Từ đó, chúng tôi tìm hiểu một số vấn đề có tính lý thuyết về hệ thống điển cố, thi liệu, các lớp từ ngữ, những vấn đề thi pháp ngôn ngữ mang tính cao nhã, từ chương, uyển ngữ trong ngôn
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS Lê Thu Yến
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 05 năm 2015
Tác giả luận án
Võ Minh Hải
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 01
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 02
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
4 Mục tiêu nghiên cứu 16
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 17
6 Phương pháp nghiên cứu 17
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 19
8 Cấu trúc của luận án 20
Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ NHÌN TỪ QUAN NIỆM THẨM MỸ TRUNG ĐẠI 22
1.1 Ngôn ngữ với văn chương và văn hoá 22
1.1.1 Ngôn ngữ và văn chương từ góc nhìn văn hoá 22
1.1.2 Sự tác động của ngôn ngữ đối với văn hoá 26
1.1.3 Ngôn ngữ với vấn đề bảo tồn, xây dựng và phát triển văn hoá 31
1.2 Ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm bác học 34
1.2.1 Khái niệm ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm bác học 34
1.2.2 Hệ thống ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm bác học 37
1.2.3 Giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm văn chương cổ điển Việt Nam nhìn từ góc độ văn hoá 41
Trang 51.3 Ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm - Tấm gương phản chiếu văn hoá 46
1.3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm, một hình thức giao tiếp đặc thù của văn học cổ điển Việt Nam 46
1.3.2 Một số đặc trưng cơ bản của ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm 49
1.4 Quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều 52
1.4.1 Cơ sở hình thành quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du 52
1.4.2 Sự thể hiện quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều 57
Chương 2 NGỮ LIỆU VĂN HOÁ TRONG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRUYỆN KIỀU 68
2.1 Tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hoá Hán, bác học và văn hoá Việt, bình dân đối với hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều 68
2.1.1 Tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hoá Hán, bác học đối với hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều 68
2.1.2 Tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hoá Việt, bình dân đối với hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều 71
2.1.3 Đặc trưng thẩm mỹ của hệ thống ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều 76
2.2 Hệ thống ngữ liệu văn hoá bác học và bình dân trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều 91
2.2.1 Khảo sát và nhận xét về ngữ liệu văn hoá bác học 91
2.2.2 Khảo sát và nhận xét về ngữ liệu văn hoá bình dân 96
2.3 Nghệ thuật sử dụng ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ Truyện Kiều 102
2.3.1 Hệ thống ngữ liệu văn hoá được chuyển dẫn tự nhiên, biến hoá và thích hợp với nội dung ngữ cảnh 102
2.3.2 Hệ thống ngữ liệu văn hoá được vận dụng và chuyển dẫn một cách sáng tạo 112
2.3.3 Sự kết hợp hài hoà, chuyển dịch hợp lý của hai hệ thống ngữ liệu bác học và bình dân trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều 122
Trang 6Chương 3 HIỆU QUẢ THẨM MỸ CỦA HỆ THỐNG NGỮ LIỆU VĂN HOÁ
TRONG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRUYỆN KIỀU 133
3.1 Ngữ liệu văn hoá với sự thể hiện tính triết luận và bức tranh thời đại qua ngôn ngữ tác giả 133
3.1.1 Tính triết luận và trầm tích văn hoá qua ngôn ngữ trữ tình 133
3.1.2 Bức tranh văn hoá thời đại qua ngôn ngữ tự sự 142
3.2 Ngữ liệu văn hoá với sự thể hiện chiều sâu triết mỹ qua ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều 151
3.2.1 Tính đa thanh, đa giọng điệu qua phong cách Khổng tước văn và Hải hạc văn 151
3.2.2 Phong cách Khổng tước văn trong ngôn ngữ nhân vật Truyện Kiều 154
3.2.3 Phong cách Hải hạc văn trong ngôn ngữ nhân vật Truyện Kiều 161
3.3 Âm hưởng của ngữ liệu văn hoá trong Truyện Kiều đến đời sống xã hội, văn chương Việt Nam 167
3.3.1 Ảnh hưởng của ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều đến đời sống văn hoá, xã hội Việt Nam 167
3.3.2 Sự lan toả và vang vọng của ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều đến đời sống văn chương Việt Nam 177
KẾT LUẬN 185
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 189
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 190 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Ngữ liệu văn hoá bác học trong một số
2 Bảng 2.2 Ngữ liệu văn hoá trong Hoa Tiên, Truyện
3 Bảng 2.3 Ngữ liệu văn hoá bác học trong ngôn ngữ
4 Bảng 2.4 Ngữ liệu văn hoá bình dân trong Hoa Tiên,
Truyện Kiều và Lục Vân Tiên 96
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển văn hoá, văn học của nhân loại, có những tác phẩm văn học kiệt xuất, phản ánh, kết tinh văn hoá tinh thần của một quốc gia, phô bày những nét đẹp kiều diễm của ngôn ngữ mẹ đẻ - một biểu tượng văn hoá tài hoa của một dân tộc Những tác phẩm ấy không chỉ là những nỗi đam mê, niềm kiêu hãnh tự hào của dân tộc đó mà còn là chiếc cầu nối văn hoá – tâm linh mang lại bao nhiêu tình yêu, sự kính trọng và những trải nghiệm của những dân tộc khác Vì vậy, có thể nói, Nguyễn Du 阮攸 đã cống hiến cho dân tộc chúng ta một tuyệt phẩm, đúng như
Đặng Thai Mai đã từng nhận định: “Trong toàn bộ văn học Việt Nam ngày xưa,
Truyện Kiều là một thành công vẻ vang nhất, là áng văn chương tiêu biểu hơn hết ” [05, tr.165]
Từ khi ra đời đến nay Truyện Kiều 傳翹 (nguyên danh Đoạn trường tân
thanh 斷腸新聲) đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống tâm hồn,
tâm linh của dân tộc Việt Nam nói chung và đời sống văn học nói riêng Nhờ có
Truyện Kiều, vẻ đẹp của tiếng Việt càng được tôn xưng, tài năng của các thi nhân
người Việt càng được khẳng định, đề cao Tuy đã có không ít công trình nghiên cứu công phu về tác phẩm nhưng cho đến nay vẫn còn có khá nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ Những vấn đề liên quan đến văn bản, nội dung và thế giới nghệ thuật của nó vẫn để lại những tồn nghi, cần tiếp tục kiểm chứng, bổ sung và khảo cứu thêm Tuy vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định những thành tựu về ngôn ngữ của Nguyễn Du trong tuyệt phẩm này cũng như những đóng góp thiết thực của ông đối với lịch sử phát triển ngôn ngữ văn chương cổ điển Việt Nam
Nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ trong tác phẩm văn học trung đại Việt Nam
nói chung và ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều nói riêng từ góc độ văn hoá là một
hướng tiếp cận có tính chất liên ngành Thông qua hệ thống ngữ liệu văn hóa, một
số nhà nghiên cứu đã đi sâu, tìm hiểu nội dung, tư tưởng thẩm mỹ và phong cách văn hoá của Nguyễn Du trong hành trình sáng tạo, những đóng góp cụ thể của ông
Trang 10cho văn học nước nhà Từ định hướng này, thông qua ngôn ngữ chúng ta có thể khảo sát, từng bước chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật, khám phá bức tranh về đời sống
xã hội và những cách tân của tác giả trong quá trình chiếm lĩnh hiện thực, những trải nghiệm của một nhà nghệ sĩ trước những cuộc dâu bể, biến thiên của cuộc sống
Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các thế hệ học giả đi trước, chúng tôi tiến
hành khảo sát hệ thống ngữ liệu cổ văn trong Truyện Kiều và đối chiếu chúng với các
tài liệu khảo chứng, hệ thống văn bản thư tịch Hán Nôm có liên quan Từ đó, chúng tôi tìm hiểu một số vấn đề có tính lý thuyết về hệ thống điển cố, thi liệu, các lớp từ ngữ, những vấn đề thi pháp ngôn ngữ mang tính cao nhã, từ chương, uyển ngữ trong
ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều, đặc biệt là ý nghĩa hàm ẩn, các tầng nghĩa văn hoá
của chúng trong từng ngữ cảnh cụ thể Đây cũng là một trong những việc làm cần thiết góp phần nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm văn học
cổ điển trong nhà trường và bảo tồn vốn di sản Hán Nôm của ông cha ta Từ những ý
nghĩa cấp thiết trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá như một sự thể nghiệm, biện giải ngôn ngữ văn chương
cổ điển và văn hoá thông qua các mối quan hệ biện chứng giữa chúng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự ra đời của Truyện Kiều là một mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành
của ngôn ngữ văn học, văn hoá dân tộc Tài năng và những đóng góp của Nguyễn
Du không chỉ được thể hiện qua việc tái tạo một tác phẩm tiểu thuyết diễm tình Hán văn trong văn học cổ điển Trung Quốc mà còn được khẳng nhận từ nhiều góc độ khác nhau, nhất là từ phương diện ngôn ngữ và văn hoá
Với số lượng 3.254 câu thơ lục bát trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã huy
động một vốn từ phong phú, đa dạng và liên kết chúng thành một hệ thống ngữ liệu đặc sắc tạo nên những thần cú diễm từ trong văn học cổ điển Việt Nam Do đó, nó đã trở thành một đối tượng nghiên cứu, so sánh của nhiều chuyên ngành khác nhau như: Văn bản học, Thi pháp học cổ điển, Ngôn ngữ học văn hoá gắn liền với những tên tuổi các học giả nổi tiếng như Phạm Quỳnh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Sỹ Tế, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Khắc Viện, Bửu Cầm, Lê Ngọc Trụ, Bùi
Trang 11Khánh Diễn, Tản Đà, Bùi Giáng, Bằng Giang, Thẩm Thệ Hà, Trần Phương Hồ, Nguyễn Tử Quang, Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Văn Hoàn, Lê Trí Viễn, Đào Thản, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thạch Giang và gần đây nhất là những công trình quy mô của Trần Đình Sử, Trần Nho Thìn, Nguyễn Hữu
Sơn, Đào Thái Tôn, Phạm Đan Quế, Lê Thu Yến, Lê Xuân Lít, Vũ Thanh Huân
