Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài : Trong đời sống kinh doanh thương mại cũng như trong các hoạt động dân sựthông thường, hợp đồng là một loại giao dịch quan trọng của bất cứ chủ
Trang 1Trường Đại học Hải Phòng
Lớp : QT6C
Môn : Pháp luật Kinh doanh Giảng viên : TS.Nguyễn Thái Sơn NHÓM 7 :
1 Nguyễn Thị Thu Hà
2 Đào Thị Mỹ Hảo
3 Nguyễn Thị Thu Hiền
4 Ngô Đức Minh
Trang 2CHỦ ĐỀ 8 : NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài :
Trong đời sống kinh doanh thương mại cũng như trong các hoạt động dân sựthông thường, hợp đồng là một loại giao dịch quan trọng của bất cứ chủ thể nào dù
là cá nhân hay pháp nhân Hầu hết các công ty ở các nước phát triển luôn đề caoquy trình soạn thảo và ký kết hợp đồng Vì vậy hợp đồng thương mại của họ rất chitiết, chặt chẽ và dự liệu cả những tình huống hiếm khi xảy ra Bill Gate trong mộtlần phỏng vấn các ứng viên thi tuyển vào tập đoàn Microsoft đã đặt câu hỏi: “Theocác bạn đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của các hoạt động kinhdoanh ngày nay?” Một ứng viên tiêu biểu đã trả lời: “Đó chính là tính chặt chẽ củahợp đồng” Nhiều người khi đó đã nghi ngờ tính nghiêm túc trong câu trả lời củaứng viên này, nhưng Bill Gate không nghĩ vậy Ông đã cho ứng viên này điểm tối
đa và nhận anh ta vào làm việc
Trong khi đó, hiện nay đa số các công ty của Việt Nam chưa quan tâm nhiềuđến vấn đề này, vẫn sử dụng những mẫu hợp đồng khuôn sáo, đơn điệu – “năm câu
ba điều”, khó hiểu và thậm chí lạc hậu so với pháp luật hiện hành Hậu quả là việcthực hiện hợp đồng rất khó khăn, dễ xảy ra tranh chấp và thường bị thua khi cókiện tụng Tình trạng này do nhiều nguyên nhân: văn hóa kinh doanh trọng tín hơntrọng lý, quy mô kinh doanh còn nhỏ, chưa có bài học đau xót trong giao thươngquốc tế nên chưa sợ… đặc biệt là còn thiếu hiểu biết pháp luật Do đó, để đảm bảocho các giao dịch thuận lợi, hạn chế rủi ro dẫn đến thiệt hại đáng tiếc cho mỗi bênđồng thời đảm bảo được hoà khí trong giao dịch, chúng ta cần phải tự bảo vệ quyềnlợi của mình bằng cách xem xét cẩn trọng mọi vấn đề khi tham gia ký kết hợpđồng
2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài :
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu các cơ sở lý luận chung về các quy định củapháp luật hiện hành về hợp đồng thương mại; đi sâu tìm hiểu nội dung của hợpđồng thương mại
Trang 33 Kết cấu nội dung của đề tài :
Trang 4CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng thương mại
1.1.1 Khái niệm
Hiểu một cách khái quát và chung nhất theo nghĩa rộng, hợp đồng là sự thỏathuận giữa hai hay nhiều bên về một vấn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phátsinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên đó Bản chất thực
sự của hợp đồng là sự tự nguyện và thống nhất ý chí thông qua thỏa thuận nhằm đạtđược một hay nhiều lợi ích chung nào đó Ở trong nền kinh tế thị trường, các quan
hệ kinh tế xã hội hầu hết đều được xác lập và thực hiện thông qua các hình thứcpháp lý là hợp đồng Giao kết và thực hiện hợp đồng chính là cách thức cơ bảnnhằm thực hiện hiệu quả các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường
Bộ Luật Dân Sự 2005 (BLDS 2005) đã đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sựnhư sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổihoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 388 BLDS 2005) Theo đó, phạm vi
