với sự phát triển này
Trang 3Theo TS Nguyễn Thị Kim Thanh - Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam; cho rằng Những nhân tố chi phối xu hướng phát triển khu vực
ngân hàng đến năm 2020 là:
- Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa ngày càng gia tăng, những bất ổn khólường của thị trường toàn cầu ngày càng mạnh mẽ hơn và tiến bộ công nghệ đang cónhững tác động mạnh đến sự phát triển hệ thống tài chính trong nước và toàn cầu, cáchtiếp cận của các định chế tài chính Để phù hợp với tình hình này, cần sự năng động của
hệ thống tài chính, đặc biệt là các định chế tài chính trong nước phải được vững mạnh vàhiệu quả
- Kinh tế tri thức cùng với những tiến bộ về công nghệ đã xác định lại các quy tắc củacuộc chơi và sự chuyển đổi môi trường mà các định chế tài chính hoạt động Trong mộtmôi trường mới như vậy, khả năng của các định chế tài chính trong việc cung cấp sảnphẩm và dịch vụ một cách hiệu quả nhất sẽ là chìa khóa xác định chức năng và phạm vihoạt động của định chế tài chính Theo đó, khả năng thu được những lợi ích trong môitrường cạnh tranh mới phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và năng lực của các định chế tàichính trong việc nhanh chóng thích nghi với môi trường mới và nắm bắt kịp thời những
cơ hội mới
- Thêm vào đó, tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng và chuyển đổi môi trường đãtạo ra nhu cầu mới cũng như cơ hội cho các doanh nghiệp Điều này đã đòi hỏi nhữngdịch vụ tài chính hiệu quả Đồng thời, sự vững mạnh của các doanh nghiệp, cá nhân và
hộ gia đình sẽ là nhân tố chính để duy trì sự ổn định của cả hệ thống tài chính
- Khủng hoảng tài chính toàn cầu, đặt ra vấn đề phải tái cơ cấu hệ thống tài chính củatừng quốc gia cũng như toàn cầu, theo một xu hướng tăng cường khả năng giám sát vàcảnh báo sớm nhằm ngăn ngừa những bất ổn có thể xảy ra
Như vậy, có thể nói: “Nhìn về tương lai, sự phát triển Hệ thống tài chính – ngânhàng thế giới là theo xu hướng phát triển ổn định, bền vững, hiệu quả sẽ đóng vai tròquan trọng trong phát triển kinh tế.” Do đó, xu hướng phát triển các Tập đoàn tài chính -ngân hàng là một xu thế tất yếu trong tương lai
Trang 4Câu 2: Lý thuyết về Tập đoàn tài chính – ngân hàng.
Khái niệm:
Tập đoàn tài chính ngân hàng là một nhóm các Công ty hoạt động trong các lĩnhvực tài chính khác nhau theo quy định của pháp luật của từng quốc gia Là sự kết hợp của
ít nhất 2 trong 3 lĩnh vực sau Ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm
Theo The Group of 10: “Bất kỳ một nhóm các Công ty dưới sự kiểm soát chung có
các hoạt động độc lập hoặc hoạt động trong việc cung cấp ít nhất 2 lĩnh vực khác nhau
về tài chính (Bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán) thì được gọi là các Tập đoàn tài chính
- ngân hàng”.