Tựu trung, qua những tư liệu hiện có, theo chúng tôi, lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ
nghệ thuật Truyện Kiều có thể khái quát thành các hướng như sau:
2.1 Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Từ góc nhìn lịch sử phái sinh, tuỳ theo từng mục đích của các chuyên luận,
tiểu luận nghiên cứu, vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật của Truyện Kiều được xem xét từ
nhiều góc độ với nhiều khái niệm khác nhau Qua nghiên cứu, chúng tôi tạm nêu
một số nét khái quát như sau: Ngôn ngữ nhân dân và ngôn ngữ quý tộc (Lê Trí Viễn, Đào Thản, Lê Đình Kỵ, Đặng Thanh Lê); Ngôn ngữ hiện thực và ngôn ngữ
ước lệ (Nguyễn Lộc, Lê Đình Kỵ); Ngôn ngữ (dòng, sắc thái) bình dân và bác học
(Mai Quốc Liên, Lê Đình Kỵ); Ngôn ngữ văn học dân gian và ngôn ngữ văn học
chữ Hán (ngôn ngữ văn chương bác học) (Đào Duy Anh, Lê Trí Viễn, Nguyễn Lộc,
Đặng Thanh Lê, Đào Thản, Nguyễn Thuý Hồng); Ngôn ngữ Việt và ngôn ngữ Hán
Việt (Đào Thản, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Lộc, Hoàng Hữu Yên, Nguyễn Thuý
Hồng, Lê Thu Yến, Vương Trọng )
Trong Lịch sử văn học Việt Nam (tập 3, in năm 1962, tái bản 1976) của
nhóm tác giả Đại học Sư phạm, khi bàn về một vài phương diện của nghệ thuật Nguyễn Du, Lê Trí Viễn đã cho rằng:
Nguyễn Du sử dụng rất tài tình vốn ngôn ngữ nhân dân Ông cũng đã học tập cách sử dụng của người đi trước hay đồng thời Nguyễn Du còn dùng ca dao và tục ngữ, cách dùng cũng có những hình thức biến hoá tài tình, thích hợp Hồ Xuân Hương đã có lối trích dùng ca dao và tục ngữ thành điển cố ngang hàng với những điển cố trong văn học Trung Quốc Điều đó không những nâng cao giá trị của vốn dân tộc mà tác dụng thực tế
là đem lại cho thơ văn một ý vị đậm đà, một dáng dấp thanh thoát mà khi
Trang 12dùng điển cố ngoại lai không thể có được Nguyễn Du đã thực sự đi theo con đường đó và đã rất thành công [168, tr.179 - 180]
Bên cạnh đó, Lê Trí Viễn còn nhấn mạnh đến vấn đề ảnh hưởng của văn hoá
Trung Hoa trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều, ông khẳng định: “Tác giả Truyện Kiều cũng tiếp tục truyền thống vay mượn văn học Trung Quốc đã có từ
lâu Hoặc lấy ngay những thành ngữ chữ Hán, hoặc thu gọn những điển cố trong văn học Trung Quốc thành những thành ngữ bằng tiếng Việt Nam, hoặc chuyển hình ảnh trong thơ Trung Quốc sang thơ Việt Nam.” [168, tr.180]
Những nhận định trên đã được Lê Trí Viễn tiếp tục tái khẳng định trong giáo
trình Văn học Trung đại Việt Nam (Trường ĐHSP TP HCM, 1996) [169] Quả vậy,
qua những nhận xét của nhà nghiên cứu, chúng ta có thể nhận thấy khả năng phổ
cập hoá, dung dị hoá của lời thơ Truyện Kiều của Nguyễn Du đến với mọi tầng lớp
nhân dân Đó có lẽ cũng là niềm tự hào lớn của dân tộc mà không phải tác giả văn học nào cũng có thể đạt được
Theo sự sưu tập của chúng tôi, xuất phát từ quan điểm xem ngôn ngữ là một
bộ phận quan trọng cấu thành vẻ đẹp đặc biệt của tác phẩm, Nguyễn Lộc trên Tạp
chí Văn học số 11 năm 1965 với bài viết Ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều [89]
và tiếp tục trong công trình Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ
XIX) (1978, tái bản 2006) [90] đã khảo sát nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn
Du ở các phương diện như từ ngữ Hán Việt, điển cố, thi liệu, ngữ liệu tập văn, tập thi Tác giả đi sâu phân tích nét đặc sắc và chỉ ra những sáng tạo của Nguyễn Du trong nghệ thuật sử dụng từ trong thi phẩm của mình Ông cho rằng:
Cũng như Hồ Xuân Hương, với Nguyễn Du thơ ca không tự bó mình trong khuôn khổ nào của ngôn từ Không có sự phân biệt của ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời sống Đối với ông, bất cứ một từ ngữ nào cũng trở thành từ ngữ của thơ, miễn là phải dùng nó một cách có nghệ thuật [90, tr 778]
Tiếp tục những kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lộc, nhà Ngữ học Đào Thản
với tiểu luận Đi tìm một vài đặc điểm ngôn ngữ Truyện Kiều (1966) [135] đã khái
quát những vấn đề cơ bản về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du, nhất là
Trang 13phần điển cố và các ngữ liệu cổ văn khác Trong những công trình này này, các tác
giả đã nhận định cụ thể như sau: “Cái đặc sắc ở Nguyễn Du là ở chỗ mài dũa đến
điêu luyện mà không làm mất vẻ tự nhiên, chọn lọc tinh vi mà không cầu kỳ vẫn giữ được phần trong trẻo của ngôn ngữ dân tộc” [135, tr.68] Trong Đặc điểm ngôn ngữ Truyện Kiều (1988), Đào Thản tiếp tục khẳng định:
Ngôn ngữ Truyện Kiều nói chung không có vay mượn xa lạ và cầu kì như Cung oán ngâm khúc, không có cái đài các quá ư lộng lẫy nhưng bề bộn rườm rà của Hoa tiên hay đẽo gọt vụng về của Sơ kính tân trang Quả thật ngôn ngữ Truyện Kiều gần với thôn ca hơn cả [136, tr.169]
Truyện Kiều là tác phẩm nổi tiếng trong và ngoài nước, đã có nhiều công
trình nghiên cứu tiếp cận nó từ nhiều góc độ khác nhau nhằm tìm hiểu phong cách đặc thù của Nguyễn Du và giai phẩm nổi tiếng của ông Từ góc độ phong cách, tu từ
học, một số nhà nghiên cứu như Nguyễn Sỹ Tế trong Luận đề về Nguyễn Du và
Đoạn Trường Tân Thanh (1959) [154], Phạm Văn Diêu với Việt Nam văn học giảng bình (1970) [23], Nguyễn Quảng Tuân trong Tìm hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều (1992, tái bản có bổ sung 2000) [159], Chữ nghĩa Truyện Kiều (1990, 2004)
[158], Đặng Thanh Lê trong Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (1979) [80] và trong mục Truyện Kiều (Giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế
kỉ XIX, 1999) [81], Giảng văn Truyện Kiều (1999, 2006) [82] và Thích Nhất Hạnh
với Thả một bè lau - Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán (2000) [140] cũng đã
có những dòng đánh giá, giảng giải và bình phẩm về hệ thống từ ngữ trong các đoạn
trích tiêu biểu của Truyện Kiều khá hấp dẫn Khi khẳng định Truyện Kiều là một
thành tựu rực rỡ và kết tinh những giá trị văn hoá đặc biệt của ngôn ngữ dân tộc Việt Nam, Đặng Thanh Lê đã cho rằng:
Vận dụng triệt để ngôn ngữ dân tộc - đưa hệ thống từ vựng xã hội, đưa khẩu ngữ vào mảnh đất thơ ca, kế thừa ngôn ngữ văn học dân gian và tiếp thu tinh hoa ngôn ngữ văn học nước ngoài đồng thời Nguyễn Du tái tạo tất cả những chất liệu đó theo yêu cầu xây dựng hình tượng và chủ đề tác phẩm Sử dụng vốn liếng ngôn ngữ của đời sống quá khứ, của ngoại lại đồng
Trang 14thời in vào đó dấu vết của phong cách cá nhân, của cá tính sáng tạo, những câu thơ Kiều phản phất phong vị ca dao, phong vị thơ Đường luật, phong cách thành ngữ, tục ngữ và cả màu sắc khúc ngâm trữ tình nhưng đồng thời đó vẫn là những câu thơ riêng biệt của Truyện Kiều [81, tr.206]
Đặc biệt, trong công trình Tìm hiểu phong cách của Nguyễn Du qua Truyện
Kiều (1985, tái bản có bổ sung 2003) [100], Phan Ngọc đã đưa ra những nhận định
về phong cách, cũng như nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du và tác phẩm của ông rất khoa học và thú vị Nhà nghiên cứu đã cho rằng:
Nghiên cứu Truyện Kiều trong phong cách thể hiện truyện Nôm ta thấy tác giả thừa hưởng những cái hay của thể loại nhưng còn phải chịu một vài nhược điểm của nó Cái hay là ở tâm trạng, ở ngôn ngữ, ở sự xây dựng một phong cách diễn đạt gần như toàn dân Nhưng nhược điểm vẫn còn: phần thể hiện hoàn cảnh khách quan không mãnh liệt mà chiều theo khuôn sáo, đưa yếu tố thần linh vào không tự nhiên, những khuyết điểm chung của hầu hết các truyện Nôm [100, tr.323]
Tiếp sau Phan Ngọc, Trần Đình Sử trong Thi pháp Truyện Kiều (2002) [132]
đã khảo sát và tìm hiểu thế giới nghệ thuật, tư duy nghệ thuật của Nguyễn Du và tác phẩm của ông một cách khá công phu Tác giả đã đi vào nghiên cứu tác phẩm theo một hệ thống và biện giải nó ở nhiều phương diện Ông đã tôn vinh Nguyễn Du là
“nhà nghệ sĩ ngôn từ”, là “nhà nghệ sĩ bậc nhất về ngôn từ trong văn học trung đại
Việt Nam” [132, tr.305] Đặc biệt, Trần Đình Sử đã nhấn mạnh:
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du với tư cách nghệ sĩ, ông cũng “đập vỡ” cấu trúc ngôn ngữ hàng ngày để tạo thành ngôn từ nghệ thuật Ông đã tránh ngôn từ tác giả thực dụng để sử dụng ngôn từ đã chủ thể Ông đã trao quyền tự sự cho người kể chuyện và cho nhân vật, làm cho ngôn từ ấy có thể
“nói” nhiều hơn là lời của ông Tham tri bộ Lễ, ông Cai bạ Quảng Bình và ông sứ thần triều Nguyễn [132, tr.308]
Qua những công trình của Lê Trí Viễn, Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê, Phan Ngọc, Nguyễn Quảng Tuân, Trần Đình Sử người đọc cảm thấy
Trang 15thích thú với những nhận xét sắc sảo, tinh tế, thực sự thoả đáng và qua đó có thể có được một cái nhìn khái quát hơn về phong cách ngôn ngữ, thế giới thẩm mỹ và quan điểm sáng tác của Nguyễn Du - nhà thơ vĩ đại của dân tộc
Như đã trình bày, kể từ ngày ra đời cho tới nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du
đã được giới nghiên cứu Ngữ văn học tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Trong hàng trăm nghiên cứu, một số được tập trung vào tư tưởng và triết lý từ câu chuyện hay từ tác giả qua câu chuyện; một số xoay quanh các giá trị đạo lý có thể suy ra từ tác phẩm; và một số đặt trọng tâm về ngôn ngữ dùng trong truyện Đối với vấn đề
ngôn ngữ Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy, khái quát về giá trị ngôn ngữ của tác phẩm
này đã có những đánh giá cụ thể bằng nhãn quan thẩm mỹ mang tính định lượng, bằng
những số liệu thống kê khá cụ thể và chi tiết Theo phương pháp này, Từ điển Truyện
Kiều (1974) [03] của Đào Duy Anh, Tìm hiểu từ ngữ Truyện Kiều (2001) [91] của Lê
Xuân Lít, Nghệ thuật trữ tình của Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1995) [161] của Đỗ Minh Tuấn, luận án Từ ngữ Việt và từ ngữ Hán Việt trong ngôn ngữ nghệ thuật