áp dụng của BLDS 2005, các quy định về hợp đồng dân sự được áp dụng cho cáchợp đồng nói chung bao gồm cả các hợp đồng phát sinh từ quan hệ kinh doanh,thương mại Do đó, khái niệm hợp đồng dân sự cũng là khái niện chung về hợpđồng, bao gồm cả hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, đầu tư và kinh doanh
Vì vậy, hợp đồng trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự.Tuy nhiên, bản thân nó cũng có những điểm riêng nhất định, khác biệt với nhữngloại hợp đồng dân sự thông thường theo cách hiểu truyền thống Khi nghiên cứu vềhợp đồng trong lĩnh vực thương mại, chúng ta có thể đặt hợp đồng trong lĩnh vựcthương mại trong mối liên hệ với hợp đồng dân sự theo nguyên lý “cái chung” và
“cái riêng” Theo cách tiếp cận này, những vấn đề cơ bản của hợp đồng trong lĩnhvực thương mại như giao kết hợp đồng, nguyên tắc và các biện pháp bảo đảm thựchiện hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và cách xử lý hợp đồng vô hiệu sẽ được điềuchỉnh bởi pháp luật và không có sự khác biệt nào với những hợp đồng dân sự thôngthường Tuy nhiên, trong thực tế vẫn sẽ vẫn gặp một số những quy định cụ thể dành
Trang 5riêng cho hợp đồng trong lĩnh vực thương mại do xuất phát từ đặc điểm và yêu cầucủa hoạt động kinh doanh
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại
a, Về mục đích :
Mục đích phổ biến của các bên trong hợp đồng lĩnh vực thương mại là lợinhuận Mục đích lợi nhuận luôn là đặc trưng trong các giao dịch kinh doanh thươngmại do các bên hợp đồng đều nhằm thu được lợi nhuận từ việc thực hiện hợp đồng.Tuy vậy trong thực tế có một số trường hợp một bên chủ thể của hợp đồng khôngphải là thương nhân và họ giao kết hợp đồng không nhằm mục đích lợi nhuận.Theo quy định của LTM 2005, việc có áp dụng luật thương mại để điều chỉnh quan
hệ hợp đồng này hay không sẽ do bên không có mục đích lợi nhuận quyết định(Khoản 3, Điều 1, LTM 2005)
b, Về chủ thể :
Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại thiết lập chủ yếu giữa các thương nhân.Theo Luật thương mại 2005 (LTM 2005): “thương nhân bao gồm tổ chức kinh tếđược thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động kinh doanh một cách độc lập, thườngxuyên và có đăng kí kinh doanh” (Khoản 1, Điều 6)
Trong một số trường hợp, pháp luật quy định chủ thể hợp đồng đều phải làthương nhân (như hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại,hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại…) Tuy nhiên, cũng có những trường hợpkhác hợp đồng trong thương mại chỉ đòi hỏi ít nhất một bên là thương nhân (nhưhợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa, hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồngdịch vụ xây dựng )
c, Về hình thức :
Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được thiết lập dựa trên cơ sở cách thứchai bên thỏa thuận theo ý chí tự nguyện, nó có thể được thể hiện dựa trên hình thứclời nói, văn bản hoặc cũng có thể là hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong thựctiễn, có một số trường hợp pháp luật bắt buộc các bên phải lập hợp đồng thành vănbản, ví dụ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mại,quảng cáo, hội chợ LTM 2005 đồng thời cho phép các bên hợp đồng có thể thay
Trang 6thế hình thức văn bản bằng hình thúc khác có giá trị pháp lí tương đương bao gồmđiện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (Khoản 15, Điều 3, LTM 2005)
Thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhất địnhphù hợp với những quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng
1.2 Phân loại hợp đồng thương mại