Ủy ban Châu Âu (QĐ 2002/87/EC) cũng đưa ra một định nghĩa khá rõ nét hơn; mộtnhóm các công ty đủ tiêu chuẩn để trở thành Tập đoàn tài chính – ngân hàng khi: Thứnhất nếu như nó có hơn 50% các hoạt động liên quan đến lĩnh vực tài chính Và thứ 2 lànếu như tài sản của mỗi lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm nằm trong khoảng 10%-90% sovới tổng tài sản của cả tập đoàn Thêm vào đó, nếu như tổng tài sản của những công tynhỏ nhất trong tập đoàn vẫn nhiều hơn 6 tỷ EUR thì nhóm các công ty này vẫn được xem
là một Tập đoàn tài chính – ngân hàng
Còn ở Mỹ lại gọi Tập đoàn tài chính – ngân hàng là “ Fanancial Holding Company”(Tổ chức tài chính hỗn hợp) Theo quy định của Đạo luật Gramm-Leach-Bliley (GLB
Act) được thông qua năm 1999: Tập đoàn tài chính – ngân hàng là một tổ chức mà trong
đó công ty được nắm giữ những công ty khác cung cấp đa dạng các loại dịch vụ tài chính,ngân hàng Thực tế không yêu cầu chỉ là mô hình công ty mẹ, con mà còn là công ty thựchiện đồng thời các hoạt động kinh doanh như ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm
Trang 5Theo Bank of Japan (2005), tập đoàn tài chính - ngân hàng có thể được tổ chức theo
3 mô hình:
- Cấu trúc số 1: Full Universal Bank
Cấu trúc này được đặc trưng bởi một lĩnh vực chiếm đại đa số trong tập đoàn, nhưlĩnh vực Ngân hàng, bảo hiểm hay chứng khoán Đó chính là lĩnh vực hoạt động chínhcủa Công ty mẹ hay là một trong những hoạt động liên quan đến việc kinh doanh chủ yếucủa toàn bộ tập đoàn
Cấu trúc Full Universal bank hoạt động gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau, như làmột sự phân chia trong một tổ chức ngân hàng Cấu trúc này gia tăng sự ảnh hưởng tổnghợp thông qua sự cân bằng giữa tính tập trung và phi tập trung Nhưng một vấn đề tiềm
ẩn phát sinh ở đây chính là sự đối lập giữa các lĩnh vực kinh doanh
Đây là mô hình tập đoàn ngân hàng xuất hiện sớm ở Anh và Mỹ với các hoạt động, nghiệp vụ kinh doanh cả của Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Đầu tư Ở Mỹ, loại hình tập đoàn này là sản phẩm của Đạo luật Glass - Steagall Act of 1933 Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, xuất hiện và tồn tại việc phân định giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư Mặc dù cho đến thời điểm hiện nay, ở châu Âu, việc phân định ranh giới giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư đã không còn, tuy nhiên cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng toàn cầu năm 2008 diễn ra thì vẫn còn một lượng lớn các ngân hàng đầu tư thuần tuý Vì vậy, các ngân hàng lớn thường có xu hướng hoạt động như những ngân hàng toàn cầu trong khi một số tổ chức nhỏ hơn lại tập trung vào việc phát triển thành những ngân hàng thương mại chuyên biệt hoặc như
là những ngân hàng đầu tư Điều này đặc biệt đúng tại một số quốc gia với kiểu ngân
Trang 6hàng truyền thống châu Âu Những ví dụ điển hình của những ngân hàng toàn cầu là Deutsche Bank của Đức, UBSS và Credit Suisse của Thuỵ Sĩ.
Hầu hết thì hiện nay các Ngân hàng ở Châu Âu đều đi theo mô hình này do tínhchất lịch sử cũng như quy định của khu vực này Còn ở Mỹ thì cấu trúc này bị cấm bởi đingược lại quy định của quốc gia
- Cấu trúc thứ 2: Financial Service Holding Company
Đối với các Ngân hàng ở Mỹ thì Cấu trúc Holding Company là một tiêu chuẩn vàhiện nay thì hầu hết tập đoản tài chính của Mỹ đều đi theo mô hình này Cấu trúc này có
sự phân chia giữa các doanh nghiệp và tránh được xung đột lợi ích giữa các thành phầnnhư trong cấu trúc full universal bank Tuy nhiên, không nhiều hiệu quả kinh tế đạt được
từ mô hình này, do thiếu sự phối hợp giữa các bộ phận (Ở đây là giữa các Công ty trongcùng tập đoàn) Thông qua nghiên cứu của Kuhara Masaharu cho thấy rằng: Ngoài mặtthì các tập đoàn tài chính của Mỹ họ đi theo mô hình số 2 này, nhưng trên thực tế để đạtđược sự hiệu quả trong việc phối hợp giữa tính tập trung và phi tập trung thì cấu trúc nàythường bị biến thể đi theo hướng cả tập đoàn sẽ được lãnh đạo bởi một đơn vị kinh doanhchủ lực, qua đó gần như đã phá vỡ các quy định về pháp luật đã nói trước đó, điều đó dẫnđến các tập đoàn ở Mỹ đã không đi theo mô hình số 1
- Cấu trúc số 3: Bank Subsidiary
Trang 7Cấu trúc này bao gồm một Ngân hàng mẹ sở hữu nhiều công ty con hoạt động trongcác lĩnh vực phi tài chính khác nhau Nhờ đó mà hạn chế sự xung đột lơi ích giữa cácthành phần trong tập đoàn; qua đó giúp gia tăng sức mạnh tổng hợp giữa các thành viêntrong cùng tập đoàn.