Truyện Kiều (1995) [65] của Nguyễn Thuý Hồng đã có những con số chính xác về tần
số, tần suất xuất hiện của các ngữ liệu Hán Việt và thuần Việt trong tác phẩm Cách làm này nhằm đưa đến cho người đọc một cái nhìn khoa học, thực chứng về hệ thống
từ vựng trong ngôn ngữ Truyện Kiều Thông qua hệ thống này, người tiếp nhận đã có
những cơ sở, số liệu cụ thể để có thể tìm hiểu, biện giải và cắt nghĩa ý đồ nghệ thuật, thế giới trữ tình và hình tượng nhân vật mà Nguyễn Du muốn gửi gắm trong tác phẩm của mình một cách khoa học và hợp lý
2.2 Nghiên cứu về ngôn ngữ Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá
So với nhiều truyện Nôm cùng thể tài khác, ngôn ngữ nghệ thuật Truyện
Kiều dường như là một thế giới đầy hương sắc, là phức thể đa dạng và phong phú
Do đó, càng đào sâu tìm hiểu, chúng ta càng phát hiện thêm nhiều điều mới lạ Tuy nhiên, trong nhiều đặc điểm trội bật ấy, sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua toàn bộ ngôn ngữ
Truyện Kiều và làm nên giá trị vĩ đại của tác phẩm ấy, phải chăng là sự kết hợp
tuyệt diệu giữa hai khuynh hướng bình dân và bác học trong ngôn ngữ tác phẩm
Đây có thể xem là những bước khám phá đầu tiên về ngôn ngữ Truyện Kiều từ góc
Trang 16nhìn văn hoá, cụ thể ở đây là văn hoá bình dân và bác học Mai Quốc Liên trong
Dòng bác học và dòng bình dân trong ngôn ngữ Truyện Kiều (1966) đã cho rằng:
Nguyễn Du là một nhà thơ vô song đã đóng góp rất nhiều vào ngôn ngữ văn học dân tộc Công lao của ông trong việc kế thừa một cách sáng tạo ngôn ngữ dân gian và trong việc sử dụng tài tình ngôn ngữ văn học Trung Quốc Thành tựu tuyệt vời của ông trong việc làm phong phú, làm trong sáng ngôn ngữ văn học thế kỷ XIX đã có ảnh hưởng sâu xa và lâu dài đến sự phát triển ngôn ngữ văn học dân tộc ta [83, tr.57]
Sau học giả Mai Quốc Liên, nhà lý luận phê bình văn học Lê Đình Kỵ cũng
khảo sát Sắc thái bác học, sắc thái bình dân và tính thống nhất của ngôn ngữ
Truyện Kiều (1986), ông cũng thống nhất quan điểm:
Tính dân tộc của ngôn ngữ có gốc rễ chủ yếu ở thành phần bình
dân những yếu tố bác học như điển cố, tượng trưng, ước lệ đã được Nguyễn Du nhào nặn tái tạo và đưa vào một âm hưởng mới, chứa chan tình điệu dân tộc ” và “làm thế nào kết hợp giữa hai thành phần đó trong cùng một tác phẩm mà không có sự phân ly, chắp nối Hoàn cảnh mỹ học cụ thể lúc bấy giờ cho phép sự thống nhất hai thành phần ấy trong một sự kết hợp biện chứng, hữu cơ [76, tr 425]
Hướng tiếp cận trên tuy đã chỉ ra được hai nguồn gốc cơ bản cấu thành hệ
thống ngôn ngữ nghệ thuật của Truyện Kiều nhưng vẫn chưa đi sâu phân tích, đưa
ra những dẫn liệu cụ thể và nêu bật rõ ràng những nét nghĩa văn hoá ẩn hàm trong
ngôn ngữ Truyện Kiều, nhất là nguồn gốc, xuất xứ cụ thể của hệ thống ngữ liệu văn
hoá trong tác phẩm tiêu biểu này
Năm 1995, Nguyễn Thị Ly Kha đã công bố bài viết Bước đầu tìm hiểu về
hiện tượng giao thoa từ ngữ tiếng Hán sang từ ngữ tiếng Việt (qua cứ liệu Đoạn trường tân thanh) và phần phụ lục Đôi điều về Truyện Kiều và cổ thi trong Kỷ yếu
Hội nghị Khoa học, Trường Đại học Tổng hợp TP HCM Từ góc độ lý thuyết tiếp
xúc ngôn ngữ, tác giả đã trình bày khá nhiều vấn đề về sự giao thoa của hai hệ thống ngôn ngữ, tuy nhiên, bài viết cũng chỉ dừng lại ở mức độ nêu vấn đề, chưa
Trang 17thật sự giải quyết một cách thấu đáo những giá trị văn hoá của hai hệ thống từ ngữ Hán Việt và thuần Việt trong điều kiện hành chức của nó Trong bài viết này, tác giả cũng nhận định:
Giao thoa ngôn ngữ gắn liền với giao thoa văn hoá Sự giao thoa ấy
đã góp phân tăng thêm cho Truyện Kiều một số lượng từ phong phú, có khả năng chuyển tải mọi tâm tư phức tạp tế nhị của con người Sự giao thoa từ ngữ trong Truyện Kiều góp thêm một minh chứng về khả năng mở khi tận dụng ngôn ngữ để diễn đạt nhưng vẫn đảm bảo quy luật tiết kiệm ngôn ngữ bằng phương thức chuyển nghĩa từ có tác dụng tích cực khi người song ngữ ấy đồng thời là người song văn hoá [68, tr 160]
Về ngôn ngữ bình dân, nhất là lớp từ ngữ dân tộc qua ca dao, tục ngữ, lối nói
khẩu ngữ, từ địa phương đã được các tác giả Hoàng Hữu Yên trong Cái hay, cái đẹp
của tiếng Việt trong Truyện Kiều (2003) [173], Phạm Đan Quế trong Về những thủ
pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều (2008) [115], Thế giới nghệ thuật
Truyện Kiều (2013) [122], Lê Nhật Ký trong Giá trị thẩm mỹ của từ láy trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (2013) [97] đã có những kết luận cơ bản Bàn về vấn
đề này, nhà nghiên cứu Hoàng Hữu Yên đã nhận thấy:
Đọc các tác phẩm Nôm của Nguyễn Du, chúng ta bắt gặp trong
Truyện Kiều cũng như trong một số tác phẩm khác của nhà thơ vốn từ thuần
Việt lấp lánh trong tác phẩm, chứng tỏ đại thi hào của chúng ta hết sức trân trọng và chân thành học tập sáng tạo từ cái vốn quý đó [179, tr.31]
Cũng như hướng tiếp cận văn bản học của Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Tài Cẩn, Đào Thái Tôn, Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Quảng Tuân , hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ khi phân tích, khảo chứng về hai nguồn gốc bác học
và bình dân của ngôn ngữ Truyện Kiều đều có những nhận xét khái quát về phong
cách ngôn ngữ văn hoá của Nguyễn Du Có thể nói, lời thơ của Tố Như rất gần gũi với lời ăn tiếng nói và nếp suy nghĩ của mọi tầng lớp nhân dân Nhà thơ đã có ý thức rất cao khi học tập, kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá của ngôn từ trong văn chương bác học, bình dân Việt Nam Đó cũng chính là cống hiến vĩ đại của Nguyễn
Du và Truyện Kiều đối với lịch sử phát triển của ngôn ngữ văn học dân tộc
Trang 18Cũng từ góc độ văn hoá, một số nhà nghiên cứu khác đã đi theo khuynh hướng truy tìm những nguồn gốc, xuất xứ của các ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ
Truyện Kiều Đây có thể xem như là một trong những hướng tiếp cận liên ngành
ngôn ngữ - văn hoá kết hợp với những thành tựu nghiên cứu về Huấn hỗ học Hán ngữ Đặc biệt ở đây, hướng tiếp cận này có thể phục dựng lại một bức tranh phong phú về những ảnh hưởng của văn hoá, văn chương cổ điển Trung Hoa, Việt Nam đến tư duy thẩm mỹ, khả năng lựa chọn ngữ liệu trong quá trình hình thành tác phẩm
và tìm hiểu được sự vận động lý thú, những ảnh hưởng của ngôn ngữ nghệ thuật Truyện
Kiều đến đời sống văn chương hậu thế
Những tác giả đặt nền móng cho hướng nghiên cứu này, theo chúng tôi, có thể kể đến vai trò mở đường của Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Quảng Tuân, Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Hoàng Hữu Yên, Nguyễn Thạch Giang, Lê Thu Yến, Nguyễn Hữu Sơn Nhà nghiên cứu
Đặng Thanh Lê trong Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (1979) [80], Nguyễn Thạch Giang trong Đoạn Trường tân thanh qua cái nhìn của Thiền gia, Nho gia (1995) [47], Lời quê chắp nhặt (2001) [46] và Nguyễn Thuý Hồng trong công trình Từ ngữ Việt và từ ngữ Hán Việt trong Truyện Kiều (1995) [65] và Phạm Đan Quế trong công trình Về những thủ pháp nghệ thuật văn chương Truyện Kiều (2006) [115], Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều (2013) [122] đã đặt vấn đề khảo sát
hệ thống ngôn ngữ văn hoá trong ngôn ngữ truyện Nôm nói chung và Truyện Kiều
nói riêng như một thủ pháp đặc trưng tiếp cận thế giới nghệ thuật tác phẩm từ sự phân loại nguồn gốc của từ ngữ: Việt và Hán - Việt Kết quả nghiên của các chuyên gia trên đều thống nhất, phù hợp với quan điểm của Nguyễn Thuý Hồng, khi tác giả cho rằng:
Từ ngữ Hán Việt được vận dụng trong ngôn ngữ Truyện Kiều và các truyện thơ Nôm chủ yếu là những từ ngữ thuộc lĩnh vực ngôn ngữ văn hoá (ngôn ngữ của các văn bản viết) của Trung Quốc như: Các từ địa danh, nhân danh và điển cố thi liệu quen thuộc của văn chương Trung Quốc, các thuật ngữ khái niệm trong các tác phẩm triết học Phật giáo và kinh điển Nho giáo [65, tr.45 - 46]
Trang 19Kết quả của hướng nghiên cứu trên tuy có nhiều điểm mới so với những người đi trước song những tác giả này là đi sâu phân tích, quy loại, phân loại các ngữ liệu một cách chặt chẽ, theo hệ thống, đặc biệt là chưa nêu bật vẻ đẹp cũng như
sự đóng góp của hệ thống từ ngữ này đối với toàn bộ hệ thống cấu trúc ngôn ngữ
nghệ thuật Truyện Kiều Nói cách khác, đây cũng là hướng tiếp cận và lý giải
Truyện Kiều bằng phương pháp thống kê học, một trong những phương pháp đặc
trưng của ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu Tuy vậy, kết quả nghiên cứu trên cũng
là những định hướng quan trọng giúp cho người thực hiện đề tài này đi sâu phân tích những đặc trưng và giá trị nghệ thuật của lớp từ ngữ văn hoá trong ngôn ngữ
nghệ thuật Truyện Kiều
Có thể nói, các công trình nghiên cứu về thế giới ngôn ngữ trong sáng tác của Nguyễn Du ngày càng nhiều nhưng việc nghiên cứu, đánh giá nó dưới góc độ liên ngành ngôn ngữ - văn hoá vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức Cá biệt,
một số nhà thơ đã chịu ảnh hưởng về tư tưởng, văn phong của Truyện Kiều một
cách rất nghệ thuật và văn hoá Chẳng hạn ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975,
Tuệ Không Phạm Thiên Thư đã cảm khái viết nên Đoạn Trường vô thanh (Lá Bối xuất bản, Sài Gòn, 1974) [149] như một sự tâm cảm, “biệt nhỡn liên tài” đối với Tố Như Tử Ngôn từ văn hoa, ý tứ điêu luyện, bố cục rõ ràng, Đoạn Trường vô thanh
như một sự tương thức, hoà hợp của những tình điệu thẩm mỹ, như một sự hội ngộ ngẫu nhiên của những hồn thơ đa cảm trước cảnh tang thương của cuộc đời và mang theo cả lịch sử văn hiến ngàn năm của một dân tộc anh hùng Tuy vậy, theo chúng tôi, mở đầu cho hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hoá đối với
Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều có lẽ là nhà Kiều học Phạm Đan Quế, trong hàng loạt các công trình của mình do nhà xuất bản Thanh niên ấn hành như: Tập Kiều -
