1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CÔNG tác QUẢN lý hệ THỐNG THU NGÂN SÁCH NHÀ nước ở VIỆT NAM và THÀNH PHỐ hải PHÒNG

27 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 419 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạn

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ngân sách nhà nước (NSNN) đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế nước ta mà còn đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Mà vấn đề thu chi Ngân sách vẫn là mối quan tâm sâu sắc của mỗi quốc gia Ngân sách là công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế Thông qua công cụ này, Nhà nước sẽ tham gia vào việc điều chỉnh một số quan hệ kinh tế cân đối của nền kinh tế như: tích luỹ và tiêu dùng, xuất và nhập khẩu,

cơ cấu tiêu dùng và điều tiết thu nhập để đảm bảo cân bằng Thực tế, các cường quốc kinh tế trên thế giới đều có một chính sách thu ổn định, đồng thời chi tiêu ngân sách hợp lý Điều này thể hiện tầm quản lý vĩ mô nền kinh

là tuân theo luật pháp Chính sách về thuế là một phần của chính sách tài chính

Xác định tầm quan trọng của công tác quản lý hệ thống thu NSNN ở Việt

Nam, em lựa chọn đề tài “Tìm hiểu về hệ thống thuế, phí, lệ phí? Phân tích công tác quản lý hệ thống thu NSNN ở Việt Nam? Liên hệ với tình hình thực tế ở Việt Nam và địa phương”.

Do thời gian và hiểu biết còn hạn chế nên quá trình nghiên cứu và trình bày không tránh khỏi sai sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG THUẾ, PHÍ VÀ LỆ PHÍ 1.1 Hệ thống thuế

Trước khi tìm hiểu về hệ thống thuế, ta bắt đầu từ khái niệm về thuế Đến nay tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây:

- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp;

- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước;

- Các các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định

- Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung

Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển xã hội, việc quy định thuế phải được

sử dụng chung cũng là một vấn đề cần xem xét Có những loại thuế được thu chỉ nhằm một mục đích định trước và trao cho một số đối tượng quy định

Dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế kinh tế thị trường, điển hình

là khái niệm về thuế của Gaston Jèze đưa ra trong Giáo trình Tài chính công Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau:

“Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng”

1.1.1 Khái niệm về hệ thống thuế

Trang 4

Hệ thống thuế là một khái niệm đang có nhiều quan niệm khác nhau Với những giác độ tiếp cận khác nhau, người ta hình dung hệ thống thuế cũng rất khác nhau Quan niệm hệ thống thuế cũng được thay đổi và phát triển theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội Có thể nêu ra một số quan niệm khác nhau về hệ thống thuế qua một số giai đoạn phát triển kinh tế xã hội như sau.

Trong nền kinh tế, thu nhập được tạo ra và luân chuyển theo một dòng khép kín: người lao động nhận được tiền công, dùng tiền công này để mua hàng hoá, dịch vụ của các công ty, đến lượt các công ty lại dùng số tiền thu được để trả lãi cho vốn vay để đầu tư, tiền thuê đất, tiền nhân công và sau đó các đối tượng có thu nhập này lại dùng thu nhập để chi tiêu dưới nhiều dạng để mua hàng hoá, dịch vụ Chính sự biến đổi đa dạng này đã tạo ra những cơ sở đánh thuế khác nhau, do đó tạo khả năng cho chính phủ đánh thuế trên các cơ sở thuế khác nhau, trên sự luân chuyển của dòng thu nhập khép kín Hay nói cách khác

là xuất hiện các loại thuế khác nhau

Từ nhận thức trên, có quan điểm cho rằng, hệ thống thuế là tổng hợp các loại thuế khác nhau với cơ chế hoạt động, đối tượng điều chỉnh, phương pháp đánh thuế, mức độ điều tiết và phương pháp thu nộp khác nhau Các loại thuế

có mối quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau nhằm thực hiện mục tiêu điều chỉnh

vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước

Hệ thống thuế theo quan điểm này chính là tập hợp các loại thuế mà nhà nước ban hành Nói khác có thể hiểu đây là hệ thống chính sách thuế