Việc phân loại hợp đồng nhằm mục đích xác định cơ chế điều chỉnh phù hợpvới tính chất của từng loại hợp đồng, nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đốivới hợp đồng Theo Điều 406 BLDS 2005, hợp đồng được phân loại theo nhữngtiêu chí sau đây:
1.2.1 Theo mức độ tương xứng về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên
Trang 7- Hợp đồng đơn vụ :
Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ Điều này có nghĩa
là trong hợp đồng đơn vụ, chỉ có một hay nhiều chủ thể có nghĩa vụ mà không cóquyền gì đối với chủ thể kia, còn một hay nhiều chủ thể kia là người có quyền nhưngkhông phải thực hiện nghĩa vụ nào (ví dụ hợp đồng tặng cho một tài sản vật chất cógiá trị) Do đó, nếu hợp đồng được giao kết dưới hình thức viết thì chỉ cần lậpthành văn bản và giao cho bên có quyền giữ hợp đồng Trong quá trình thực hiệnhợp đồng, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thoả thuận
Trong cách phân loại hợp đồng này, cơ sở để xác định một hợp đồng là song
vụ hay hợp đồng đơn vụ chính là mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các bêngiao kết tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực
1.2.2 Theo sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các quan hệ hợp đồng
- Hợp đồng chính :
Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồngphụ Theo đó, khi hợp đồng chính đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện mà pháp luậtquy định, thì đương nhiên phát sinh hiệu lực, nghĩa là phát sinh hiệu lực bắt buộcđối với các bên kể từ thời điểm giao kết
- Hợp đồng phụ :
Hợp đồng phụ là hợp đồng có hiệu lực khi có hai điều kiện sau: thứ nhất phảituân thủ đầy đủ các điều kiện luật định về chủ thể, nội dung, đối tượng cũng nhưhình thức của hợp đồng và thứ hai là hợp đồng chính có hiệu lực
1.2.3 Theo chủ thể được hưởng lợi từ hợp đồng
- Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba :
Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợpđồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thựchiện nghĩa vụ đó Khi thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba thì người thứ
ba có quyền trực tiếp yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối vớimình Nếu các bên có tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng thì người thứ bakhông có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cho đến khi tranh chấp được giải quyết
Trang 8Bên có quyền cũng có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng vì lợi íchcủa người thứ ba Trong trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình trước khibên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa
vụ nhưng phải báo cho bên có quyền và hợp đồng được coi là bị huỷ bỏ, các bênphải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Nếu người thứ ba từ chối lợi ích củamình sau khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được xem là đãhoàn thành và bên có quyền vẫn phải thực hiện cam kết đối với bên có nghĩa vụ.Khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, cácbên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng, trừ trườnghợp được người thứ ba đồng ý
- Hợp đồng vì lợi ích của các bên trong hợp đồng : việc thực hiện nghĩa vụ của
một bên nhằm mang lại lợi ích (đảm bảo quyền) của bên kia trong quan hệ hợp đồng
1.2.4 Theo nội dung của mối quan hệ kinh tế