Theo cấu trúc sở hữu:
- Mô hình sở hữu giản đơn:
Đây là mô hình thuần túy nhất và ít được sử dụng trong giai đoạn hiện nay Khi đó,công ty mẹ chịu trách nhiệm cao nhất, chi phối công ty con cấp 2, và công ty con cấp 2lại chi phối Cty cấp 3…
- Mô hình sở hữu chéo:
Trang 8Việc sở hữu chéo có thể diễn ra theo 2 hình thức: giữa các công ty thành viên đồngcấp đầu tư và kiểm soát lẫn nhau; hoặc công ty mẹ trực tiếp đầu tư và chi phối các công
ty con cháu
Trong cấu trúc sở hữu chéo giữa các công ty đồng cấp, các công ty này phải đủmạnh về vốn để đầu tư lẫn nhau nhằm tăng cường mối liên kết tài chính chặt chẽ trongtập đoàn và tránh được sự thôn tính của các thành phần ngoài tập đoàn Các chaebol củaHàn Quốc hầu hết đều có cơ cấu sở hữu chéo này như Samsung, Huyndai, LG,…;ở Mỹnhư General Motor, General Electric,…
Một dạng sở hữu chéo khác là công ty mẹ đầu tư vốn vào các công ty cháu, nhằmkiểm soát một số lĩnh vực nào đó có tầm quan trọng đặc biệt hoặc do yêu cầu về vốn khicông ty cháu gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất-kinh doanh của mình
- Mô hình sở hữu hỗn hợp:
Là một sự kết hợp của hai mô hình giản đơn và sở hữu chéo, khi đó gia tăng sự linhhoạt trong hoạt động của tập đoàn Đây là mô hình được sử dụng nhiều nhất hiện nay
Mô hình công ty mẹ và con:
Tập đoàn kinh tế được ví như một “đoàn tàu” luôn cần có một “đầu tàu” - công ty
mẹ - có đủ khả năng lái đoàn tàu kéo theo các “toa tàu” – cùng các công ty con – đượcthành lập theo đúng lộ trình đã được định sẵn Do đó, công ty mẹ - công ty con là kháiniệm cơ bản gắn liền với tập đoàn kinh tế nói chung cũng như tại các tập đoàn tài chính -ngân hàng nói riêng
- Công ty mẹ:
Công ty mẹ là một doanh nghiệp được thành lập hợp pháp theo quy định của phápluật, có tư cách pháp nhân, được thừa nhận có năng lực đủ mạnh về một hoặc một số yêucầu nhất định để kiểm soát và chi phối các công ty khác trong tập đoàn theo nhữngnguyên tắc và phương thức nhất định Công ty mẹ tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa cáccông ty con với nhau và giữa các công ty con với chính nó thông qua hoạt động như bảo
Trang 9lãnh nợ và hoạt động thương mại nội bộ Mục đích đầu tư của công ty mẹ vào các công tycon là hưởng phần lợi nhuận trên vốn góp.
Công ty mẹ sở hữu toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần của các công tykhác trong tập đoàn Theo tính chất và phạm vi hoạt động, trong mô hình công ty mẹ -công ty con, công ty mẹ được chia làm 2 loại:
Công ty mẹ nắm vốn thuần tuý (pure holding company - PHC): hoạt động kinhdoanh chính của PHC là đầu tư vốn vào các công ty khác Trách nhiệm chủ yếu của cácnhà quản lý cấp cao ở PHC là ra quyết định chiến lược phát triển tổng thể của cả tậpđoàn
Công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh (operating holding company OHC): OHC bên cạnh việc đầu tư vốn vào các công ty con, còn tham gia trực tiếp vàohoạt động sản xuất kinh doanh Các nhà quản lý cấp cao của OHC không chỉ tập trungvào việc ra các quyết định điều hành kinh doanh của công ty mình, mà còn ra quyết địnhmang tính chiến lược của tập đoàn Đây là mô hình công ty mẹ - công ty con thường gặp
-ở nhiều quốc gia
- Công ty con:
Các công ty con là các doanh nghiệp độc lập được thành lập hợp pháp, có tư cáchpháp nhân, có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của mình, tự nguyện chịu sự chiphối và kiểm soát của một công ty mẹ theo những nguyên tắc và phương thức nhất định.Mỗi công ty con được phép thành lập các công ty khác, hoặc tham gia góp vốn của mìnhvào công ty khác sau khi được phép của công ty mẹ Tuỳ theo mức độ chi phối của công
ty mẹ đối với công ty con, có thể phân loại công ty con thành:
Công ty con phụ thuộc toàn phần vào Cty mẹ: công ty mẹ sở hữu 100% vốn củacông ty con Công ty con dạng này được thành lập dưới hình thức công ty TNHH mộtthành viên do công ty mẹ làm chủ sở hữu, có tư cách pháp nhân độc lập
Công ty con phụ thuộc từng phần: công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối hoặc khôngđầu tư vốn vào công ty con mà chỉ chi phối, kiểm soát công ty con qua công nghệ, thịtrường hoặc thương hiệu Hình thức pháp lý của công ty con phụ thuộc từng phần khá đa
Trang 10dạng: công ty cổ phần do công ty mẹ nắm cổ phần chi phối, công ty TNHH hai thànhviên trở lên, công ty liên doanh do công ty mẹ giữ tỷ lệ vốn góp chi phối, công ty liên kết.