Số lượng các loại thuế trong hệ thống thuế nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau:

Một là, sự vận động của dòng thu nhập trong nền kinh tế đơn giản hay

phức tạp

Hai là, khả năng kiểm soát và điều chỉnh sự vận động của dòng thu nhập

trong nền kinh tế của chính phủ

Tuỳ thuộc khả năng và mục đích của Chính phủ trong việc điều chỉnh sự vận động của dòng thu nhập ở những giai đoạn khác nhau mà hình thành các hệ thống thuế khác nhau

Trang 5

Theo quan điểm khác của trường phái thực hành gồm các nhà quản lý thuế ở các nước, hệ thống thuế là tập hợp của các thể chế về thuế và các biện pháp quản lý thuế Quan điểm này cho rằng, các thể chế về thuế là cái làm nên linh hồn của hệ thống thuế, nó thể hiện ý chí của nhà nước về công tác thu thuế trong từng thời kỳ Các biện pháp quản lý thuế là phương pháp thực hiện các thể chế đó trong thực tế Hệ thống thuế theo quan điểm này chính là việc thực thi chính sách thuế trong nền kinh tế của bộ máy thu thuế Theo quan điểm này việc thực thi chính sách thuế hoàn toàn do cơ quan thu chịu trách nhiệm, vì vậy không tránh khỏi tình trạng thực thi không hoàn toàn đúng với pháp luật, giải thích chính sách thuế thiên lệch và chủ quan trong công tác quản lý

Mở rộng quan điểm này, trong giai đoạn hiện nay, một số người cho rằng

hệ thống thuế là một hệ thống gồm các thể chế về thuế, các biện pháp quản lý và

bộ máy của cơ quan thu thuế Việc mở rộng quan điểm này đã tạo cơ hội cho cơ quan thu củng cố bộ máy để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ thu

Các quan điểm này, về mặt nào đó, thể hiện rõ tiến trình phát triển của công tác thu thuế qua các thời kỳ và qua từng giai đoạn Tuy nhiên, các quan điểm vẫn nặng phần mô tả thực tế, chưa được khái quát thành một khái niệm chung và cũng chưa thể hiện hết những nguyên tắc cơ bản của một hệ thống thuế

Nhà kinh tế học Adam Smith (1723 - 1790) Trong tác phẩm "Nghiên cứu

về bản chất và nguyên nhân giầu có của nhân loại" Ông đã vạch ra bốn nguyên tắc cơ bản xây dựng hệ thống thuế hợp lý:

Một là, thuế phải huy động phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư; Hai là, mức thuế và thời hạn thanh toán phải được xác định chính xác;

Ba là, thời gian thu thuế cần được quy định thuận lợi đối với người nộp

thuế;

Bốn là, các chi phí để tổ chức thu nộp thuế cần phải thấp nhất.

1.1.2 Các bộ phận chính của hệ thống thuế

Hệ thống thuế bao gồm 2 bộ phận chính:

- Hệ thống chính sách thuế: Gồm các sắc thuế được ban hành dưới hình

Trang 6

thức Luật, Pháp lệnh Mỗi sắc thuế có vai trò điều tiết riêng trong nền kinh tế, song chúng có mối quan hệ rất mật thiết và tác động lẫn nhau trong quá trình phát huy tác dụng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.

Thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12

Thuế xuất - nhập khẩu Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12

Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch

toán toàn ngành

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12

Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia

tăng hàng hoá nhập khẩu

Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12

Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu

nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn

ngành

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12, Luật thuế thu nhập

cá nhân số 04/2007/QH12Thuế thu nhập cá nhân Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể

thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ lĩnh vực

Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ

Thuế nhà, đất Pháp lệnh số 34/L/CTN, Thông tư 71/1002/TT-BTCThuế chuyển quyền sử dụng đất Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12Thuế sử dụng đất nông nghiệp Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, Nghị quyết số 15/2003/QH11

