BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH --- TRẦN THOẠI TRÂN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA NGƯỜI DÂN Ở KHU VỰC NÔNG THÔN TỈ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
TRẦN THOẠI TRÂN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
SỬ DỤNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA NGƯỜI DÂN
Ở KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
TP Hồ Chí Minh, Năm 2015
Trang 2iii
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang mà cụ thể là các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ tiền gửi và tiền vay của người dân Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm số liệu từ niên giám thống kê Tỉnh An Giang, Ngân hàng Nhà nước Tỉnh An Giang
và số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn ngẫu nhiên 398 người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang Các phương pháp sử dụng trong đề tài bao gồm: Phương pháp so sánh, phương pháp thống kê mô tả, mô hình Probit
Kết quả phân tích Probit cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của người dân bao gồm: Tuổi, tình trạng hôn nhân, thu nhập, chi tiêu và hiểu biết tài chính Bên cạnh đó các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay tiền của người dân bao gồm: Tuổi, tình trạng hôn nhân, thu nhập và hiểu biết tài chính Dựa trên kết quả phân tích nêu trên, đề tài đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng cho các NHTM trên địa bàn tỉnh An Giang, cũng như mang sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hướng về nông thôn giúp cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn trên địa bàn
Trang 3iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xi
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa của luận văn 4
1.7 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6
2.1 Cơ sở lý thuyết 6
2.1.1 Lý thuyết về hành vi tiết kiệm tiền gửi 6
2.1.2 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng 7
2.1.2.1 Khái niệm về hành vi tiêu dùng 7
2.1.2.2 Mô hình về hành vi sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng 8
2.1.3 Sơ lược về dịch vụ ngân hàng 11
2.1.3.1 Khái niệm dịch vụ 11
Trang 4v
2.1.3.2 Khái niệm dịch vụ Ngân hàng 11
2.1.3.3 Đặc trưng dịch vụ Ngân hàng 11
2.1.3.4 Các loại dịch vụ Ngân hàng 13
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ tiền gửi và dịch vụ tiền vay 14
2.2 Tổng quan về các nghiên cứu trước 18
2.2.1 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng nói chung 18
2.2.2 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ tiền gửi 21
2.2.3 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ tiền vay 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Khung nghiên cứu 25
3.2 Phương pháp thu thập số liệu 26
3.3 Phương pháp phân tích số liệu, mô hình nghiên cứu 27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
4.1 Thực trạng sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn tỉnh An Giang 32
4.1.1 Thực trạng huy động vốn của ngành NH Tỉnh An Giang 32
4.1.2 Thực trạng cho vay của ngành NH Tỉnh An Giang 33
4.2 Tổng quan về mẫu nghiên cứu 34
4.2.1 Nghề nghiệp của người dân 34
4.2.2 Giới tính của người dân 35
4.2.3 Cơ cấu mẫu theo dân tộc 35
4.2.4 Tình trạng hôn nhân của người dân 36
Trang 5vi
4.2.5 Thu nhập, chi tiêu và độ tuổi khách hàng 37
4.2.6 Khoảng cách từ nhà đến chi nhánh ngân hàng 38
4.2.7 Hiểu biết tài chính và thu nhập của người dân 39
4.3 Thông tin về quyết định gửi tiền vào ngân hàng của người dân 40
4.3.1 Mục đích gửi tiền vào ngân hàng của người dân 40
4.3.2 Lý do người dân không gửi tiền vào ngân hàng 41
4.3.3 Lý do người dân quyết định gửi tiền vào ngân hàng 42
4.3.4 Ngân hàng người dân lựa chọn gửi tiền 43
4.3.5 Nguồn thông tin mà người dân biết đến ngân hàng 45
4.3.6 Các hình thức đầu tư khác của người dân 46
4.4 Thông tin về quyết định vay tiền của người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang 47
4.4.1 Mục đích vay vốn tại ngân hàng của người dân 47
4.4.2 Lý do người dân không vay vốn tại ngân hàng 48
4.4.3 Lý do người dân lựa chọn ngân hàng vay tiền 49
4.4.4 Các ngân hàng người dân lựa chọn vay tiền 50
4.4.5 Nguồn thông tin tiếp cận ngân hàng để vay tiền 51
4.4.6 Các hình thức vay vốn khác của người dân 52
4.5 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn tỉnh An Giang 54
4.5.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang 54
4.5.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay tiền ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang 57
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
Trang 6vii
5.1 Kết luận 61
5.2 Kiến nghị 62
5.2.1 Đối với các ngân hàng ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang 62
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 64
5.2.3 Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước 65
5.3 Hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN 71
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ XỨ LÝ STATA 83
Trang 7
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Cơ cấu mẫu theo địa bàn nghiên cứu 26
Bảng 3.2: Diễn giải các biến trong mô hình và giả thuyết nghiên cứu 30
Bảng 4.1: Số dư huy động ngành NH Tỉnh An Giang (2010-2014) 32
Bảng 4.2: Dư nợ cho vay ngành NH Tỉnh An Giang (2010-2014) 33
Bảng 4.3: Dư nợ cho vay phân theo ngành nghề của ngành NH Tỉnh An Giang 33 Bảng 4.4: Nghề nghiệp của người dân 34
Bảng 4.5: Giới tính của người dân 35
Bảng 4.6: Cơ cấu mẫu theo dân tộc 36
Bảng 4.7: Tình trạng hôn nhân của người dân 37
Bảng 4.8: Thu nhập, chi tiêu và độ tuổi của khách hàng 38
Bảng 4.9: Khoảng cách đến ngân hàng của khách hàng 39
Bảng 4.10: Thu nhập của người dân phân theo mức độ hiểu biết tài chính của khách hàng 39
Bảng 4.11: Mục đích gửi tiền vào ngân hàng của người dân 40
Bảng 4.12: Lý do của người dân không gửi tiền vào ngân hàng 41
Bảng 4.13: Lý do lựa chọn ngân hàng gửi tiền của khách hàng 43
Bảng 4.14: Ngân hàng của người dân lựa chọn gửi tiền 44
Bảng 4.15: Nguồn thông tin người dân biết tới ngân hàng 45
Bảng 4.16: Các hoạt động đầu tư khác của khách hàng 46
Bảng 4.17: Mục đích vay vốn của người dân 47
Bảng 4.18: Lý do người dân không vay vốn tại ngân hàng 49
Bảng 4.19: Lý do người dân chọn ngân hàng vay tiền 50
Bảng 4.20: Các ngân hàng người dân chọn vay tiền 51
Bảng 4.21: Nguồn thông tin tiếp cận ngân hàng để vay tiền 52
Trang 8ix
Bảng 4.22: Các hình thức vay vốn khác của người dân 53 Bảng 4.23: Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tại ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn tỉnh An Giang 54 Bảng 4.24: Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay tiền tại ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn tỉnh An Giang 57
Trang 9x
