TÓM TẮT Luận văn được nghiên cứu nhằm đo lường tác động của rủi ro và hiệu quả hoạt động đến sự an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam.. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu thể hi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THỊ THU HÀ
TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẾN SỰ AN TOÀN VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số chuyên ngành: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VĂN THUẬN
TP Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 2TÓM TẮT
Luận văn được nghiên cứu nhằm đo lường tác động của rủi ro và hiệu quả hoạt động đến sự an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam Căn cứ trên những nghiên cứu về lý thuyết và nghiên cứu về thực nghiệm có liên quan trước đây, luận văn đã xây dựng mô hình nghiên cứu, đặt ra các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro và hiệu quả hoạt động với sự an toàn vốn của ngân hàng Rủi ro được xét đến bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro vốn chủ sở hữu Hiệu quả hoạt động được thể hiện qua tỷ số hiệu quả hoạt động, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ suất sinh lời trên tài sản Đồng thời sự an toàn vốn được tính toán thông qua hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) Bên cạnh đó yếu tố quy mô ngân hàng được thêm vào mô hình để tăng tính giải thích cho mô hình
Việc tiến hành kiểm định các giả thuyết của mô hình dựa trên mẫu nghiên cứu gồm 15 ngân hàng thương mại với tổng số 120 quan sát, dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2006 – 2014 Luận văn sử dụng mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effect Model – REM) để ước lượng hồi quy
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tác động tích cực đến sự an toàn vốn của ngân hàng Ngược lại rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro vốn chủ sở hữu và quy mô ngân hàng tác động tiêu cực đến sự an toàn vốn Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu thể hiện chưa tìm thấy được bằng chứng định lượng về tác động của tỷ số hiệu quả hoạt động và tỷ suất lợi nhuận trên tài sản đến sự
an toàn vốn của ngân hàng
Với những kết quả đạt được, nghiên cứu này đã bước đầu cung cấp cho các nhà quản lý những yếu tố thuộc về rủi ro và hiệu quả hoạt động có tác động đến vốn an toàn của ngân hàng Từ đó dựa vào sự vận dụng lý thuyết, kết quả nghiên cứu thực nghiệm và tình hình thực tế của ngân hàng để đưa ra những chính sách phù hợp và hiệu quả
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh mục bảng viii
Danh mục từ viết tắt ix
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Vấn đề nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.6 Phương pháp nghiên cứu 4
1.7 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 5
1.8 Kết cấu luận văn nghiên cứu 5
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 Tỷ lệ an toàn vốn 6
2.1.1 Sự cần thiết của quy mô vốn tối thiểu trong ngân hàng 6
2.1.2 Hiệp ước Basel về hệ số an toàn vốn 8
2.1.3 Các quy định liên quan đến sự an toàn vốn của Việt Nam 12
2.2 Rủi ro ngân hàng 15
2.2.1 Rủi ro tín dụng 15
Trang 42.2.3 Rủi ro vốn chủ sở hữu 18
2.3 Hiệu quả hoạt động 19
2.3.1 Tỷ số hiệu quả hoạt động 20
2.3.2 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 20
2.3.3 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản 20
2.4 Quy mô ngân hàng 20
2.5 Sơ lược một số nghiên cứu trước 21
2.6 So sánh với các nghiên cứu trước 26
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Giả thuyết nghiên cứu 27
3.1.1 Rủi ro tín dụng 27
3.1.2 Rủi ro thanh khoản 28
3.1.3 Rủi ro vốn chủ sở hữu 28
3.1.4 Tỷ số hiệu quả hoạt động 29
3.1.5 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 30
3.1.6 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản 31
3.1.7 Quy mô ngân hàng 31
3.2 Mô hình nghiên cứu 32
3.3 Cách đo lường các biến 32
3.3.1 Biến phụ thuộc 33
3.3.2 Biến độc lập 34
3.3.2.1 Rủi ro tín dụng 34
3.3.2.2 Rủi ro thanh khoản 34
3.3.2.3 Rủi ro vốn chủ sở hữu 34
3.3.2.4 Tỷ số hiệu quả hoạt động 35
3.3.2.5 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 36
Trang 53.3.2.6 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản 36
3.3.2.7 Quy mô ngân hàng 37
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 39
3.5 Phân tích dữ liệu 40
3.5.1 Dữ liệu bảng 40
3.5.2 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng 41
3.5.2.1 Mô hình bình phương tối thiểu thông thường 42
3.5.2.2 Mô hình các ảnh hưởng cố định 42
3.5.2.3 Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên 42
3.5.2 Trình tự thực hiện hồi quy 43
Chương 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
4.1 Thống kê mô tả 44
4.2 Ma trận hệ số tương quan và đa cộng tuyến 48
4.3 Kết quả nghiên cứu 49
4.3.1 Kiểm định chọn lựa giữa mô hình FEM và REM 49
4.3.2 Kiểm định chọn lựa giữa mô hình REM và Pool OLS 50
4.3.3 Phân tích kết quả nghiên cứu 50
4.3.3.1 Biến số rủi ro tín dụng 51
4.3.3.2 Biến số rủi ro thanh khoản 52
4.3.3.3 Biến số rủi ro vốn chủ sở hữu 53
4.3.3.4 Biến số tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 55
4.3.3.5 Biến số quy mô 56
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.1.1 Mối quan hệ cùng chiều 58
Trang 65.1.2 Mối quan hệ ngược chiều 58
5.1.3 Không có mối quan hệ 59
5.2 Kiến nghị 59
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 61
5.3.1 Hạn chế 61
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 68
PHỤ LỤC 1 Thống kê mô tả 68
PHỤ LỤC 2 Ma trận hệ số tương quan 68
PHỤ LỤC 3 Hệ số phóng đại VIF 69
PHỤ LỤC 4 Kết quả hồi quy FEM 69
PHỤ LỤC 5 Kết quả hồi quy REM 70
PHỤ LỤC 6 Kiểm định chọn lựa giữa FEM và REM 71
PHỤ LỤC 7 Kiểm định chọn lựa giữa REM và OLS 71
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước 25
Bảng 3.1 Mô tả các biến đo lường được sử dụng trong nghiên cứu 38
Bảng 3.2 Danh sách các NHTM cổ phần trong mẫu nghiên cứu 40
Bảng 4.1 Thống kê giá trị trung bình các biến quan sát từng ngân hàng 44
Bảng 4.2 Thống kê giá trị trung bình các biến quan sát hàng năm 45
Bảng 4.3 Thống kê mô tả các biến quan sát 46
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 48
Bảng 4.5 Hệ số phóng đại VIF 49
Bảng 4.6 Kiểm định Hausman chọn lựa FEM hoặc REM 49
Bảng 4.7 Kiểm định Breusch và Pagan Lagrangian chọn lựa REM hoặc OLS 50
Bảng 4.8 Kết quả ước tính các yếu tố ảnh hưởng đến CAR theo mô hình REM 50
Bảng 4.9 Thống kê số liệu cho vay và huy động của mẫu nghiên cứu 52
Bảng 4.10 Thống kê vốn chủ sở hữu và hệ số CAR của mẫu nghiên cứu 54
Trang 8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CAR : Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio)
CĐKT : Cân đối kế toán
CR : Rủi ro tín dụng (Credit Risk)
ER : Rủi ro vốn chủ sở hữu (Equity Risk)
FEM : Mô hình các ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model)
FGLS : Bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least
Square) GLS : Bình phương bé nhất tổng quát (General Least Square)
HĐKD : Hoạt động kinh doanh
NHTM : Ngân hàng thương mại
NIM : Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin)
OER : Tỷ số hiệu quả hoạt động (Operating Efficiency Ratio)
OLS : Bình phương bé nhất thông thường (Ordinary Least Square)
REM : Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effect Model) ROA : Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (Return On Assest)
ROE : Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity)
RWA : Tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (Risk Weighted Assest)
Trang 9TCTD : Tổ chức tín dụng
UBGSTCQG : Ủy ban giám sát tài chính quốc gia
VAS : Chuẩn mực kế toán Việt Nam (Vietnam Accounting Standards) VIF : Hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor)