Theo cách phân loại này, hợp đồng được chia thành nhiều loại cụ thể như:Hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợp đồng trong xâydựng cơ bản, hợp đồng trong trung gian thương mại (đại diện cho thương nhân, môigiới kinh doanh, đại lý, ủy thác mua bán hàng hóa), hợp đồng dịch vụ trong xúc tiếnthương mại (hợp đồng dịch vụ quảng cáo, hợp đồng dịch vụ trưng bày giới thiệu sảnphẩm hàng hóa), hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng trong lĩnh vựcđầu tư (hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh…)
1.3 Ký kết hợp đồng thương mại:
1.3.1 Nguyên tắc ký kết :
Theo điều 389 Bộ luật Dân sự, nguyên tắc giao kết hợp đồng là:
- Tự do giao kết nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
1.3.2 Đại diện ký kết :
Luật Thương mại 2005 không qui định về vấn đề này, vì vậy áp dụng theoqui định của Bộ luật Dân sự 2005
Trang 9Theo qui định của Bộ luật Dân sự 2005, thẩm quyền ký kết trong hợp đồngdân sự là Người đại diện theo pháp luật và Người đại diện theo ủy quyền Ngườiđại diện theo pháp luật là Người được chọn đứng đầu tổ chức (tuỳ từng loại tổchức, người đứng đầu tổ chức là người giữ một chức vụ cụ thể trong tổ chức hoặcngười được tổ chức lựa chọn và ghi trong điều lệ của tổ chức) Nguời đại diện theo
ủy quyền là người được Người đại diện theo pháp luật ủy quyền bằng văn bản.Việc ủy quyền có thể thực hiện bằng hình thức do các bên thỏa thuận trừ trườnghợp pháp luật qui định bằng hình thức văn bản Người được ủy quyền được ủyquyền lại cho người thứ ba nếu được Người ủy quyền đồng ý (điều 583) Đối vớigiao dịch vượt phạm vi ủy quyền, Người ủy quyền không chịu trách nhiệm trừtrường hợp Người ủy quyền đồng ý hoặc biết mà không phản đối (điều 146 Bộ luậtDân sự)
1.3.3 Thời điểm giao kết :
Theo điều 403 và 404 Bộ luật Dân sự, thời điểm giao kết hợp đồng dân sự vàhiệu lực hợp đồng được xác định như sau :
- Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấpnhận giao kết
- Hợp đồng cũng được xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bênnhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhậngiao kết
- Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏathuận về nội dung của hợp đồng
- Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng kývào văn bản
1.3.4 Thực hiện hợp đồng :
Việc thực hiên hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc sau:
- Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủngloại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác
Trang 10- Thực hiện một cách trung thực theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho cácbên, bảo đảm tin tưởng lẫn nhau.
- Theo thỏa thuận của các bên
- Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt màhợp đồng phải do chính cá nhân hoặc chủ thể đó thực hiện
- Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện
- Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn
và các bên có thể thay thế đối thượng khác hoặc bồi thường thiệt hại
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định
Trang 11CHƯƠNG II : NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI2.1 Những điểm chung cần quan tâm khi soạn thảo hợp đồng thương mại
2.1.1 Soạn thảo Dự thảo hợp đồng trước khi đàm phán:
Soạn dự thảo hợp đồng (bước 1), đàm phán, sửa đổi bổ sung dự thảo (bước2), hòan thiện – ký kết hợp đồng (bước 3) là một quy trình cần thiết Soạn dự thảohợp đồng giúp cho doanh nghiệp văn bản hóa những gì mình muốn, đồng thời dựliệu những gì đối tác muốn trước khi đàm phán Nó giống như một bản kế hoạchcho việc đàm phán, khi có một dự thảo tốt coi như đã đạt 50% công việc đàm phán
và ký kết hợp đồng Nếu bỏ qua bước 1 chỉ đàm phán sau đó mới soạn thảo hợpđồng thì giống như vừa xây nhà vừa vẽ thiết kế, nên thường dẫn đến thiếu sót, sơ