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình hành vi sử dụng dịch vụ 8 Hình 3.1: Khung nghiên cứu 25
Trang 10Agribank : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát Triển nông thôn Việt Nam
Vietcombank : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam
Viettinbank : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam
BIDV : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát Triển Việt
Nam
Trang 111
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Chương đầu tiên của nghiên cứu sẽ giới thiệu khái quát về lý do, mục tiêu
và câu hỏi đặt ta, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng trong quá trình phân tích dữ liệu Cuối cùng là ý nghĩa và kết cấu của đề tài nghiên cứu
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, thực trạng nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, người dân chắt chiu chi tiêu, phạm vi sản xuất thu hẹp… khiến nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng giảm sút, nguồn vốn huy động từ dân cư ngày càng hạn chế, tăng trưởng tín dụng giảm nhanh là một thách thức chung cho toàn hệ thống ngân hàng Để vượt qua khó khăn các ngân hàng ngày càng sâu sát hơn, tập trung hơn vào từng nhóm đối tượng khách hàng bên cạnh việc nắm bắt nhu cầu khách hàng theo từng phân khúc riêng biệt từ đó tạo ra các sản phẩm phù hợp linh động nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng Trong đó, phát triển các dịch vụ ngân hàng hướng về khu vực nông thôn đang là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hiện nay, nông nghiệp nông thôn là yếu tố chủ đạo dẫn đến thành công của Việt Nam, kinh tế nông nghiệp nông thôn tạo việc làm cho gần 50% dân số, gần 70% dân số Việt Nam sống ở nông thôn, kinh tế nông thôn đã và đang đóng vai trò quan trọng trong kinh tế Việt Nam Vì vậy, việc phát triển dịch vụ ngân hàng hướng về nông thôn là rất quan trọng
An Giang là một Tỉnh nông nghiệp thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đất sản xuất nông nghiệp trên 280 ngàn héc ta, đất lâm nghiệp 14,7 ngàn héc ta Tính đến 31/12/2014, dân số của An Giang là 2.157.716 người tương đương với 538.943 hộ, trong đó có hơn 70% dân số sống ở nông thôn Toàn tỉnh
An Giang có 08 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố, gồm 04 dân tộc: Kinh, Hoa, Chăm, Khơme cùng sinh sống Trong toàn bộ quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay, người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang luôn giữ vị trí là chủ thể nhằm khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân trong sự
Trang 12an sinh xã hội tỉnh nhà Tuy nhiên thực tế vẫn còn thiếu một hệ thống tài chính nông thôn thật sự bền vững để phục vụ cho khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn Do đó mở rộng các dịch vụ ngân hàng hướng về nông thôn vẫn đang
là đòi hỏi rất lớn, là một hướng đi phù hợp với sự phát triển của hệ thống ngân hàng Tỉnh An Giang nói riêng và nền kinh tế nói chung, tạo điều kiện phát triển khu vực nông thôn, mang dịch vụ ngân hàng đến từng hộ gia đình ở nông thôn, giúp cải thiện và phát triển cuộc sống của người dân ở khu vực nông thôn trên địa bàn Tỉnh An Giang
Nhận thức được vấn đề trên, nghiên cứu đề tài Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh
An Giang là hết sức cần thiết, hi vọng có thể góp phần trong việc tìm ra giải pháp
phát triển dịch vụ ngân hàng hướng về khu vực nông thôn Tỉnh An Giang cho các ngân hàng trên địa bàn đồng thời cũng góp một phần nhỏ trong công cuộc xây dựng nông thôn mới
Phần tiếp theo sẽ giúp xem xét đề tài cụ thể hơn qua việc đề ra câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng góp phần phục vụ cho việc tăng trưởng nguồn vốn huy động và cấp tín dụng của các NHTM tại khu vực nông thôn tỉnh An Giang Với ý nghĩa như trên, đề tài nghiên cứu sẽ nhằm vào các mục tiêu như sau:
Xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch
vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh An Giang
Trang 133
Cung cấp thông tin cho các NHTM trên địa bàn tỉnh An Giang biết đâu là nguyên nhân hay yếu tố tác động nhiều đến tăng trưởng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng
Ngoài ra, đề tài còn đề xuất một số kiến nghị nhằm cải thiện các dịch vụ ngân hàng hướng đến người dân khu vực nông thôn tỉnh An Giang
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như trên, luận văn nhằm mục đích tập trung cho việc trả lời câu hỏi nghiên cứu sau đây:
Các nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền vào ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn tỉnh An Giang và ảnh hưởng như thế nào?
Các nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định vay tiền từ ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn tỉnh An Giang và ảnh hưởng như thế nào?
Từ những kết quả nghiên cứu thì có thể đề xuất những kiến nghị gì
để cải thiện dịch vụ ngân hàng ở khu vực nông thôn tỉnh An Giang
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang, mà cụ thể
là quyết định gửi tiền vào ngân hàng và quyết định vay tiền từ ngân hàng của người dân
Đề tài không đề cập đến các yếu tố bên ngoài như: môi trường pháp lý, môi trường cạnh tranh, đặc điểm văn hóa xã hội, tâm lý của người dân ở khu vực nông thôn, mức độ sinh lời và rủi ro giữa các kênh đầu tư khác
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Số liệu điều tra được thu thập từ tất cả 11 huyện, thị tại An Giang Trong đó, mỗi huyện chọn khảo sát từ 1 đến 2 xã theo số lượng dân số mỗi huyện, vì
Trang 144
vậy số liệu nghiên cứu sẽ có tính đại diện cao để suy rộng ra cho toàn tỉnh An Giang
Số liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê Tỉnh An Giang năm
2014 và các báo cáo thống kê của Ngân Hàng Nhà Nước chi nhánh Tỉnh An Giang
Số liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 3/2015 đến tháng 5/2015
1.6 Ý nghĩa của luận văn
Việc tiến hành thực hiện luận văn và kết quả thu được ý nghĩa về thực tiễn như sau:
Sau khi nghiên cứu tìm ra mối quan hệ của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh
An Giang để phát triển các dịch vụ ngân hàng hướng về khu vực nông thôn Tỉnh
An Giang, tạo điều kiện phát triển khu vực nông thôn, mang dịch vụ ngân hàng đến từng hộ gia đình giúp cải thiện và phát triển cuộc sống của người dân nông thôn trên địa bàn Tỉnh An Giang
1.7 Kết cấu luận văn
Với tất cả các ý đã được trình bày ở trên, nội dung của luận văn sẽ bao gồm 5 chương Trong đó:
Chương 1: Mở đầu Chương này nêu ra lý do nghiên cứu, mục tiêu
nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Nội dung chương
này nêu lên các cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng, đặc biệt tại khu vực nông thôn
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Mục đích của chương mô tả
phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu được thực hiện trong luận văn, trình bày cách thức thu thập dữ liệu, quá trình thu thập dữ liệu và các biến đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu
Trang 155
Chương 4: Kết quả và thảo luận kết quả nghiên cứu Chương này đưa
ra các kết quả phân tích thống kê mô tả và phân tích mô hình Probit, đồng thời đưa ra các nhận xét trong quá trình phân tích
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này nêu lên các kết luận rút
ra từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với các đối tượng có liên quan
Trang 166
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Chương 2 của đề tài, trình bày các lý thuyết có liên quan và các nghiên cứu trước để làm tiền đề xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự quyết định sử dụng dịch
vụ ngân hàng ở khu vực nông thôn
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết về hành vi tiết kiệm tiền gửi
Ba lý thuyết truyền thống đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm vào hành vi tiết kiệm hộ gia đình ở các nước phát triển và đang phát triển:
Keynes (1936), xác định tiết kiệm như một hàm tuyến tính của thu nhập, xác định thu nhập khả dụng tuyệt đối là yếu tố quyết định của tiết kiệm
Hai lý thuyết tiếp theo về tiết kiệm của Friedman (1957) và Modigliani (1963), cho rằng các biến số khác cũng ảnh hưởng đến sự tiết kiệm của các hộ gia đình
Friedman (1957), lý thuyết này phân biệt thu nhập cố định và thu nhập tạm thời cũng như mức độ của sự giàu có hiện tại là yếu tố quyết định tiết kiệm
Modigliani (1963), với giả định cơ bản là cá nhân tích lũy tiết kiệm từ thu nhập trong năm và mức tiêu thụ trong thời gian nghỉ hưu Hơn nữa, lý thuyết chu kỳ cuộc sống cho thấy rằng tuổi tác cũng ảnh hưởng đến tiết kiệm, khả năng tiếp cận các tổ chức tài chính là một yếu tố quan trọng trong thúc đẩy tiết kiệm Cung cấp các dịch
vụ tài chính như chuyển tiền như thanh toán các hóa đơn, thanh toán tiền mua cây trồng cũng có thể tăng nguồn vốn tiền gửi Khi có một mối quan hệ giữa tiết kiệm và người nông dân sẽ nhắc nhở họ gửi tiền vào ngân hàng để có một khoản tiền sẵn có khi cần thiết (Padmanabhan, 1987)
Nhưng thực tế, các kết quả thu được tại các nước đang phát triển đã có sự xuyên lệch về kết quả phân tích so với các nghiên cứu thực nghiệm tại các nước phát
Trang 177
triển Bởi vì, các nghiên cứu tập trung vào hành vi tiết kiệm của hộ gia đình ởcác nước phát triển dựa trên cơ sở thị trường vốn hoàn hảo và không có sự ác cảm rủi ro của người dân Như vậy, những lý thuyết này không giải thích hoàn hảo về hành vi tiết kiệm của các hộ gia đình ở các nước đang phát triển, nơi hầu hết các hộ gia đình nghèo sợ rủi ro và thị trường tài chính không hoàn hảo
2.1.2 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng
2.1.2.1 Khái niệm về hành vi tiêu dùng
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ “Hành vi tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ” Hay nói cách khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm… đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng Có rất nhiều khái niệm về hành vi tiêu dùng như:
Hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ (Kotler, 1967)
Hành vi tiêu dùng là một tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/dịch vụ, những suy nghĩ đã
có, kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ (Micheal, 1992)
Hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm/dịch vụ Nó bao gồm cả những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động đó (James và ctg, 1993)
Trang 18
8
2.1.2.2 Mô hình về hành vi sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng
Mô hình hành vi sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng gồm các giai đoạn sau:
(Nguồn: Trần Hoàng Mai, Nguyễn Văn Sáu, Trịnh Quốc Trung, 2008)
Hình 2.1 Mô hình hành vi sử dụng dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng không giống như nhiều hàng hóa vật chất hữu hình khác không phải chỉ mua một lần rồi kết thúc mà bao gồm hàng loạt sự tương tác trong bối cảnh của một mối quan hệ lâu dài và sự tương tác này sẽ ảnh hưởng quan trọng đến hành vi ứng xử Khi khách hàng quyết định sử dụng dịch vụ để thỏa mãn một nhu cầu nào đó của mình thì họ trải qua một quá trình mua sắm phức tạp Quá
Đánh giá kết quả của dịch vụ
Dự định trong tương lai
Giai đoạn trước khi mua
Giai đoạn thực hiện
Giai đoạn sau khi mua
Trang 199
trình này thường bao gồm 3 giai đoạn khác nhau: giai đoạn trước khi mua, giai đoạn sử dụng dịch vụ và giai đoạn sau khi sử dụng
* Giai đoạn trước khi sử dụng dịch vụ
Tại thời điểm này, nhu cầu và kỳ vọng của các cá nhân và tổ chức rất quan trọng vì chúng ảnh hưởng đến những gì mà các khách hàng tiềm năng sẽ xem xét khi lựa chọn dịch vụ cũng như nhà cung cấp Nhu cầu xuất hiện khi khách hàng
mong muốn sử dụng hay thỏa mãn thiếu thốn của cá nhân
Xuất phát từ những nhu cầu cá nhân người tiêu dùng sẽ tiến hành tìm kiếm thông tin về sản phẩm mình cần Trước tiên người tiêu dùng sẽ sử dụng kiến thức và
sự hiểu biết của mình để quyết định lựa chọn dịch vụ, vì vậy sự hiểu biết về tài chính ngân hàng, sản phẩm dịch vụ ngân hàng và các thông tin truyền thông thật sự quan trọng Nhưng trong trường hợp khách hàng đang xem xét sử dụng một dịch vụ nào đó lần đầu tiên hoặc có tác động đến cuộc sống của mình thì khách hàng có thể tiến hành tìm kiếm thông tin thông qua các nguồn thông tin tin cậy như:
- Gia đình người thân hoặc bạn bè
- Nhờ cậy một công ty có uy tính tốt
- Tìm kiếm bảo hành và đảm bảo
- Viếng thăm cơ sở cung cấp dịch vụ
- Hỏi thăm những nhân viên có trình độ về những dịch vụ cạnh tranh
- Kiểm tra các dấu hiệu hữu hình hoặc những bằng chứng vật chất khác
Bước tiếp theo là xác định những nhà cung cấp tiềm năng và rồi so sánh giữa lợi ích và rủi ro của từng nhà cung ứng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng
* Giai đoạn thực hiện dịch vụ
Sau khi quyết định mua một dịch vụ cụ thể nào đó, khách hàng sẽ liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ đã chọn Giai đoạn thực hiện dịch vụ thường bắt đầu với việc
Trang 2010
khách hàng nộp giấy yêu cầu, đề nghị hoặc phiếu đặt hàng Khách hàng có thể liên
hệ trực tiếp với nhân viên của nhà cung cấp hoặc thông qua các công cụ phi cá nhân khác như máy tính Trong giai đoạn này các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng của người tiêu dùng gồm:
- Môi trường phục vụ: bao gồm tất cả những thuộc tích hữu hình mà khách hàng có thể thấy như bề ngoài của tòa nhà, vật trang trí nội thất, máy móc, thiết bị, hương thơm, bụi bậm, tiếng ồn Ngoài ra, sự hiện diện và hành vi của khách hàng khác cũng có thể tham gia vào quá trình tạo ra nhận thức cảm nhận về dịch vụ sử dụng