một thú chơi tao nhã (1999) [112], Đố Kiều - nét đẹp văn hoá (2002) [118], Về những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều (2002) [115], Bình Kiều, Vịnh Kiều, Bói Kiều (2003) [110], Lục bát hậu Truyện Kiều (2003) [117], Truyện Kiều trên báo chương thế kỷ XX (2004) [120], Thế giới nhân vật Truyện Kiều
(2005) [121], Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều (2013) [121] và bộ sách Truyện
Trang 20Kiều trong văn hoá Việt Nam (Tùng thư Truyện Kiều) (2013) của Hội Kiều học Việt
Nam đã bước đầu đi sâu phân tích những nét đẹp văn hoá được thể hiện qua ngôn ngữ của thi phẩm
Thông qua những bộ tùng thư văn hoá Kiều mà chúng tôi vừa đề cập trên,
Phạm Đan Quế đã nêu bật những hiện tượng, khía cạnh văn hoá của Truyện Kiều đã
ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống xã hội, văn học nước nhà Tuy nhiên, qua các công trình này, các tác giả chưa thực sự đầu tư phân tích quá trình chuyển hoá, đặc
trưng văn hoá Trung Hoa và Việt Nam đã ảnh hưởng đến ngôn ngữ Truyện Kiều
như thế nào Nói cách khác, cả Phạm tiên sinh lẫn Tuệ Không cư sỹ đã góp phần
minh chứng cho sức sống trường cửu của Truyện Kiều và những câu lục bát đậm
tình dân tộc Tuy nhiên, cả hai đều chưa đi sâu lý giải cội nguồn văn hoá của tác phẩm Sự lan toả, vang vọng của những nét nghĩa văn hoá ẩn hàm bên trong lớp
ngôn ngữ đặc biệt của Truyện Kiều đã khiến cho giai phẩm này đi vào thế giới tinh
thần của người đọc dường như lớn hơn nhiều so với những gì mà Nguyễn Du đã ký
thác Giá trị, ý nghĩa của Truyện Kiều ngày càng được nâng cao bởi những yếu tố
thẩm mỹ, những nội hàm văn hoá đang ẩn sâu dưới lớp băng nghệ thuật của ngôn từ
và nó đem lại cho người tiếp nhận những dự cảm, tình điệu, tâm thức mới trong hành trình đi tìm các tầng nghĩa nhân sinh, văn hoá của nghệ thuật và đời sống
Từ năm 1999 đến nay (2014), một số nhà nghiên cứu đã kế thừa quan điểm học thuật của Dương Lâm (Trung Quốc), Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương
Đặc biệt, các chuyên luận Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá (2003, tái bản bổ sung 2007) [144] của Trần Nho Thìn, Từ cái nhìn văn hoá (1999) [147], Văn hoá Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hoá (2005) [148] của Đỗ Lai Thuý,
Từ vựng Hán ngữ với nền văn hoá Hoa Hạ (2002) [66] của Huỳnh Chương Hưng
đã thật sự mang lại một hướng tiếp cận mới cho lĩnh vực nghiên cứu Ngữ văn cổ điển ở Việt Nam Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu mới nhất về ngôn ngữ
văn hoá trong Truyện Kiều được các nhà nghiên cứu như Thái Kim Đỉnh, Vương
Trọng, Vũ Thế Khôi, Trương Quế Phương, Lê Thu Yến, Trương Xuân Tiếu, Mai Thị Ngọc Chúc, Vũ Thanh Huân, Lê Nhật Ký lần lượt công bố cho thấy trào lưu
Trang 21tiếp cận ngôn ngữ văn hoá đối với Truyện Kiều đã thực sự cần thiết, cần có sự nâng
cấp thành lý luận Do đó, kế thừa những người đi trước, chúng tôi luôn ý thức tìm
về những giá trị văn hoá của Truyện Kiều cũng như là những sáng tạo mà Nguyễn
Du đã để lại cho hậu thế
Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện luận án, bản thân chúng tôi cũng đã cố gắng tìm hiểu, thể hiện kết quả nghiên cứu bước đầu của mình về giá trị văn hoá
trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều qua một số bài viết như: Hàm nghĩa văn
hoá của chữ Đông và chữ Tây trong văn học trung đại Việt Nam (2003), Đặc trưng
thẩm mỹ của hệ thống ngữ liệu văn hoá trong Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
(2009), Hàm nghĩa văn hoá của hai từ Nam, Bắc trong ngôn ngữ văn học trung đại
Việt Nam (2011), Ảnh hưởng của ngôn ngữ văn hoá Truyện Kiều đến đời sống văn chương và xã hội Việt Nam (2012), Phong cách văn hoá Nguyễn Du qua ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều (2013)
Qua một số hướng tiếp cận văn hoá đã đề cập trên, chúng tôi cho rằng việc khảo sát hệ thống ngữ liệu mang hàm nghĩa văn hoá trong Ngôn ngữ nghệ thuật
truyện Nôm nói chung, Truyện Kiều nói riêng là một vấn đề hấp dẫn và cần có sự
đầu tư thỏa đáng Điều đó cho thấy, đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá mà chúng tôi đang thực hiện tuy không phải hướng tiếp cận mới
lạ, song nó vẫn còn là mảnh đất khá màu mỡ cho những ai tâm huyết với các tác phẩm văn học dân tộc Hướng tiếp cận này góp phần minh chứng khả năng liên hội của từ ngữ văn hoá tạo nên đặc trưng tư duy mang tính biểu tượng, ý nghĩa liên hội
của các chúng trong ngôn ngữ Truyện Kiều, làm cho trường liên tưởng của tác phẩm
này càng được mở rộng mà mỗi độc giả tuỳ theo bề dày văn hoá của mình có thể thẩm thấu được
Tóm lại, từ những hướng nghiên cứu đã tổng thuật và nhìn lại một chặng
đường lịch sử khảo sát Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy tiếp cận tác phẩm văn học
từ góc nhìn văn hoá là vấn đề lớn, cần có sự đầu tư, tìm hiểu của nhiều thế hệ học giả và bạn đọc Từ định hướng này, nhiều nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu, khám phá thế giới nghệ thuật, bức tranh ngôn ngữ về đời sống xã hội, khẳng định những
Trang 22cách tân, đóng góp của Thanh Hiên tiên sinh trong quá trình chiếm lĩnh hiện thực cùng với những trải nghiệm của một nhà nghệ sỹ trước những dâu bể, biến thiên, tang thương của cuộc đời Do vậy, khảo sát hệ thống ngôn ngữ tác phẩm văn học
trung đại nói chung và Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều nói riêng từ góc độ văn
hoá là một công việc khá phức tạp và có giá trị khoa học, thực tiễn đối với công tác nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm này trong nhà trường Thông qua hệ thống ngữ liệu văn hóa, một số nhà nghiên cứu bước đầu đã khám phá nội dung, tư tưởng, những sáng tạo, đặc trưng phong cách văn hoá của đại thi hào Nguyễn Du
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá,
chúng tôi nhận thấy cần phải có những cách thức tiếp cận liên ngành, khảo cứu, giảng giải ngữ liệu văn hoá một cách khoa học và chuẩn xác Vì thế, khi thực hiện luận án, chúng tôi cũng đã gặp không ít những khó khăn nhất định Tuy nhiên, việc xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài đã giúp tác giả luận án từng bước tháo gỡ được những vướng mắc học thuật cần giải quyết
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án chúng tôi là hệ thống ngữ liệu văn
hoá trong Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều, cụ thể ở đây là ngữ liệu văn hoá bác
học và ngữ liệu văn hoá bình dân Xét về hình thức ngôn ngữ, nguồn gốc và xuất
xứ, đây là hệ thống từ ngữ Hán Việt, có yếu tố Hán Việt, thuần Việt, từ ngữ nguyên dạng hay chuyển dịch được dẫn dụng trong văn chương bác học có nguồn gốc từ các tác phẩm kinh điển trong triết học và văn chương cổ điển Trung Hoa như Tứ thư 四書, Ngũ kinh 五經, Lão Tử Đạo Đức kinh 老子道德經, Trang Tử Nam Hoa kinh 莊子南華經, Sở Từ 楚辭, Nhạc phủ 樂府, Đường thi 唐詩, Tống từ 宋詞, Minh Thanh cổ điển tiểu thuyết 明清古典小說 hay những bộ kinh tạng của Phật giáo nói chung Về ngữ nghĩa và phạm vi sử dụng, đó là các từ ngữ thể hiện những quan niệm, biểu tượng về màu sắc, phương vị, từ ngữ thuộc các lĩnh vực chính trị, quân sự, sinh hoạt văn hoá cộng đồng, quan niệm đạo đức, thẩm mỹ của thi ca cổ điển phương Đông Cụ thể có thể khái quát thành những thành phần sau: địa danh,
Trang 23nhân danh Hán Việt, các từ ngữ, khái niệm xã hội, thành ngữ, tục ngữ Hán Việt, hệ thống từ ngữ, thi văn liệu tiếp thu từ văn hoá, văn học cổ điển Trung Hoa
Bên cạnh những ngữ liệu có nguồn gốc từ văn hoá, văn chương bác học, đề tài còn hướng đến những từ ngữ có nguồn gốc từ trong văn học dân gian, văn học bình dân, trong lối nói sinh hoạt khẩu ngữ đời thường của cuộc sống Cụ thể là các thành phần ngôn ngữ như: từ ngữ có phong cách khẩu ngữ, bình dân (chủ yếu nghiên cứu qua lớp hư tư tiếng Việt, từ cổ Việt ngữ, từ địa phương xứ Nghệ), từ láy, những từ ngữ ảnh hưởng từ ca dao, thành ngữ, tục ngữ và khẩu ngữ trong tiếng Việt
Đặc biệt, luận án còn hướng đến một lớp từ ngữ chịu ảnh hưởng từ Truyện
Kiều trong văn chương và đời sống tinh thần của các thế hệ văn nghệ sĩ sau Nguyễn
Du mà chúng tôi tạm gọi là Từ ngữ văn hoá hậu Truyện Kiều Do vậy, thông qua
kết quả thống kê, phân loại ngữ liệu, chúng tôi sẽ bước đầu đi vào tìm hiểu, phân
tích hàm nghĩa văn hoá, chức năng, giá trị sử dụng nó trong ngôn ngữ Truyện Kiều
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, những ảnh hưởng của văn hoá bác học, bình dân đối với ngôn ngữ nghệ
thuật Truyện Kiều Từ những kết luận có được, thông qua quá trình khảo sát, thống
kê, phân loại các tiểu hệ thống ngôn ngữ với những nét nghĩa văn hoá đặc thù, chúng tôi bước đầu tìm hiểu phong cách, giá trị cũng như những hiệu quả thẩm mỹ
của các hệ thống ngữ liệu văn hoá, những biểu hiện cụ thể của nó trong Truyện
Kiều Để tạo tính thống nhất trong quá trình khảo sát ngữ liệu, trong luận án này,
chúng tôi không đi sâu khảo sát những hiện tượng cú pháp câu trong ngôn ngữ nghệ
thuật của Truyện Kiều
Ngoài ra, trên một hệ quy chiếu mới, chúng tôi bước đầu so sánh những đặc trưng văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật của thiên truyện này với một số truyện thơ Nôm bác học khác trước và sau nó
3.3 Văn bản khảo sát, đối chiếu và thống kê
Văn bản Truyện Kiều được khảo sát trong luận văn của chúng tôi là bản
Truyện Thuý Kiều (1925, tái bản 1960) do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo
Trang 24[30] Đây là một trong những bản phiên quốc ngữ chất lượng, có giá trị khoa học
Bên cạnh đó chúng tôi có những đối chiếu và so sánh với các bản quốc ngữ Vương
Thuý Kiều chú giải tân truyện (1952) [35] do Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chấp bút