hở trong hợp đồng, đặc biệt đối với những thương vụ lớn
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều sách viết về hợp đồng và thường kèmtheo nhiều mẫu hợp đồng các loại Ví dụ: cuốn Pháp luật về hợp đồng trong thươngmại và đầu tư, do TS Nguyễn Thị Dung (chủ biên) Doanh nghiệp nên dựa vào cácmẫu hợp đồng đó để xem như là những gợi ý cho việc soạn dự thảo hợp đồng Tuynhiên hợp đồng được ký kết trên nguyên tắc tự do và bình đẳng, do đó nội dung củamỗi hợp đồng cụ thể luôn có sự khác nhau Bởi nó phụ thuộc vào ý chí của các bên
và đòi hỏi thực tiễn của việc mua bán mỗi loại hàng hoá, dịch vụ là khác nhau,trong các điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm khác nhau Đăc biệt phải xác định (dựliệu) những rủi ro kinh doanh nào có thể hiện diện trong các giao dịch của doanhnghiệp và loại bỏ hay giảm thiểu những rủi ro đó bằng việc sử dụng các điều khoảnhợp đồng; điều này các hợp đồng mẫu thường ít khi đề cập Ví dụ: khi mua hànghóa, phải dự liệu đến cả những tình huống hiếm khi xảy ra: hàng giả, hàng nhái;gặp bão, lụt trong quá trình vận chuyển, giao hàng; khi tranh chấp kiện tụng thì tiềnphí luật sư bên nào chịu; những thiệt hại gián tiếp bên vi phạm có phải chịukhông…? Do vậy không thể có một mẫu hợp đồng nào là chuẩn mực, nó thườngthừa hoặc thiếu đối với một thương vụ cụ thể Doanh nghiệp phải phải sửa cho phùhợp theo ý muốn của hai bên, đừng lạm dụng mẫu – chỉ điền một vài thông số vàhoàn tất bản dự thảo hợp đồng
2.1.2 Thông tin xác định tư cách chủ thể của các bên:
Trang 12Doanh nghiệp và các cá nhân, tổ chức khác có quyền tham gia ký kết hợpđồng thương mại, nhưng để xác định được quyền hợp pháp đó và tư cách chủ thểcủa các bên thì cần phải có tối thiểu các thông tin sau:
- Đối với tổ chức, doanh nghiệp: Tên, Trụ sở, Giấy phép thành lập và ngườiđại diện Các nội dung trên phải ghi chính xác theo Quyết định thành lập hoặc Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép đầu tư của doanh nghiệp Các bênnên xuất trình, kiểm tra các văn bản, thông tin này trước khi đàm phán, ký kết đểđảm bảo hợp đồng ký kết đúng thẩm quyền
- Đối với cá nhân: Tên, số chứng minh thư và địa chỉ thường trú Nội dungnày ghi chính xác theo chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ khẩu vàcũng nên kiểm tra trước khi ký kết
đã hết hiệu lực, nên việc đặt tên này không còn phù hợp Bộ luật dân sự năm 2005
đã dành riêng Chương 18 để quy định về 12 loại hợp đồng thông dụng, Luật thươngmại năm 2005 cũng quy định về một số loại hợp đồng, nên chúng ta cần kết hợp hai
bộ luật này để đặt tên hợp đồng trong thương mại cho phù hợp
2.1.4 Căn cứ ký kết hợp đồng:
Phần này các bên thường đưa ra các căn cứ làm cơ sở cho việc thương lượng,
ký kết và thực hiện hợp đồng; có thể là văn bản pháp luật điều chỉnh, văn bản uỷquyền, nhu cầu và khả năng của các bên Trong một số trường hợp, khi các bên lựachọn một văn bản pháp luật cụ thể để làm căn cứ ký kết hợp đồng thì được xemnhư đó là sự lựa chọn luật điều chỉnh Ví dụ: một doanh nghiệp Việt Nam ký hợpđồng mua bán hàng hoá với một doanh nghiệp nước ngoài mà có thoả thuận là: Căn
cứ vào Bộ luật dân sự 2005 và Luật thương mại 2005 của Việt Nam để ký kết, thựchiện hợp đồng thì hai luật này sẽ là luật điều chỉnh đối với các bên trong quá trình
Trang 13thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp (nếu có) Do đó cũng phải hết sức lưu
ý khi đưa các văn bản pháp luật vào phần căn cứ của hợp đồng, chỉ sử dụng khi biếtvăn bản đó có điều chỉnh quan hệ trong hợp đồng và còn hiệu lực