- Nhân viên ngân hàng: là yếu tố quan trọng nhất trong khi cung cấp các dịch
vụ có mức độ giao tiếp trực tiếp, mặt đối mặt với khách hàng Những khách hàng
am tường dịch vụ thường kỳ vọng các nhân viên phục vụ phải tuân thủ theo một khuôn khổ nào đó và nếu các nhân viên này tỏ ra xa rời khuôn khổ này sẽ làm cho khách hàng không hài lòng Thực hiện dịch vụ hiệu quả nếu đứng về phía nhân viên thường có sự kết hợp giữa các kỹ năng có được thông qua học tập của những người có đúng kiểu tính cách
- Các dịch vụ hỗ trợ: bao gồm các vật liệu và thiết bị hỗ trợ cùng với quá trình
ở “hậu trường” cho phép những nhân viên ở tuyến đầu thực hiện tốt công việc của mình Điều này cũng rất quan trọng vì hiện tại khi sản phẩm của ngân hàng đều giống như nhau thì đây là dịch vụ tạo sự khác biệt và thu hút người tiêu dùng như các hình thức khuyến mãi, ưu đãi…
* Giai đoạn sau khi mua
Trong giai đoạn sau khi mua khách hàng tiếp tục một quá trình họ đã bắt đầu trong giai đoạn thực hiện dịch vụ - đánh giá chất lượng dịch vụ và sự hài lòng/thất vọng với sự trải nghiệm dịch vụ của họ Kết quả của quá trình này sẽ ảnh hưởng đến
dự tính tương lai của khách hàng như họ sẽ trung thành với nhà cung cấp dịch vụ hoặc chuyển sang nhà cung cấp dịch vụ khác; họ sẽ có những bình luận tích cực/tiêu
Trang 2111
cực cho gia đình, người thân, đồng nghiệp v.v về nhà cung cấp dịch vụ Khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ bằng cách so sánh những gì đã kỳ vọng với những
gì đã trãi nghiệm Nếu kỳ vọng của họ được đáp ứng hoặc được đáp ứng cao hơn thì
họ sẽ tin rằng họ đã nhận được một dịch vụ có chất lượng cao
2.1.3 Sơ lược về dịch vụ ngân hàng
2.1.3.1 Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh Có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ nhưng theo Valarie và Britner (2000), thì dịch vụ
là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo
ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng
2.1.3.2 Khái niệm dịch vụ Ngân hàng
Theo David Cox (2008), hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của NH thương mại đều gọi là dịch vụ NH Cụ thể hơn, dịch vụ NH được hiểu là các nghiệp vụ NH
về vốn, tiền tệ, thanh toán…mà NH cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản…của họ, nhờ đó NH thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí
Ngoài ra, dịch vụ NH cần được hiểu theo hai phạm vi rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, dịch vụ NH là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của
hệ thống NH với doanh nghiệp và công chúng Theo nghĩa hẹp, dịch vụ NH chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống (như huy động vốn và cho vay) Tóm lại, có thể hiểu khái quát về dịch vụ ngân hàng như sau: “dịch vụ NH bao gồm tất cả các dịch vụ được NH cung cấp cho khách hàng”
2.1.3.3 Đặc trưng dịch vụ Ngân hàng
- Tính vô hình: sản phẩm dịch vụ NH thường được thực hiện theo một qui trình chứ không phải là các vật thể cụ thể có thể quan sát, nắm giữ được Điều này đã dẫn đến việc khách hàng gặp khó khăn trong đánh giá chất lượng sản phẩm dịch
Trang 2212
vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua Để giảm bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ NH, khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng sản phẩm dịch vụ như địa điểm giao dịch, mức độ trang bị công nghệ, uy tín của NH Do vậy, dịch vụ phải không ngừng thay đổi về hình thức,
đa dạng về mẫu mã, có nhiều tiện ích, tính năng linh hoạt phù hợp với thị trường và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng thì mới tồn tại và phát triển Cũng vì lẽ đó, ngày càng nhiều loại hình dịch vụ NH được triển khai thực hiện tạo
ra một không gian mới mang tính cạnh tranh cao
- Tính không thể tách biệt: tính không tách rời của sản phẩm dịch vụ NH được thể hiện trong quá trình cung ứng sản phẩm của NH Thực tế cho thấy, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ NH thường diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch
vụ Mặt khác, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ của NH thường được tiến hành theo những qui trình nhất định không thể chia cắt ra thành các loại thành phẩm khác nhau như quy trình thẩm đinh, quy trình cho vay, quy trình chuyển tiền…Điều đó làm cho sản phẩm của NH không có khả năng lưu trữ Lý do này đòi hỏi NH phải có
hệ thống, phương pháp phục vụ nhanh với nhiều quầy, địa điểm giao dịch
- Số lượng và sự đa dạng hóa các dịch vụ NH ứng với sự phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là sự phát triển của khoa học kỹ thuật Đặc trưng của dịch vụ NH là sản phẩm thường đa dạng, số lượng nhiều, giá trị của từng loại sản phẩm không lớn nhưng khối lượng khách hàng rất lớn Do vậy, không thể thành công trong phát triển dịch vụ NH nếu không có sự phối hợp của công nghệ thông tin, kênh phân phối sản phẩm và nguồn lực con người
- Tính không ổn định và khó xác định: sản phẩm dịch vụ NH được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như trình độ đội ngũ nhân viên, kỹ thuật công nghệ và khách hàng Đồng thời sản phẩm dịch vụ NH lại được thực hiện ở không gian và thời gian khác nhau Tất cả những điều này đã tạo nên tính không đồng nhất, không
ổn định và khó xác định chất lượng sản phẩm dịch vụ NH
Trang 23+ Rủi ro thị trường: là tổn thất trong các trạng thái nội và ngoại bảng cân đối phát sinh từ sự vận động của giá cả thị trường, như: rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro tín dụng…
+ Rủi ro hoạt động (tác nghiệp): là các tổn thất do quy trình không phù hợp,
bị lỗi do con người và hệ thống hoặc do sự cố nội bộ
Trang 2414
Các dịch vụ khác: Dịch vụ ngân quỹ; Dịch vụ thu hộ, chi hộ; Dịch vụ tư vấn; Dịch vụ môi giới, đại lý phát hành chứng khoán, bảo quản và quản lý chứng khoán; Dịch vụ bảo hiểm; Dịch vụ bảo quản và ký gửi
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ tiền gửi và dịch
vụ tiền vay
Tuổi tác:
Bendig và ctg (2009), ngay cả khi phục vụ những nhu cầu giống nhau trong suốt cuộc đời, người ta vẫn mua những hàng hóa và dịch vụ khác nhau Cùng là nhu cầu gửi tiền nhưng khi còn trẻ họ sẽ chọn những sản phẩm hiện đại hơn còn khi lớn tuổi
họ thường chọn những sản phẩm an toàn hơn Chính vì vậy tuổi tác quan hệ chặt chẽ đến việc lựa chọn sản phẩm dịch vụ ngân hàng Bendig và ctg (2009), Akin (2011), Nguyễn Quốc Nghi (2011) tìm ra mối quan hệ tương quan thuận giữa biến tuổi tác với hành vi quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng Đồng thời, Sebopetji và ctg (2009) thì cho rằng yếu tố tuổi tác không ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng
Giới tính