- Hệ thống quản lý thuế: gồm các phương pháp, hình thức quản lý thu

thuế, các công cụ quản lý (các qui định, qui trình, biện pháp nghiệp vụ, phương tiện quản lý), cơ cấu tổ chức bộ máy (các bộ phận, các đơn vị thuộc cơ quan thuế các cấp trực tiếp hay gián tiếp thực hiện chức năng quản lý thuế và mối

Trang 7

quan hệ giữa chúng), đội ngũ cán bộ, công chức thuế Trong đó, cơ cấu tổ chức

bộ máy và đội ngũ cán bộ thuế (gọi chung là bộ máy quản lý thuế) là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý thuế

1.2 Phí và lệ phí

1.2.1 Khái niệm về phí và lệ phí

Theo nhiều quan điểm khác nhau và trong từng quốc gia khác nhau, khái niệm phí và lệ phí tồn tại với những nội hàm khác nhau Trong bối cảnh thực tế của Việt Nam, phí và lệ phí vẫn còn là một nguồn thu bên cạnh thuế, góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo hỗ trợ chi tiêu cho ngân sách nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi Tuy nhiên, khi nền kinh tế thị trường thực sự phát triển và đặc biệt khi đất nước hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, quan điểm về phí và lệ phí sẽ có nhiều thay đổi Để có sự phân định, phần phí và lệ phí này chỉ được hiểu trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam

a Phí:

Phí là khoản tiền mà một tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức,

cá nhân khác cung cấp dịch vụ được nhà nước cho phép thu theo danh mục quy định

Phí bao gồm hai loại: Phí thuộc ngân sách nhà nước và phí không thuộc ngân sách nhà nước

Phí thuộc ngân sách nhà nước là khoản tiền mà một tổ chức, cá nhân phải

trả khi được một tổ chức nhà nước cung cấp dịch vụ không mang tính kinh doanh được Nhà nước cho phép thu theo danh mục quy định

Phí không thuộc ngân sách nhà nước là khoản tiền mà một tổ chức, cá

nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ mang tính kinh doanh được Nhà nước cho phép thu theo danh mục quy định

b Lệ phí:

Lệ phí là khoản tiền mà một tổ chức, cá nhân phải trả khi được cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước theo danh mục cho phép quy định

1.2.2 Các loại phí và lệ phí

Trang 8

Theo danh mục Phí và Lệ phí được áp dụng ban hành kèm theo Pháp lệnh Phí và Lệ phí được ban hành năm 2002, các loại phí và lệ phí bao gồm:

a Phí:

- Phí thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản: Thuỷ lợi phí, phí kiểm dịch động vật, thực vật, phí kiểm tra vệ sinh thú y, phí bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản

- Phí thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng: Phí kiểm định chất lượng hàng hoá, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu, phí xây dựng, phí đo đạc, lập bản đồ địa chính

- Phí thuộc lĩnh vực thương mại, đầu tư: Phí chứng nhận xuất xứ hàng hoá, phí chợ, phí thẩm định hồ sơ mua bán, phí thẩm định đầu tư, phí đấu thầu, đấu giá

- Phí thuộc lĩnh vực giao thông vận tải: Phí sử dụng đường bộ, phí sử dụng đường thuỷ, phí qua cầu, phí qua phà, phí sử dụng cảng

- Phí thuộc lĩnh vực thông tin liên lạc: Phí sử dụng và bảo vệ tần số vô tuyến điện, phí cấp tên miền

- Phí thuộc lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội: Phí kiểm định kỹ thuật máy móc thiết bị, phí an ninh, phí xác minh giấy tờ, tài liệu, phí giữ xe

- Phí thuộc lĩnh vực văn hoá, xã hội: Phí giám định di vật, cổ vật, bảo vật, phí tham quan, phí thẩm định văn hoá phẩm

- Phí thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo: học phí, phí dự thi, dự tuyển

- Phí thuộc lĩnh vực y tế: viện phí và phí khám chữa bệnh, phí phòng chống dịch bệnh, phí giám định y khoa, phí kiểm dịch y tế