hiệu đính, chú giải, bình luận, bản Truyện Kiều chú giải (1952, tái bản 2010) [28]
do Vân Hạc Lê Văn Hoè chú giải và bản Kim Vân Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh)
(1960, bản in lần 3) [29] do học giả Bùi Khánh Diễn chú thích và bình luận
Trong quá trình thống kê, tác giả luận án đã sử dụng một số kết quả, thành tựu nghiên cứu về văn bản học, ngôn ngữ học của các nhà nghiên cứu trước đây Với công việc này, chúng tôi muốn góp thêm tiếng nói trong lịch sử tìm hiểu, tiếp
nhận ngôn ngữ Truyện Kiều Tiếp đến là trình bày những diễn giải, cắt nghĩa thêm
một số thông tin liên quan đến các ngữ liệu văn hoá đã được thống kê, phân loại trong luận án Tuy vậy, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã gặp phải không ít khó khăn, nhất là ở hệ thống tiêu chí phân loại ngữ liệu Và tất nhiên, việc thống kê, phân loại, xử lý một số lượng lớn dữ liệu, sự thiếu sót, khiếm khuyết là điều không tránh khỏi, nhất là trong quá trình thẩm bình và phân tích những nét đẹp
văn hoá trong ngôn ngữ Truyện Kiều - Tập đại thành về văn hoá, văn học Việt Nam
4 Mục tiêu nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi tiến hành thống kê cụ thể các thành phần từ ngữ về quy mô, số lượng, tỷ lệ của các thành phần ngôn ngữ bác học, bình dân
trong Truyện Kiều, so sánh tác phẩm này với một số truyện Nôm khác
Từ số lượng, tỷ lệ được thống kê, tác giả luận án sẽ phân tích các đặc điểm ngữ dụng, đặc trưng văn hoá, tính chất đặc thù của từng hệ thống để đi đến những kết luận về vai trò, vị trí và giá trị thẩm mỹ của các thành phần ngữ liệu văn hoá cụ
thể trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Bên cạnh đó, tác giả luận án sẽ so sánh những tương đồng và dị biệt trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du với một số tác giả văn học khác Qua đó,
chúng tôi xác định những đặc trưng trong phong cách văn hoá của tác giả Truyện
Kiều, vị trí của tác phẩm trong tiến trình phát triển văn hoá, văn chương cổ điển
Việt Nam và tiếp tục khái quát những quy luật phát triển của ngôn ngữ văn học trung đại Việt Nam
Trang 255 Nhiệm vụ nghiên cứu
Vận dụng mối quan hệ văn hoá - ngôn ngữ vào khảo sát một tác phẩm văn học cụ thể là một trong những hướng tiếp cận mang tính triết học, đa ngành Hướng
đi này sẽ trực tiếp luận giải mối quan hệ biện chứng giữa văn học, ngôn ngữ với văn hoá Văn hoá là một hiện tượng tồn tại một cách không cụ thể, trực tiếp, người ta chỉ có thể nhận diện văn hoá qua hệ thống các biểu hiện cụ thể - các hiện tượng văn hoá như một tập hợp đa trị cần được tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau Mục đích chính của luận văn là tìm hiểu những giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam
trong hệ thống Ngôn ngữ nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể - Truyện Kiều Thông
qua những kết quả thu thập được, chúng tôi sẽ tiếp tục phân tích những yếu tố văn hoá ẩn hàm trong lớp ngôn từ nghệ thuật đặc sắc của thi phẩm này
Nhiệm vụ cơ bản của luận án là tiến hành phác hoạ một cách chân thực bức
tranh toàn cảnh về thế giới trữ tình của Nguyễn Du trong Truyện Kiều từ góc độ
ngôn ngữ văn hoá Từ đó, chúng tôi xác định những nét riêng biệt về giá trị văn hoá của ngôn ngữ tác phẩm trong hành trình phát triển của văn học cổ điển, những yếu
tố đã làm nên giá trị bất hủ của thi phẩm
6 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm hỗ trợ cho việc lý giải, tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến điển cố, thi
liệu, từ ngữ tập cổ trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều và hàm nghĩa văn hoá của
chúng trong từng ngữ cảnh cụ thể, chúng tôi tiến hành khảo sát, truy nguyên hệ thống
ngữ liệu cổ văn Truyện Kiều trong các văn bản, tài liệu Hán Nôm Đây là một việc
làm cần thiết đối với những ai yêu mến tác phẩm và bảo tồn di sản văn học cổ điển của ông cha ta Vì những lý do cơ bản ấy, chúng tôi thiết nghĩ ngôn ngữ văn hoá
trong Truyện Kiều cần phải xem một biểu tượng, một minh chứng cho mối quan hệ
ngôn ngữ - văn hoá thông qua các quan hệ hữu cơ của hai hệ thống này
Xuất phát từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp các lý thuyết, quan điểm nghiên cứu về văn hoá học, ngôn ngữ học lịch sử, thi pháp học và các kiến thức liên ngành liên quan đến việc khảo chứng hệ thống
ngữ liệu văn hoá bác học, bình dân trong ngôn ngữ Truyện Kiều Trong luận án này,
chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu chính như sau:
Trang 266.1 Phương pháp tiếp cận văn hóa đối với tác phẩm văn học
Với phương pháp này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát cội nguồn, dấu vết văn hóa và đặt hệ thống ngữ liệu văn hóa trong mối quan hệ với chỉnh thể tác phẩm Cụ thể, chúng tôi sẽ từng bước phân tích những giá trị của từng hệ thống ngữ liệu văn hoá bác học, bình dân đã tham gia kiến tạo nên những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Bên cạnh đó, với tư cách là một yếu tố cấu tạo nên những nét
đặc sắc trong Truyện Kiều, chúng tôi cũng đi sâu lý giải những những ảnh hưởng
văn hóa của ngôn ngữ tác phẩm đến đời sống văn chương, học thuật và văn hóa Việt
Nam hậu Truyện Kiều
6.2 Phương pháp thống kê, phân loại và so sánh
Trên cơ sở giới thuyết về các nguồn gốc văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật
Truyện Kiều, chúng tôi đi vào thống kê và phân loại hệ thống ngữ liệu cổ văn
Thông qua việc phối kết hợp hai tiêu chí truyền thống văn hóa (văn hóa Hán, văn hóa Việt) và phẩm chất văn hóa (bác học và bình dân), chúng tôi phân chia thành ngữ liệu văn hóa Hán, bác học và ngữ liệu văn hóa Việt, bình dân Đó là những cơ
sở khoa học để khảo sát toàn bộ hệ thống ngôn ngữ văn hóa trong Truyện Kiều và
chứng minh cho những luận điểm mà chúng tôi sẽ trình bày trong luận án của mình
Dựa vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn tự cũng như khả năng hành chức của nó trong Ngôn ngữ nghệ thuật, trong khi nhận diện các thành phần ngữ liệu văn
hoá trong Truyện Kiều, chúng tôi sử dụng các bản sau: Truyện Thuý Kiều (Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim hiệu khảo) [30]; Vương Thuý Kiều chú giải tân truyện (Tản Đà chú giải) [35]; Từ điển Truyện Kiều (Đào Duy Anh biên soạn) [03]; Đoạn Trường Tân
Thanh dưới cái nhìn Nho gia, Thiền gia (Nguyễn Thạch Giang biên soạn); Truyện
Kiều tập chú (Trần Văn Chánh và nhóm soạn giả chú giải) [32]; Tìm hiểu từ ngữ
Truyện Kiều (Lê Xuân Lít biên soạn) [91]
6.2 Phương pháp phân tích miêu tả
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để phân tích, miêu tả, tìm hiểu các ngữ liệu đã thống kê, từ đó đưa ra những chỉ xuất, những dẫn liệu, nêu rõ nguồn gốc, xuất xứ của ngữ liệu từ kho tàng cổ văn Trung Hoa và Việt Nam Kết quả thu thập
Trang 27được sẽ là luận cứ minh chứng cho những luận điểm mà chúng tôi đề xuất trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án
6.3 Phương pháp phân tích logic
Phương pháp này được sử dụng để phân tích những giá trị thẩm mỹ, văn hoá
của các thành phần ngôn ngữ được sử dụng trong Truyện Kiều Với ý nghĩa là
phương tiện thể hiện thi pháp nghệ thuật ngôn từ của chính tác giả, qua phương pháp phân tích logic, chúng tôi sẽ nêu bật những hiệu quả nghệ thuật của các thành
phần từ ngữ đối với việc xây dựng thế giới nghệ thuật Truyện Kiều và sự thể hiện hệ
thống chủ đề tư tưởng tác phẩm
6.4 Phương pháp tổng hợp, khái quát hoá
Bên cạnh các thao tác thống kê, phân loại, phân tích miêu tả, chúng tôi bước đầu tìm hiểu những tiếp thu, kế thừa và khả năng sáng tạo vốn văn hoá bác học của
thi sĩ Tố Như trong ngôn ngữ Truyện Kiều Qua đó, chúng tôi sẽ đi vào khảo sát
những nét đặc sắc về phong cách, tâm thức văn hoá, quan niệm thẩm mỹ của nhà thơ như một phương cách tiếp cận đặc thù Ngoài ra, chúng tôi đã đặt các hệ thống ngữ liệu đã khảo cứu trong toàn bộ chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm như một yếu tố đặc trưng, một thành phần cơ bản cấu thành “đặc chất văn hóa” của tác phẩm
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Trong những thập kỷ gần đây, việc nghiên cứu ngôn ngữ, văn hoá từ góc độ
liên ngành được mở rộng và đạt nhiều thành tựu khả quan Ở những bước phát triển này, sự quan tâm đến vấn đề tính dân tộc, giao lưu tiếp xúc hay tiếp biến trong ngôn ngữ luôn được quan tâm Và dĩ nhiên, sự quan tâm ấy luôn thể hiện trong quá trình nghiên cứu văn hoá, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Tiếp cận từ chiều sâu của một hoạt động không tách rời của tư duy, ngôn ngữ được coi là một phương tiện duy nhất có khả năng giải mã cho các loại hình gắn liền với phạm trù văn hoá Nhờ vào tiềm năng này, ngôn ngữ có thể tạo nên những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đặc sắc, đánh dấu những bước trưởng thành về mặt văn hoá của một cộng đồng Những đặc sắc, giá trị văn hoá của ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm, Ngâm khúc và Hát nói - những thể loại nội sinh trong văn học cổ điển
Trang 28Việt Nam là một ví dụ điển hình Những giá trị ấy không chỉ thể hiện đặc trưng nghệ thuật và tâm huyết của nhà thi sĩ mà còn đánh dấu một bước trưởng thành trong tư duy nghệ thuật, một bước tiến trong tư tưởng và góp phần tạo nên sắc thái trang trọng quý phái của văn chương cổ điển
Có thể nói, mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ được xác lập trong biên
độ của quá trình tiếp nhận, thể hiện những đặc sắc về nghệ thuật, tư tưởng của tác phẩm Trong thực tế tồn tại, hệ thống từ ngữ, ngữ liệu khi đi vào tác phẩm, nó kiến tạo nên những bức tranh sinh động về xã hội và tâm tưởng của tác giả
Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi nhận thấy, ngôn ngữ nghệ thuật truyện thơ Nôm là một đối tượng hấp dẫn, có khả năng được phóng chiếu nghiên cứu từ nhiều góc độ, nhất là từ hướng tiếp cận văn hoá Do đó, việc tìm hiểu các tầng nghĩa bề nổi, lớp trầm tích văn hoá ẩn giấu bên trong hệ thống ngôn ngữ thể loại truyện Nôm là một hướng giải mã văn hoá khá mới mẻ, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy truyện thơ Nôm trong nhà trường cũng như trong giới học thuật Bên cạnh đó, sự phân tích hệ thống ngữ liệu văn hoá trong truyện Nôm dường như chưa thu hút được thật nhiều chú ý của giới nghiên cứu Một vài cuốn chuyên khảo gần đây mới gợi lên được cái ý niệm về một vùng đối tượng mà trữ lượng dường như chưa lộ rõ, do vậy những sự mô tả và phân tích chưa hẳn đã hoàn toàn hợp lý Có lẽ, theo chúng tôi, đằng sau cả khối di sản này còn có thể đọc ra nhiều thông số lý thú về văn hóa tinh thần người Việt
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được chia thành 03 chương như sau:
Chương 1. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá nhìn từ quan niệm thẩm mỹ trung đại
Đây là chương nghiên cứu lý luận, có tính chất tạo tiền đề khoa học cho quá trình triển khai luận án Do vậy, trong chương này, thông qua việc làm rõ mối quan
hệ hữu cơ, tác động giữa ngôn ngữ và văn hoá, chúng tôi tiếp tục lý giải những đặc trưng nghệ thuật cơ bản về hàm nghĩa văn hoá của hệ thống ngữ liệu trong truyện Nôm bác học Bên cạnh đó, chúng tôi đi sâu khái quát những giá trị văn hoá của
Trang 29ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm, sự thể hiện quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du
qua thơ chữ Hán và Truyện Kiều
Chương 2 Ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Đây là chương nghiên cứu trọng tâm của luận án Nhiệm vụ cơ bản của chương này là tìm hiểu những ảnh hưởng của văn hoá bản địa và ngoại lai trong
ngôn ngữ Truyện Kiều Bên cạnh đó, để có được một cái nhìn cụ thể về những giá trị văn hoá trong Ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều, chúng tôi đã tiến hành những
khảo sát, thống kê hệ thống ngữ liệu bình dân, bác học và khái quát một số nét đặc
trưng văn hoá của hai hệ thống từ ngữ văn hoá trong ngôn ngữ Truyện Kiều
Đặc biệt, từ những số liệu cụ thể, chúng tôi sẽ nêu bật một số nét về nghệ thuật sử dụng, tính linh hoạt, khả năng chuyển dịch, sự chuyển dẫn tự nhiên, hợp lý, thích đáng cùng với những đóng góp cụ thể của hai hệ thống ngữ liệu trong việc
kiến tạo những giá trị văn hoá đặc sắc của Truyện Kiều
Chương 3 Hiệu quả thẩm mỹ của hệ thống ngữ liệu văn hoá trong ngôn
ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Với mục đích khẳng định giá trị văn hoá của ngôn ngữ nghệ thuật Truyện
Kiều, chúng tôi sẽ khảo sát những biểu hiện cụ thể của ngữ liệu văn hoá trong cách
tiếp cận, lý giải hiện thực qua nhãn quan văn hoá, tính triết lý của ngôn ngữ tác giả Ngoài ra, từ những trải nghiệm về văn hoá, những khái quát nhân sinh của Nguyễn
Du, chúng tôi đi sâu tìm hiểu sự chuyển hoá của những trải nghiệm ấy qua ngôn
ngữ của hai hệ thống nhân vật chính diện và phản diện trong Truyện Kiều
Sức ảnh hưởng của những giá trị văn hoá của Nguyễn Du, ngôn ngữ Truyện
Kiều đến đời sống văn chương học thuật và xã hội Việt Nam cũng là một nội dung
cần tìm hiểu, soi chiếu từ nhiều góc độ khác nhau Từ kết quả nghiên cứu này, chúng ta có đủ cơ sở để khái quát những đóng góp của Nguyễn Du không chỉ về
mặt văn học mà còn là những dấu ấn văn hoá đối với đời sống xã hội Việt Nam
Trang 30Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NHÌN TỪ
QUAN NIỆM THẨM MỸ TRUNG ĐẠI 1.1 Ngôn ngữ với văn chương và văn hóa
1.1.1 Ngôn ngữ và văn chương từ góc nhìn văn hoá
Xét từ góc độ chức năng, các nhà nghiên cứu cho rằng, ngôn ngữ là công cụ
cơ bản để con người trao đổi giữa người với người trong cộng đồng, là âm thanh của con người được dùng để thể hiện những nội dung, ý nghĩ, tâm tư, tình cảm Trong đời sống thường nhật và quá trình hành chức của nó, ngôn ngữ đôi khi còn được hiểu với một phạm vi khá rộng và bao quát hơn Tuy nhiên, nhờ những điều kiện nào mà ngôn ngữ, vốn là công cụ giao tiếp giữa người với người trong xã hội, đồng thời lại là chất liệu cho một thứ nghệ thuật gọi là văn chương, nó đóng vai trò
là cầu nối thông linh giữa tác giả, người đọc và văn bản nghệ thuật? Theo Nguyễn
Phan Cảnh, “chính sự giống nhau giữa các đơn vị ngôn ngữ và sự gần nhau giữa
các đơn vị ngôn ngữ đã đảm nhiệm việc giải thích, thuyết minh cho các tín hiệu ngôn ngữ… Hoạt động này làm nên nội dung cụ thể của điều mà chúng ta gọi là
“người thuyết minh” trong các văn bản nghệ thuật.” [10, tr.08 - 09] Trong chuyên
luận Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Iu.M.Lotman cũng nhận định:
Bất kỳ một hệ thống phục vụ cho những mục đích giao tiếp giữa hai hay nhiều cá thể đều có thể được xác định như là một ngôn ngữ (như chúng tôi đã từng lưu ý, trường hợp tự giao tiếp hàm ý rằng một cá thể xuất hiện với tư cách đúp) Điều chỉ dẫn thường gặp rằng ngôn ngữ ngụ ý giao tiếp trong xã hội loài người, nói một cách chặt chẽ, thì không phải là nhất thiết, bởi từ một phía, giao tiếp ngôn ngữ giữa con người và máy móc và giữa máy móc với nhau vào thời điểm hiện nay đã trở thành một vấn đề không còn chỉ mang tính lý thuyết mà đã trở nên là một thực tế kỹ thuật Từ phía khác, sự hiện diện của các thông báo bằng ngôn ngữ xác định trong thế giới động vật không còn là điều phải nghi ngờ… [88, tr.23]
Và ông đã đi đến kết luận “chúng tôi sẽ hiểu ngôn ngữ là bất kỳ một hệ thống
có tính giao tiếp nào có sử dụng những ký hiệu được sắp đặt bằng một dạng thức đặc biệt…” [88, tr.25]
Trang 31Với tư cách là một chất liệu đặc biệt, là công cụ diễn giải nội dung, ngôn ngữ được xem là yếu tố thứ nhất của văn chương, nó có vai trò tối quan trọng như màu sắc, đường nét đối với hội họa, giai điệu, tiết tấu đối với âm nhạc và hình khối đối với kiến trúc Và ngược lại, văn chương là nghệ thuật của ngôn từ Vì vậy, trong lịch sử phát triển văn hoá của nhân loại, các nhà văn lớn đều là những nhà ngôn ngữ trác tuyệt Trong quá trình tư duy sáng tạo của nhà văn, những đột phá về ngôn ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng và có tầm ảnh hưởng đối với việc tạo nên vẻ đẹp, chiều sâu triết mỹ của thế giới nghệ thuật tác phẩm văn chương Trong lao động nghệ thuật của nhà văn có một sự lao tâm khổ tứ về ngôn ngữ Trên nền chung của ngôn ngữ toàn dân, nhà văn đã tinh luyện thành lớp ngôn từ nghệ thuật để tạo tác tác phẩm văn học Quá trình sáng tạo ra ngôn ngữ văn học, dường như nhà nghệ sĩ
đã tạo nên những nét khu biệt giữa ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ văn học Vì vậy,
có thể xem ngôn ngữ nhân dân là kho quặng nguyên liệu, còn ngôn ngữ văn học là sản phẩm, tinh chất đã được những nghệ nhân ngôn từ ấy tinh xảo nhào luyện
Từ góc độ so sánh, ngôn ngữ trong văn học có những đặc điểm riêng biệt khác hẳn các loại hình nghệ thuật khác Ở đây, trước tiên chúng ta phân biệt ngôn
ngữ và lời văn (lời nói), Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương [124], Ferdinand
de Saussure đã đưa ra một phân biệt nổi tiếng giữa ngôn ngữ (langue) và lời nói
(parole) Theo ông, ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu tạo thành một kho tàng dự trữ trong tư duy của một cộng đồng người Mỗi ký hiệu bao gồm hai phương diện gắn liền với nhau như hai mặt của một tờ giấy: Cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt trong ngôn ngữ gọi là vỏ vật chất còn cái được biểu đạt là khái niệm Giữa chúng có mối quan hệ võ đoán tuyệt đối hay tương đối do qui ước của xã hội mà nhiều khi không thể giải thích một cách tường tận được Lời nói là sản phẩm của cá nhân, là sự vận dụng kho tàng ngôn ngữ của từng người trong từng hoàn cảnh cụ thể Ngôn từ trong tác phẩm là một kiểu lời nói (lời văn) nghệ thuật do nhà văn sáng tạo trên cơ sở sản phẩm xã hội mà ông ta tiếp thu được Lời văn nghệ thuật chính là đối tượng của sự tìm hiểu, phân tích tác phẩm văn học Do đó, việc kiểm định những đặc tính vốn có của chất liệu ngôn ngữ và xem xét sự chi phối của chúng đến
Trang 32nghệ thuật văn chương là yêu cầu cần thiết của một công trình phê bình văn học Điều ấy có thể xác định được một cách khái quát các cơ sở ngôn ngữ của việc phân tích văn học, nhất là từ góc độ ngôn ngữ văn hoá
Xét từ phương diện lịch sử, ngôn ngữ là công cụ phục vụ cho quá trình nhận thức, tư duy và là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Nó mang những chức năng rất cơ bản như giao tiếp, nhận thức, tư duy Những chức năng đó đã hình thành từ sớm ở mọi cộng đồng xã hội, mọi dân tộc Diễn trình lịch sử phát triển của văn chương qua các thời kỳ, giai đoạn của một dân tộc cụ thể là minh chứng rất rõ ràng Xét về mặt không gian, trên diện rộng có thể thấy, với tư cách chất liệu của nghệ thuật, ngôn ngữ là loại chất liệu mang tính toàn dân, tính phổ thông tính phổ biến nhất Nhờ thứ chất liệu sẵn có ấy mà sáng tác văn chương mang tính toàn dân Mỗi người khi có cảm hứng đều có thể làm được một vài câu thơ, câu văn Sau sáng tác
là việc truyền bá tác phẩm Nhờ chất liệu ngôn ngữ mang tính toàn dân nên tác phẩm văn chương có thể truyền bá dễ dàng và rộng rãi đến mọi người Bùi Minh
Toán trong Ngôn ngữ với văn chương cho rằng “…ngôn ngữ là tài sản riêng của
từng dân tộc, mang đặc trưng dân tộc, hơn nữa chính ngôn ngữ là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của dân tộc…” [155, tr.37] Nói cách khác, ngôn ngữ của
một dân tộc cụ thể chính là linh hồn của dân tộc đó và nghĩa của từ cũng chính là linh hồn của từ Chẳng hạn trong các câu ca dao sau:
“Trăng thanh anh mới hỏi nàng:
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?”
Hay
“Tưởng giếng sâu, anh nối sợi gàu dài
Ai ngờ giếng cạn, anh tiếc hoài sợi dây.”