Giới tính là yếu tố cá nhân đầu tiên có ảnh hưởng tiên quyết đến hành vi tiêu dùng Do những đặc điểm tự nhiên, phụ nữ và đàn ông có nhu cầu tiêu dùng khác nhau và cách lựa chọn hàng hóa cũng khác nhau (Mokhlis, 2009) Các nghiên cứu đã cho thấy, nếu quyết định lựa chọn hàng hóa của phụ nữ căn cứ chủ yếu vào giá cả, mức sinh lợi, hình thức, mẫu mã của hàng hóa thì đàn ông lại chú trọng đến công nghệ, uy tín của hàng hóa này Mokin (2009) đã phân tích sự khác biệt giới tính có tầm quan trọng trong sự lựa chọn ngân hàng và nghiên cứu cho thấy có ảnh hưởng rất lớn của giới tính đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng Nguyễn Quốc Nghi (2011), Trương Đông Lộc và Phạm Kế Anh (2012) nghiên cứu thấy rằng giới tính có mối tương quan với quyết định sử dụng tiền gửi tiết kiệm Sebopetji và ctg (2009) cho rằng giới tính có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định sử dụng dịch vụ tiền vay
Trang 2515
Nghề nghiệp
Nghề nghiệp và hoàn cảnh kinh tế là một trong những điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng của một người Nghề nghiệp ảnh hưởng đến tính chất của hàng hóa và dịch vụ được lựa chọn Bendig và ctg (2009), Akin (2011) cho rằng nghề nghiệp ảnh hưởng nhiều đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng
Thu nhập
Mason và Mayer (1974), thu nhập của một người ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng Thông thường khi thu nhập cao nhu cầu gửi tiền để dành càng cao, thu nhập thấp khả năng vay tiền sẽ cao Hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng biến thu nhập và chi tiêu vì đó là nhân tố tiên quyết ảnh hưởng đến việc gửi tiết kiệm hay vay vốn ngân hàng Hedayatnia (2011), Akin (2011) đã nghiên cứu thấy rằng thu nhập là yếu tố ảnh hưởng cao nhất đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng Nguyễn Quốc Nghi (2011), Trương Đông Lộc và Phạm Kế Anh (2012) cho rằng thu nhập càng cao người dân sẽ gửi tiết kiệm càng nhiều Đồng thời, thu nhập cao cũng là yếu tố sử dụng dịch vụ tiền vay càng cao Sebojetji và ctg (2009)
Hiểu biết tài chính
Sự hiểu biết giúp con người khái quát hóa nhu cầu và nhận thức của mình Có hiểu biết về tài chính ngân hàng người dân mới dễ dàng tiếp cận và sử dụng phù hợp Chẳng hạn một người dân có nhu cầu vốn mua phân bón nếu không hiểu biết về dịch
vụ ngân hàng họ có thể mua phân trả sau hay vay nóng với mức lãi suất cao, còn trường hợp đã hiểu về dịch ngân hàng họ sẽ tiếp cận ngân hàng để vay vốn để chịu mức lãi suất thấp
Gardiol (2004) và Cole và ctg (2010), hiểu biết tài chính cũng là một trong những yếu tố quan trọng khi nghiên cứu đối với khu vực nông thôn Vai trò hiểu biết tài chính đã thu hút được sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới Trong tháng 1 năm 2008, chính phủ Hoa Kỳ thiết lập Tư vấn của Tổng thống Hội đồng
Trang 2616
Literacy tài chính, chịu trách nhiệm thúc đẩy chương trình cải thiện tài chính ở tất
cả các cấp độ của nền kinh tế và giúp gia tăng tiếp cận với các dịch vụ tài chính Vào năm 2008 chính phủ Indonesia tuyên bố là “năm của giáo dục tài chính” với một mục tiêu cải thiện và sử dụng các dịch vụ tài chính bằng cách gia tăng tài chính biết đọc biết viết Tương tự như vậy, ở Ấn Độ, Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ đã phát động một sáng kiến trong năm 2007 là Trung tâm Tư vấn tài chính và tín dụng trong cả nước sẽ cung cấp miễn phí giáo dục tài chính và tư vấn cho dân cư
đô thị và nông thôn
Chất lượng dịch vụ ngân hàng
Khi đánh giá chất lượng dịch vụ của các ngân hàng, khách hàng sẽ xem xét trên các mặt: sự đa dạng của sản phẩm, đặc điểm vật chất, đội ngũ nhân sự của ngân hàng, trụ sở kiên cố, tiện nghi Hơn nữa theo Trương Đông Lộc (2012), yếu
tố thời gian thực hiện giao dịch cũng ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng Đội ngũ nhân sự có tầm quan trọng rất lớn trong việc phát triển quan
hệ giữa khách hàng và ngân hàng Với đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp các khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi nhận được những lời khuyên nhủ từ nhân viên ngân hàng
Ở các nước phát triển, yếu tố này rất quan trọng trong việc quyết định sử dịch
vụ ngân hàng, các nghiên cứu trước đã cho thấy rõ điều đó Javalgi và Hosseeini (1989), Hedayatnia (2011), Akin (2011), Frangos và ctg (2012)
Giá cả của dịch vụ tài chính
Đây là một vấn đề quan trọng có tác động đến sự phát triển của thị trường cũng như các NHTM Giá cả quá cao hay quá thấp đều có tác động tiêu cực đến sử dụng dịch vụ ngân hàng (Kaynak và Kucukemicoglu, 1992) Nếu thị trường theo quy luật cạnh tranh thì người tiêu dùng sẽ được cung cấp một mức giá hợp lý nhất
và cạnh tranh nhất Các nghiên cứu đã quan tâm đến yếu tố này và chỉ ra rằng có
Trang 27- Gia đình: Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo có ảnh hưởng lớn nhất đến hành vi người tiêu dùng Thứ nhất là gia đình định hướng gồm bố mẹ của người đó Tại gia đình này người đó sẽ được định hướng bởi các giá trị văn hóa, chính trị, hệ tư tưởng…Khi trưởng thành và kết hôn, mức ảnh hưởng của người vợ hoặc người chồng trong việc quyết định loại hàng hóa sẽ mua là rất quan trọng Browing và Lusardi (1996) cho thấy các yếu tố văn hóa và nghĩa vụ gia đình, giáo dục trẻ em đều ảnh hưởng rất lớn đến lựa chọn sử dụng dịch vụ ngân hàng, Barslund và Tarp (2008) thì chỉ ra rằng số người phụ thuộc trong gia đình có tương tác lớn trong việc vay vốn ngân hàng
Bên cạnh các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút khách hàng sử dụng dịch
vụ ngân hàng như trên thì yếu tố chiến lược khách hàng, chiến lược quảng cáo,
Trang 282.2 Tổng quan về các nghiên cứu trước
2.2.1 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch
vụ ngân hàng nói chung
Kaufman (1967), đã nghiên cứu các yếu tố quyết định trong việc lựa chọn ngân hàng của khách hàng và các công ty thương mại tại Hoa Kỳ Tác giả cho thấy rằng yếu tố quan trọng nhất là khoảng cách từ nhà hoặc địa điểm kinh doanh đến ngân hàng, mối quan hệ lâu dài của khách hàng và ngân hàng và cuối cùng là chất lượng dịch vụ
Mason và Mayer (1974), nghiên cứu các yếu tố quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng bởi hai nhóm khách hàng tại Mỹ, nhóm thu nhập cao và thu nhập thấp Tiêu chí đầu tiên đó là vị trí thuận tiện, sau đó là phong cách phục vụ của nhân viên thân thiện, kinh nghiệm, lời khuyên bạn bè và ảnh hưởng từ người thân
Laroche và ctg (1986), đã điều tra 140 hộ gia đình ở Montreal, Canada Trong bảng xếp hạng các yếu tố lựa chọn ngân hàng, kết quả cho thấy sự thân thiện của nhân viên đóng vai trò quan trọng nhất, tiếp theo là giờ giao dịch, quy mô ngân hàng,
vị trí thuận lợi
Trong một số nghiên cứu ở Đông Nam Á được tiến hành bởi Tan và Chua (1986), sử dụng mẫu ở Singapore, phát hiện ra ảnh hưởng của bên thứ ba, cụ thể là gia đình và bạn bè là ảnh hưởng quan trọng nhất trong tiêu chí lựa chọn ngân hàng