- Ngoài ra còn có một số loại phí thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường, tài chính ngân hàng, hải quan, phí tư pháp như: phí bảo vệ môi trường, phí vệ sinh, phí hoạt động chứng khoán, phí lưu kho bãi hải quan, án phí, phí giám định tư pháp

b Lệ phí:

Trang 9

- Lệ phí quản lý nhà nước liên quan đến quyền và nghĩa vụ công dân: lệ phí quốc tịch, lệ phí hộ khẩu, chứng minh nhân dân, lệ phí toà án, lý lịch tư pháp

- Lệ phí quản lý nhà nước liên quan đến quyền sở hữu và sử dung tài sản:

lệ phí trước bạ, địa chính, lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền tác giả, lệ phí bảo

hộ quyền sở hữu công nghịêp

- Lệ phí quản lý nhà nước liên quan đến sản xuất kinh doanh: lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, lệ phí cấp giấy phép hành nghề, hoạt động theo qui định của pháp luật

- Lệ phí quản lý nhà nước đặc biệt về chủ quyền quốc gia: lệ phí ra vào cảng, lệ phí bay qua vùng trời, đất, biển

- Lệ phí quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác: lệ phí cấp giấy phép sử dụng con dấu, lệ phí hải quan, lệ phí cấp văn bằng, chứng chỉ, lệ phí chứng thực, công chứng

1.2.3 Đặc thù về phí và lệ phí ở Việt Nam

Phí không thuộc ngân sách nhà nước là loại phí phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới Thực chất chúng là giá của dịch vụ Tuy nhiên, với nhiều quốc gia, như Việt Nam, khi nguồn thu thuế còn hạn hẹp, chưa đáp ứng đủ cho việc hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua tất cả các loại dịch vụ công cần thiết, Nhà nước phải tính đến việc thu ở người trực tiếp sử dụng dịch vụ công một khoản bổ sung để duy trì dịch vụ Khoản bổ sung này không phải là giá của dịch vụ theo cơ chế thị trường, mà chỉ là một phần của nó, phần còn lại thông qua con đường hoàn trả gián tiếp tiền thuế từ ngân sách nhà nước Mặt khác, để nâng cao ý thức của người dân trong việc sử dụng hiệu quả các dịch vụ công, nhiều nhà nước cũng triển khai thu phí thuộc ngân sách nhà nước với mức thu không đáng kể Khi ngân sách nhà nước đã được bảo đảm đầy đủ thông qua nguồn huy động từ thuế, số lượng và mức thu các loại phí sẽ giảm dần, tiến đến chỉ còn một số loại phí và lệ phí thu trên các quan hệ có yếu tố nước ngoài, như

là một sự bảo đảm cho thương hiệu dịch vụ công nội địa

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỆ THỐNG THU

Trang 10

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 2.1 Khái niệm về hệ thống ngân sách nhà nước

Hệ thống NSNN là tổng thể NS của các cấp chính quyền nhà nước Tổ chức hệ thống NS chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà trước hết đó là chế độ

xã hội của một nhà nước và phân chia lãnh thổ hành chính Thông thường ở các nước hệ thống NS được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính Ở nước ta với

mô hình nhà nước thống nhất nên hệ thống NS được tổ chức theo hai cấp: NS

TW và NS của các cấp chính quyền địa phương, trong đó NS địa phương bao gồm các cấp NS: NS thành phố (hay tỉnh) , NS quận (huyện) , NS xã (phường)

Hệ thống NSNN Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung và dân chủ, thể hiện:

- Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống NS phải hợp thành một thể thống nhất, biểu hiện các cấp NS có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu

và cùng thực hiện một quá trình NS

- Tính tập trung: thể hiện NS TW giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng NS cấp dưới chịu sự chi phối của NS cấp trên và được trợ cấp từ NS cấp trên nhằm đảm bảo cân đối của NS cấp mình

- Tính dân chủ: Dự toán và quyết toán NS phải được tổng hợp từ NS cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một NS và được quyền chi phối NS cấp mình