Từ chất liệu, hình ảnh quen thuộc trong tiếng Việt, cái vẻ hồn hậu, chân chất, thuần phác đã được các tác giả dân gian sử dụng một cách nhuần nhị khiến cho câu
ca trở nên gần gũi như lời ăn tiếng nói hàng ngày mà không đánh mất đi vẻ đẹp bình
dị và chân tình của một lời tỏ tình đằm thắm hay sự tiếc nuối vô vàn của một chàng
trai nơi thôn dã Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã không ít lần sử dụng
Trang 33những kiểu cấu trúc ngôn ngữ đậm tính khẩu ngữ để giãi bày những điệp khúc trữ tình hay tâm trạng khác nhau của nhân vật Đặc biệt là nghệ thuật lặp hư từ, các kiểu cấu trúc ngôn ngữ mang tính khẩu ngữ mà câu thơ vẫn không bị khô cứng, vẫn
có sự uyển chuyển, sức hấp dẫn, lôi cuốn và thuyết phục người đọc:
“Đã cho lấy chữ hồng nhan, Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân”
(Câu 1271 - 1272)
“Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió, càng mưa, càng nồng.”
(Câu 1283 - 1284)
“Làm cho, cho mệt, cho mê,
Làm cho đau đớn, ê chề cho coi.”
(Câu 1617 - 1618) Ngôn ngữ với tư cách là một chất liệu mang nghĩa, nó chuyển tải toàn bộ nội
dung, tư tưởng, suy nghĩ tâm tư tình cảm của con người Do đó, “nội dung ngữ
nghĩa mà ngôn ngữ biểu hiện rất đa dạng, phong phú, thuộc mọi lĩnh vực khác nhau trong đời sống của con người…” [155, tr.38] Nhờ thuộc tính này của ngôn ngữ,
nhà nghệ sỹ khi sáng tác văn chương có thể đi sâu khám phá, phân tích từng ngõ ngách trong tâm hồn con người với những xúc cảm tế vi, nhuần nhị và có thể giãi bày, thể hiện xúc cảm của mình trên từng con chữ Điều đó cũng góp phần thể hiện
sự nhạy cảm, nỗi đau hay sự chiêm nghiệm của họ trước những biến thiên của cuộc đời Đặc tính nghĩa của chất liệu ngôn ngữ là một trong những ưu thế căn bản góp phần kiến tạo nên tính đa nghĩa của tác phẩm văn chương với tư cách là sản phẩm văn hoá tinh thần Đồng thời, nó cũng là một ưu thế đối với độc giả khi tiếp cận, lĩnh hội tác phẩm văn chương Bởi lẽ khi ấy, người đọc sẽ huy động toàn bộ năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ và kể cả vốn văn hoá, vốn sống của cá nhân để cắt nghĩa, lý giải và tái hiện hình tượng theo kinh nghiệm thẩm mỹ riêng biệt của mình Bên cạnh đó, với một kiểu tổ chức và cơ chế hoạt động cá nhân của mình, nghệ thuật thơ văn sẽ có những nét đặc sắc, đậm cá tính trong cảm thụ và kiến tạo thế
Trang 34giới hình tượng của tác phẩm văn chương Do đó, để có thể tái hiện lại thế giới hình tượng cụ thể, giúp chúng lần lượt xuất hiện trong dòng ý thức, trong quá trình chiếm lĩnh của người tiếp nhận văn chương, có lẽ chúng ta cần phải duy trì sự ăn khớp cái biểu đạt và nội dung biểu đạt với nội dung biểu đạt phái sinh
Trên cơ sở của các lý thuyết tiếp cận văn hóa, ứng chiếu vào văn học và ngôn ngữ, chúng ta sẽ nhận ra được nhiều chân giá trị được sáng tạo, tích hợp trong các phông nền thẩm mỹ của các nhà nghệ sĩ ưu tú Bởi lẽ, những tác phẩm văn học tinh túy luôn tắm mình trong bản sắc văn hóa của dân tộc và được thể hiện một cách sinh động qua lớp ngôn từ đặc sắc của nó Do vậy, qua việc tiếp cận mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn chương nhìn từ góc độ văn hóa, tác giả sẽ đạt đến một trình
độ thẩm mỹ sáng tạo vô tư và mang đến cho đối tượng thưởng thức một một sự cảm nhận đúng hướng, tạo nên những hiệu ứng, khoái cảm thẩm mỹ nhất định, góp phần thúc đẩy quá trình tiếp nhận, đồng sáng tạo ở các thế hệ bạn đọc văn chương
Nhìn chung, trong dòng chảy văn hoá của một dân tộc, với những chức năng
cơ bản của mình, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện, là công cụ tư duy, giao tiếp, lưu trữ ký ức,… mà nó còn là chất liệu cơ bản để xây dựng nên thế giới nghệ thuật ngôn từ thấm đẫm những sắc màu văn hoá của một dân tộc, một thời đại hay một cá nhân văn hoá cụ thể - nhà nghệ sĩ Ngoài ra, với tư cách là mạch ngầm văn hoá, ngôn ngữ còn được xem là một trong những yếu tố cấu thành văn hoá, có sức lan toả sâu rộng và làm sáng tỏ những tính chất trội bật của bản sắc văn hoá trong đời sống xã hội của một dân tộc
1.1.2 Sự tác động của ngôn ngữ đối với văn hoá
Trong những thập kỷ gần đây, hướng nghiên cứu ngôn ngữ, văn hoá từ góc
độ liên ngành được chú ý và đạt nhiều thành tựu khả quan Từ những bước phát triển này, những vấn đề liên quan đến tính dân tộc, sự giao lưu tiếp xúc hay quá trình tiếp biến trong ngôn ngữ luôn được chú trọng Và dĩ nhiên, sự quan tâm ấy luôn thể hiện trong các kết quả nghiên cứu về văn hoá, mối quan hệ, tương tác giữa ngôn ngữ, văn hoá của một dân tộc, một nền văn học cụ thể
Trang 35Khi bàn đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, các nhà nghiên cứu thường băn khoăn nhiều vấn đề như: đối tượng và phạm vi của văn hoá, văn hoá và ngôn ngữ cần khảo sát ở những phương diện nào, hoặc mối tương tác đặc thù giữa ngôn ngữ và văn hoá cần xem xét trên hệ quy chiếu nào Theo cách hiểu thông thường nhất, ngôn ngữ được hàm chứa trong văn hoá, là một yếu tố cấu thành văn hoá, nhưng thực tế, trong hoạt động hành chức của nó, ngôn ngữ đã có những chi phối, tác động đến văn hoá trên nhiều phương diện, nhiều cấp độ, tầng bậc khá nhau, rất phong phú, linh hoạt và đa dạng
Khi nói đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hoá, điều đầu tiên cần khẳng định rằng, ngôn ngữ chính là cửa sổ, cầu nối giúp cho quá trình mở rộng tầm hiểu biết về văn hoá của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng dân tộc Tuy nhiên, nếu dừng ở đây thì có lẽ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá sẽ tương đồng với mối quan hệ
giữa văn hoá với các ngành khoa học khác Trong Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp
nhận văn học (1998), khi bàn về mối quan hệ giữa văn học và ngôn ngữ với văn
hoá, nhà nghiên cứu Ngữ học Nguyễn Lai cho rằng “ở đây có một vấn đề gì đó nằm
trong chiều sâu hơn cần đặt ra Đó là: sự hình thành ngôn ngữ là tiền đề nhiều mặt của sự hình thành văn hoá, mặc dù xếp theo hình thức thì ngôn ngữ nằm trong phạm trù văn hoá” [78, tr.05] Cũng giống như các ngành khoa học xã hội - nhân
văn khác, văn hoá, ngôn ngữ đều được xem là những “thiết chế trừu tượng” (F.de Saussure) và cùng phát triển với “con người xã hội” (F.Engels) Và, trong tính hiện
thực của nó, ngôn ngữ là tiền đề cơ bản kích thích sự phát triển, tiến hoá của tư duy
con người, tác động đến quá trình hình thành “con người xã hội” Như vậy, “theo
cách nhấn mạnh của F.Engels, rõ ràng ngôn ngữ không chỉ là tiền đề tạo nên đối tượng văn hoá, mà hơn thế nữa - từ trong chiều sâu - trước hết nó là tiền đề tạo ra con người.” [78, tr.06], đồng thời từ đó con người tiếp tục tạo ra những giá trị văn
hoá, tạo ra những tiền đề chủ quan và khách quan khác làm phong phú thêm đối tượng của văn hoá Đó là những chỗ phức tạp, là sự tác động có chiều sâu của ngôn
ngữ đối với văn hoá mà không phải ai cũng nhận thấy được Tuy nhiên, “nhìn
chung những hoạt động thuộc về lĩnh vực ngôn ngữ hay văn hoá đều là những hoạt
Trang 36động tinh thần, cả hai đều được xử lý và đều dựa vào quá trình ước lệ, thẩm mỹ hoá gắn liền với yếu tố tâm lý xã hội.” [78, tr.07 - 08] Hiểu được sự phức tạp này,
chúng ta mới có thêm những cơ sở khoa học để phân tích, biện giải cho mối quan hệ tương tác qua lại giữa ngôn ngữ, văn hoá Đặc biệt, nhận thức rõ sự ảnh hưởng đa chiều ấy, người nghiên cứu luôn luôn nâng cao ý thức kết hợp giữa ý nghĩa nhân văn với tiền đề tâm lý xã hội trong văn hoá được biểu hiện qua ngôn ngữ Đó cũng
là lý thuyết, cơ sở lý luận góp phần cắt nghĩa, lý giải những nguyên nhân sâu xa, những cơ sở khoa học, tiền đề nhân văn tạo nên bản sắc, cá tính và chiều sâu văn hoá, ngôn ngữ của một dân tộc cụ thể
Riêng đối với hệ thống ngữ liệu văn hoá trong văn học cổ điển, quá trình phát
triển ý nghĩa từ thực chỉ (nét nghĩa được dùng để chỉ một đối tượng cụ thể, rõ ràng nào đó), đặc chỉ (nét nghĩa được dùng để nói về một đối tượng có tính chất đặc biệt hoặc có ý nghĩa tổng quát nào đó) đến phiếm chỉ (nét nghĩa được dùng để chỉ riêng một loại sự vật hiện tượng nào đó), hư chỉ (từ không mang nét nghĩa thực mà được
dụng để ngầm chỉ một đối tượng hay sự vật khác) đều có những nguyên nhân văn hoá của nó Với một đơn vị từ vựng cụ thể, nếu như vừa có thể chỉ tổng quát các loại sự vật hiện tượng vừa có thể chỉ riêng một loại sự vật cụ thể nhất định trong tổng loại đó thì loại trước là phiếm chỉ, hư chỉ, loại sau là đặc chỉ, thực chỉ Đối với một từ cụ thể, nghĩa thực chỉ là nghĩa có trước rồi trong quá trình hành chức và hoạt
động của nó mới sản sinh ra nghĩa hư chỉ, chẳng hạn như từ súc sinh 畜牲 là một từ
thực chỉ các loài cầm thú nói chung nhưng trong thực tế ngôn ngữ từ này còn được
dùng để chỉ cho hạng người tính cách không tốt, đó là nghĩa hư chỉ Từ sơn hà 山
河 có ý nghĩa chỉ cụ thể về núi và sông, song trong quá trình phát triển ý nghĩa của
nó, từ này thường được dùng để chỉ cho toàn bộ đất đai của một dân tộc nhất định
Có lẽ, theo lôgic này, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của hai câu thơ trong bài
Xuân vọng 春望 của nhà thơ Đỗ Phủ 杜甫 đời Đường:
“Quốc phá sơn hà tại,
Thành xuân thảo mộc thâm ”
Tạm dịch: “Nước đã mất rồi nhưng núi sông hãy còn mãi
Trang 37Toà thành đang đi vào mùa xuân, cây cỏ trở nên rậm rạp ”