Trang 10CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do nghiên cứu
Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra năm 2008, việc giám sát quản trị ngân hàng đã được tập trung chú ý bởi các nước trên thế giới và hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đi theo xu thế đó Bên cạnh đó, để phù hợp với những chuẩn mực khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam phải dần dần nới lỏng các rào cản tạo bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài và vì vậy hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam cần xây dựng đủ vững mạnh để tồn tại và nâng cao khả năng cạnh tranh Một trong những yếu tố quan trọng của các ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn là đáp ứng quy mô vốn tối thiểu theo cách tiếp cận với bộ tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu, áp dụng cho các ngân hàng thương mại (NHTM) của Ủy ban Basel mà hơn 100 quốc gia trên thế giới đang thực hiện
Các chủ đề nghiên cứu, thảo luận về sự an toàn vốn của ngân hàng đã chỉ ra rằng quy mô vốn tối thiểu của ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì
sự ổn định và bền vững của bản thân ngân hàng nói riêng và của cả hệ thống ngân hàng nói chung Mỗi ngân hàng phải giữ được sự cân bằng giữa giá trị vốn cần thiết và các tài sản rủi ro Vốn này càng thể hiện tầm quan trọng khi là tấm đệm chống đỡ rủi
ro phá sản bởi giúp giảm bớt căng thẳng và tổn thất tài chính trong thời gian các nhà quản trị ngân hàng giải quyết vấn đề khó khăn và khôi phục lại khả năng sinh lời (Rose và Hudgins, 2010)
Koehn và Santomero (1980) và Kim và Santomero (1988) nhận thấy rằng chi phí của vốn chủ sở hữu cao hơn chi phí của nợ, vì vậy sự sụt giảm trong mức độ vốn huy động có thể dẫn đến sự sụt giảm lợi nhuận của ngân hàng Tuy nhiên lợi nhuận cao đi kèm rủi ro cao, điều này có thể dẫn đến xác suất phá sản cao Những người gửi tiền luôn muốn nhận được sự chi trả ổn định cho dù hiệu quả ngân hàng diễn biến như thế nào Vì vậy đối với các nhà quản trị ngân hàng phải có kế hoạch duy trì các nguồn lực cần thiết sao cho ổn định và đầy đủ, trong đó có xét đến nguồn vốn Các nhà quản trị ngân hàng phải xác định được tổng số vốn cần thiết dựa trên những yếu tố tác động đến sự an toàn vốn của ngân hàng Hiệp ước Basel ra đời cũng nhằm mục đích chính thắt chặt về số vốn tối thiểu Yêu cầu về vốn được gắn kết với những rủi ro phát sinh
Trang 11trong ngân hàng Các rủi ro chính yếu nhất gồm rủi ro tín dụng, thanh khoản, rủi ro hoạt động và những rủi ro khác đã tác động đến sự an toàn vốn của ngân hàng Bên cạnh đó những ngân hàng kinh doanh có lợi nhuận đều chọn lựa nâng cao mức vốn chủ sở hữu nhằm bảo vệ giá trị thương hiệu, hoạt động hiệu quả hơn và giảm khả năng
phá sản (Berger và Di Patti, 2003) Tuy nhiên Büyükşalvarcı và Abdioğli (2011) lại
cho rằng ngân hàng hoạt động hiệu quả, có lợi nhuận cao nghĩ rằng khả năng thất bại giảm nên họ sẽ giảm đi lượng vốn an toàn vì tin rằng rủi ro phá sản rất thấp
Vấn đề những yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của các NHTM đã được nghiên cứu rất nhiều trên thế giới Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây đã cung cấp những kiến thức nền tảng về quy định vốn, thực trạng sự an toàn vốn của Việt Nam và giải pháp cho việc áp dụng hiệp ước Basel Hiện nay sau thời gian cân nhắc
kỹ lưỡng, ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có những định hướng rõ ràng về việc triển khai Basel II tại Việt Nam Tháng 03/2014 NHNN đã quyết định chọn 10 NHTM để thí điểm thực hiện tuân thủ Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn vào cuối năm 2015
và theo các phương pháp đo lường tiên tiến vào cuối năm 2018 Qua đó cho thấy tầm quan trọng của vấn đề an toàn vốn đối với các NHTM Việt Nam vẫn luôn được chú trọng đề cao và cần thiết hơn
Trong giai đoạn hiện nay khi tại Việt Nam, việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế
về đảm bảo an toàn ngành ngân hàng đã được NHNN Việt Nam từng bước triển khai thông qua việc sửa đổi và ban hành mới các quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn của hoạt động ngân hàng trong đó có tỷ lệ an toàn vốn Vì vậy nghiên cứu của luận văn về tác động của rủi ro và hiệu quả hoạt động ngân hàng đến sự an toàn vốn của các NHTM Việt Nam là cần thiết và giúp cập nhật rõ hơn về tình hình thực hiện tỷ lệ an toàn vốn trong giai đoạn 2007 – 2014 vừa qua, thông qua đó có được những khuyến nghị đối với các ngân hàng và các khuyến nghị đối với chính sách quy định về vốn an toàn của ngân hàng
1.2 Vấn đề nghiên cứu
Theo Rose và Hudgins (2010) để xác định lượng vốn tối ưu cần nắm giữ, ngân hàng phải cân nhắc đến những rủi ro hiện tại Việc điều chỉnh quy mô vốn của các tổ chức quản lý ngân hàng ngày càng trở thành một công cụ quan trọng giúp giới hạn
Trang 12mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấp thuận Bản thân ngân hàng cũng có nhiều biện pháp để phòng chống rủi ro, bảo vệ tình trạng tài chính của mình mà một trong số các biện pháp là nắm giữ một lượng vốn an toàn cần thiết Al-Sabbagh (2004) cho rằng mức độ đủ vốn của ngân hàng thể hiện thước đo rủi ro của ngân hàng Khi xác định hệ
số đủ vốn, rủi ro ngân hàng được đưa vào để tính toán Vì vậy vốn ngân hàng và rủi ro
có liên quan mật thiết với nhau
Ahmad và ctg (2009) nhận định thu nhập trong quá trình hoạt động của ngân hàng là một yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn Tuy nhiên tại quốc gia phát triển như Mỹ thì lợi nhuận có tác động tích cực đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng (Berger, 1995) song tại nền kinh tế đang phát triển như Malaysia thì vốn ngân hàng và lợi nhuận không có tương quan mạnh (Ahmad và ctg, 2009) Liệu rằng đối với các ngân hàng Việt Nam khi hoạt động có hiệu quả, thu nhập gia tăng thì hệ số an toàn vốn
sẽ tăng hay giảm
Tại các quốc gia đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác động của rủi ro và hiệu quả hoạt động đến hệ số an toàn vốn của ngân hàng Sự tác động này xảy ra theo chiều hướng khác nhau tùy thuộc vào môi trường hoạt động của từng quốc gia nghiên cứu Đối với Việt Nam một vấn đề được đặt ra là hệ số an toàn vốn của ngân hàng biến động như thế nào trước các rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động và liệu khi hoạt động hiệu quả thì vốn của ngân hàng có được bổ sung nâng cao hơn
Vấn đề nghiên cứu của đề tài là tập trung vào các yếu tố rủi ro và hiệu quả hoạt động tác động đến tỷ lệ an toàn vốn bằng thực nghiệm tại các NHTM cổ phần Việt Nam Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2014 Luận văn sẽ làm rõ tác động của các biến rủi ro gồm rủi ro tín dụng (Credit Risk - CR), rủi
ro thanh khoản (Liquidity Risk - LR), rủi ro vốn chủ sở hữu (Equity Risk - ER) và tác động của các biến hiệu quả gồm tỷ số hiệu quả hoạt động (Operating Efficiency Ratio
- OER), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM), tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (Return On Assest - ROA) đồng thời thêm biến quy mô tài sản (SIZE)
Trang 131.3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn hướng đến các mục tiêu sau:
- Phân tích tác động của rủi ro và hiệu quả hoạt động đến sự an toàn vốn của các NHTM Việt Nam
- Từ kết quả phân tích, đề xuất một số kiến nghị giải pháp nâng cao sự an toàn vốn của ngân hàng
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đề cập như trên, đề tài cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính sau:
- Rủi ro và hiệu quả hoạt động ảnh hưởng như thế nào đến sự an toàn vốn của các NHTM Việt Nam? Mức độ tác động của rủi ro và hiệu quả hoạt động đến sự an toàn vốn như thế nào?