Theo luật NSNN năm 2002 hệ thống NSNN được tổ chức theo sơ đồ sau đây:

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

NGÂN SÁCH TW NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

NS tỉnh và thành phố trực thuộc TW

NS xã, phường, thị trấn

NS quận, huyện, thị

xã, thuộc phố trực thuộc tỉnh

Trang 11

2.2 Công tác quản lý hệ thống thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam

2.2.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nước

Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình Thực chất, thu NSNN là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước

Ở Việt Nam, đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào NS để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính

để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào NS mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp Theo Luật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm:

- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;

- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;

- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân;

- Các khoản viện trợ;

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Cần lưu ý là không tính vào thu NSNN các khoản thu mang tính chất hoàn trả như vay nợ và viện trợ có hoàn lại Vì thế, các văn bản hướng dẫn Luật NSNN (Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ và Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính) chỉ tính vào thu NSNN các khoản viện trợ không hoàn lại; còn các khoản viện trợ có hoàn lại thực chất là các khoản vay ưu đãi không được tính vào thu NSNN

Kết luận: “Thu NSNN là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước với chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực nhà nước, nhằm giải quyết hài

Trang 12

hòa các lợi ích kinh tế,xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ kinh tế xã hội của nhà nước”.

2.2.2 Đặc điểm thu ngân sách nhà nước

Thứ nhất, nguồn tài chính được tập trung vào NSNN là những khoản

thu nhập của Nhà nước được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội Sự phân chia đó là một tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước Đối tượng phân chia là nguồn tài chinh quốc gia là kết quả do lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể hiện dưới hình thức tiền tệ

Thứ hai, về mặt nội dung, thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối

dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước

Cuối cùng, một đặc điểm quan trọng nữa của thu NSNN là nó gắn chặt

với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập… Ví dụ: khi giá cả tăng => thu giảm; thu nhập tăng => thu tăng; tỷ giá tăng => thu tăng; lãi suất tăng (giảm đầu tư) => thu giảm… Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết cuả các công cụ thu NSNN

2.2.3 Cơ cấu thu ngân sách nhà nước

- Thu trong cân đối NSNN là các khoản thu nằm trong hoạch định của Nhà Nước nhằm cân đối ngân sách Các khoản này bao gồm: thuế, lệ phí, lợi tức của nhà nước, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước và các khoản thu khác

- Thu ngoài cân đối ngân sách hay còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt ngân sách Trong tình trạng NSNN bị bội chi thì Nhà nước phải có giải

Trang 13

pháp bù đắp lại phần thâm hụt đó, vì không thể để tình trạng ngân sách mất cân đối kéo dài Thu bù đắp thiếu hụt ngân sách thức chất là vay để bù đắp, bao gồm vay trong nước và vay nước ngoài Vay trong nước được tiến hành qua việc phát hành công trái, trái phiếu chính phủ… để huy động lượng tiền nhàn rỗi trong nhân dân Vay nước ngoài được thực hiện qua vay nợ nước ngoài hay nhận các khoản viện trợ nước ngoài của các Chính Phủ, các tổ chức phi tài chính quốc tế.

2.2.4 Vai trò của thu ngân sách nhà nước

Như chúng ta đã biết, NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của đất nước Và

có thể nói rằng thu NSNN chính là việc tạo lập quỹ NSNN, từ đó NSNN mới có khả năng phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ này nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước Có thu thì mới có chi, thu phải tốt thì chi mới có thể tốt, vậy nên có thể khẳng định thu NSNN có vai trò đặc biệt quan trọng

2.2.5 Phân loại thu ngân sách nhà nước

a Căn cứ vào nội dung kinh tế của các khoản thu:

- Thu thuế:

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật quy định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thuế phản ánh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội,thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước với các pháp nhân và thể nhân trong phân phối các nguồn tài chính và là công cụ cơ bản thực hiện phân phối tài chính

- Phí và lệ phí:

Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp So với thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều Phí gắn liền với với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân

Ngày đăng: 22/04/2016, 21:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w