Javalgi và Hosseini (1989), cho thấy rằng yếu tố tiền tệ là những tiêu chí chính trong quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng, các yếu tố tài chính đó như lãi
Trang 2919
suất trên tài khoản tiết kiệm, an toàn của quỹ, sự đáp ứng sẵn có về nhu cầu cấp tín dụng, bên cạnh đó còn có các yếu tố khác như vị trí thuận tiện và uy tín của ngân hàng
Kaynak và Kucukemicoglu (1992), đã nghiên cứu tại Hồng Kông để tìm hiểu tầm quan trọng của tiêu chí lựa chon ngân hàng, các yếu tố chính được tìm thấy là vị trí thuận tiện, tư vấn tài chính, các khoản vay và thế chấp tài sản và không gian bãi đậu xe
Boy và ctg (1994), sử dụng khảo sát điện thoại để điều tra về tầm quan trọng của các tiêu chí lựa chọn ngân hàng tại Mỹ, Trong nghiên cứu này, những người tham gia được yêu cầu xếp hạng, từ danh sách lựa chọn của mười tiêu chí và kết quả là: uy tín ngân hàng, lãi suất tiết kiệm, lãi suất vay, dịch vụ nhanh chóng, vị trí trong thành phố, giờ hoạt động, thân thiện của nhân viên, cơ sở vật chất hiện đại, phục vụ của nhân viên
Bendig và ctg (2009), nghiên cứu nhu cầu của nông hộ đối với các dịch vụ tài chính chính thức ở nông thôn Ghana, Viện nghiên cứu Khu vực và Toàn cầu Đức Nghiên cứu đã tiến hành thu thập dữ liệu của 351 hộ nông dân tại hai làng Brakwa
và Benin thuộc huyện Asikuma, miền trung Ghana vào tháng 2/2008 Tác giả cũng
sử dụng phương pháp Tobit để có thể phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng vay vốn và lượng vốn vay của nông hộ Kết quả cho thấy có 9 nhân tố ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của nông hộ, đó là kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ, quan hệ quen biết của hộ, qui mô gia đình, tuổi tác của chủ hộ, học vấn của chủ hộ, qui mô đất đai, tổng tài sản của nông hộ, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của hộ và việc nông
hộ có điện thoại hay không Còn lượng vốn vay của nông hộ thì phụ thuộc vào 10 nhân tố đó là lãi suất món tiền vay, lịch sử trả nợ của hộ, qui mô gia đình, tuổi tác của chủ hộ, học vấn của chủ hộ, qui mô đất đai, tổng tài sản của nông hộ, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của hộ, việc nông hộ có điện thoại hay không, và các biến cố xảy ra trong hộ (bệnh tật, có người thân qua đời…)
Trang 3020
Mokhlis (2009), trình bày phân tích về sự khác biệt giới tính trong tầm quan trọng tương đối của sự lựa chọn một ngân hàng Sử dụng kết quả phân tích 368 bảng câu hỏi phỏng vấn sinh viên đại học của Malaysia theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, trong đó có 39,1% là nam giới và 60,9% là nữ, tác giả sử dụng thang đo Likert 5 điểm từ đó thông qua SPSS tiến hành phân tích nhân tố để đơn giản hóa các ma trận tương quan và Cronbach alpha được sử dụng để đo lường độ tin cậy Theo đó kết quả cho thấy yếu tố giới tính có ảnh hưởng đến lựa chọn sử dụng dịch vụ ngân hàng Cole và ctg (2010), nghiên cứu về mối quan hệ mạnh mẽ giữa biết chữ tài chính
và hành vi tài chính tại các thị trường mới nổi Các tác giả sử dụng hàm hồi qui kết hợp khảo sát bằng chứng mới từ Indonesia và Ấn Độ với một thử nghiệm để đo lường tài chính hộ gia đình biết đọc biết viết và nhu cầu cho các dịch vụ tài chính Qua kết quả phân tích bài viết này trình bày bằng chứng thuyết phục là tài chính biết đọc biết viết là một yếu tố dự báo quan trọng của hành vi tài chính ở các nước thị trường mới Hedayatnia (2011), nghiên cứu về tiêu chuẩn chọn ngân hàng của người dân Iran, kiểm tra các tiêu chí lựa chọn ngân hàng để sử dụng các dịch vụ bởi các khách hàng ở Iran Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố thông qua sử dụng thang đo Likert 5 cấp độ và sử dụng thử nghiệm Friedman để xếp hạng và xác định các yếu tố quan trọng mà khách hàng của ngân hàng nhận thức là hữu ích Kết quả phân tích cho thấy rằng các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của khách hàng là: chất lượng dịch vụ, sự thân thiện của nhân viên ngân hàng, lãi suất, địa điểm thuận lợi, và danh tiếng của ngân hàng
Akin (2011) nghiên cứu về các nhân tố lựa chọn ngân hàng nhằm để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn các dịch vụ ngân hàng để sử dụng của khách hàng Tác giả sử dụng phân phối tần số khi phân tích dữ liệu, bên cạnh đó trung bình
và độ lệch chuẩn của quy mô đã được sử dụng để xác định thái độ của các cá nhân sử dụng dịch vụ ngân hàngcho các cấp độ có ý nghĩa Tác giả kết luận rằng các yếu tố như: giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, mức thu nhập, nghề nghiệp và các biến sự thỏa mãn các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng có ý nghĩa thống kê, có tác động
Trang 3121
vào khả năng sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng Ngược lại, các yếu tố như: món quà thu hút được tổ chức bởi các ngân hàng, nhớ ngày đặc biệt như sinh nhật và các chương trình khuyến mãi, miễn phí thì không có mức ý nghĩa thống kê Bên cạnh đó, còn có các nghiên cứu khác tìm ra các yếu tố khác ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng như: hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Rashid, 2009), chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử (Rehman và Ahmed, 2008), dịch vụ ATM (Mokhlis, 2008)
2.2.2 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch
vụ tiền gửi
Nghiên cứu gần đây về hành vi tiết kiệm của các hộ gia đình ở các nước đang phát triển cho thấy thu nhập và hành vi tiết kiệm có quan hệ tích cực với nhau (Fraay (2000) và Gardiol (2004)) Nhìn chung, các biến kinh tế xã hội như thu nhập, trình độ học vấn, lãi suất, quy mô trang trại, khoảng cách, quy mô hộ gia đình là các yếu tố chính quyết định gửi tiết kiệm của các hộ nông dân trồng rau (Robinson, 1994)
Browning vả Lusardi (1996), nhận thấy ba yếu tố quyết định hành vi tiết kiệm của các hộ gia đình ở Châu Phi Thứ nhất, khả năng tiết kiệm phụ thuộc vào thu nhập
và chi tiêu của hộ gia đình Thứ hai, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa, xã hội và kinh tế như các nghĩa vụ trong gia đình, trách nhiệm xã hội, giáo dục trẻ em Thứ ba,
cơ hội để tiết kiệm và trả tiền gửi tiết kiệm Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy ảnh hưởng mạnh giữa tỷ lệ của tống số tiết kiệm và diện tích đất (Attanasio, 1998)
Pailwar (2010), nghiên cứu ở nước phát triển như Ấn Độ, huy động tiết kiệm là cần thiết cho sự phát triển toàn diện nhằm xác định tầm quan trọng của các tổ chức tài chính trong việc huy động tiết kiệm tài chính nông thôn Dựa vào dữ liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra mẫu quy mô toàn diện trong năm làng và hai khu vực ngoại ô của của Thủ đô Ấn Độ Mô hình hồi quy thực hiện trên dữ liệu xác định rằng các thành viên của các tổ chức tài chính, cụ thể là của các ngân hàng, bảo hiểm và các tổ chức tài chính có tỷ lệ đáng kể của sự biến động trong tiết kiệm tài chính hộ gia đình