- Giải pháp nào có thể được đề ra nhằm gia tăng sự an toàn vốn của NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự tác động của rủi ro và hiệu quả hoạt động đến sự an toàn vốn của các ngân hàng Việt Nam Thời điểm nghiên cứu trong giai đoạn từ 2006 – 2014 bao gồm 15 NHTM cổ phần Việt Nam
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo sử dụng trong luận văn là phương pháp nghiên cứu định lượng Với phương pháp này, luận văn sử dụng mô hình hồi quy để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu đặt ra Trong đó biến số tỷ lệ an toàn vốn là biến phụ thuộc được đo lường bởi chỉ số CAR, biến số độc lập chính gồm các biến số liên quan đến rủi ro ngân hàng là rủi ro tín dụng (CR), rủi ro thanh khoản (LR), rủi ro vốn chủ sở hữu (ER), các biến số liên quan đến hiệu quả hoạt động là tỷ số hiệu quả hoạt động (OER), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) và biến
số kiểm soát là quy mô ngân hàng (SIZE)
Trang 141.7 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích tìm ra sự gắn kết giữa rủi ro và hiệu quả hoạt động của ngân hàng với yêu cầu về lượng vốn an toàn đối với các ngân hàng Mối liên hệ này được lượng hóa bằng việc xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tác động của từng yếu tố rủi ro và hiệu quả hoạt động đến tỷ lệ an toàn vốn Tuy nội dung nghiên cứu trên đã được kiểm chứng ở một số nước trên thế giới nhưng vẫn còn khá ít ở Việt Nam Vì vậy nghiên cứu của luận văn chính là một đóng góp thực tiễn dựa trên cơ sở khoa học, từ đó giúp cho các nhà quản trị có những chính sách, quyết định phù hợp và điều hành, quản lý hiệu quả đối với mức vốn an toàn của ngân hàng
1.8 Kết cấu luận văn nghiên cứu
Kết cấu luận văn bao gồm 5 chương Các chương sẽ trình bày về những nội dung cụ thể như sau:
Chương 1 giới thiệu tổng thể về toàn bộ nội dung nghiên cứu của luận văn thông qua việc trình bày lý do và vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa nghiên cứu
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn, rủi ro ngân hàng, hiệu quả hoạt động và tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm chính về tác động của các yếu tố đến sự an toàn vốn của ngân hàng
Chương 3 đi vào xây dựng mô hình nghiên cứu, cách thức thu thập và xử lý số liệu, quy trình tiến hành nghiên cứu định lượng trong luận văn
Chương 4 mô tả kết quả nghiên cứu thực nghiệm, trình bày các kết luận về giả thuyết nghiên cứu và mức độ tác động của các yếu tố
Chương 5 tổng kết kết quả nghiên cứu của luận văn, đề xuất các khuyến nghị, nêu ra những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp nối sau này
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn, rủi ro và hiệu quả hoạt động của NHTM Nội dung chương đề cập đến tầm quan trọng của quy định mức vốn an toàn, hiệp ước Basel, cách xác định tỷ lệ an toàn vốn trên thế giới và tại Việt Nam Chương 2 cũng nêu ra các loại rủi ro, cách xác định rủi ro và hiệu quả hoạt động Cuối cùng trong chương 2 là phần tóm tắt các nghiên cứu trước và so sánh sự khác biệt của nghiên cứu luận văn
2.1 Tỷ lệ an toàn vốn
2.1.1 Sự cần thiết của quy mô vốn tối thiểu trong ngân hàng
Có rất nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về quy mô vốn tối thiểu Tuy vấn đề này đang được đề cập liên tục trong suốt những thập niên gần đây do sự hội nhập toàn cầu về lĩnh vực tài chính ngân hàng nhưng đã có nhiều nghiên cứu trước đó nói về cấu trúc vốn Moldigliani và Miller’s (1958) chỉ ra rằng trong thị trường hoàn hảo, cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị công ty Ngân hàng cũng được xem như
là một công ty cổ phần, tổn thất của cổ đông giới hạn trong phần vốn góp nhưng lợi nhuận từ cổ phần có thể cao hơn khoản chi phí trả cho các khoản ngân hàng đi vay và trả cho người gửi tiền Trong thị trường hoàn hảo, mọi thông tin đều được công bố nên người gửi tiền, người cho vay sẽ đòi hỏi lãi suất tương đương với rủi ro Nhiệm vụ của các nhà quản trị ngân hàng phải tối đa hóa giá trị ngân hàng để đảm bảo quyền lợi của
cổ đông, chủ nợ và người gửi tiền Tuy nhiên giá trị ngân hàng độc lập với cấu trúc vốn nên không cần phải có những quy định về cấu trúc vốn Berger và Herring (1995) cho rằng quy định yêu cầu về vốn là do thị trường vì trong môi trường không có sự đảm bảo của chính phủ hoặc không có quy định về vốn, ngân hàng sẽ vẫn giữ một lượng vốn thiết yếu bởi vì thị trường khiến họ cần làm như thế để giải quyết những tổn thất không lường trước Đồng quan điểm với Berger và Herring (1995), De Bondt và Prast (2000) chỉ ra rằng nếu không có quy định về vốn, ngân hàng vẫn phải giữ một tỷ
lệ vốn nhất định Mặc dù cổ đông ngân hàng muốn thực hiện các dự án rủi ro với hy vọng nhận được tỷ suất sinh lời cao nhưng các cổ đông và các nhà quản trị ngân hàng cũng muốn ngăn chặn sự phá sản xảy đến Vốn và rủi ro là vấn đề của ngân hàng trong việc không chỉ để thận trọng khi đưa ra những quyết định về vốn mục tiêu và tỷ suất
Trang 16sinh lợi tương ứng với rủi ro mà còn là trước những cú sốc nằm ngoài tầm khả năng kiểm soát của ngân hàng
Sharpe (1977) định nghĩa lượng vốn cần chính là chênh lệch giữa giá trị tài sản
và các khoản tiền gửi, vì vậy tỷ lệ vốn/tài sản hoặc tỷ lệ vốn/tiền gửi càng lớn càng tạo
an toàn cho những người gửi tiền, nghĩa là giá trị tài sản ngân hàng lớn Bởi vì vốn đủ nên những khoản tiền gửi được an toàn Trong tương lai nếu giá trị tài sản ngân hàng
có bị giảm nhẹ, khoản tiền gửi vẫn có thể được đảm bảo vì giá trị tài sản vẫn còn đủ lớn hơn giá trị khoản tiền gửi Tuy nhiên, Barrios và Blanco (2003) chỉ ra việc quá thắt chặt yêu cầu về vốn khiến ngân hàng giảm cung cấp tín dụng, giảm hiệu quả kinh doanh Họ cho rằng, đứng trên phương diện tổng thể xã hội, mức vốn tối ưu phải cân đối giữa lợi ích tổng thể (giảm nguy cơ phá sản và khả năng không trả được nợ của ngân hàng) và chi phí tổng thể (chi phí cơ hội của việc không đầu tư lượng vốn đó vào những cơ hội có tỷ suất lợi nhuận cao) Những người đưa ra quy định về vốn có thể không xem xét được toàn bộ chi phí vì vậy sẽ áp dụng mức vốn nhiều hơn cần thiết
Các nhà nghiên cứu khác gồm Kahane (1977), Koehn và Santomero (1980), Kim và Santomero (1988), Hovakimian và Kane (2000) nhận định quy định về vốn chưa tạo được sự thúc đẩy trong quản trị giảm rủi ro Koehn, Kim và Santomero đã kết luận rằng một chuẩn mực chặt chẽ về sự an toàn vốn không là một cách thay thế cho việc giám sát quản lý rủi ro Bởi vì với quy định về vốn chặt chẽ, các nhà quản trị ngân hàng sẽ gia tăng các tài sản rủi ro hơn nhằm tối đa hóa lợi nhuận Trong tình huống này, nhà quản trị chắc chắn xem xét đến mức độ đòn bẩy tài chính, vì để thỏa mãn việc gia tăng vốn theo quy định, đòn bẩy tài chính tất nhiên phải giảm nên dẫn đến việc đầu
tư vào các tài sản rủi ro nhằm mang lại lợi nhuận cao Bên cạnh đó chi phí đối với lượng vốn an toàn sẽ gia tăng do phải gia tăng vốn chủ sở hữu mà nguồn vốn chủ sở hữu có chi phí cao Điều này sẽ làm lợi nhuận ngân hàng giảm hoặc ngân hàng đầu tư danh mục có lợi nhuận cao đi kèm rủi ro cao (Berger, 1995) Có thể thấy quy định về mức vốn an toàn cao không chắc chắn làm giảm xác suất tổn thất của ngân hàng Trái ngược với các quan điểm trên, các lý thuyết khác lại đưa ra quan điểm ủng hộ quy định
về vốn tối thiểu của ngân hàng
Trang 17Sự an toàn về vốn là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh và càng quan trọng hơn đối với ngân hàng khi sử dụng tiền của người khác để kinh doanh Điều đó
có nghĩa là ngân hàng phải có đủ vốn để cung cấp một tấm đệm an toàn, có khả năng chống đỡ được các tổn thất và cung cấp ngân quỹ cho những nhu cầu nội bộ hoặc mở rộng phát triển cũng như đảm bảo an toàn cho người gửi tiền và hệ thống bảo hiểm tiền gởi Morrison và White (2001) cho rằng những quy định về vốn là hữu dụng trong việc giới hạn quy mô ngân hàng để tránh những vấn đề rủi ro Họ cũng đề nghị quy định về vốn có thể nới lỏng hơn trong các nền kinh tế mà báo cáo tài chính thể hiện được sự minh bạch
Dowd (1999) qua nghiên cứu của mình đã đưa ra kết luận rằng quy định vốn tối thiểu được xem là một phương pháp làm cho hệ thống ngân hàng được ổn định, khoản tiền gửi được an toàn Chính phủ nên can thiệp vào hoạt động ngân hàng bằng cách thiết lập quy định về vốn Không chỉ những người ban hành quy định về vốn mà những người gửi tiền cũng quan tâm đến sự ổn định của hệ thống tài chính Vì vậy các ngân hàng sẽ duy trì một mức vốn phù hợp để tối ưu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cũng như đảm bảo tuân thủ quy định về vốn
Mặc dù có những nghiên cứu thể hiện quan điểm trái ngược nhau về vai trò của quy mô vốn tối thiểu Tuy nhiên không thể phủ nhận tầm quan trọng của việc ngân hàng phải duy trì một lượng vốn an toàn trong quá trình hoạt động Thực tế đã chứng minh sự sụp đổ của ngân hàng mang tính hệ thống, vì vậy vốn của mỗi ngân hàng không thể bị bào mòn, sụt giảm và điều đó trở thành một quy định mà hiện nay phần lớn các quốc gia đều sử dụng đến quy định này để bảo vệ hệ thống tài chính kinh tế của nước họ
2.1.2 Hiệp ƣớc Basel về hệ số an toàn vốn