Từ ý nghĩa hư chỉ toàn bộ đất đai của một dân tộc, chúng ta mới có thể nhận thấy được tính dân chủ trong quan niệm về hiện thực của Đỗ Phủ, một triều đại cụ thể dù có mất đi nhưng đất đai của nhân dân là còn mãi Tính nhân dân trong thơ của nhà thơ hiện thực bậc nhất này do đó trở thành một đặc điểm lớn về nội dung Trong mối quan hệ giữa đặc chỉ và phiếm chỉ thì tình hình có khác Phiếm chỉ hay đặc chỉ là cách nói tương đối Không có phiếm chỉ thì không có đặc chỉ Ý nghĩa phiếm chỉ, hư chỉ và đặc chỉ, thực chỉ không xuất hiện cùng một lúc mà nó có quan
hệ văn hoá khá rõ Chẳng hạn, hai từ Sĩ 士 và Nữ 女 là những từ phiếm chỉ con trai
con gái nói chung đã dần chuyển sang nghĩa đặc chỉ là nam nữ thanh niên chưa thành
gia lập thất Quẻ Quy muội 歸妹 trong Dịch kinh 易經 có câu:
“Nữ thừa khuông, vô thực 女承筐無實
Sĩ khuê dương, vô huyết 士刲羊無血
(Người con gái xách giỏ, trong giỏ không có đồ;
Người con trai giết dê, không có huyết)
Học giả Lý Đạo Bình 李道平 đã chú sớ rằng: “Viết nữ viết sĩ, vị thành phu
phụ chi từ 曰女曰士未成夫婦之辭” (Nữ và sĩ là từ gọi con gái, con trai chưa thành
vợ thành chồng) Nhận định về sự thay đổi ngữ nghĩa trong ngôn ngữ văn học cổ điển Trung Hoa, Dương Lâm 楊琳, nhà nghiên cứu văn học cổ điển Trung Hoa,
trong Hán ngữ từ hối dữ Hoa Hạ văn hoá 漢語詞匯與華夏文化 đã nhận định:
Việc phát sinh ra nghĩa phái sinh này không hoàn toàn chịu sự câu
thúc của các nhân tố văn hoá Đối với một số từ cụ thể, chúng ta có thể tìm hiểu những nguyên nhân văn hoá dẫn đến nghĩa phiếm chỉ và đặc chỉ của từ trong quá trình phát triển và hành chức Song, do mối quan hệ trước sau của nghĩa phiếm chỉ và đặc chỉ không phải lúc nào cũng dễ xác định, cá biệt có những lúc mối quan hệ dẫn đến và bị dẫn đến những đảo lộn nhưng không ảnh hưởng đến sự tồn tại của các quy luật ngôn ngữ [182, tr.210]
Tiếp cận từ chiều sâu của một hoạt động không tách rời sức sống của tư duy, ngôn ngữ được coi là một phương tiện duy nhất có khả năng giải mã cho tất cả các
Trang 38loại hình gắn liền với phạm trù văn hoá Nhờ vào tiềm năng này, ngôn ngữ có thể tạo nên những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đặc sắc, đánh dấu những bước trưởng thành về mặt văn hoá của một cộng đồng Những nét trội bật trong ngôn ngữ truyện Nôm, ngâm khúc và hát nói trong văn học cổ điển Việt Nam là ví dụ điển hình Hệ thống ngôn ngữ biểu trưng, các hình tượng nghệ thuật ước lệ, cổ kính như các sáng tác của Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn đã được đưa vào ngôn ngữ tác phẩm uyển chuyển, sáng tạo đánh dấu quá trình lao động nghệ thuật tâm huyết của nhà thơ Điều này không chỉ thể hiện đặc trưng nghệ thuật, tâm huyết của nhà thi sĩ mà hơn bất kỳ một sự phát triển nào hết, việc vận dụng hệ thống ngữ liệu văn hoá này
đã đánh dấu sự trưởng thành trong tư duy nghệ thuật, một bước tiến trong tư tưởng, góp phần tạo nên sắc thái trang trọng quý phái của văn chương cổ điển Như vậy, mối quan hệ, tác động giữa văn hoá và ngôn ngữ ở đây được xác định trong biên độ của sự hấp thụ và chuyển hoá, tạo nên chất lượng nghệ thuật, nội hàm tư tưởng của ngôn từ tác phẩm Khi hoá thân vào nghệ thuật, ngôn ngữ như được thăng hoa, vượt qua chính bản thân nó để tạo nên bức tranh sinh động, đa diện, đa thanh của văn chương và xã hội Nếu bản thân tác phẩm không hề có mối liên hệ với mạch ngầm văn hoá dân tộc thì tác phẩm ấy sẽ không còn là công trình nghệ thuật
Ngoài những đặc tính trên, chúng ta có thể nhận thấy, ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ trong việc khúc xạ, thể hiện và phát triển những giá trị văn hoá - một phạm trù có tính cốt lõi của văn hoá Nó là thước đo nhân bản của xã hội, con người Theo một số nhà nghiên cứu, giá trị văn hoá được xem là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh, kết tinh đời sống văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần của con người Đó còn là những đánh giá mang tính chủ quan của con người về
tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt, là hay, là đẹp được con người cho là chân, thiện, mỹ, là thước đo nhân văn của xã hội Soi chiếu ngôn ngữ từ góc độ văn hoá sẽ giúp cho con người dễ dàng thấu triệt khi tiếp nhận các giá trị văn hoá như kết quả của quá trình tri nhận, tư biện, chuyển hoá, lựa chọn của cá nhân Ngôn ngữ - một hiện hữu vật chất - sẽ giúp cho văn hoá cùng với các giá trị căn bản của nó sẽ khúc xạ, ngấm sâu và dần hình thành chiều sâu văn hoá, phong cách văn hoá của từng cá nhân trong quá trình tồn tại của cá nhân mình
Trang 39Tóm lại, về mặt hình thức, ngôn ngữ và văn hoá đều mang tính biểu trưng, ước định Nó nằm trong quỹ đạo của hoạt động tinh thần, do đó, bản thân chúng luôn thể hiện mối quan hệ, tác động lẫn nhau Tuy ngôn ngữ là một thành tố cấu thành văn hoá nhưng trên thực tế ngôn ngữ luôn là tiền đề sâu xa chi phối, tác động đến văn hoá Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giải mã mà đồng thời cũng là công cụ được sử dụng để mã hoá đối tượng của văn hoá Nó là biểu hiện sinh động nhất cho quá trình tác động của văn hoá đến đời sống vật chất và tinh thần của một cộng đồng dân tộc riêng biệt
1.1.3 Ngôn ngữ với vấn đề bảo tồn, xây dựng và phát triển văn hóa
Ngôn ngữ là một thành tố văn hoá được con người sáng tạo trong lịch sử xã
hội “Sapir E, một trong những nhà ngôn ngữ hàng đầu của thế giới đã nhận định
ngôn ngữ là nghệ thuật lớn lao và phổ biến nhất mà chúng ta biết được, đó là một công trình vĩ đại và vô danh của nhiều thế hệ vô tình.” [78, tr.100] Cũng theo tác
giả này, ngôn ngữ là công trình nghệ thuật cổ xưa nhất, to lớn nhất và giá trị nhất
mà trí tuệ con người đạt được, ngôn ngữ tạo dựng nên văn hoá Cùng với lao động, ngôn ngữ cũng được xem là cội nguồn của văn hoá Sự phát triển của văn hoá dân tộc có thể được xem xét trên bình diện ngôn ngữ Sự ra đời của ngôn ngữ đã đánh dấu
một bước phát triển mới trong tiến trình văn minh của xã hội loài người
Từ góc nhìn văn hoá, thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ, chúng ta có thể tìm hiểu được đặc trưng tâm lý văn hoá dân tộc Điều đó được thể hiện qua các kết quả khảo sát cụ thể về các phương thức sản sinh từ ngữ, các quy luật phát triển từ ngữ, quy luật ngữ pháp, kết hợp từ, nhất là ở ngôn ngữ văn chương Nếu không có
sự phân tích, giải thích từ góc độ văn hoá thì sự tìm hiểu các đặc tính nói trên trong một ngôn ngữ cụ thể sẽ không được toàn diện, thậm chí sai lầm Vì vậy, ở Trung Quốc đại lục, nhà Ngữ văn học cổ điển Dương Lâm đã nêu rõ:
Sự lý giải, tìm hiểu của mọi người về ngôn ngữ học văn hoá không hoàn toàn thống nhất Ngôn ngữ học văn hoá được lý giải bao gồm hai mặt: Một mặt là đem ngôn ngữ đặt vào trong bối cảnh văn hoá, nêu rõ tác dụng của văn hoá trong quá trình hình thành, phát triển ở một số hiện tượng ngôn
Trang 40ngữ, đi sâu vào sự lý giải chính xác của mọi người đối với ngôn ngữ Mặt khác, hiệu quả của việc nghiên cứu này sẽ cung cấp tri thức ngôn ngữ để nghiên cứu, giải thích, nói rõ sự hình thành, phát triển của các hiện tượng văn hoá cụ thể [182, tr.10]
Ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng nói và viết, được thể hiện qua hình thức vật chất đặc thù, đó là âm thanh, văn tự Khảo sát nguồn gốc của ngôn ngữ, văn tự ra đời muộn hơn so với âm thanh Ngôn ngữ văn tự đã thể hiện một trình độ tư duy trừu tượng, năng lực khái quát hoá cao Trước khi có chữ viết, con người muốn biểu đạt tư tưởng tình cảm, truyền thụ kinh nghiệm đều phải thông qua lời nói, tức âm thanh Vì vậy, trong kho tàng văn hoá dân gian của mỗi dân tộc đã lưu giữ hàng vạn câu ca, lời hát từ thế hệ này qua thế hệ khác Đó là một trong những đóng góp quan trọng của ngôn ngữ đối với việc duy trì và bảo tồn vốn cổ dân tộc Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của phương thức lưu giữ này là hiện trạng “tam sao thất bổn”, thất thoát qua thời gian, hạn chế về không gian địa lý và mức độ phổ biến Vì thế, sự ra đời của văn tự đã làm một cuộc cách mạng, tạo nên một bước ngoặt lịch sử kỳ diệu thúc đẩy sự phát triển về tư duy và văn hoá Nó đã trở thành một công cụ lưu trữ văn hoá tốt nhất Văn tự đã phần nào khắc phục được những khiếm khuyết của phương thức lưu trữ âm thanh, truyền miệng Mặt khác, nó còn là một động lực cơ bản kích hoạt sự sáng tạo, phổ biến và lưu truyền những kinh nghiệm của đời sống, phong tục tập quán của dân tộc qua các thế hệ kế tiếp nhau
Ngôn ngữ và văn hoá đã tồn tại trong một mối liên hệ chặt chẽ, biện chứng, hữu cơ, không thể tách rời Ngôn ngữ là phương tiện thể hiện văn hoá và văn hoá được chứa đựng trong ngôn ngữ Ngôn ngữ - văn tự là kết tinh của văn hoá dân tộc, văn hoá nhờ ngôn ngữ, văn tự để được lưu truyền và trong tương lai, nền văn hoá cũng nhờ vào ngôn ngữ để duy trì và phát triển Nhà nghiên cứu Trần Trí Dõi khi
bàn về vấn đề Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội [26] đã cho rằng hướng
tiếp cận ngôn ngữ đối với văn hoá, khảo sát mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ
sẽ góp phần đi sâu lý giải về bản chất xã hội và chức năng văn hoá đích thực của ngôn ngữ Ngôn ngữ không chỉ có chức năng lưu giữ, bảo tồn mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển của văn hoá