2.1.5 Hiệu lực hợp đồng:
Nguyên tắc hợp đồng bằng văn bản mặc nhiên có hiệu lực kể từ thời điểmbên sau cùng ký vào hợp đồng, nếu các bên không có thỏa thuận hiệu lực vào thờiđiểm khác; Ngoại trừ một số loại hợp đồng chỉ có hiệu lực khi được công chứng,chứng thực theo quy định của pháp luật, như: hợp đồng mua bán nhà, hợp đồngchuyển nhượng dự án bất động sản, hợp đồng chuyển giao công nghệ… Các bênphải hết sức lưu ý điều này bởi vì hợp đồng phải có hiệu lực mới phát sinh tráchnhiệm pháp lý, ràng buộc các bên phải thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng
Liên quan đến hiệu lực thi hành của hợp đồng thương mại thì vấn đề ngườiđại diện ký kết (người ký tên vào bản hợp đồng) cũng phải hết sức lưu ý, người đóphải có thẩm quyền ký hoặc người được người có thẩm quyền ủy quyền Thôngthường đối với doanh nghiệp thì người đại diện được xác định rõ trong Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép đầu tư Cùng với chữ ký của người đạidiện còn phải có đóng dấu (pháp nhân) của tổ chức, doanh nghiệp đó Về thẩmquyền ký kết hợp đồng thương mại nếu nghiên cứu sâu rộng thì cũng còn rất nhiềuvấn đề phải bàn, bạn đọc có thể tham khảo thêm cuốn Pháp luật về hợp đồng trongthương mại và đầu tư, do TS Nguyễn Thị Dung (chủ biên)
2.2 Nội dung của hợp đồng thương mại
Luật Thương mại 2005 không nêu các nội dung cần có trong hợp đồng (tuỳthuộc thoả thuận của các bên), Bộ luật Dân sự 2005 (điều 402) gợi ý các nội dungchính gồm:
- Đối tượng hợp đồng (tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc khôngđược làm)
- Số lượng, chất lượng
- Giá, phương thức thanh toán
- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện Hợp đồng
Trang 14- Quyền và nghĩa vụ các bên
2.2.1 Điều khoản định nghĩa:
Điều khoản định nghĩa được sử dụng với mục đích định nghĩa (giải thích)các từ, cụm từ được sử dụng nhiều lần hoặc cần có cách hiểu thống nhất giữa cácbên hoặc các ký hiệu viết tắt Điều này thường không cần thiết với những hợp đồngmua bán hàng hóa, dịch vụ thông thường phục vụ các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.Nhưng nó rất quan trọng đối với hợp đồng thương mại quốc tế, hợp đồng chuyểngiao công nghệ, hợp đồng tư vấn giám sát xây dựng; bởi trong các hợp đồng này cónhiều từ, cụm từ có thể hiểu nhiều cách hoặc từ, cụm từ chuyên môn chỉ nhữngngười có hiểu biết trong lĩnh vực đó mới hiểu Ví dụ: “pháp luật”, “hạng mục côngtrình”, “quy chuẩn xây dựng” Do vậy để việc thực hiện hợp đồng được dễ dàng,hạn chế phát sinh tranh chấp các bên phải làm rõ (định nghĩa) ngay từ khi ký kếthợp đồng chứ không phải đợi đến khi thực hiện rồi mới cùng nhau bàn bạc, thốngnhất cách hiểu Mặt khác khi có tranh chấp, kiện tụng xảy ra thì điều khỏan nàygiúp cho những người xét xử hiểu rõ những nội dung các bên đã thỏa thuận và raphán quyết chính xác
2.2.2 Điều khoản công việc:
Trong hợp đồng dịch vụ thì điều khoản công việc (dịch vụ) mà bên làm dịch
vụ phải thực hiện là không thể thiếu Những công việc này không những cần xácđịnh một cách rõ ràng, mà còn phải xác định rõ: cách thức thực hiện, trình độchuyên môn, kinh nghiệm của người trực tiếp thực hiện công việc, kết quả sau khithực hiện dịch vụ Ví dụ: trong Hợp đồng tư vấn và quản lý dự án, không nhữngcần xác định rõ công việc tư vấn, mà còn phải xác định rõ: cách thức tư vấn bằngvăn bản, tư vấn theo quy chuẩn xây dựng của Việt Nam, người trực tiếp tư vấn phải
có chứng chỉ tư vấn thiết kế xây dựng, số năm kinh nghiệm tối thiểu là 5 năm, đã