Năm 1988, Ủy ban về giám sát ngân hàng Basel (được thành lập bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển - G10 - tại thành phố Basel, Thụy Sỹ) giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà được đề cập là Hiệp ước Basel Xuất phát của hệ thống đo lường vốn do từ những cuộc khủng hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trường ngân hàng, đặt ra yêu cầu xây dựng một nền tảng so sánh hiệu quả hoạt động ngân hàng và đảm bảo hạn chế rủi ro trong hệ thống thanh toán
Trang 18liên ngân hàng toàn cầu là động lực dẫn tới sự ra đời của Hiệp ước Basel I Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế Mục tiêu của Hiệp ước nhằm quy định về lượng vốn cần thiết các ngân hàng phải đáp ứng Hệ thống này đưa ra tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu 8% tính trên tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (RWA) Ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio) CAR > 10% là những ngân hàng có mức vốn tốt nhất, ngân hàng có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, ngân hàng thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2% với CAR được tính như sau:
Basel I đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế về phân loại vốn của ngân hàng Theo hiệp ước Basel, vốn ngân hàng được chia thành 2 cấp:
- Vốn cấp 1 hay vốn cơ bản: là vốn sẵn có chắc chắn và các khoản dự phòng bao gồm vốn cổ phần thường, lợi nhuận bổ sung hàng năm, quỹ dự trữ Với tính chất chắc chắn, vốn cấp 1 thể hiện sức mạnh tài chính của ngân hàng
- Vốn cấp 2 hay vốn bổ sung: là nguồn vốn có độ tin cậy thấp hơn bao gồm vốn tăng do đánh giá lại tài sản, dự phòng rủi ro, vốn bổ sung từ các công cụ nợ hỗn hợp (trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ thứ cấp khác)
RWA là tất cả các tài sản tính toán theo trọng số đối với rủi ro tín dụng Basel 1
đã đưa ra hệ số rủi ro của tài sản với 4 mức cho các loại tài sản là 0%, 20%, 50% và 100% Ví dụ tài sản như tiền mặt thường có trọng số rủi ro là 0%, trong khi các khoản vay không có bảo đảm có trọng số 100%
Theo Basel I, cách tính tổng tài sản điều chỉnh theo trọng số rủi ro như sau: RWA = Tổng (Tài sản Có nội bảng x Hệ số rủi ro) + Tổng (Tài sản Có ngoại bảng x
Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro)
Theo yêu cầu Basel I, tỷ lệ vốn cấp 1 trên tổng tài sản theo trọng số rủi ro ít nhất là 4%
Trang 19Tuy nhiên Basel I còn cào bằng, đơn giản trong cách đo lường rủi ro và chỉ mới dừng lại ở yêu cầu vốn tối thiểu để quản lý rủi ro, chưa đề cập đến rủi ro hoạt động
Vì những lý do trên, tháng 06/2004 Ủy ban Basel đã đưa ra phiên bản nâng cấp gọi là Basel II, có hiệu lực từ tháng 01/2007 và kết thúc thời gian chuyển đổi đến năm
2010 Basel II đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính:
(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro tác nghiệp (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường Hệ số rủi ro từ 0 – 100% chuyển sang từ 0 – 150% và chi tiết theo độ nhạy cảm rủi ro mỗi loại, RWA cũng thay đổi thành tổng tài sản đã điều chỉnh theo hệ số rủi ro tín dụng cộng với 12,5 lần tổng vốn quy định cho dự phòng rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động
(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc xây dựng hệ thống giám sát rủi ro Cơ chế giám sát này không chỉ để đảm bảo ngân hàng có đủ vốn đối phó với tất cả các rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà còn khuyến khích các ngân hàng phát triển và sử dụng
kỹ thuật quản trị rủi ro tốt hơn trong việc kiểm soát rủi ro Có 4 nguyên tắc chính giám sát rủi ro:
Thứ nhất, các ngân hàng nên có một quy trình đánh giá mức độ đủ vốn trong tương quan với danh mục rủi ro và một chiến lược duy trì các mức vốn
Thứ hai, những người giám sát nên rà soát lại, đánh giá các chiến lược và việc xác định mức độ đủ vốn nội bộ của ngân hàng cũng như khả năng quản lý và đảm bảo tuân thủ các quy định yêu cầu về tỷ lệ vốn Những người giám sát nên thực hiện các hành động giám sát phù hợp nếu ngân hàng không đáp ứng kết quả của quy trình đánh giá
Thứ ba, những người giám sát nên yêu cầu các ngân hàng duy trì vốn vượt trên mức quy định tối thiểu và có khả năng yêu cầu ngân hàng giữ lượng vốn cao hơn quy định
Thứ tư, những người giám sát nên nỗ lực can thiệp ngay tại giai đoạn đầu để ngăn cản mức vốn giảm xuống thấp hơn quy định mà vốn này cần có để giải quyết các
Trang 20đặc điểm rủi ro của một ngân hàng nhất định và nên yêu cầu có những hành động xử lý nhanh chóng nếu vốn không được duy trì và phục hồi
(3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường
Tương tự như Basel I, Basel II cũng còn một vài bất cập, thể hiện ngay trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008 Trong Basel II, các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chưa tính đến các hoạt động của chu kỳ kinh doanh, việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến chưa có các tiêu chuẩn có thể được chấp nhận rộng rãi, vấn đề liên quan đến chất lượng của nguồn vốn an toàn chưa được xem xét kỹ lưỡng khi đánh giá rủi ro,…
Trước những diễn biến phức tạp của khủng hoảng tài chính toàn cầu và các bất cập còn tồn tại, tháng 12/2010 Ủy ban Basel đã thông qua Hiệp ước Basel III là sự đúc rút những bài học từ cuộc khủng hoảng vừa qua, đồng thời là nền tảng để thiết lập trật tự tài chính thế giới mới Nội dung tập trung vào việc nâng một số tỷ lệ vốn lên, bổ sung phần vốn đệm dự phòng tài chính, đưa ra các biện pháp giám sát chặt chẽ các ngân hàng, rà soát lại các tiêu chuẩn vốn, loại bỏ các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn
Cụ thể trong Basel III quy định:
- Nâng tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu (cổ phần phổ thông) từ 2% lên 4,5%
- Nâng tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% lên 6%
- Bổ sung phần vốn đệm dự phòng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu 2,5%
- Những tài sản “Có” với chất lượng có vấn đề cũng sẽ được loại trừ dần khỏi vốn cấp 1 và vốn cấp 2
- Tùy theo bối cảnh của mỗi quốc gia, một tỷ lệ vốn đệm dự phòng ngừa suy giảm theo chu kỳ kinh tế có thể được thiết lập với tỷ lệ 0 – 2,5% và phải được đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu Basel III bắt đầu có hiệu lực từ năm 2013 và sẽ thực hiện đầy đủ vào ngày 01/01/2019
Trang 21Hiệp ước Basel không bắt buộc đối với các ngân hàng nhưng hiện nay nhiều quốc gia đang áp dụng và điều chỉnh phù hợp với thực trạng của quốc gia đó Nếu thực hiện kịp thời và nhất quán các tiêu chuẩn của Basel sẽ là cơ sở để nâng cao khả năng phục hồi của hệ thống ngân hàng toàn cầu, duy trì niềm tin của thị trường vào các hệ
số pháp lý và tạo ra một sân chơi bình đẳng cho phép nhà đầu tư quyết định nơi sẽ đầu
tư lượng vốn khan hiếm bởi vì nhà đầu tư toàn cầu có thể sẽ e ngại khi đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng của một nước chưa đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Do sự ổn định của
hệ thống ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy ngân hàng trung ương các nước luôn quan tâm đến việc điều chỉnh các quy định về mức vốn an toàn của ngân hàng Để thiết lập các chính sách quy định phù hợp, cần nghiên cứu thực nghiệm phân tích tác động của các nhân tố đến sự an toàn vốn gồm các biến số kinh tế, chỉ số tài chính và những nhân tố thực tế khác
2.1.3 Các quy định liên quan đến sự an toàn vốn của Việt Nam
NHNN Việt Nam và các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng cũng như nâng cao năng lực quản trị điều hành, đặc biệt là năng lực quản trị rủi ro của các NHTM, tiến dần từng bước đến các thông lệ và chuẩn mực quốc tế Theo đó, việc từng bước áp dụng các chuẩn mực của Basel được đặc biệt chú trọng
Những quy định đã dần dần tiếp cận với những điều khoản của Basel bao gồm:
- Văn bản đầu tiên có quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là Quyết định 297/1999/QĐ-NHNN5 của NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD Theo quy định này, CAR tối thiểu được xác định là 8% nhưng phương pháp tính đơn giản và chưa phản ánh chính xác tinh thần Basel I Ví dụ vốn tự
có của TCTD chỉ bao gồm vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp) và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ trong khi vốn tự có theo Basel còn gồm các khoản mục khác nữa
- Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, trong đó CAR quy định vẫn là 8% nhưng về cách xác định Vốn tự có bao gồm vốn cấp I + vốn cấp II, phương pháp tính toán đã tiếp cận tương đối toàn diện Basel I
Trang 22- Các quy định tại quyết định 457 tuy đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến các điều khoản trong hiệp định Basel nhưng vẫn còn ở mức hạn chế Chính vì vậy, vào tháng 5/2010, NHNN đã ban hành Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD (thay thế quyết định 457 và các sửa đổi có liên quan) Trong đó ngoài việc quy định lại về việc xác định Vốn tự có = vốn cấp I + vốn cấp II, NHNN đã hướng dẫn cách xác định tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất, nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của TCTD lên 9% Theo NHNN, việc quy định tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và hợp nhất cũng như việc nâng tỷ lệ an toàn vốn lên 1% là phù hợp với thực tế hiện nay, khi nhiều NHTM hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con đồng thời nhằm tiến thêm một bước trong việc tuân thủ 25 nguyên tắc thanh tra cơ bản của Ủy ban Basel.