Ở nước ta, mô hình công ty mẹ - công ty con được quy định trong Nghị định 153/2004/NĐ-CP ngày 9/8/2004 của Chính phủ về chuyển đổi các Tổng công ty Nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Theo Điều 18 Khoản 1: “Là hình thức liên kết và chi phối lẫn nhau bằng đầu tư, góp vốn, bí quyết công nghệ, thị trường hoặc thương hiệu giữa các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó có một công ty Nhà nước giữ quyền chi phối các doanh nghiệp thành viên khác (gọi tắt là công
ty mẹ) và các doanh nghiệp thành viên khác bị công ty mẹ chi phối (gọi tắt là công ty con) hoặc có một phần vốn góp không chi phối của công ty mẹ (gọi tắt là công ty liên kết)”.
Sản phẩm:
Sản phẩm cung ứng bao gồm tất cả các loại hình sản phẩm tài chính: cấp tín dụng,
tư vấn, dịch vụ, bảo hiểm, quản lý tài sản, quản lý tài chính, dịch vụ ngân hàng điện tử banking) Các sản phẩm phải đa dạng đáp ứng nhu cầu khách hàng và thể hiện sự phântán rủi ro của ngân hàng
(e-Điều kiện thành lập:
Có nhiều yếu tố tác động đến khả năng hình thành tập đoàn TC-NH, trong đó cácyếu tố có liên hệ mật thiết với nhau Từ phương diện phân tích, có thể phân chia thànhyếu tố (điều kiện) khách quan và điều kiện chủ quan
- Điều kiện khách quan:
Môi trường pháp lý có thể cản trở hoặc thúc đẩy sự hình thành và phát triển các tậpđoàn TC-NH, nhất là những quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động tài chính, ngân hàng,chứng khoán Nói cách khác, quá trình hình thành và phát triển tập đoàn TC-NH diễn ratheo quy luật khách quan, nhưng các chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việcđưa ra các quy định và chính sách phát triển dịch vụ tài chính nói chung và tập đoàn TC-
NH nói riêng
Trang 11Trình độ phát triển của thị trường dịch vụ tài chính tác động đến khả năng mở rộngquy mô hoạt động của tập đoàn tài chính như thông qua các công ty con hay công ty trựcthuộc Trên thực tế, sự hình thành các tập đoàn TC-NH thường bắt nguồn từ việc mởrộng các loại hình kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ của ngân hàng mẹ, từ chỗ chỉ kinhdoanh dịch vụ ngân hàng, mở rộng sang dịch vụ bảo hiểm, chứng khoán, v.v Mặt khác,thị trường tài chính càng phát triển, khách hàng càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng vàtiện ích của dịch vụ tài chính – ngân hàng.
Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cũng là yếu tố và điều kiện để một tổchức tài chính phát triển thành tập đoàn TC-NH Các tập đoàn này phải kịp thời nắm bắtthông tin, nhất là công nghệ mới có liên quan đến hoạt động tài chính – ngân hàng để cóthể khai thác và ứng dụng các thành tựu về công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh,mang lại nhiều lợi nhuận cho tập đoàn và tiện ích cho khách hàng
- Điều kiện chủ quan:
Tiềm lực tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động và khả năngphát triển lâu dài của tập đoàn Trong đó, nguồn vốn có tác dụng hỗ trợ cho tập đoàn đổimới công nghệ, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh, phát triển dịch vụ mới, tăng cườngnăng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần Các ngân hàng tiên tiến và tập đoàn tài chínhmạnh thường cung cấp dịch vụ đa dạng và đạt chất lượng cao với nhiều đối tượng kháchhàng khác nhau Tương tự, chất lượng nguồn nhân lực cũng đóng vai trò không kém phầnquan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng và tập đoàn tàichính – ngân hàng
Đặc điểm chính hình thành nên Tập đoàn tài chính – ngân hàng:
- Sáp nhập và mua lại (M&A), hợp nhất - phương thức chủ yếu để hình thành tập
đoàn tài chính - ngân hàng
- Cấu trúc tổ chức phức tạp.
- Quy mô lớn.
- Dịch vụ tài chính đa dạng.