Trang 3222
Nguyễn Quốc Nghi (2011) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của hộ gia đình ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, thông qua kết quả thu thập từ 458 hộ gia đình và ứng dụng phương pháp phân tích hồi qui Logit Kết quả kết luận cho thấy quyết định gửi tiền tiết kiệm của hộ gia đình tương quan thuận với các nhân tố: tuổi của lao động chính, trình độ học vấn của lao động chính, tổng thu nhập hàng tháng và tổng số lao động trong gia đình đồng thời tương quan nghịch với các nhân tố: giới tính của chủ hộ, tham gia hội đoàn thể, số hoạt động tạo thu nhập của hộ và tổng số tiền chi tiêu hàng tháng của hộ gia đình Trong đó nhân tố nghề nghiệp tạo thu nhập chính cho hộ gia đình là nhân tố tác động mạnh nhất
Trương Đông Lộc và Phạm Kế Anh (2012) đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng cá nhân tại NHTM trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang, số liệu số cấp được tác giả thu thập từ 478 khách hàng tại địa bàn tỉnh Kiên Giang Đề tài đã sử dụng mô hình Tobit để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền vào ngân hàng và lượng tiền gửi của khách hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy có 8 nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi tiết kiệm là: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, kỹ năng nghiệp vụ nhân viên ngân hàng, thời gian giao dịch và địa điểm giao dịch
Tesfamariam (2012), xác định và kiểm tra mối quan hệ giữa hành vi tiết kiệm và các yếu tố của huy động tiết kiệm ở miền Tigrai Ethiopia Nghiên cứu thu thập dữ liệu ngẫu nhiên từ 120 người gửi tiết kiệm là hộ gia đình nông thôn và tham gia hợp tác xã Kết quả của nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu cho thấy tiết kiệm huy động được xác định bằng thu nhập hàng năm của hộ gia đình, số năm tham gia vào hợp tác xã Bên cạnh đó, các hợp tác xã còn khuyến khích các hộ gia đình nông thôn bằng cách hỗ trợ nguồn vốn quay vòng đề kinh doanh có hiệu quả hơn và từ đó huy động tiết kiệm cũng tăng trưởng và đồng thời cung cấp các khoản vay thế chấp, bảo lãnh trên cơ sở tỷ lệ vỡ nợ thấp Điều này sẽ thúc đẩy sản lượng sản xuất của hộ nông dân và tăng trưởng huy động vốn cho nền kinh tế nông thôn
Trang 33Barslund và Tarp (2008), khảo sát 932 hộ gia đình nông thôn trên thị trường tín dụng nông thôn ở bốn tỉnh của Việt Nam, tìm thấy những tác động của cơ chế tín dụng phụ thuộc vào giáo dục, số người phụ thuộc trong gia đình có ý nghĩa thống
kê
Sebopetji và ctg (2009), phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ tiền vay của những người nông dân ở địa phương Greater Letaba ở Nam Châu Phi Dựa trên các dữ liệu chính được thu thập ở đô thị Greater địa phương Letaba từ
73 nông dân quy mô nhỏ trong năm 2006, tác giả đã sử dụng phương pháp tiếp cận
mô hình probit để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng tín dụng của các hộ gia đình ở Nam Châu Phi Kết quả cho thấy rằng kinh nghiệm, giới tính và tình trạng hôn nhân có ảnh hưởng đến quyết định của người nông dân sử dụng tín dụng Ngược lại, tuổi tác của người nông dân, trình độ học vấn và thành viên trong hiệp hội nông dân không ảnh hưởng đáng kể Đồng thời tác giả còn kết luận việc sáp nhập giữa các hộ nông dân quy mô nhỏ có thể cải thiện năng lực sản xuất, cải thiện tình trạng thiếu tài sản thế chấp và tín nhiệm hơn khi nông dân cần vốn tín dụng Frangos và ctg (2012), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi vay của khách hàng ở Hy Lạp, các tác giả sử dụng phân tích theo mô hình hồi qui logistic đánh giá tác động của một số yếu tố đến quyết định đi vay của khách hàng Kết quả hồi quy logistic cho thấy tình trạng hôn nhân cá nhân, dịch vụ khách hàng, trang thiết
bị ngân hàng và lãi suất là yếu tố dự báo quan trọng nhất của việc vay vốn
Trang 3424
Từ những nghiên cứu trên cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đến quyết định gửi tiền và vay tiền từ ngân hàng bao gồm nhiều yếu tố như: tuổi, giới tính, thu nhập, chi tiêu, nghề nghiệp, địa điểm kinh doanh của ngân hàng, trình
độ học vấn, hiểu biết tài chính và những yếu tố khác
Chương 2 đã tóm tắt khái quát các cơ sở lý thuyết được dùng làm nền tảng cho nghiên cứu trong luận văn Đồng thời, chúng tôi đã trình bày một số bài nghiên cứu trước đây mà chúng tôi tham khảo để đưa những giả thuyết mà luận văn này cần nghiên cứu Chương tiếp theo sẽ trình bày chi tiết phương pháp để thực hiện nghiên cứu
Trang 3525
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa vào lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trước được trình bày trong chương 2, chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu được thực hiện trong luận văn Chương này cũng trình bày cách thức thu thập dữ liệu, quá trình thu thập dữ liệu và các biến đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu
3.1 Khung nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu bao gồm hai bước: nghiên cứu sơ bộ định tính và nghiên cứu chính thức định lượng Cụ thể theo hình sau:
Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết về dịch vụ ngân hàng,
hành vi sử dụng dịch vụ NH
Các nghiên cứu thực nghiệm trước
tiêu dùng
Mô hình nghiên cứu
Mô hình Probit dùng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền và vay tiền của người dân ở khu
vực nông thôn Tỉnh An Giang
Hình 3.1 Khung nghiên cứu
Trang 3626
3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê Tỉnh An Giang năm 2014và các báo cáo thống kê của Ngân Hàng Nhà Nước chi nhánh Tỉnh An Giang
Số liệu sơ cấp được thu thập từ việc phỏng vấn trực tiếp người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang dựa trên bảng câu hỏi phỏng vấn đã soạn sẵn, số phiếu khảo sát phát ra là 500 mẫu, thu về 398 mẫu hợp lệ
Phương pháp chọn mẫu được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để thu thập số liệu sơ cấp Trên địa bàn Tỉnh An Giang
có 07 huyện, 02 thị xã và 02 thành phố Từ đó sẽ chọn lọc vùng nghiên cứu ở khu vực nông thôn các huyện trên địa bàn tỉnh gồm tất cả 11 huyện, thị Trong đó mỗi huyện thị sẽ chọn khảo sát từ 1 đến 2 xã theo lượng dân số mỗi huyện Cỡ mẫu được chọn là 398 mẫu với cỡ mẫu này thì có thể đại diện cho tổng thể nghiên cứu
Số mẫu quan sát được phân bổ theo bảng sau:
Bảng 3.1: Cơ cấu mẫu theo địa bàn nghiên cứu
sát
Tỷ lệ (%)
1 TP Long Xuyên Mỹ Khánh, Mỹ Phước 39 9,8
2 TP Châu Đốc Vĩnh Mỹ, Vĩnh Ngươn 28 7,0
4 Tân Châu Long Sơn, Vĩnh Hòa 42 10,6
6 Châu Phú Khánh Hoà, Thạnh Mỹ Tây 37 9,3
9 Châu Thành An Hòa, Vĩnh Thành 39 9,8
10 Chợ Mới Kiến An, Kiến Thành 45 11,3
11 Thoại Sơn Phú Hoà, Vĩnh Trạch 38 9,5
Nguồn: Số liệu tự điều tra, 5/2015.
Trang 3727
3.3 Phương pháp phân tích số liệu, mô hình nghiên cứu
* Để mô tả và phân tích thực trạng sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang đề tài sử dụng sơ đồ, phương pháp thống
kê mô tả (với các chỉ tiêu như tỷ lệ, tần suất, trung bình…), phương pháp so sánh số tuyệt đối, số tương đối kết hợp suy luận
* Để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tại ngân
hàng đề tài sử dụng mô hình Probit để phân tích Mô hình probit có dạng như sau :
- X1, X2, X3, X4, X5, X6: là các biến độc lập (biến giải thích) Đây là các biến
số có ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền vào ngân hàng Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu được diễn giải cụ thể theo bảng 3.2
- u : là sai số của mô hình
* Để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay tiền tại ngân
hàng đề tài cũng sử dụng mô hình Probit để phân tích Trong đó :
- Biến Y là biến phụ thuộc thể hiện khả năng người dân vay tiền từ ngân hàng đây là biến nhị nguyên nhận hai giá trị :
+ Y = 1: Trường hợp người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang có vay tiền từ ngân hàng
Trang 3828
+ Y = 0: Trường hợp người dân ở khu vực nông thôn Tỉnh An Giang không vay tiền từ ngân hàng
- X1, X2, X3, X4, X5, X6: là các biến độc lập (biến giải thích) Đây là các biến
số có ảnh hưởng đến quyết định vay tiền từ ngân hàng.Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu được diễn giải cụ thể theo bảng 3.2
- u: là sai số của mô hình
Căn cứ theo cơ sở lý luận và các lược khảo tài liệu có liên quan, tác giả thiết
kế bảng câu hỏi phỏng vấn người dân theo hai sản phẩm dịch vụ tiền gửi và tiền vay riêng biệt vì vậy đề tài sử dụng cùng biến giải thích trên hai mô hình probit
Diễn giải các biến trong mô hình nghiên cứu:
+ Tuổi của người dân (X 1): Là số tuổi tính từ năm sinh của người dân Biến
được kỳ vọng là có mối tương quan thuận chiều với quyết định gửi tiền vào ngân hàng của người dân Vì phần lớn người lớn tuổi đều muốn an toàn và sinh lãi vì vậy khả năng gửi tiền cũng cao hơn những khách hàng trẻ tuổi Bên cạnh đó biến cũng được kỳ vọng có mối tương quan thuận chiều với quyết định vay tiền tại ngân hàng bởi vì những khách hàng có tuổi tác càng cao thì thường có nhu cầu vốn nhiều hơn,
có nhiều tài sản, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, và có nhiều mối quan hệ quen biết trong xã hội hơn những người trẻ tuổi vì vậy có thể tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng sẽ dàng hơn
+ Giới tính (X 2): Là giới tính của người dân, biến nhận giá trị 1 khi là nam
và nhận giá trị 0 khi người dân là nữ Biến được kỳ vọng là có mối tương quan nghịch chiều với quyết định gửi tiền vì phụ nữ thường là người quản lý tiền trong gia đình nên có thể kiểm soát được lượng tiền nhàn rỗi trong gia đình và quyết định gửi tiền vào ngân hàng để giữ an toàn và tiết kiệm dần Trong khi đó biến được kỳ vọng có mối tương quan thuận chiều với quyết định vay tiền tại ngân do ở khu vực nông thôn phụ nữ thường là những người phụ trách các công việc nhà và không phải là người có kinh nghiệm cũng như đảm nhận vai trò chính trong việc sản
Trang 3929
xuất kinh doanh của hộ cho nên nam giới sẽ dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn vay ngân hàng hơn
+ Tình trạng hôn nhân (X 3): Là tình trạng hôn nhân của người dân Đây là
một biến giả, biến nhận giá trị 1 nếu đã lập gia đình và nhận giá trị 0 nếu chưa lập gia đình Biến được kỳ vọng là có mối tương quan thuận chiều với quyết định gửi tiền của người dân vì khi đã lập gia đình, nhu cầu tiết kiệm tiền cho tương lai hay
để làm vốn đầu tư sản xuất kinh doanh sẽ tăng vì vậy những khách hàng này sẽ có tiền tiết kiệm nhiều hơn và có khả năng gửi tiền vào ngân hàng cao hơn Bên cạnh đó, biến cũng được kỳ vọng có mối tương quan thuận chiều với quyết định vay tiền tại ngân hàng do người dân đã lập gia đình thì sẽ có nhu cầu vay vốn để đầu tư vào việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cá nhân hay dùng vào các mục đích khác
+ Thu nhập (X 4): Là thu nhập trung bình hàng tháng của người dân Biến
được kì vọng là có mối tương quan thuận chiều với khả năng gửi tiền vào ngân hàng của khách hàng Thu nhập càng nhiều thì khả năng phần tiền tiết kiệm sẽ càng nhiều và khả năng gửi tiền vào ngân hàng cũng cao Đồng thời biến cũng được kỳ vọng là có mối tương quan thuận chiều với quyết định vay tiền của khách hàng, những khách hàng có thu nhập cao thường là những người có đầu tư sản xuất kinh doanh nên nhu cầu vốn cao, là những người biết cách sử dụng hiệu quả đồng vốn từ đó có thể tạo được lòng tin đối với ngân hàng và có thể vay vốn dễ dàng hơn
+ Chi tiêu (X 5): Là chi tiêu trung bình hàng tháng của người dân Biến này
được kì vọng là mối tương quan nghịch chiều với khả năng gửi tiền vào ngân hàng của khách hàng Chi tiêu hàng tháng càng nhiều thì phần tiền tiết kiệm càng thấp
vì vậy khả năng gửi tiền vào ngân hàng của khách hàng cũng giảm theo Bên cạnh đó biến được kỳ vọng là có mối tương quan thuận chiều với quyết định vay tiền của khách hàng, những khách hàng có chi tiêu càng cao thì phần tiết kiệm trong thu nhập dành cho đầu tư sản xuất kinh doanh sẽ ít vì vậy sẽ có nhu cầu vay tiền ngân hàng cao hơn
Trang 4030
+ Hiểu biết tài chính (X 6): Là một biến giả, người dân được phỏng vấn 4 câu
hỏi về hiểu biết tài chính Nếu trả lời đúng kết quả từ 3 câu trở lên sẽ nhận giá 1, tương ứng với mức độ hiểu biết tài chính cao Ngược lại, khách hàng trả lời đúng từ
2 câu trở xuống sẽ nhận giá trị 0, tương ứng với mức độ hiểu biết tài chính thấp Biến này được kỳ vọng là có mối tương quan thuận chiều với khả năng gửi tiền vào ngân hàng của khách hàng, do có mức độ hiểu biết tài chính cao sẽ hiểu nhiều về những ưu điểm của SPDVNH và khả năng gửi tiền sẽ nhiều hơn Đối với quyết định vay tiền biến này được kỳ vọng là có mối tương quan thuận chiều với quyết định vay tiền của khách hàng, do hiểu biết tài chính người dân sẽ hiểu rõ vay ngân hàng lãi suất thấp, có nhiều ưu đãi và rất tiện lợi nên khả năng vay tiền từ ngân hàng sẽ cao
Qua giải thích về các biến độc lập đươc sử dụng trong mô hình các kỳ vọng về các biến giải thích trong mô hình được trình bày trong bảng sau:
Bảng 3.2: Diễn giải các biến trong mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Kỳ vọng đối với quyết định gửi tiền
NH
Kỳ vọng đối với quyết định vay tiền NH
Tuổi (X1) Tuổi tác của người dân đo lường
Giới tính (X2) Biến giả, nhận giá trị 1 nếu người
dân là nam, nhận giá trị 0 nếu ngược lại