Trong đó:
- Vốn tự có cấp 1 gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia, thặng dư cổ phần
- Vốn tự có cấp 2 gồm tổng số đánh giá lại tài sản, quỹ dự phòng tài chính, trái phiếu chuyển đổi và các công cụ nợ khác thỏa mãn một số điều kiện
- Các khoản phải trừ khỏi vốn tự có gồm lợi thế thương mại, lỗ lũy kế, mua lại
36/2014/TT-36 có hiệu lực từ ngày 01/02/2015 Kế thừa quy định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN, Thông tư 36 quy định TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thường xuyên duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu bao gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an
Trang 23toàn vốn tối thiểu hợp nhất ở mức 9% Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa vốn tự có và tổng tài sản có đã được điều chỉnh theo hệ số rủi ro
Về hệ số rủi ro của tài sản có được chia theo 5 mức: 0%, 20%, 50%, 100% và 150% Trong đó, đáng chú ý là Thông tư 36 đã giảm hệ số rủi ro từ 250% xuống 150% đối với 3 nhóm tài sản có là: các khoản cấp tín dụng để kinh doanh bất động sản, kinh doanh, đầu tư chứng khoán và khoản cho vay được bảo đảm bằng vàng để phù hợp với tình hình kinh tế hiện tại của Việt Nam Nhìn chung Thông tư thể hiện tính tích cực qua định hướng, yêu cầu các TCTD nâng cao năng lực quản trị rủi ro, hướng tới lộ trình áp dụng Basel II từ nay đến năm 2018 Thông tư đã có thêm những quy định nhằm hạn chế tình trạng sở hữu chéo, cấp vốn cho các công ty sân sau, bổ sung thêm nguyên tắc cấp tín dụng và yêu cầu chặt chẽ về vốn điều lệ, hệ số an toàn vốn của các TCTD
Với các quy định trên đã thể hiện những bước tiến quan trọng trong việc từng bước áp dụng các chuẩn mực Basel II tại Việt Nam Theo số liệu thống kê của NHNN Việt Nam, đến ngày 31/12/2014, hệ số an toàn vốn tối thiểu của toàn hệ thống ngân hàng được ghi nhận ở mức 12,75% Nhóm có hệ số CAR thấp nhất là các NHTM Nhà nước với 9,4%, nhóm ngân hàng liên doanh, nước ngoài có CAR cao nhất với 30,78%, các NHTM cổ phần có hệ số CAR ở mức 12,07% Như vậy xét trên tổng thể, đến nay chỉ tiêu an toàn vốn của toàn bộ hệ thống TCTD Việt Nam đều đạt trên 9% Tuy nhiên việc tính hệ số CAR vẫn dựa theo Basel I, chỉ mới tập trung rủi ro tín dụng, chưa xem xét đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động Bên cạnh đó việc tính toán CAR dựa theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), chưa theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) VAS bị đánh giá có xu hướng báo cáo phóng đại khả năng sinh lời, giá trị tài sản và khả năng trả nợ (Báo cáo Đánh giá khu vực tài chính Việt Nam của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, 2014) Do đó mặc dù các ngân hàng Việt Nam đáp ứng được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 9% nhưng vẫn có rủi ro cao, thể hiện qua chất lượng tín dụng thấp, nợ xấu tăng, khả năng sinh lời chưa cao Việc nâng tỷ lệ vốn lên 9%, điều đó cũng chưa phản ánh hoàn toàn về sự an toàn của các ngân hàng và khả năng chịu ảnh hưởng bởi tác động của các nhân tố của mỗi ngân hàng cũng khác nhau Nhìn chung Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của việc thực hiện Basel II trong khi thế
Trang 24giới đã phấn đấu thực hiện Basel III, các ngân hàng Việt Nam sẽ phải tiếp cận chuẩn
an toàn này theo cách của riêng mình để có lộ trình phù hợp cho việc áp dụng Basel II, III
Phần đầu của chương 2 trên đây đã trình bày các lý thuyết về an toàn vốn, cách thức đo lường hệ số an toàn vốn và tiến trình phát triển của hiệp ước Basel từ I đến III với những quy định về vốn ngân hàng ngày càng an toàn, chặt chẽ hơn Phần trên cũng
đã giới thiệu việc tiếp cận và ứng dụng chuẩn mực Basel tại Việt Nam trong thời gian qua Nội dung tiếp theo sẽ đi vào phân tích các rủi ro trong hoạt động ngân hàng, cách
đo lường rủi ro và hiệu quả hoạt động, xem xét tác động của rủi ro và hiệu quả hoạt động đến hệ số an toàn vốn thông qua kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại một số nước trên thế giới và tại Việt Nam
2.2 Rủi ro ngân hàng
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định (Phan Thị Cúc, 2009) Trong báo cáo thường niên 2013 của Ngân hàng trung ương Shinkin của Nhật Bản, rủi ro được phân chia thành 2 loại: rủi ro có thể kiểm soát và rủi ro cần giảm thiểu Rủi ro có thể kiểm soát gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường (rủi ro thị trường xảy ra do sự biến động của lãi suất, giá cổ phiếu hoặc tỷ giá dẫn đến sự thay đổi giá trị tài sản và khoản nợ) Riêng rủi ro hoạt động (phát sinh từ quy trình nội bộ ngân hàng không đầy đủ và phù hợp, từ con người và hệ thống hoặc từ các sự kiện tác động bên ngoài) là loại rủi ro cần giảm thiểu
Việc lượng hóa rủi ro được dựa trên phương pháp kế toán nghĩa là dùng các chỉ
số được tính toán từ các báo cáo tài chính Do đó các rủi ro được trình bày dưới đây bao gồm rủi ro tín dụng, thanh khoản, vốn chủ sở hữu và các chỉ số được sử dụng rộng rãi trong việc đo lường các rủi ro này
2.2.1 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng phát sinh khi ngân hàng không thể thu hồi được tiền từ những khoản cho khách hàng vay Do đó tài sản của ngân hàng mà chủ yếu là những khoản
Trang 25vay giảm dần về mặt giá trị Vì ngân hàng là định chế tài chính trung gian và một trong những hoạt động chính của ngân hàng là cung cấp tín dụng nên rủi ro tín dụng cũng được xem là rủi ro chính của ngân hàng, có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng duy trì hoạt động của ngân hàng Các nghiên cứu về khủng hoảng tài chính trong hệ thống ngân hàng cho thấy nhân tố tác động thường xuyên nhất đến sự sụp đổ của ngân hàng chính là chất lượng tín dụng kém
Rủi ro tín dụng thể hiện sự tổn thất ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng không có khả năng và không sẵn sàng chi trả vốn và lãi vay Rủi ro tín dụng được khẳng định là nguyên nhân dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn Khi người vay tiền không thể thanh toán được vốn và lãi, những khoản cho vay không thể thu hồi này cuối cùng sẽ ăn mòn hết vốn của ngân hàng, vốn ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm (Rose và Hudgins, 2010) Nếu vốn không đủ lớn sẽ không đủ để gánh chịu các khoản thua lỗ trong giai đoạn tạm thời khó khăn Trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản
Theo Rose và Hudgins (2010), rủi ro tín dụng thể hiện qua một số tỷ lệ:
Theo De Bondt và Prast (2000) và Al - Sabbagh (2004):
Trang 26
Dù đo lường bằng công thức nào thì đều cho thấy rủi ro tín dụng tập trung ở những khoản cho vay thể hiện qua quy mô dư nợ, nợ quá hạn, dự phòng cho các khoản tổn thất tín dụng
2.2.2 Rủi ro thanh khoản
Thanh khoản của ngân hàng là khả năng đáp ứng các nhu cầu tiền mặt theo kế hoạch dự kiến trước và thậm chí cả những khoản phát sinh đột xuất Nhu cầu tiền mặt này có thể bắt nguồn từ việc khách hàng rút tiền gửi, khoản nợ đến hạn mà ngân hàng phải thanh toán và giải ngân khoản vay Nguồn tiền mặt của ngân hàng vẫn được bổ sung từ sự gia tăng các khoản tiền gửi của khách hàng, ngân hàng đi vay, khoản trả từ những người vay, những khoản đầu tư đến hạn thu về và bán tài sản Tuy nhiên sự khác biệt về thời điểm và giá trị của dòng tiền vào và dòng tiền ra sẽ dẫn đến thiếu hụt tiền mặt, ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, từ đó phát sinh thêm chi phí vay mượn vượt trội, sụt giảm lợi nhuận Kết quả xấu nhất có thể dẫn đến ngân hàng rơi vào tình trạng mất hoàn toàn khả năng thanh toán (Crouhy, Galai và Mark, 2005) Tóm lại rủi ro thanh khoản phát sinh trong trường hợp ngân hàng không dự đoán được nhu cầu rút tiền của người gửi tiền và người đi vay cùng với việc ngân hàng không có khả năng tiếp cận được các nguồn tiền khác để giải quyết kịp thời nhu cầu (Al – Tamimi và Obeidat, 2013)
Các nguyên nhân dẫn đến khó khăn thanh khoản bao gồm ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn đầu tư vào các tài sản dài hạn dẫn đến mất cân xứng về ngày đáo hạn, các khoản tiền gửi rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất nên khi lãi suất thị trường tăng khiến nhiều khách hàng rút tiền gửi tìm kiếm cơ hội đầu tư mới hoặc do ngân hàng có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả khi thiếu dự trữ không đủ chi cho nhu cầu chi trả, các chứng khoán ngân hàng đang sở hữu có tính thanh khoản thấp…(Phan Thị Cúc, 2009)
Vấn đề thanh khoản được các ngân hàng chú ý quan tâm vì nếu ngân hàng không gia tăng được lượng tiền mặt kịp thời, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn sẽ mất đi nhiều khách hàng, tổn thất về lợi nhuận Trong trường hợp tình trạng thiếu hụt tiền kéo dài, người gửi tiền đồng loạt rút tiền về, ngân hàng mất dần các khoản tiền gửi cũ, không thể thu hút thêm các khoản
Trang 27tiền gửi mới do thái độ dè dặt của công chúng đối với ngân hàng Ngân hàng xuất hiện tình trạng không có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí hợp lý là dấu hiệu khởi đầu cho giai đoạn khó khăn của ngân hàng (Rose và Hudgins, 2010) Tình trạng thiếu hụt thanh khoản với mức độ lớn trở thành một trong những nguyên nhân đưa đến phá sản ngân hàng
Theo Rose và Hudgins (2010), thước đo hữu ích đối với rủi ro thanh khoản là các tỷ số:
Theo Ahmad và ctg (2009) rủi ro này được đo lường qua công thức:
Theo Al – Tamimi và Obeidat (2013):
Theo Aspal và Nazneen (2014):
Trong đó tài sản thanh khoản của ngân hàng bao gồm tiền mặt tại ngân hàng, tiền gởi của ngân hàng tại ngân hàng trung ương và tại các tổ chức tài chính tín dụng khác
2.2.3 Rủi ro vốn chủ sở hữu
Khi vốn huy động quá lớn so với vốn chủ sở hữu, hệ số đòn bẩy đã được sử dụng quá cao, khách hàng có thể sẽ lo lắng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng và vì vậy khách hàng sẽ không gửi tiền vào ngân hàng đó, thậm chí họ có thể rút tiền ra (Nguyễn Đăng Dờn, 2012)
Ngân hàng đang tiềm ẩn rủi ro vốn chủ sở hữu nghĩa là cũng đang đối diện với nguy cơ mất thanh khoản, phá sản Điều này thể hiện trong trường hợp ngân hàng
Trang 28đang có nhiều khoản nợ xấu hoặc danh mục đầu tư giảm giá trị sẽ dẫn đến nguồn vốn ngân hàng bị tổn thất, khi đó vốn chủ sở hữu phải được dùng để chống đỡ những tổn thất và có thể bị cạn kiệt Nếu nhà đầu tư và người gửi tiền biết được ngân hàng đang
có các vấn đề trên, họ bắt đầu rút vốn, bán cổ phiếu, cổ phiếu sẽ bị giảm giá trong khi ngân hàng phải đi vay mượn với lãi suất cao để bù đắp nhu cầu vốn bị thiếu hụt (Rose
và Hudgins, 2010)
Theo Admad và ctg (2009), Wen (2009), Raharjo và ctg (2014) rủi ro vốn chủ
sở hữu được đo lường như sau:
tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu Khi tỷ lệ tổng nợ/vốn chủ sở hữu cao có nghĩa hệ số đòn bẩy cao và ngược lại Ngân hàng có hệ số đòn bẩy cao có thể gặp khó khăn khi gia tăng vốn Việc tài trợ cho tài sản bằng vốn chủ sở hữu giảm phản ánh mức rủi ro lớn hơn mà cổ đông ngân hàng và các trái chủ phải đối mặt Vì vậy ngân hàng có khuynh hướng cần vốn chủ sở hữu lớn và hệ số đòn bẩy thấp (Raharjo và ctg, 2014)
2.3 Hiệu quả hoạt động
Theo Rose và Hudgins (2010), thước đo phản ánh rõ tính hiệu quả trong hoạt động ngân hàng là tỷ số hiệu quả hoạt động (OER) và thu nhập lãi thuần (NIM) OER
và NIM thể hiện nỗ lực của ngân hàng trong việc tối đa hóa lợi nhuận và giá trị sự đầu
tư của cổ đông ngân hàng đó Ngoài ra trong số những phương pháp đo lường khả năng sinh lời thì tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) là một chỉ số cơ bản thể hiện hiệu quả quản lý trong hoạt động ngân hàng
Trang 292.3.1 Tỷ số hiệu quả hoạt động
Một sự gia tăng giá trị của tỷ số này chỉ ra quản trị chi phí đang có vấn đề hoặc doanh thu giảm sút có thể do ảnh hưởng bởi nhu cầu thị trường tụt giảm OER cho thấy khả năng của ngân hàng trang trải được chi phí hoạt động từ thu nhập tạo ra (Aspal và Nazneen, 2014) Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s cũng xem OER là tỷ
số phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tỷ số này càng thấp càng tốt cho ngân hàng
2.3.2 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
NIM đo lường chênh lệch giữa doanh thu từ lãi và chi phí lãi, thể hiện mức độ hiệu quả trong việc quản lý các tài sản sinh lợi (chủ yếu các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán) và chi phí vốn (Rose và Hudgins, 2010) NIM là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng Khi xem xét trên phương diện hiệu quả hoạt động tỷ lệ NIM càng cao, điều đó có nghĩa quản trị càng hiệu quả
2.3.3 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản cho thấy lợi nhuận thu được trên một đồng tài sản, thể hiện mức độ thành công của ngân hàng trong việc đầu tư vào các tài sản và tính hiệu quả của các cơ hội đầu tư đó ROA cũng đo lường được hiệu quả quản trị khi sử dụng các nguồn lực tạo ra lợi nhuận nên vừa phản ánh hiệu quả về mặt tài chính vừa phản ánh hiệu quả hoạt động (Al – Tamimi và Obeidat, 2013)
2.4 Quy mô ngân hàng
Quy mô ngân hàng có một ảnh hưởng rất lớn tới các chỉ tiêu về hoạt động cũng như về khả năng sinh lời của ngân hàng Hầu hết các tỷ số phản ánh hoạt động ngân hàng đều rất nhạy cảm với quy mô ngân hàng (Rose và Hudgins, 2010) Do đó quy mô ngân hàng được đưa vào trong phần lớn các nghiên cứu có liên quan đến tỷ lệ an toàn
Trang 30vốn và đối với nghiên cứu của luận văn này cũng không thể bỏ qua ảnh hưởng của quy
mô ngân hàng bên cạnh ảnh hưởng của rủi ro và hiệu quả hoạt động
2.5 Sơ lược một số nghiên cứu trước
Al-Sabbagh (2004) nghiên cứu các ngân hàng tại Jordan về các nhân tố ảnh
hưởng đến mức an toàn vốn và nhận thấy rằng ROA, tỷ lệ cho vay/tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản có quan hệ thuận với CAR CAR có tương quan thuận với
tỷ lệ tài sản rủi ro trong thời kỳ 1985 – 1994 (trước khi áp dụng tiêu chuẩn vốn Basel) nhưng lại chuyển sang tương quan nghịch trong thời kỳ 1995 – 2001 (sau khi áp dụng tiêu chuẩn vốn Basel) Ngược lại CAR có tương quan nghịch với tỷ lệ tiền gửi/tổng tài sản trong thời kỳ 1985 – 1994 nhưng quy mô tiền gửi lại có tương quan thuận với CAR trong thời kỳ 1995 – 2001 Bên cạnh đó tỷ lệ dự phòng rủi ro và tỷ lệ chi trả cổ tức tác động ngược chiều lên CAR giai đoạn 1995 – 2001 Đối với quy mô ngân hàng thì có tác động nghịch biến với CAR giai đoạn 1985 – 1994 nhưng mối quan hệ giữa SIZE và CAR chưa đủ ý nghĩa thống kê trong giai đoạn 1995 – 2001
Ahmad và ctg (2009) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến CAR trong thời
gian 1995 – 2002 của 42 định chế tài chính Malaysia Tỷ lệ nợ quá hạn, chỉ số rủi ro, quy định nâng cao chuẩn mực vốn, thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/nợ tác động tích cực lên CAR, trong khi quy mô tác động tiêu cực, còn NIM chưa tìm thấy ý nghĩa
thống kê ảnh hưởng lên CAR
Wen (2009) nghiên cứu các nhân tố tác động đến CAR của các ngân hàng khu
vực Đông Á, thời kỳ 2004 – 2007 Thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/nợ, rủi ro tín dụng, khả năng sinh lời, quy mô, NIM, quy định vốn là các nhân tố được đưa ra nghiên cứu Kết quả cho thấy quy định vốn và NIM có tác động ngược chiều với CAR, các biến gồm rủi ro tín dụng, thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/nợ và ROA có ảnh hưởng cùng chiều với CAR, riêng biến quy mô không tìm thấy ý nghĩa thống kê tác
động lên CAR
Büyükşalvarcı và Abdioğli (2011) đã phân tích 9 nhân tố ảnh hưởng đến CAR
của các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2006 – 2010 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng
tỷ lệ cho vay/tổng tài sản, ROE và đòn bẩy có quan hệ nghịch với CAR, trong khi dự phòng rủi ro khoản vay và ROA có quan hệ thuận với CAR Mặt khác quy mô, tiền
Trang 31gửi, thanh khoản và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên không có ý nghĩa thống kê khi xét quan
hệ ảnh hưởng với CAR
Al – Tamimi và Obeidat (2013) kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố gồm
rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro vốn đầu tư, rủi ro lãi suất, ROA, ROE, hiệu suất sử dụng tài sản đến CAR của các ngân hàng Jordan niêm yết trên thị trường chứng khoán Amman Kết quả cho thấy các nhân tố rủi ro thanh khoản và ROA tác động cùng chiều lên CAR, trong khi ROE và rủi ro lãi suất tác động ngược chiều, các nhân tố còn lại gồm rủi ro vốn đầu tư, rủi ro tín dụng và hiệu suất sử dụng tài sản chưa
đủ ý nghĩa thống kê trong quan hệ với CAR
Mehranfar (2013) qua nghiên cứu đối với các ngân hàng Iran giai đoạn 2001 –
2009, tác giả kết luận CAR và thanh khoản, ROA, tỷ số hiệu quả hoạt động và tăng trưởng kinh tế tương quan cùng chiều Các yếu tố khác gồm tỷ lệ lạm phát và rủi ro tín
dụng tác động ngược chiều lên CAR
Aspal và Nazneen (2014) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự an toàn
vốn của các ngân hàng Ấn Độ thời kỳ 2008 – 2012 Họ tìm ra CAR và tỷ lệ cho vay, tỷ
lệ nợ xấu, hiệu quả quản trị (chi phí/thu nhập) có mối tương quan nghịch trong khi tính thanh khoản, tỷ lệ tài sản nhạy cảm với rủi ro/nguồn vốn nhạy cảm với rủi ro có mối tương quan thuận với CAR
Bateni và ctg (2014) thực hiện phân tích thực nghiệm trên 6 NHTM Iran thời
kỳ 2006 – 2012 Kết quả cho thấy rủi ro tín dụng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, ROE và ROA có tác động cùng chiều với CAR, trái lại quy mô ngân hàng tác động ngược chiều, các biến tỷ lệ tiền gửi/tổng tài sản và tài sản theo trọng số rủi ro/tổng tài sản chưa tìm thấy ý nghĩa thống kê có ảnh hưởng đến CAR
Binh và Thomas (2014) phân tích tác động của rủi ro và khả năng sinh lợi lên
CAR của các NHTM Việt Nam trong thời gian 2008 – 2013 Kết quả thể hiện tỷ lệ vốn đầu tư/tài sản theo trọng số rủi ro, vốn chủ sở hữu/tài sản rủi ro và ROA tác động thuận chiều lên CAR, còn ROE tác động nghịch chiều lên CAR, các yếu tố khác gồm rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản và hiệu suất sử dụng tài sản tác động lên CAR chưa đủ ý nghĩa thống kê
Trang 32Nuviyanti và Anggono (2014) nghiên cứu các nhân tố tác động đến CAR của
các ngân hàng Indonesia giai đoạn 2008 - 2013, trong đó tỷ lệ thu nhập hoạt động/chi phí hoạt động, tỷ lệ cho vay/tiền gửi, ROE với CAR có mối quan hệ nghịch chiều Tuy nhiên CAR có quan hệ thuận chiều với tỷ lệ nợ xấu và ROA Nghiên cứu chưa tìm
thấy ý nghĩa của NIM tác động đến CAR
Raharjo và ctg (2014) nghiên cứu thực nghiệm về những nhân tố ảnh hưởng
đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng sở hữu nhà nước tại Indonesia trong thời kỳ
2004 – 2012, kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng và rủi ro lãi suất có mối quan hệ ngược chiều với CAR, trong khi đó hệ số đòn bẩy và tỷ lệ nợ xấu tác động cùng chiều đến CAR Riêng tác động của NIM lên CAR chưa tìm thấy đủ ý nghĩa thống kê
Võ Hồng Đức và ctg (2014) đã phân tích về yếu tố quyết định tỷ lệ an toàn vốn
với bằng chứng thực nghiệm từ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2012 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tài sản có khả năng thanh khoản và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có tác động tích cực đến CAR, trong khi đó quy mô ngân hàng và tỷ lệ huy động vốn, ROE có tác động tiêu cực đến CAR đồng thời chưa tìm được bằng chứng định lượng từ tác động của hệ số đòn bẩy và tỷ lệ cho
vay đến CAR
Thân Thị Thu Thủy và Nguyễn Kim Chi (2015) nghiên cứu các yếu tố ảnh
hưởng đến hệ số an toàn vốn của các NHTM Việt Nam Kết quả thể hiện quy mô ngân hàng, số tiền gửi của khách hàng, số tiền cho vay của ngân hàng và khả năng sinh lợi trên tổng tài sản có tác động âm lên hệ số an toàn vốn của ngân hàng Trong khi đó, hệ
số đòn bẩy có tác động dương lên hệ số an toàn vốn của ngân hàng Dự phòng các khoản cho vay khó đòi, tính thanh khoản tác động không có ý nghĩa lên hệ số an toàn vốn của ngân hàng
Tóm lại đã có các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CAR ở nhiều quốc gia Tuy nhiên tại Việt Nam vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về đề tài này Luận văn muốn phân tích thực nghiệm và đánh giá các nhân tố thuộc về rủi ro và các nhân tố thuộc về hiệu quả hoạt động tác động như thế nào đến sự an toàn vốn của các ngân
Trang 33hàng Việt Nam từ đó đưa ra các khuyến nghị cần thiết đối với các ngân hàng và các nhà quản lý
Trang 34dụng
Ahmad và ctg (2009) Wen (2009)
Aspal và Nazneen (2014) Bateni và ctg (2014)
17 NHTM Jordan
42 định chế tài chính Malaysia
Mehranfar (2013) Thân Thị Thu Thủy và ctg (2015)
Aspal và Nazneen (2014)
Võ Hồng Đức và ctg (2014)
42 định chế tài chính Malaysia
Raharjo và ctg (2014) Thân Thị Thu Thủy và ctg (2015)
17 NHTM Jordan
42 định chế tài chính Malaysia
Al – Tamimi và Obeidat (2013) Bateni và ctg (2014)
Binh và Thomas (2014) Nuviyanti và Anggono (2014)
Thân Thị Thu Thủy và ctg (2015)
GMM
Trang 35Nguồn: Tác giả tổng hợp từ mục 2.5
Chú ý: Chỉ liệt kê các biến có trong mô hình và có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu,
trong đó dấu (+) là tác động cùng chiều, dấu (-) là tác động ngược chiều
2.6 So sánh với các nghiên cứu trước
Tương tự như các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam trước đây, luận văn cũng tập trung vào phân tích các nhân tố tác động đến sự an toàn vốn của các NHTM Việt Nam Tuy nhiên nghiên cứu của luận văn đi theo hướng tìm ra tác động của nhân
tố rủi ro và hiệu quả hoạt động đối với sự an toàn vốn Bởi vì rủi ro và hiệu quả hoạt động là các nhân tố quan trọng luôn được ngân hàng quan tâm trong quá trình kinh doanh do bất kỳ ngân hàng nào cũng muốn tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa rủi ro, song chính rủi ro và hiệu quả hoạt động đó có liên quan như thế nào đối với sự an toàn vốn cũng cần được xem xét Điểm khác biệt của luận văn là kết hợp 3 biến rủi ro (rủi
ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro vốn chủ sở hữu), 3 biến hiệu quả (tỷ số hiệu quả hoạt động, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ suất lợi nhuận trên tài sản) và biến quy
mô tài sản Luận văn nghiên cứu đối với các NHTM Việt Nam, dữ liệu thu thập trong giai đoạn 2006 – 2014, có khác biệt về thời gian nghiên cứu và cách thức chọn mẫu quan sát
Việc kế thừa các mô hình nghiên cứu trước phù hợp với hướng nghiên cứu của luận văn vì các biến được chọn lựa từ các mô hình là những biến thể hiện yếu tố rủi ro
và hiệu quả hoạt động, có cơ sở tính toán theo các lý thuyết như đã đề cập, thu thập được số liệu từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính và báo cáo ban kiểm soát của các ngân hàng, đảm bảo được tính thống nhất trong cách tính toán và phân tích
Nội dung chương 2 đã trình bày các lý thuyết về sự an toàn vốn, cách đo lường
và mối quan hệ tác động của rủi ro và hiệu quả hoạt động đến tỷ lệ an toàn vốn ngân hàng Trong đó các rủi ro được xem xét gồm rủi ro tín dụng, thanh khoản, vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động gồm tỷ số hiệu quả hoạt động, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên,
tỷ suất lợi nhuận trên tài sản Bên cạnh đó chương 2 cũng tóm tắt kết quả những nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn này Với những
cơ sở lý thuyết này sẽ là nền tảng cho mô hình nghiên cứu được đề cập cụ thể trong chương 3 tiếp theo
Trang 36CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Từ cơ sở lý thuyết của chương 2, trong chương 3 sẽ định nghĩa và đo lường các biến, đặt ra các giả thuyết nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu, cách thức thu thập, xử
lý và phân tích dữ liệu nghiên cứu nhằm kiểm chứng các giả thuyết
3.1 Giả thuyết nghiên cứu
3.1.1 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng Rủi ro tín dụng đo lường ảnh hưởng của chất lượng các khoản cho vay trong danh mục tài sản lên vốn De Bondt và Prast (2000) cho rằng các ngân hàng phản ứng lại sự thay đổi của danh mục rủi ro bằng cách thay đổi vốn của họ Tác giả sử dụng tỷ
lệ cho vay/tổng tài sản để phản ánh tài sản rủi ro nhất của ngân hàng Tỷ lệ cho vay gia tăng đồng nghĩa với rủi ro tín dụng tăng khiến cho tài sản theo trọng số rủi ro gia tăng, nếu vốn ngân hàng không thay đổi thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ sụt giảm Tuy nhiên các nhà quản trị ngân hàng xác định rủi ro tín dụng gia tăng và theo chuẩn mực Basel họ sẽ nâng tỷ lệ an toàn vốn lên tương ứng với sự tăng lên của rủi ro Kết quả này được kiểm chứng đúng đối với các ngân hàng tại Pháp và Mỹ Al-Sabbagh (2004) cũng cho rằng nếu cho vay càng nhiều, ngân hàng càng rủi ro Khi rủi ro gia tăng, người gửi tiền nên được đền bù nếu tổn thất xảy đến vì vậy CAR cần tăng Mối quan hệ thuận chiều giữa
tỷ lệ vốn và rủi ro tín dụng thể hiện các ngân hàng chủ động tăng vốn để có thể vượt qua được tình trạng khó khăn tài chính của họ Quan điểm này phù hợp với kết quả các nghiên cứu trước đây của Jacques và Nigro (1997), Rime (2001)
Tại Việt Nam các ngân hàng đã trải qua giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng như thời kỳ 2007 – 2010 với tốc độ tăng trưởng luôn trên 20%, một số ngân hàng gặp khó khăn trước nguồn vốn huy động khan hiếm để đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng, lĩnh vực cho vay về bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng gặp khá nhiều rủi ro Tuy rủi ro tín dụng tăng nhưng các ngân hàng đã tuân thủ đúng quy định của NHNN
về hệ số CAR tối thiểu 8% và sau đó nâng lên 9% Do đó nghiên cứu kỳ vọng khi rủi
ro tín dụng gia tăng, các ngân hàng đã nỗ lực duy trì hệ số CAR tốt hơn
Trang 37Vì vậy giả thuyết nghiên cứu được đưa ra:
H 1 : Rủi ro tín dụng tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn
3.1.2 Rủi ro thanh khoản
Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh Theo Aspal và Nazneen (2014) thanh khoản là một dấu hiệu đáng lưu ý thể hiện tình trạng tài chính của ngân hàng, thanh khoản tiết lộ khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với người gửi tiền, hình ảnh của ngân hàng được phản ánh qua tỷ lệ rủi ro thanh khoản Thanh khoản tăng sẽ giảm được rủi ro thanh khoản và gia tăng vốn (Abusharba và ctg, 2013) Trong nghiên cứu của Amad và ctg (2009) đề cập rằng khi một phần của quỹ ngân hàng để dưới dạng tiền mặt hoặc các tài sản có khả năng chuyển hóa thành tiền càng gia tăng, rủi ro thanh khoản càng giảm, dẫn đến hạ thấp phần bù rủi ro liên quan đến vấn đề thanh khoản mà nhà đầu tư yêu cầu trong tỷ suất sinh lời của cổ phiếu, với
tỷ suất này tạo điều kiện thuận lợi cũng như khuyến khích ngân hàng gia tăng vốn chủ
sở hữu Vì vậy tính thanh khoản có tác động tích cực đến tỷ lệ an toàn vốn
Theo Mehranfar (2013), điều quan trọng đối với ngân hàng là đảm bảo tài sản hiện thời phải phù hợp với nợ hiện thời Nói một cách khác ngân hàng có tính thanh khoản thấp sẽ gặp rủi ro tại những thời điểm không đáp ứng đủ nghĩa vụ thanh toán nợ ngắn hạn cho khách hàng do sự không phù hợp giữa tài sản và nợ Trong tình trạng đó, ngân hàng phải bán một phần tài sản hoặc lấy từ vốn để thanh toán cho khách hàng Điều này có nghĩa tính thanh khoản thấp sẽ làm sụt giảm vốn
Dựa trên cơ sở nghiên cứu của Ahmad và ctg (2009), Wen (2009), Al – Tamimi
và Obeidat (2013), Mehranfar (2013), Aspal và Nazneen (2014), Võ Hồng Đức và ctg (2014) về mối quan hệ đồng biến giữa tính thanh khoản và tỷ lệ an toàn vốn, nghiên cứu này đưa ra giả thuyết H2 như sau:
H 2 : Rủi ro thanh khoản tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn
3.1.3 Rủi ro vốn chủ sở hữu
Khoản mục vốn chủ sở hữu trong báo cáo tài chính thể hiện giá trị vốn của những người chủ sở hữu (cổ đông) ngân hàng Các ngân hàng đều huy động vốn từ
Trang 38công chúng để tạo đòn bẩy cho hoạt động Tỷ lệ tổng nợ/vốn chủ sở hữu cao nghĩa là ngân hàng có đòn bẩy tài chính cao và ngược lại Rủi ro cổ đông sẽ gia tăng khi đòn bẩy gia tăng, vì vậy ngân hàng có đòn bẩy tài chính cao gặp khó khăn trong việc huy động thêm vốn cổ phần do cổ đông đòi hỏi tỷ suất sinh lời cao hơn đồng nghĩa với việc chi phí huy động vốn của ngân hàng gia tăng (Ahmad và ctg, 2008; Wen, 2009) Điều này giải thích tại sao ngân hàng với tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao hơn nắm giữ vốn chủ
sở hữu ít hơn vì vậy có tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn Các nghiên cứu của Al-Sabbagh (2004), Ahmad và ctg (2009), Wen (2009), Büyükşalvarcı và Abdioğli (2011), Bateni
và ctg (2014), Raharjo và ctg (2014), Thân Thị Thu Thủy và Nguyễn Kim Chi (2015) đều chứng minh tỷ lệ tổng nợ/vốn chủ sở hữu có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn Căn cứ trên cơ sở các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này đưa ra giả thuyết
H3:
H 3 : Rủi ro vốn chủ sở hữu tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn
3.1.4 Tỷ số hiệu quả hoạt động
Tỷ số hiệu quả hoạt động thể hiện tỷ lệ giữa chi phí và thu nhập hoạt động, là một trong các thước đo phản ánh rõ nhất tính hiệu quả trong hoạt động ngân hàng (Rose và Hudgins, 2010) Trong nghiên cứu của Aspal và Nazneen (2014), tác giả cho rằng thông qua tỷ số hiệu quả hoạt động thấy được khả năng sinh lời của ngân hàng và
tỷ số này là một yếu tố tác động đến CAR Khi tỷ số hiệu quả hoạt động thấp, lợi nhuận ngân hàng tăng dẫn đến vốn tự có tăng theo, từ đó tỷ lệ an toàn vốn cũng tăng lên Mehranfar (2013) nhận định về ảnh hưởng của tỷ số hiệu quả hoạt động lên vốn theo chiều hướng tích cực, bởi vì một sự gia tăng trong tỷ số này, điều đó cho thấy ngân hàng đang được quản trị tốt và đạt được lợi nhuận Abusharba và ctg (2013) cũng cùng quan điểm với Mehranfar khi xem tỷ số hiệu quả hoạt động là một chỉ số đánh giá chất lượng quản trị ngân hàng
Với các nghiên cứu của Mehranfar (2013), Aspal và Nazneen (2014), Nuviyanti
và Anggono (2014) đã khẳng định tỷ số hiệu quả hoạt động có tác động ngược chiều với tỷ lệ an toàn vốn Do đó giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:
H 4 : Tỷ số hiệu quả hoạt động tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn