Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp và các bên có liên quan đều cần biếttình hình tài chính của doanh nghiệp, nói cách khác phân tích tài chính là một khâuquan trọng hàng đầu trong hoạ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Những năm gần đây, tình hình kinh tế trong nước cũng như khu vực và trênthế giới có nhiều bất ổn, biến động phức tạp, gây nhiều trở ngại cho đời sống xã hội.Cùng với đó, các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn, có doanh nghiệp đã phá sản,những doanh nghiệp khác cũng rất vất vả để có thể tồn tại trên thị trường Biểu hiện
cụ thể là dù được Nhà nước hỗ trợ nhưng nhiều doanh nghiệp còn bộc lộ hạn chế vềmặt tài chính dẫn tới năng lực cạnh tranh chưa cao, buộc phải đương đầu với nhiềuthách thức để có thể duy trì được chỗ đứng của mình
“Quốc gia là một con thuyền, doanh nghiệp là những tay chèo, con thuyềnđất nước chỉ lướt tới đích nếu các tay chèo nhịp nhàng, phối hợp” Đó là luận điểmcủa Robert S.Kaplan – một giáo sư chuyên nghành kế toán & quản trị kinh doanhtại trường đại học Harvard, là đồng chủ tịch cao cấp của tập đoàn Palladium Group,cha đẻ của mô hình Balarced Scorecard Câu nói đó cho thấy mỗi doanh nghiệp đều
có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia
Trên thực tế, các doanh nghiệp không hoạt động đơn lẻ một mình mà luôn cóquan hệ với các nhà đầu tư, chủ nợ, các cơ quan quản lý nhà nước, khách hàng…Trong đó, các nhà đầu tư hiện hành hay tiềm năng khi quyết định đầu tư vốn vàodoanh nghiệp rất quan tâm đến khả năng sinh lời và mức độ rủi ro trên đồng vốnđầu tư Các chủ nợ thì chú ý đến khả năng trả gốc và lãi của doanh nghiệp có mốiquan hệ tín dụng Hay các cơ quan quản lý Nhà nước lại quan tâm đến tình hìnhhoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các chính sách kinh tế - tài chính phù hợp,sao cho doanh nghiệp phát triển đúng hướng và thực hiện tốt những nghĩa vụ củamình Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp và các bên có liên quan đều cần biếttình hình tài chính của doanh nghiệp, nói cách khác phân tích tài chính là một khâuquan trọng hàng đầu trong hoạt động của doanh nghiệp
Để đánh giá một doanh nghiệp có phát triển bền vững hay không thì phảixem xét và đánh giá trên nhiều khía cạnh, lĩnh vực như: quy mô, lợi nhuận, nguồnnhân lực, công nghệ, mức độ cạnh tranh…trong đó quan trọng nhất là năng lực tàichính của doanh nghiệp Khi năng lực tài chính còn yếu kém sẽ dẫn tới năng lựccạnh tranh còn thấp Là một doanh nghiệp có thời gian hoạt động tương đối lâu dài
Trang 2trong ngành xây dựng vận tải, Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng đã đạtđược nhiều kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, công ty cần nâng cao hơn năng lựctài chính của mình để tăng khả năng cạnh tranh, từ đó mới có thể đáp ứng yêu cầuhội nhập trên thị trường.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực tài chính đối vớicác doanh nghiệp trong thực tế hiện nay, qua thời gian thực tập và tìm hiểu thực tếtại Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng, cùng sự hướng dẫn tận tình của
Thầy Nguyễn Thái Sơn, em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp nâng cao năng lực tài chính của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng”
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính của công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố nội tại của công ty TNHHMTV Đường Bộ Hải Phòng, cũng như các yếu tố bên ngoài công ty tác động đếnnăng lực tài chính của công ty
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực trạng năng lực tài chính tại Công tyTNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2014, thông qua các báocáo tài chính của công ty
4 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp luận: đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Trên cơ sở phân tích lý thuyết và thựctiễn về năng lực tài chính của doanh nghiệp, đề tài khái quát hoá bản chất, từ đó
Trang 3đánh giá, đưa ra những giải pháp cần thiết cho việc nâng cao năng lực tài chính củacông ty.
- Phương pháp so sánh: Dùng để đánh giá thực trạng năng lực tài chính củacông ty qua các năm và trong mối quan hệ với các doanh nghiệp cùng ngành
5 Đóng góp của khóa luận.
- Khẳng định một số nhận thức mới liên quan đến vai trò của quản trị tàichính trong nền kinh tế hiện đại
- Đề xuất các giải pháp thay đổi cơ cấu tổ chức bộ phận tài chính kế toán cuảcông ty cho phù hợp với giai đoạn mới
- Đề xuất các giải pháp ứng dụng mô hình quản trị tài chính trong việc ra cácquyết định nhằm nâng cao khả năng huy động vốn, quản lý và sử dụng nguồn vốnđạt hiệu quả tối ưu
- Xây dựng cấu trúc vốn phù hợp cho công ty trên cơ sở lý thuyết và thực tế
- Đề xuất các biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động quản trị rủi ro tài chínhtại công ty
6 Kết cấu đề tài.
- Chương 1: Lý luận chung về năng lực tài chính doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng năng lực tài chính của Công ty TNHH MTV Đường
Bộ Hải Phòng giai đoạn 2012 - 2014
- Chương 3: Biện pháp nâng cao năng lực tài chính của Công ty TNHH MTVĐường Bộ Hải Phòng
Do thời gian thực tế chưa nhiều, trình độ còn hạn chế nên em khó tránh khỏinhững thiếu sót trong quá trình thực hiện đề tài Rất mong nhận được sự chỉ bảo,đóng góp ý kiến của quý thầy cô để bản báo cáo của em được hoàn thiện hơn
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về phân tích tài chính.
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính.
Trước hết ta tìm hiểu khái niệm phân tích Phân tích trong lĩnh vực tự nhiênđược hiểu là chia nhỏ sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phậncấu thành Còn trong lĩnh vực kinh tế xã hội, C Mác đã chỉ ra rằng: "Khi phân tíchcác hình thái kinh tế xã hội thì không thể sử dụng hoặc kính hiển vi, hoặc nhữngphản ứng hoá học Lực lượng của trừu tượng phải thay thế cái này hoặc cái kia".[11,6]
Phân tích kinh doanh là việc phân chia các quá trình và kết quả kinh doanhthành nhiều bộ phận cấu thành Trên cơ sở đó, bằng phương pháp liên hệ, so sánh,đối chiếu và tổng hợp để rút ra quy luật và xu hướng phát triền của các hiện tượngnghiên cứu Phân tích kinh doanh gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh doanhcủa con người Trong điều kiện sản xuất kinh doanh chưa phát triển, các yêu cầuthông tin cho quản lý chưa nhiều, công việc phân tích cũng được tiến hành chỉ lànhững phép tính cộng trừ giản đơn Khi nền kinh tế càng phát triển, nhằm đáp ứngyêu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp, phân tích kinh doanh đượchình thành và ngày một hoàn thiện với hệ thống lý luận độc lập Quá trình đó làhoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển các bộ môn khoa học
F Ănghen đã chỉ rõ: "Nếu một hình thái vận động là do một hình thái vận động khácphát triển lên những phản ánh của nó, tức là những ngành khoa học khác cũng phải
từ ngành này phát triển ra một ngành khác một cách tất yếu".[12,401]
Kết quả kinh doanh thuộc đối tượng phân tích có thể là kết quả riêng biệt củatừng khâu, từng giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh như mua hàng, bánhàng, sản xuất hàng hoá, hoặc có thể là kết quả tổng hợp của cả quá trình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Đó là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp
Vậy thế nào là phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm phương pháp, công cụ theomột hệ thống nhất định cho phép thu nhập và xử lý các thông tin kế toán cũng nhưthông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đưa ra những đánh giá chính xác,đúng đắn về tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp các
Trang 5nhà quản lý kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sửdụng vốn cũng như dự đoán trước những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai để đưacác quyết định xử lý phù hợp tùy theo mục tiêu theo đuổi.
1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của phân tích tài chính.
Thông qua hệ thống các phương pháp, công cụ, kỹ thuật phân tích, nhữngngười sử dụng thông tin có thể vừa đánh giá tổng hợp khái quát, vừa xem xét mộtcách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp để qua đó đánh giá được sức mạnhtài chính và triển vọng phát triển của doanh nghiệp Vì thế phân tích tài chính màtrọng tâm là phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm của rất nhiềuđối tượng Mỗi nhóm đối tượng này có nhu cầu thông tin khác nhau do vậy họ sẽquan tâm đến những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp và các nhà quản trị, mối quan tâm hàng đầu của họ làtìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Ngoài ra, các nhà quản trị doanh nghiệp cònquan tâm đến những mục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượngsản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí…
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họhướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy họ đặc biệt chú ý đến
số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánhvới số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.Bên cạnh đó, họ cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu vì đây là khoảnbảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro
Đối với các nhà đầu tư, họ quan tâm đến lợi nhuận bình quân vốn của công ty,vòng quay vốn, khả năng phát triển của doanh nghiệp Từ đó ảnh hưởng tới cácquyết định tiếp tục đầu tư vào công ty trong tương lai Họ xem xét tới việc phân tíchtài chính để nhận biết khả năng sinh lời của doanh nghiệp, khả năng tăng trưởng vàphát triển của doanh nghiệp, những rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải hứng chịu
Từ đó, họ đưa ra quyết định đầu tư một cách có hiệu quả nhất: có nên bỏ vốn đầu tưvào doanh nghiệp không, nếu đầu tư thì khối lượng bao nhiêu và thời gian bao lâu
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước như: cục thuế, bộ chủ quản, cơ quanthanh tra… Họ phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt độngsản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có đúng chế độ
Trang 6chính sách và luật pháp không, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước cóđầy đủ không.
1.1.3 Phương pháp phân tích tài chính.
1.1.3.1 Các bước trong quá trình tiến hành phân tích tài chính
- Thu nhập thông tin
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lýgiải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, phục vụ quá trình dự toán, đánh giá, lập kế hoạch Nó bao gồmvới những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán
và thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị Trong đó cácthông tin kế toán là quan trọng nhất, đã được phản ánh tập trung trong các báo cáotài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy,phân tích hoạt động tài chính thực tế là phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
- Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lý cácthông tin đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độnghiên cứu, ứng dụng khác nhau nhằm phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử lýthông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định để rồitính toán, đối chiếu, so sánh, giải thích, đánh giá, và xác định nguyên nhân của cáckết quả đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
- Dự đoán và ra quyết định
Thu thập và xử lý thông tin để chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiếtcho người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu, từ đó đưa ra quyết định hoạt độngkinh doanh Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích hoạt động tài chính nhằm đưa racác quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp gồm tăng trưởng,phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu Đối với các nhà cho vay vàđầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ đầu tư, đối với cấp trêncủa doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp
1.1.3.2 Các thông tin cơ sở để phân tích hoạt động tài chính.
Các thông tin cơ sở được dùng để phân tích hoạt động tài chính trong cácdoanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:
Trang 7- Bảng cân đối kế toán: Là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính(giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó) của doanh nghiệp tại một thờiđiểm nhất định nào đó Nó được thành lập từ hai phần: Tài sản và nguồn vốn.
+ Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tạithời điểm lập báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản được chia thành: Tài sản lưu động vàđầu tư ngắn hạn, Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
+ Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành nên các tài sản hiện có củadoanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo, thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanhnghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng Nguồn vốn bao gồm nợ phải trả vàvốn chủ sở hữu
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Là một báo cáo tài chính tổng hợp,phản ánh tổng quát tình hình kết quả kinh doanh trong một niên độ kế toán, dướihình thái tiền tệ Nội dung của báo kết quả hoạt động kinh doanh có thể thay đổinhưng phải phản ánh được 4 nội dung cơ bản là: doanh thu, giá vốn hàng bán, cácchi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, lãi, lỗ Số liệu trong báo cáo nàycung cấp những thông tin tổng hợp về phương thức kinh doanh của doanh nghiệptrong thời kỳ và chỉ ra các hoạt động đó đem lại lợi nhuận hay lỗ vốn, đồng thờiphản ánh tình hình sử dụng các tiềm năng vốn, lao động, kỹ thuật của doanh nghiệp
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Một bộ phận hợp thành của báo cáo tài chính,phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo củadoanh nghiệp theo các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính
- Thuyết minh báo cáo tài chính: Giải thích và bổ sung thông tin về tình hìnhhoạt động sản xuất – kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báocáo mà các báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết Qua đó, các nhàđầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp
1.1.3.3 Phương pháp phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm hệ thống các công cụ và biện phápnhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong vàbên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổnghợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp Về lý thuyết cónhiều phương pháp, nhưng thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
Trang 8 Phương pháp so sánh:
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong việc phân tích hoạt độngkinh doanh trong doanh nghiệp Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanhnghiệp, ta cần so sánh các tỉ số của doanh nghiệp với các tỉ số tham chiếu, bao gồm:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ được
xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chínhđược cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu củadoanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấytình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưađược so với doanh nghiệp cùng ngành
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bảnbáo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuậnlợi cho việc so sánh
- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và
số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Kết quả phân tích thường được thể hiện như: Số tuyệt đối phản ánh về mặtquy mô hay số lượng của chỉ tiêu phân tích giữa các kỳ phân tích Trong khi đó, sốtương đối phản ánh kết cấu hoặc tốc độ biến động của các chỉ tiêu phân tích giữacác kỳ phân tích Số bình quân sẽ phản ánh giá trị đại diện trong một thời kì của mộtchỉ tiêu
Chú ý: Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:
- Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”, tránh việcnhầm lẫn số liệu, gây ra sai lệch
- Điều kiện hai : Các chỉ tiêu so sánh phải đảm bảo tính chất có thể so sánhđược với nhau Muốn vậy, chúng phải thống nhất với nhau về nội dung kinh tế, vềphương pháp tính toán, thời gian tính toán
Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực tỷ lệ của đại lượng tài chínhtrong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định
Trang 9được các ngưỡng, định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp, trên cơ sở so sánh tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụngngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Lý do:
- Nguồn thông tin kế toán tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn, là
cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá tỷ lệ của doanh nghệp
- Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trìnhtính toán hàng loạt các tỷ lệ
- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác hiệu quả số liệu, phântích hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hay theo từng giai đoạn
Phương pháp tài chính Doupont
Phân tích tài chính Dupont có bản chất là tách một tỷ số tổng hợp phản ánhsức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuếtrên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số các chuỗi tỷ số có mối quan hệ nhân quảvới nhau Từ đó ta thấy được ảnh hưởng của các tỷ số đó với các tỷ số tổng hợp
Đây là công cụ tốt để cung cấp cho mọi người kiến thức căn bản để đánh giáhiệu quả kinh doanh của công ty một cách đầy đủ, khách quan và toàn diện Từ đóđưa ra các biện pháp nhằm cải thiện, nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp.Nhưng phương pháp này chỉ dựa vào số liệu kế toán cơ bản, không gồm chi phívốn, mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc giả thuyết, số liệu đầu vào
1.1.4 Nội dung phân tích tài chính.
1.1.4.1 Phân tích cơ cấu tài sản.
Để xem xét tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp, ta tiến hành đi phân tích
cơ cấu tài sản theo mẫu sau:
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tuyệt đối Tương đối
1
2
Trước hết ta đi phân tích khái quát tình hình tài sản của doanh nghiệp Nếunăm N+1 so với năm N mà tổng tài sản của doanh nghiệp tăng lên thì doanh nghiệpđang có xu hướng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, ngược lại doanh nghiệpđang đi theo chiều hướng thu hẹp dần quy mô kinh doanh Sau khi thấy được sự
Trang 10biến đổi của tổng tài sản, ta cần phải làm rõ nguyên nhân của sự thay đổi này là do
sự thay đổi của tài sản ngắn hạn hay tài sản dài hạn và chỉ ra nhân tố có ảnh hưởngquyết định đến sự thay đổi của tài sản Theo đó, ta so sánh tỷ trọng tài sản ngắn hạnvới tỷ trọng tài sản dài hạn nhằm đánh giá cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp, xemdoanh nghiệp chủ yếu đầu tư trong ngắn hạn hay dài hạn
Sau khi đánh giá khái quát được sự biến đổi về tổng tài sản, ta đi sâu vàophân tích tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của doanh nghiệp Đối với từng loại, tacần nắm được sự thay đổi của từng nhân tố trong từng loại theo hướng ảnh hưởngquyết định giảm dần Phân tích sự thay đổi đó, ta cần phải nắm được tại sao lại có
sự biến đổi như vậy và đưa ra kết luận về tình hình tài sản của doanh nghiệp
1.1.4.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn.
Nhằm xem xét và đánh giá về chính sách huy động vốn, ta lập bảng phân tích cơ cấunguồn vốn của doanh nghiệp theo mẫu sau:
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tuyệt đối Tương đối
1
2
Khi phân tích nguồn vốn của doanh nghiệp, trước hết ta đi phân tích khái quát
về nguồn vốn xem nguồn vốn biến động tăng hay giảm Nếu năm N+1 tăng so vớinăm N thì khả năng huy động vốn năm N+1 tốt hơn năm N Đây là một trong những
cơ sở giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu củadoanh nghiệp Khi nhận thấy được sự thay đổi của nguồn vốn, ta cần nắm đượcnguyên nhân gây ra sự thay đổi là do đâu, do nợ phải trả hay vốn chủ sở hữu? Đâu
là nhân tố quyết định, từ đó đưa giá đánh giá của chính người phân tích Tiếp theo,
ta đi so sánh tỷ trọng nợ phải trả với tỷ trọng vốn chủ sở hữu để đánh giá về mức độđộc lập hay phụ thuộc về mặt tài chính của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, ta đánh giáquan điểm của nhà quản lý đối với việc huy động vốn trong doanh nghiệp
Sau khi phân tích khái quát về sự thay đổi nguồn vốn của doanh nghiệp, ta điphân tích cụ thể, chi tiết thành phần của nguồn vốn: nợ phải trả và vốn chủ sở hữuxem xét tỉ mỉ sự thay đổi và nguyên nhân tạo lên sự thay đổi đó của từng mục trong
nợ phải trả hay vốn chủ sở hữu Qua đó kết luận về tình hình huy động vốn củadoanh nghiệp
Trang 111.1.4.3 Phân tích kết quả kinh doanh.
Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ta sẽ phân tíchdọc theo các yếu tố, từ đó xét xem đâu là hoạt động mang lại nhiều doanh thu nhất,chi phí nào là cơ bản và hoạt động nào mang lại nhiều lợi nhuận nhất
- Đối với yếu tố doanh thu:
- Đối với yếu tố chi phí:
- Đối với yếu tố lợi nhuận:
Số tiền % Số tiền % +/- Tỷ lệ %
Trang 12đó như vậy đã hợp lý hay chưa, có phù hợp với mục tiêu, chiến lược kinh doanh màchủ doanh nghiệp đề ra hay không? Từ việc phân tích doanh thu, chi phí, lợi nhuậntrong mối quan hệ biện chứng với nhau, ta mới có những chính sách điều chỉnhđược các khoản chi phí trong doanh nghiệp.
1.2 Năng lực tài chính doanh nghiệp.
1.2.1 Quan niệm về năng lực tài chính doanh nghiệp.
Theo Từ điển tiếng Việt, “Năng lực” là khả năng có đủ để làm một công việcnào đó Tài chính là một phạm trù kinh tế, phản ánh các mối quan hệ phân phối củacải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sửdụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của cácchủ thể ở điều kiện nhất định
Vậy, năng lực tài chính của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bảnthân doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền và tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảokhả năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinhlời…đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính doanh nghiệp.
Các yếu tố định lượng thể hiện nguồn lực tài chính hiện có, bao gồm: quy môvốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời…Các yếu tố địnhtính bao gồm khả năng khai thác, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính; thể hiệnqua trình độ tổ chức, độ quản lý, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực…
Trang 13Để dễ dàng cho việc đánh giá, xem xét năng lực tài chính của doanh nghiệp,
ta có thể phân chia thành các nhóm chỉ tiêu như sau:
1.2.2.1 Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán.
Khả năng thanh toán tổng quát
Khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản
Tổng nợKhả năng thanh toán tổng quát cho biết tương ứng với một đồng nợ thì doanhnghiệp có bao nhiêu đồng tài sản dùng để thanh toán Khả năng thanh toán tổngquát càng lớn hơn 1 thì doanh nghiệp càng đảm bảo tốt khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số trên phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải cáckhoản nợ ngắn hạn Nếu hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng caotrong việc sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đến hạn và ngược lại
Khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh = TSNH – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết tương ứng với một đồng nợ ngắn hạn, doanh nghiệp cóbao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có thể thanh lý nhanh chóng để trả nợ Hệ số nàycàng cao phản ánh năng lực thanh toán nhanh của công ty tốt và ngược lại
Khả năng thanh toán nợ dài hạn
Khả năng thanh toán dài hạn =
Tài sản dài hạn
Nợ dài hạnKhả năng thanh toán nợ dài hạn cho biết tương ứng với một đồng nợ dài hạnthì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản dài hạn để thanh toán Khả năng thanhtoán nợ dài hạn càng lớn hơn 1 thì doanh nghiệp càng đảm bảo tốt khả năng thanhtoán, doanh nghiệp hướng tới trạng thái cân bằng bền vững và ngược lại
Khả năng thanh toán lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay = LNTT và lãi vay
Trang 14Lãi vayKhả năng thanh toán lãi vay cho biết kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
có đảm bảo thanh toán được các khoản lãi vay không Khả năng thanh toán lãi vaycàng lớn hơn 1 thì doanh nghiệp càng đảm bảo tốt khả năng toán và ngược lại.[3,382]
Khả năng chuyển đổi tài sản ngắn hạn ra tiền
Khả năng chuyển đổi TSNH ra tiền =
Tiền và tương đương tiềnTài sản ngắn hạnChỉ tiêu này cho biết tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn trong doanhnghiệp cao hay thấp, mức độ dự trữ tiền của doanh nghiệp là nhiều hay ít Khả năngchuyển đổi TSNH ra tiền ở mức 0,1 đến 0,5 là tương đối tốt và ngược lại
1.2.2.2 Chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính.
Để đánh giá mức độ độc lập hay phụ thuộc về mặt tài chính của doanh nghiệp,
ta đi phân tích nhóm tỷ số cơ cấu tài chính của doanh nghiệp
Hệ số vốn chủ sở hữu cho biết để tài trợ cho 100 đồng tài sản, doanh nghiệp
sử dụng bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu Hệ số vốn chủ sở hữu càng cao chứng tỏmức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.[3,383]
1.2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động.
Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, ta đi phân tích nhóm tỷ số hoạtđộng, tức là thông qua tốc độ luân chuyển của các yếu tố như tài sản, nguồn vốn
Trang 15 Vòng quay tài sản.
Vòng quay tài sản = Doanh thu thuần
Tài sản bình quânChỉ tiêu này cho biết trong một năm hay một chu kỳ kinh doanh, tài sản quaybao nhiêu vòng Nếu vòng quay càng lớn thì tốc độ thu hồi vốn được diễn ra mộtcách nhanh chóng và ngược lại
Vòng quay tài sản ngắn hạn
Vòng quay tài sản ngắn hạn =
Doanh thu thuầnTổng TSNH bình quânVòng quay tài sản ngắn hạn cho biết trong vòng một năm hay một chu kìkinh doanh thì tài sản ngắn hạn quay bao nhiêu vòng Vòng quay tài sản ngắn hạncàng lớn thì doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả Ngược lại, nếu vòng quay tàisản càng nhỏ và có xu hướng giảm thì cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp kém đi, lượng vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng nhiều và ngược lại
Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quânChỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển hàng tồn kho của doanh nghiệp,xem trong một chu kỳ kinh doanh, hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng Nếu chỉtiêu này lớn và gia tăng qua các năm thì hàng tồn kho của doanh nghiệp luânchuyển tốt, doanh nghiệp sử dụng hàng tồn kho hiệu quả và ngược lại
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = Vòng quay các khoản phải thuSố ngày trong năm
Hai chỉ tiêu trên cho thấy công tác giải quyết công nợ của doanh nghiệp cóđạt hiệu quả hay không Vòng quay các khoản phải thu càng lớn, số ngày một vòngquay các khoản phải thu càng nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp đã có những biện pháp tốttrong công tác thu hồi nợ và ngược lại.[3,385]
Trang 16 Vòng quay các khoản phải trả.
Vòng quay các khoản phải trả =
Doanh thu thuầnCác khoản phải trả bình quân
Kỳ trả tiền bình quân =
Số ngày trong nămVòng quay các khoản phải trảChỉ tiêu cho biết tốc độ luân chuyển các khoản phải trả, đánh giá công tácthanh toán các khoản vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng, đặc biệt là người bán Vòngquay các khoản phải trả càng lớn đồng thời số ngày trong một vòng quay các khoảnphải trả càng lớn cho biết tốc độ luân chuyển của các khoản phải trả càng nhanh, thểhiện công tác thanh toán của doanh nghiệp là tốt và ngược lại
1.2.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi.
ROA = Lợi nhuận sau thuế
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu
Suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu cho biết trung bình một đồng vốn chủ sở hữu doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế ROE cao thể hiện vốn chủ sở hữu có khả năng sinh lợi lớn và ngược lại.[3,390]
ROS = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuầnSuất sinh lợi của doanh thu cho biết tương ứng với một đồng doanh thu thuầndoanh nghiệp có được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế ROS cao chứng tỏ doanhnghiệp thu được lợi nhuận nhiều hơn từ việc tiết kiệm được chi phí
Trang 171.2.2.5 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng.
Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng bao gồm:
- Tăng trưởng tài sản Tài sản là yếu tố phản ánh quy mô sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Nếu tài sản tăng qua các năm thì phần nào cho thấy được doanhnghiệp đang mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và ngược lại
- Tăng trưởng vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu cho thấy sức mạnh, tiềm lựctài chính trong doanh nghiệp Chỉ tiêu này tăng trưởng qua các năm cho thấy doanhnghiệp đang có được sự bổ sung nguồn vốn, góp phần tăng nguồn vốn kinh doanhcho doanh nghiệp, đồng thời cho thấy doanh nghiệp sử dụng chính sách tài trợ vốn
an toàn, đảm bảo năng lực tài chính cho công ty và ngược lại
- Tăng trưởng lưu chuyển thuần Gồm lưu chuyển thuần từ hoạt động sảnxuất kinh doanh, từ hoạt động đầu tư và từ hoạt động tài chính Tổng lưu chuyểnthuần trong doanh nghiệp tăng cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh, đầu tư củadoanh nghiệp năm sau tốt hơn năm trước, quản lý thu chi tốt hơn và ngược lại
- Tăng trưởng lợi nhuận Lợi nhuận là yếu tố mà bất cứ doanh nghiệp nàocũng tìm kiếm và tìm mọi cách để tối đa hóa Sự tăng trưởng về lợi nhuận cho thấy
xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai là tốt hơn
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính.
1.3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.
1.3.1.1 Hình thức pháp lý của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp khi thành lập sẽ chọn một hình thức pháp lý nhất định.Mỗi loại hình doanh nghiệp đó có đặc trưng riêng và từ đó tạo nên những lợi thếhay hạn chế hay cho doanh nghiệp
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng không hề nhỏđến việc tổ chức tài chính doanh nghiệp như phương thức hình thành và huy độngvốn, việc chuyển nhượng vốn, phân phối lợi nhuận và trách nhiệm của chủ sở hữuđối với các khoản nợ của doanh nghiệp…[3,12]
Đối với doanh nghiệp Nhà nước thì nhà quản lý cần tận dụng tốt nguồn vốn
do ngân sách Nhà nước cấp và các lợi thế về chính sách ưu đãi của Nhà nước dànhcho hình thức này Còn đối với doanh nghiệp thuộc loại hình sở hữu khác do khôngđược sự tài trợ về vốn nên nguồn vốn kinh doanh hạn chế thì cần phải xem xét đếnviệc huy động vốn từ vốn góp hay vốn vay thì có lợi nhất…
Trang 181.3.1.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh.
Hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp thường được thực hiện trong mộthay một số ngành kinh doanh nhất định Mỗi ngành kinh doanh có các đặc điểm kinh tế -
kỹ thuật riêng, và có ảnh hưởng lớn tới việc tổ chức tài chính của doanh nghiệp.[3,16]
- Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh: Ảnh hưởng này thể hiện trong
thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô củavốn sản xuất kinh doanh cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng,
do đó ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn và phương pháp đầu tư
- Ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh: Chu kỳ kinh doanh có ảnh hưởng đến
nhu cầu sử dụng vốn và doanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuấtchu kỳ ngắn thì nhu cầu vốn lưu động không có biến động lớn, doanh thu ổn địnhnên tạo được sự cân bằng giữa thu chi, bảo đảm nguồn vốn kinh doanh Ngược lạinhững doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ dài phải sử dụng một lượng vốn tương đốilớn nên nhu cầu vốn lưu động trong năm thường có biến động lớn, khó khăn trongluân chuyển vốn, chi trả những khoản chi phí và trong việc thanh toán Do vậy,doanh nghiệp cần tổ chức, quản lý nguồn tài chính nhằm đảm bảo được sự cân bằngthu chi cũng như đảm bảo nguồn vốn của doanh nghiệp mình
+ Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ thì lượng vốnlưu động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của vốn lưu động cũng nhanh hơn
so với các ngành nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng
+ Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất ngắnthì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn,doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, nhờ đó có thể dễ dàng bảođảm cân đối giữa thu và chi bằng tiền, cũng như bảo đảm nguồn vốn cho nhu cầu kinhdoanh Ngược lại những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ dài,phải ứng ra lượng vốn lưu động lớn hơn
+ Những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành sản xuất có tính thời vụ thìnhu cầu về vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm có chênh lệch nhau rất lớn, giữa thu
và chi bằng tiền thường có sự không ăn khớp nhau về thời gian [3,17]
1.3.1.3 Trình độ tổ chức quản lý.
Bên cạnh hai yếu tố trên, một yếu tố bên trong doanh nghiệp cũng có ý nghĩaquyết định đến năng lực tài chính của doanh nghiệp là trình độ tổ chức quản lý của
Trang 19các nhà quản trị trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh nàođều phải lựa chọn ra một cơ cấu tổ chức quản lý riêng Bởi lẽ khi có một cơ cấu tổchức quản lý hợp lý thì mới cho phép sử dụng tốt các nguồn lực, giúp cho việc racác quyết định đúng đắn và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quyết định đó, điềuhoà phối hợp được các hoạt động nhằm đạt được mục đích chung đề ra.
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
1.3.2.1 Điều kiện tự nhiên - Cơ sở hạ tầng.
Yếu tố này tác động lớn đến hoạt động kinh doanh và năng lực tài chính củadoanh nghiệp Về cơ bản, điều kiện tự nhiên thường tác động bất lợi đối với cáchoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
có liên quan đến tự nhiên như: sản xuất nông phẩm, thực phẩm theo mùa, kinhdoanh khách sạn, du lịch Do đó làm giảm năng lực tài chính của doanh nghiệp Vìvậy ta cần đưa ra những biện pháp phòng tránh và xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp
Nếu cơ sở hạ tầng phát triển (hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện,nước…) thì sẽ giảm bớt nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời tạo điềukiện cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trong kinh doanh.[3,18]
1.3.2.2 Các yếu tố kinh tế.
Các yếu tố kinh tế bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn địnhcủa nền kinh tế, của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hối đoái tất cả các yếu tố nàyđều ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh và tác động trực tiếp đếnnăng lực tài chính của doanh nghiệp Những biến động của các yếu tố kinh tế có thểtạo ra cơ hội và cả những thách thức với doanh nghiệp Để đảm bảo thành công củahoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi,phân tích, dự báo sự biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chínhsách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội,giảm thiểu nguy cơ
1.3.2.3 Kỹ thuật - Công nghệ.
Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến doanh nghiệp Các yếu tố nàythường biểu hiện như phương pháp sản xuất mới, kĩ thuật mới, vật liệu mới, thiết bịsản xuất, các bí quyết, các phát minh, phần mềm ứng dụng
Trang 20Khi công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng các thànhtựu của công nghệ tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn nhằm phát triển kinhdoanh, nâng cao được năng lực cạnh tranh Tuy vậy, nó cũng mang lại cho doanhnghiệp nguy cơ tụt hậu nếu doanh nghiệp không đổi mới công nghệ kịp thời Doanhnghiệp nào có thể áp dụng được công nghệ - kỹ thuật cao thì sẽ nâng cao năng lực tàichính của doanh nghiệp và ngược lại.
1.3.2.4 Văn hóa - Xã hội, Chính trị - Pháp luật.
Văn hóa – xã hội có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị - kinh doanh
từ đó ảnh hưởng tới năng lực tài chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phảiphân tích các yếu tố văn hóa, xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thểxảy ra để từ đó đưa ra các chính sách phù hợp
Chính trị - Pháp luật gồm các yếu tố chính phủ, hệ thống pháp luật, xu hướngchính trị Các nhân tố này ngày càng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanhnghiệp Sự ổn định về chính trị, nhất quán về quan điểm, chính sách lớn luôn là sựhấp dẫn của các nhà đầu tư Trong xu thế toàn cầu hiện nay, mối liên hệ giữa chínhtrị và kinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện trongcác quan hệ quốc tế Để đưa ra những quyết định kinh doanh hợp lý, doanh nghiệpcần phân tích, dự báo sự thay đổi của môi trường trong từng giai đoạn phát triển
1.3.2.5 Thị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính.
Hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với thị trường tài chính, nơi mà cácdoanh nghiệp có thể huy động gia tăng vốn, đồng thời có thể đầu tư các khoản tàichính tạm thời nhàn rỗi để tăng thêm mức sinh lời của vốn hoặc có thể thực hiệnviệc đầu tư dài hạn gián tiếp Sự phát triển của thị trường làm đa dạng hóa các công
cụ và hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp như thuê tài chính, chứng khoán…
Hoạt động của các trung gian tài chính cũng ảnh hưởng tới hoạt động tàichính của doanh nghiệp Sự phát triển của các trung gian tài chính sẽ cung cấp cácdịch vụ tài chính ngày càng phong phú, đa dạng hơn cho doanh nghiệp như: cácngân hàng thương mại đa dạng hóa hình thức thanh toán (chuyển khoản, thẻ tíndụng, chuyển tiền điện tử…) Điều đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận và
sử dụng vốn tín dụng với chi phí thấp.[3,19]
1.4 Các biện pháp cơ bản nâng cao năng lực tài chính của doanh nhiệp.1.4.1 Xác định chính sách kinh doanh, xây dựng cơ cấu vốn hợp lý.
Trang 21Mục tiêu, chính sách kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn làkhác nhau, song đều tựu chung lại ở mục tiêu tài chính là tối đa hóa lợi ích của chủ
sở hữu – tức là tối đa hóa tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trong phạm vi vàmức độ rủi ro cho phép Vì thế, xây dựng – thiết lập được một cơ cấu vốn linh động,phù hợp theo mỗi kỳ kinh doanh là tạo cơ sở tài chính vững mạnh để đạt mục tiêu
- Chính sách huy động tập trung: Công ty chỉ tập trung vào một số ít nguồn
Ưu điểm của chính sách này là chi phí hoạt động có thể giảm song sẽ làm công typhụ thuộc hơn vào một số chủ nợ,
- Chiếm dụng vốn của nhà cung cấp: Đây là hình thức mua chịu khi các nhàcung cấp lớn chấp nhận bán chịu vốn Hình thức này khá phổ biến và thường sửdụng cho các doanh nghiệp không đủ khả năng vay ngân hàng
- Nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng: Một trong những nguồn vốn huy độnghiệu quả, an toàn nhưng không dễ tiếp cận
1.4.2 Nâng cao năng lực quản lý chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Quản lý chi phí là tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về việc sử dụngcác chi phí, từ đó đưa ra những quyết định về các chi phí ngắn hạn, dài hạn củacông ty Việc quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh là yếu tố quyết định đến lợinhuận, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, từ đó ảnh hưởng tới năng lực tài chính
- Xem xét, rà soát lại các khoản chi phí của công ty để xem khoản chi phí đó cóhợp lý hay không Hoạt động quản lý chi phí cần gắn liền đối với công tác kế toánthống kê nhằm so sánh giữa các thời kỳ để có thể đánh giá chính xác
- Cắt giảm những khoản chi phí không cần thiết như cắt giảm chi phí lưu khobằng cách bán bớt lượng nguyên vật liệu chưa thực sự cần dùng đến; giảm chi phí quản
lý doanh nghiệp bằng cách cắt giảm nhân sự
- Công ty cần chủ động hoạch định các chiến lược tài chính, xem xét các nhân
tố tài chính có tác động đến hoạt động của công ty Bên cạnh đó thiết lập cơ cấu vốnhợp lý sau khi tiến hành phân tích đặc trưng riêng của ngành Ngoài ra một kế hoạch
dự phòng ngân quỹ là rất cần thiết
- Thường xuyên theo dõi chặt chẽ, quản lý tốt các khoản phải thu, phải trảcủa công ty để nắm chắc tình hình thực tế, đảm bảo sự chủ động trong thanh toán
- Thực hiện chính sách thu tiền linh động Đầu tư mở rộng các phương thứcthanh toán hiệu quả, hiện đại để tăng khả năng thanh toán, thu hồi nợ cho công ty
Trang 221.4.3 Đầu tư đổi mới công nghệ
Trong cơ chế thị trường hiện nay, khả năng cạnh tranh được quyết định bởichất lượng hàng hóa trên một đơn vị chi phí thấp nhất Để làm được điều này, cácdoanh nghiệp cần không ngừng cập nhật ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ vàosản xuất kinh doanh cũng như quản lý, cụ thể:
- Tính toán mục tiêu cũng như quy trình tập trung đầu tư chi tiết và hợp lý
- Thường xuyên bảo dưỡng nâng cao hiệu quả sử dụng của máy móc, thiết bị
- Đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hợp lý
- Thiết lập mối quan hệ với các cơ quan nghiên cứu, ứng dụng công nghệ kỹthuật trong và ngoài nước để phát triển công nghệ theo chiều sâu và từng bước hoànchỉnh công nghệ hiện đại
- Tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý côngnghệ Nâng cao trình độ quản lý cho đội ngũ quản lý kỹ thuật của doanh nghiệp
1.4.4 Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ lao động
Cùng với sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiệnđại, các doanh nghiệp cần kết hợp tiến hành bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghềcho đội ngũ nhân công, đào tạo họ trở thành nguồn nhân lực hiệu quả
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ công nhân viên trongcông ty học tập nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công việc
- Công ty cần có chế độ thưởng, phạt rõ ràng, hợp lý như khen thưởng xứngđáng những người hoàn thành tốt nhiệm vụ, có ý thức trong việc sử dụng, bảo quảntài sản, có sáng kiến trong việc tiết kiệm chi phí, kiếm lợi cho công ty Đồng thờicần xử phạt nghiêm minh những người thiếu ý thức trách nhiệm làm hư hại mất máttài sản và gây lãng phí nguồn vốn của công ty
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH MTV ĐƯỜNG BỘ HẢI PHÒNG
Trang 23- Tên tiếng Anh: Hai Phong overland road limited company.
- Trụ sở đăng ký: Số 77 Nguyễn Đức Cảnh, phường An Biên, quận Lê Chân,thành phố Hải Phòng
- Lĩnh vực kinh doanh: Vận tải, xây dựng, thương mại và dịch vụ
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công Ty
Công Ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng thành lập ngày 23 tháng 3 năm
1963 với tên gọi đầu tiên là Đoạn bảo dưỡng Đường Bộ Hải Phòng, nhiệm vụ chính
là sủa chữa và bảo trì các công trình…Qua nhiều lần đổi tên và mở rộng phát triểnthêm nhiều hoạt động, ngành nghề kinh doanh, tới nay công ty chuyển sang hoạtđộng theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Sở Giao thôngvận tải Hải Phòng quản lý
Quá trình phát triển của Công Ty:
- Giai đoạn 1(1963-1971): Công Ty dưới tên gọi Đoạn bảo dưỡng Đường Bộ– đơn vị có nhiệm vụ bảo dưỡng 162 Km đường quốc lộ và tỉnh lộ, gần 2000 m cầucác loại và vận chuyển hành khách qua lại 7 bến phà nằm rải rác trên khắp cáctuyến đường trực thuộc thành phố Hải Phòng, với hoạt động chủ yếu là nâng cấp,sửa chữa và bảo trì các công trình dân dụng công nghiệp, giao thông…
- Giai đoạn 2(1971-1982): Công ty đổi tên thành Đoạn đường quản lý Đường
Bộ mở rộng thêm nhiều hoạt động kinh doanh như Vận tải hàng hóa bằng đườngbộ; kho bãi và lưu giữu hàng hóa; hoạt động dịch vụ trông coi các phương tiện giaothông Đường Bộ; cho thuê máy móc thiết bị xây dựng; bảo dưỡng, sửa chữa ô tô …
- Giai đoạn 3(1982- 6/2010): Theo Nghị định 56/CP của Chính phủ và theoquyết định số 2337/QĐ – UB – DMDN của UBND Thành phố Hải Phòng, Công ty
Trang 24đổi tên thành Công ty Đường Bộ Hải Phòng Với mục tiêu đổi mới cơ sở vật chất,
đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh công ty được Ủy ban thành phố tạo điều kiện
mở rộng thêm các chi nhánh như: Đội quản lý đường bộ số 1, đội quản lý đường bộ
số 2, đội quản lý đường bộ số 3, đội quản lý đường bộ số 4 Bến phà Lại Xuân, bếnphà Khuể, bến phà Dương Áo, bến phà Quang Thanh, cầu phao Hàn Xí nghiệp xebus, xí nghiệp cơ khí – công trình
Các chi nhánh trên góp phần tạo dựng thêm một số hoạt động kinh doanhmới có hiệu quả cho công ty như: Vận tải hành khách bằng đường thủy nội địa, vậntải hàng hóa đường thủy nội địa, vận tải hành khách bằng xe khách nội tỉnh, liêntỉnh; cho thuê ô tô, cho thuê phương tiện vận tải thủy; phá dỡ, chuẩn bị mặt bằng,san lấp mặt bằng; thiết kế các công trình giao thông đường bộ, cầu, hầm…
Đặc biệt: Giai đoạn 2004 - 2005: trên địa bàn thành phố có 2 tuyến xe buýt làtuyến buýt Cầu Rào- Dụ Nghĩa (2004) và Bến Bính - Ngã 3 An Tràng (2005) Đây
là 2 tuyến buýt do Nhà nước đầu tư phương tiện, trợ giá vé cho hành khách, giaocho doanh nghiệp Nhà nước, cụ thể là Công ty Đường bộ Hải Phòng tổ chức vàthực hiện
- Giai đoạn 4 (7/2010- tới nay): Công ty chuyển đổi sang loại hình công tytrách nhiệm hữu hạn một thành viên với tên gọi Công ty TNHH MTV Đường BộHải Phòng theo Quyết định số 1010/QĐ-UBND ngày 29/6/2010 của Ủy ban nhândân thành phố Hải Phòng, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0200171838ngày 02/07/2010 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng
Công ty tiếp tục duy trì, phát huy các ngành kinh doanh thế mạnh đồng thờitích cực bổ sung thêm các hoạt động như: Hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho vận tải; bánbuôn sắt thép, bán buôn xi măng, bán buôn gạch xây, ngói, đá, cát, sỏi bán buônkính xây dựng, bán buôn đồ ngũ kim; bán buôn xăng dầu và các sản phẩm có liênquan tại chi nhánh trạm cung ứng xăng dầu ở Kiến An…
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh
Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế của công ty,ngành nghề kinh doanh của công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng khá đa dạngvới tổng số 28 mã ngành được đăng ký Trong đó:
Ngành nghề sản xuất kinh doanh chính: Xây dựng nâng cấp, sửa chữa bảo trìcác công trình kỹ thuật dân dụng công nghiệp, giao thông; Vận tải hành khách công
Trang 25cộng bằng xe buýt, vận tải hàng hóa bắng đường bộ Vận tải hành khách, hàng hóađường thuỷ nội địa bằng phà và cầu phao.
Công ty không ngừng mở rộng, phát triển thêm các ngành nghề khác qua cácgiai đoạn nhất định như: Thiết kế kết cấu các công trình; hoạt động cho thuêphương tiện, máy móc, thiết bị; các dịch vụ hỗ trợ vận tải; san lấp mặt bằng; bánbuôn tre nứa, gỗ, sơn, vecni, khí đốt và các sản phẩm có liên quan…
Các chi nhánh hỗ trợ tích cực cho các ngành nghề kinh doanh của công ty:
- Các xí nghiệp: Xí nghiệp xe bus tại số 1 Cù Chính Lan, Minh Khai, HồngBàng, Hải Phòng Xí nghiệp cơ khí công trình tại xã Hồng Thái, huyện An Dương
- Các bến phà: Bến phà Lại Xuân ở Thủy Nguyên Bến phà Bính tại CùChính Lan, quận Hồng Bàng Bến phà Khuể tại huyện An Lão Bến phà Dương Áo
ở Tiên Lãng Bến phà Quang Thanh tại An Lão, hay cầu phao Hàn tại Vĩnh Bảo
- Các đội: Đội quản lý đường bộ số 1, 2, 3, 4 chủ yếu đặt tại số 133 đườngBạch Đằng, Hồng Bàng, Hải Phòng Trạm cung ứng xăng dầu được đặt tại Bắc Sơn,Kiến An, Hải Phòng
2.1.4 Cơ cấu tổ chức:
2.1.4.1 Bộ máy tổ chức quản lý
Công Ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng tổ chức bộ máy quản lý theo cơcấu trực tuyến: Ban giám đốc bao gồm 1 Tổng Giám đốc và 2 Phó Tổng Giámđốc Ngoài ra, có sáu phòng ban: Phòng Tổ chức – Hành chính, Kế toán - Tàichính, Kế hoạch – Kỹ thuật, Vật tư, Quản lý dự án, và Pháp chế - bảo vệ
Trang 26Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng
Chức năng của các phòng ban và mối quan hệ giữa các phòng ban:
- Tổng Giám đốc: Là đại diện pháp nhân của công ty, có quyền điều hành
cao nhất ở công ty Người đứng đầu chịu trách nhiệm trước Nhà nước về mọi hoạtđộng sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm trước tập thể lãnh đạo Công ty ( Đảng
bộ, các tổ chức đoàn thể) về kế hoạch, mục tiêu chiến lược sản xuất kinh doanh và
quá trình điều hành trong công ty Đồng thời, chịu trách nhiệm về công ăn việc làm,đời sống vật chất tinh thần và mọi quyền lợi hợp pháp khác cho cán bộ công nhân
viên trong Công ty
- Phó Tổng Giám đốc phụ trách khối phà: Tham mưu giúp đỡ Giám đốc chỉđạo hoạt động khối phà Có trách nhiệm kiểm tra đôn đốc, theo dõi các bến phà về
hoạt động đảm bảo giao thông, xem xét, trình duyệt các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để
giao kế hoạch cho các đơn vị khối phà
- Phó Giám đốc phụ trách khối cầu đường: Tham mưu giúp Giám đốc chỉđạo khối cầu đường Có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc, theo dõi giúp đỡ các độiđường và dựa trên các định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định để duyệt dựtoán, quyết toán các công trình thuộc khối cầu đường Đề xuất các tỷ lệ giao khoántrong quy chế giao thầu nội bộ thuộc khối cầu đường Chịu trách nhiệm trước Tổng
Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc
Phó Tổng giám đốc
toán-Phòng
Kế hoạch-
kỹ thuật
PhòngVật tư Quản lýPhòng
Dự án
PhòngPháp chế- bảo vệ
Phó Tổng giám
đốc
Trang 27Giám đốc về kỹ thuật của các công trình thuộc khối cầu đường, làm chủ tịch hộiđồng nghiệm thu các công trình thuộc khối cầu đường.
- Phòng Tổ chức hành chính: Công tác tổ chức cán bộ, quản trị hành chính,văn thư lưu trữ Tham mưu cho ban Giám đốc trong việc cân đối, sắp xếp cán bộcông nhân viên sao cho phù hợp, xây dựng và theo dõi tình hình thực hiện định mứclao động và trang bị bảo hộ lao động cho công nhân viên…
- Phòng Kế toán - tài chính: Tổ chức các hoạt động về kế toán tài chính vàcông tác kế toán theo pháp luật nhà nước, giúp giám đốc chỉ đạo công tác thống kê,phân tích hoạt động kinh doanh, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh do công tyquản lý có hiệu quả Tổ chức hạch toán các hoạt động sản xuất kinh doanh Lập kếhoạch thu chi tài chính tháng, quý, năm Tổ chức việc chỉ đạo phân tích hoạt độngkinh tế, tăng cường công tác tận thu, tiết kiệm chi phí, bảo toàn và phát triển vốn
- Phòng Kế hoạch - kỹ thuật: Tham mưu nhằm xây dựng kế hoạch hoạt độngngắn hạn và dài hạn của công ty, xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh mớinhằm mở rộng quy mô hoạt động của công ty, xây dựng kế hoạch đầu tư, sản xuấtđồng thời chỉ đạo thực hiện các kế hoạch đó Lập kế hoạch quý, năm trình lên cấptrên xét duyệt, lập kế hoạch tháng, quý để bàn giao cho các bộ phận trong công ty.Thường xuyên đôn đốc việc kiểm tra thực hiện kế hoạch Xây dựng, quản lý kếhoạch thi công, kế hoạch sản xuất và theo dõi tiến độ sản xuất, dự thảo của các hợpđồng kinh tế.Tìm kiếm nguồn hàng, xuất nhập hàng, vận chuyển hàng hóa đến cácchi nhánh, cửa hàng đại lý, hóa đơn chứng từ, hệ thống sổ sách, thống kê…Tổ chứctốt hoạt động Marketing để duy trì, tìm kiếm thị trường rộng hơn, đa dạng hóa hìnhthức dịch vụ thương mại, tăng hiệu quả kinh doanh
Phòng kỹ thuật: tổ chức, điều hành quản lý các hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty, điều tiết phân phối kế hoạch hoạt động sản xuất sao cho phù hợpvới tiến độ hoạt động sản xuất, giao hàng đúng thời hạn, kiểm tra chất lượng hoạtđộng của các phương tiện, máy móc sản xuất, có phương án sửa chữa nâng cấp chấtlượng phù hợp nâng cao hiệu quả sản xuất trong công ty
- Phòng vật tư: có chức năng cung cấp thông tin kinh tế, giá cả thị trường cácchủng loại vật tư nguyên vật liệu cho các phòng ban liên quan Mua sắm, cung cấpvật tư nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm, thi công các công trình Chịu tráchnhiệm trước HĐQT và Tổng giám đốc về mọi hoạt động của đơn vị Lập kế hoạch
Trang 28vật tư để cung ứng cho các đơn vị thi công và các bến phà theo đúng tiến độ Tổchức hệ thống kho tàng để bảo quản và cấp phát vật tư Xây dựng các định mức tiêuhao vật tư và kiểm tra tình hình sử dụng vật tư cho từng đối tượng.
- Phòng quản lý dự án: Chủ động trong công tác tiếp thị tìm kiếm công trình,lập hồ sơ đấu thầu các công trình, các dự án đảm bảo chính xác, kịp thời, giá cả hợp
lý có tính cạnh tranh, giành nhiều việc làm và hiệu quả kinh tế Quản lý các dự án
mà Nhà nước giao cho Tìm kiếm thêm các dự án khác nhằm mở rộng quy mô sảnxuất kinh doanh cho Công ty
- Phòng pháp chế - bảo vệ: Tham mưu cho Tổng giám đốc công ty về côngtác thanh tra, bảo vệ, khen thưởng, kỉ luật Thực hiện chức năng kiểm tra giám sátviệc thực hiện nội quy, quy chế của công ty Xây dựng các nội quy cho Công ty, tổchức hệ thống bảo vệ Công ty Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật…
2.1.4.2 Bộ máy kế toán
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu bộ máy kế toán của công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo phương thức tập trung Cácnhân viên kế toán phụ trách các phần hành cơ bản Mọi quyết định của phòng kếtoán phải được thông qua Trưởng phòng kế toán Tổ chức bộ máy kế toán phù hợpvới tổ chức bộ máy quản lý Hạch toán sản xuất kinh doanh không hạch toán riêng
KT thanh toán
KT doanh thu
Nhân viênThủ quỹ
Kt tiền mặt
Trang 29mà hạch toán 1 cấp Khi giám đốc lập dự án, kế hoạch… hàng năm phải có ý kiếnthẩm định của kế toán trưởng.
Chế độ kế toán áp dụng: Công ty áp dụng Chế độ Kế toán doanh nghiệp banhành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC 20/3/2006 đã được sửa đổi, bổ sung theoquy định tại Thông tư 244/2009/TT-BTC 31/12/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.Niên độ kế toán áp dụng bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm.Công ty áp dụng hình thức ghi sổ kế toán theo phương pháp Nhật ký chứng từ vàchứng từ ghi sổ, phương pháp hàng tồn kho là phương pháp kê khai thường xuyên
Chức năng của các và mối quan hệ của các bộ phận:
- Kế toán trưởng: Người đứng đầu phụ trách chung, điều hành mọi công việccủa phòng Kế toán- Tài chính Người tổ chức, kiểm tra công tác kế toán, các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh, ký duyệt các chứng từ và báo cáo trước khi trình lên TổngGiám đốc phê duyệt Đồng thời, phải theo dõi và đánh giá chất lượng của các nhânviên kế toán trong phòng; kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành các chế độ tài chính,chính sách của tất cả bộ phận trong quá trình kinh doanh, chỉ đạo thực hiện việcquyết toán quý, năm theo đúng chế độ Tham mưu cho Tổng giám đốc trong việc sửdụng và quản lý có hiệu quả nguồn vốn cũng như tài sản của Công ty Hàng năm lập
kế hoạch thu chi tài chính, xây dựng và bảo vệ mô hình hạch toán của đơn vị Trựctiếp tham gia đoàn kiểm tra tài chính các đơn vị cơ sở (khối phà, khối cầu đường,khối SX - KD) từ đó đề ra phương hướng giúp các đơn vị củng cố và tăng cườngcông tác quản lý tài chính
- Phó phòng kế toán: Kế toán tổng hợp, hàng tháng căn cứ vào các bảng kê,nhật ký, chứng từ và các bảng phân bổ (tiền lương, vật liệu, khấu hao TSCĐ) củacác bộ phận kế toán chi tiết để vào sổ Cái của Công ty Định kỳ cập nhật số tiền đãthanh toán, cấp phát theo từng công trình Theo dõi chi tiết các khoản nộp Ngânsách Căn cứ vào hóa đơn bán hàng để kết chuyển doanh thu, giá vốn, thuế và lợinhuận Hàng quý, làm báo cáo quyết toán tài chính theo biểu mẫu quy định của Nhànước để gửi các ngành có liên quan Hàng năm cùng trưởng phòng lập các kế hoạchthu chi, kế hoạch tín dụng
- Kế toán vật liệu, tiền lương: Hàng ngày căn cứ vào chứng từ nhập xuất vật
tư, kế toán vào sổ nhập để thanh toán cho cung ứng hoặc chuyển sang kế toán thuchi thanh toán và vào thẻ kho vật liệu Cuối tháng lên bảng kê Nhập – Xuất – Tồn
Trang 30vật tư trong tháng, lập bảng phân bổ vật tư cho từng đối tượng chi phí Định kỳ đốichiếu số liệu với thủ kho vật tư để lập báo cáo kiểm kê và kiến nghị xử lý sau kiểm
kê Căn cứ vào mức khấu hao của từng tài sản để tính khấu hao TSCĐ
Kế toán tiền lương: Cuối mỗi tháng nhận và kiểm tra bảng chấm công, bảngthanh toán lương của các đơn vị, vào sổ và lập bảng chi lương, ăn ca cho từng đơn
vị, phòng ban Hàng tháng quyết toán BHXH với cơ quan cấp trên theo quy định.Hàng ngày căn cứ vào phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập - xuất… để thanh toán công
nợ cho từng cá nhân trong đơn vị Cuối tháng lập Nhật ký chứng từ số 5,6 và Bảng
kê số dư chi tiết với người bán, người mua để nộp cho kế toán tổng hợp
- Kế toán thu chi: Hàng ngày nhận và kiểm tra tính chính xác, hợp lý hợp lệcủa chứng từ để ra phiếu thu, chi tiền mặt và tiền gửi ngân hàng; theo dõi các khoảnchi phí phát sinh, tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước Làm nhật ký
và bảng kê số 1, 2, cuối tháng nộp cho kế toán tổng hợp
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành: Căn cứ vào các chứng từban đầu như: phiếu chi, phiếu xuất kho, bảng phân bổ lương, bảng phân bổ khấuhao để vào sổ tập hợp chi phí cho các đơn vị cơ sở và lập giá thành thực tế, xác địnhkết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ của cả công ty
- Kế toán thanh toán và công nợ: Theo dõi tình hình thanh toán của công tyđối với khách hàng và tình hình thu hổi nợ của công ty đối với các hợp đồng
- Thủ quỹ: Bảo quản quỹ tiền mặt, theo dõi tình hình biến động của tiền mặt,thực hiện thu, chi khi có đủ thủ tục giấy tờ theo quy định Căn cứ vào phiếu thu, chi
để vào sổ quỹ, cuối tháng đối chiếu với kế toán tiền mặt để làm báo cáo quỹ
2.1.5 Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của công ty giai đoạn 2012 – 2014
(Đơn vị tính: VND)
1 Doanh thu BH & CCDV 36.152.076.888 39.415.883.919 29.705.896.534
2 Lợi nhuận trước thuế 278.921.350 359.945.650 260.342.734
Trang 31- Trong giai đoạn này, doanh thu của công ty nhìn chung có xu hướng giảm
và chứa đựng khá nhiều biến động Năm 2013, doanh thu của Công ty TNHH MTVĐường Bộ Hải Phòng đạt 39,42 tỷ đồng, tăng khoảng 3,27 tỷ đồng tương ứng tốc độtăng 9,05% so với năm 2012 Năm 2014, con số này đã giảm nhanh xuống tới 29,71
tỷ đồng, tương ứng tốc độ giảm là 24,63% Qua đó ta thấy được hoạt động kinhdoanh của công ty trong năm 2014 không hiệu quả bằng những năm trước, do trongkhoảng thời gian này nền kinh tế nước ta vẫn chịu tác động của cuộc khủng hoảngkinh tế chung trên toàn thế giới
Công ty cần nỗ lực sản xuất đồng thời tìm kiếm những đối tượng khách hàngmới, ký kết các hợp đồng thương mại, để có thể vượt lên thực trạng khó khăn củanền kinh tế nói chung và của ngành xây dựng – vận tải nói riêng
- Một yếu tố khác phản ánh rõ nét về tình hình kinh tế của công ty chính làlợi nhuận sau thuế Năm 2012, lợi nhuận sau thuế của công ty đạt 230,61 triệu đồng.Tuy nhiên đến năm 2013, chỉ tiêu này đạt mốc 295,32 triệu đồng, tăng 28.06% sovới năm 2012 do công ty nhận được nhiều công trình mới làm doanh thu của hoạtđộng thi công, sửa chữa tăng lên Sang năm 2014 lợi nhuận sau thuế có xu hướnggiảm xuống còn 195,26 triệu đồng, tương ứng với tốc độ giảm là 33,88% so vớinăm 2013,chứng tỏ công ty sử dụng các nguồn lực trong năm 2014 chưa hiệu quả
Sự thay đổi của doanh thu và lợi nhuận của công ty trong giai đoạn trên cónhiều biến động như thế là do sự bất ổn của nền kinh tế trong nước và quốc tế, trong
đó ngành xây dựng vận tải là một trong những ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp Trênthực tế, do tốc độ tăng của chi phí lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu, vì thế đã làmcho lợi nhuận của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng chiếm tỷ trọngkhông nhiều Đây là biểu hiện của việc sử dụng chi phí chưa hợp lý, công ty cònlãng phí những khoản không cần thiết
- Các khoản nộp ngân sách của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòngtrong giai đoạn 2012 – 2014 ngày càng gia tăng, mức độ đóng góp của doanhnghiệp này ngày càng lớn, góp phần tăng thu ngân sách cho Nhà nước Năm 2012,công ty nộp vào ngân sách chỉ khoảng 48,31 triệu đồng nhưng đến năm 2013, khoảnnày tăng 33,76% tức tăng thêm khoảng 16,31 triệu đồng Sự gia tăng này khá nhanh
và mạnh, phần nào cho thấy được các hoạt động của công ty năm 2013 được đẩy
Trang 32mạnh hơn Tuy nhiên đến năm 2014, mức độ đóng góp của công ty chỉ tăng nhẹ lênđến 65,09 triệu đồng, với tốc độ tăng rất nhỏ là 0,73%
Các khoản nộp vào ngân sách gia tăng là do qua các năm công ty đều làm ăn
có lãi và phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Bên cạnh đó là do các khoản thuếgiá trị gia tăng mà công ty phải nộp cũng tăng nhanh Tuy nhiên,có thể thấy tới năm
2014 vì doanh thu và lợi nhuận của công ty đều có chiều hướng giảm nên thuế phảinộp của công ty cũng chỉ biến động tăng nhẹ
- Số lượng lao động của công ty giai đoạn 2012 – 2014 có xu hướng tăngdần: Năm 2012, con số này là 320 cán bộ, công nhân viên Đến năm 2013, số lượnglao động của toàn công ty tăng không đáng kể lên 322 Sang năm 2014, con số nàytiếp tục tăng nhẹ 4%, lên tới tới 335 người Điều đó cho thấy dù trong bối cảnh khókhăn chung nhưng công ty đã nỗ lực nghiên cứu, đưa ra các chính sách phù hợp,giúp cho vị thế của công ty được duy trì trên thì trường và đời sống của cán bộ côngnhân viên trong công ty được đảm bảo
Như vậy, mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhiều biến động nhưngCông ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng vẫn đảm bảo duy trì hoạt động sản xuấtkinh doanh một cách bình thường, đảm bảo ổn định kinh tế cho cán bộ công nhânviên, đồng thời nêu cao tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân công ty vớiNhà nước
2.2 Thực trạng năng lực tài chính của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2014.
2.2.1 Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2014.
Để đánh giá thực trạng tình hình tài chính của Công ty TNHH MTV Đường
Bộ Hải Phòng, trước hết ta đi phân tích chi tiết về cơ cấu tài sản của công ty xem cơcấu đó có phù hợp với mô hình sản xuất kinh doanh hay không
2.2.1.1 Phân tích cơ cấu tài sản của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng giai đoạn 2012– 2014.
Trang 33Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tài sản của công ty
Tổng tài sản của công ty năm 2012 đạt khoảng 32,24 tỷ đồng Đến năm
2013, con số này giảm khoảng 14,8 tỷ đồng tương ứng với tốc độ giảm 45,92% sovới năm 2012 Điều này cho thấy, công ty có sự thu hẹp về quy mô kinh doanhnhằm bảo toàn vốn khi các hoạt động đẩu tư và kinh doanh của công ty chưa hiệuquả Bước sang năm 2014, tổng tài sản của Công ty TNHH MTV Đường Bộ HảiPhòng lại tăng từ 17,44 tỷ đồng lên 25,35 tỷ đồng, tức tăng khoảng 7,92 tỷ đồngtương ứng với tốc độ tăng 45,42% so với năm 2013 Qua đó, ta thấy xu hướng biếnđộng của tài sản trong công ty đã theo chiều hướng tốt hơn, quy mô kinh doanh củacông ty phần nào được mở rộng trở lại Nhìn chung trong giai đoạn 2012 – 2014,trước những biến động do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, Công ty NHHMTV Đường Bộ Hải Phòng đã cố gắng điều chỉnh quy mô sản xuất kinh doanh theochiều hướng tích cực, phù hợp nhằm đảm bảo vị trí của mình trên thị trường
Tài sản của công ty biến động như trên là do sự thay đổi của cả tài sản ngắnhạn và tài sản dài hạn, trong đó sự biến động về tài sản ngắn hạn là nhân tố ảnhhưởng quyết định Cụ thể:
Năm 2012, tài sản ngắn hạn của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòngđạt 18,01 tỷ đồng chiếm 55,87% tổng tài sản Đến năm 2013, chỉ tiêu này giảm khámạnh về mặt số lượng xuống còn 5,72 tỷ đồng, tức giảm 12,29 tỷ đồng tương ứngvới tốc độ giảm là 68,21% so với năm 2012; tài sản dài hạn của công ty tuy có tăng
Trang 34về mặt tỷ trọng từ 44,13% lên 67,17% nhưng về mặt số lượng cũng bị giảm từ14,23 tỷ đồng xuống còn 11,71 tỷ đồng Do đó đã góp phần làm cho tổng tài sảncủa công ty năm 2013 giảm từ 32,24 tỷ đồng xuống còn 17,44 tỷ đồng Sang năm
2014, tài sản dài hạn của công ty lại giảm về mặt tỷ trọng và tăng nhẹ về mặt sốlượng, tuy nhiên tốc độ tăng của tài sản dài hạn chỉ là 7,24% tương ứng với 848triệu đồng, nhỏ hơn nhiều so với tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn là 123,51% tươngứng 7,07 tỷ đồng nên đã làm cho tổng tài sản của công ty năm 2014 tăng nhanh mộtlượng là 7,92 tỷ đồng tương ứng với tốc độ tăng 45,42% Như vậy, sự biến độngcủa tổng tài sản trong Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng là do sự thay đổicủa cả tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn gây ra, trong đó tài sản ngắn hạn biếnđộng mạnh là nhân tố quyết định sự thay đổi nhanh của tổng tài sản trong công ty.Ngoài ra, có thể thấy trong cơ cấu tài sản của công ty qua các năm, tỷ trọng của tàisản ngắn hạn chủ yếu lớn hơn tài sản dài hạn, chứng tỏ hoạt động đầu tư của công typhần lớn diễn ra trong ngắn hạn
Bảng số liệu trên còn cho ta biết trong giai đoạn 2012 – 2014, tài sản ngắn hạncủa công ty có nhiều biến động mạnh là do sự thay đổi của tiền và tương đươngtiền, hàng tồn kho, các khoản phải thu ngắn hạn
Năm 2012, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản ngắn hạn là các khoản phảithu với 13,15 tỷ đồng tương ứng 73,03%, tiếp đến là sự đóng góp của hàng tồn khovới 14,98%, tiền và tương đương tiền với 10,50% Điều này cho thấy tình trạng tàichính của công ty còn bất cập, các khoản phải thu ngắn hạn của công ty chiếm tỷtrọng quá cao chứng tỏ vốn của công ty bị các đối tượng khác chiếm dụng đang ởmức độ cao, công ty chưa xây dựng được chính sách tín dụng thương mại hợp lý.Hay hàng tồn kho cũng khá nhiều, phản ánh mức độ tiêu thụ hàng hóa của công tycòn thấp, công tác dự trữ chưa hợp lý làm cho vốn bị ứ đọng và lãng phí Đến năm
2013, các khoản phải thu ngắn hạn của công ty đã giảm mạnh 79,24% xuống còn2,73 tỷ đồng, chiếm 47,71% tài sản ngắn hạn, nhưng tỷ trọng này vẫn còn cao,chứng tỏ việc thu hồi công nợ của công ty đã có chiều hướng tốt dần lên Hơn nữa,hàng tồn kho của công ty cũng giảm từ 2,7 tỷ đồng vào năm 2012 xuống 1,7 tỷđồng vào năm 2013, công ty đang có những bước đi nhất định nhằm xúc tiến côngtác tiêu thụ hàng hóa Bước sang năm 2014, tiền và tương đương tiền của công tytăng lên một cách mạnh mẽ từ 966,59 triệu đồng đến 8,36 tỷ đồng, do phải thu ngắn
Trang 35hạn giảm xuống và lưu chuyển tiền thuần trong kỳ thặng dư, tuy hiên khi công ty dựtrữ quá nhiều tiền sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của mình Như đã nêu,các khoản phải thu ngắn hạn của công ty giảm khoảng 480 triệu đồng, tương ứngvới tốc độ giảm 17,57% Điều này cho thấy công tác thu hồi nợ của công ty tiếp tục
có hiệu quả, góp phần làm tăng lượng tiền dự trữ và gia tăng tài trợ cho hàng tồnkho của công ty Bên cạnh đó, hàng tồn kho của công ty có xu hướng tăng nhẹ, cụthể tăng 246,19 triệu đồng, tương ứng tốc độ tăng 14,48%, do một số nguyên vậtliệu, công cụ dụng cụ được tăng cường dự trữ Tuy nhiên khi so sánh với giá vốnhàng bán thì tốc độ tăng của hàng tồn kho lại lớn hơn, cho thấy vòng quay hàng tồnkho bị giảm, tốc độ lưu chuyển chậm Nhưng so với tốc độ tăng của tổng tài sản(45,42%) thì có thể thấy lượng vốn bị ứ đọng này trong hàng tồn kho vẫn thuộc tầmkiểm soát của công ty
Qua đó, ta có thể thấy Ban lãnh đạo của Công ty TNHH MTV Đường Bộ HảiPhòng đã và đang cố gắng đưa ra những đối sách hợp lý để giải quyết vấn nạn vềhàng tồn kho và thu hồi các nguồn vốn mà công ty bị chiếm dụng Bởi khi hàng tồnkho của công ty mà tăng cao, hoặc các khoản phải thu chiếm tỷ trọng quá lớn sẽ làmcho chi phí của công ty gia tăng bởi phát sinh chi phí quản lý, thu hồi công nợ; cácchi phí lưu kho bãi cho sản phẩm dở dang, hay nguyên vật liệu chờ để đưa vào chohoạt động sản xuất kinh doanh
Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2012 – 2014, tài sản dài hạn của Công tyTNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng có chiều hướng biến động khá tương tự với tàisản ngắn hạn Năm 2012, tài sản dài hạn của công ty đạt 14,23 tỷ đồng, chiếm44,13% thì đến năm 2013, con số này giảm xuống còn 11,71 tỷ đồng tức giảm17,69% Sang năm 2014, chỉ tiêu này lại tăng nhẹ, tốc độ tăng chỉ đạt 7,24% Sựbiến động này của tài sản dài hạn của công ty cơ bản là do sự thay đổi của tài sản cốđịnh Tài sản cố định của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng năm 2012 là13,4 tỷ đồng, chiếm 93,90% tài sản dài hạn Đến năm 2013, lượng tài sản cố địnhtrong công ty giảm khoảng 18,84% xuống còn 10,84 tỷ đồng và chiếm 92,59%trong tài sản dài hạn Trong đó nguyên giá tài sản cố định không đổi, chứng tỏ tàisản cố định của Công ty giảm là do công ty đã mua sắm và đầu tư các máy móc,thiết bị từ những năm trước Đến giai đoạn này, lượng tài sản cố định đó được khấuhao trong khi công ty không đầu tư, mua sắm thêm, điều này phản ánh công ty đang
Trang 36thực hiện chính sách thu hồi vốn từ việc thu khấu hao máy móc, thiết bị Tới năm
2014, tài sản cố định của công ty tăng lên đến 11,59 tỷ đồng chiếm 92,27% tổng tàisản dài hạn, cụ thể nguyên giá tài sản cố định tăng 2,03 tỷ tương ứng với 5,2%, chothấy công ty đã tăng cường đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật như phương tiện vậntải, vật kiến trúc, thiết bị dụng cụ quản lý để tăng năng lực sản xuất kinh doanhtrong năm cho công ty
Ngoài ra, khoản đầu tư dài hạn của công ty không có thay đổi là khoản tiềngóp vốn vào công ty Cổ phần xây dựng Công trình Đường Bộ Hải Phòng với86.824 cổ phiếu, chiếm 20% vốn điều lệ Sự không thay đổi này của đầu tư tài chínhdài hạn của công ty qua các năm cho thấy hoạt kinh doanh chính của công ty chưahiệu quả nên công ty chưa có chiến lược đầu tư hướng ra ngoài để tìm kiếm lợinhuận khác…
Như vậy, qua bảng và biểu đồ phân tích cơ cấu tài sản của Công ty TNHHMTV Đường Bộ Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2014, ta thấy cơ cấu tài sản của công
ty là chưa hợp lý bởi tài sản chủ yếu là đầu tư trong ngắn hạn trong khi đặc điểmkinh doanh là trong dài hạn, xây dựng nâng cấp, sửa chữa bảo trì các công trình kỹthuật dân dụng công nghiệp, giao thông Công tác tiêu thụ hàng tồn kho còn chậm,chính sách bán chịu chưa hợp lý dẫn đến các khoản phải thu chiếm tỷ trọng caotrong năm 2012, 2013 nhưng cũng đã được cải thiện trong năm 2014, tuy nhiênlượng tiền dự trữ của công ty qua các năm là quá lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năngsinh lợi…Tất cả phản ánh tình hình tài chính còn thiếu lành mạnh, hay là năng lựctài chính của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng còn nhiều hạn chế
2.2.1.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2014.
Để đánh giá chính xác thực trạng tình hình tài chính doanh nghiệp, ta đi phântích cơ cấu nguồn vốn của công ty Qua đó sẽ nắm rõ chính sách sử dụng và huyđộng vốn của công ty
Phân tích bảng 2.2 và biểu đồ 2.2 về cơ cấu nguồn vốn của công ty TNHHMTV Đường Bộ Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2014 , ta sẽ làm rõ được vấn đề này
Trang 37Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nguồn vốn của công ty
giai đoạn 2012 - 2014
Vốn chủ s ở hữu
Nợ phả i trả
Tổng nguồn vốn của Công ty TNHH MTV Đường Bộ Hải Phòng giai đoạn
2012 – 2014 có nhiều biến động Nếu trong năm 2013, nguồn vốn của công ty giảmmạnh từ 32,24 tỷ đồng xuống 17,44 tỷ đồng thì sang tới năm 2014, nguồn vốn đượctăng khá nhanh trở lại với tốc độ tăng là 45,42%, đạt 25,35 tỷ đồng Tuy vậy, có thểthấy trong các năm nguồn vốn của công ty luôn đủ để đảm bảo cho quá trình sản xuấtkinh doanh
Tổng vốn của công ty biến động là do sự thay đổi của nợ phải trả và nguồn vốnchủ sở hữu Trong đó, sự thay đổi của vốn chủ sở hữu là nguyên nhân chính dẫn đến sựbiến động của tổng nguồn vốn trong giai đoạn này Cụ thể:
Nợ phải trả của công ty năm 2012 đạt khoảng 7,78 tỷ đồng, chiếm 24,13% cơcấu nguồn vốn Đến năm 2013, con số này tăng lên tới 9,77 đồng, chiếm 56,05%tổng vốn của công ty Nợ phải trả của công ty năm 2013 tăng lên cơ bản là do sự giatăng của nợ ngắn hạn từ 7,10 tỷ đồng lên 9,15 tỷ đồng Trong đó, toàn bộ là vốn đichiếm dụng: Phải trả người bán tăng khá nhanh từ 2,83 tỷ đồng lên 4,46 tỷ đồng,tương ứng tốc độ tăng là 57,99%, các khoản thuế phải nộp nhà nước cũng tăng từ329,75 triệu đồng lên tới 655,31 triệu đồng, hay phải trả người lao động tăng nhẹ từ741,32 triệu đồng lên 846,24 triệu đồng; chi phí phải trả từ 431,71 triệu đồng lên990,59 triệu đồng, trong khi đó, chỉ có người mua trả tiền trước và quỹ khen thưởngphúc lợi giảm xuống với tốc độ giảm nhỏ hơn nhiều so với tốc độ tăng của các chỉtiêu trên Do đó làm cho nợ ngắn hạn của công ty gia tăng mạnh mẽ Điều đó chothấy, công ty đang đi chiếm dụng vốn của người bán và của Nhà nước khá nhiều,
Trang 38chưa thực hiên tốt nghĩa vụ thanh toán của mình Sang tới năm 2014, nợ phải trảtiếp tục có xu hướng tăng, cụ thể tăng khoảng 3,58 tỷ đồng tương ứng 36,64%.Nguyên nhân chính làm tăng nợ của công ty vẫn là do gia tăng nợ ngắn hạn, công tyvẫn ưu tiên huy động nợ trong ngắn hạn thể hiện ở tỷ trọng của nợ ngắn hạn củacông ty chiếm rất cao (95,43%) Mặt khác, vay và nợ ngắn hạn của công ty là không
có, công ty tiếp tục duy trì các khoản vốn đi chiếm dụng như: Thuế phải nộp, ngườimua trả trước, phải trả người lao động hay chi phí phải trả đều tăng lên với nhữngtốc độ tăng khá cao, 83,27% của phải trả người lao động, 22,07% của thuế phải nộp
và đặc biệt là 189,13% của chi phí phải trả…
Ưu điểm của việc nợ ngắn hạn của công ty đều là vốn chiếm dụng là chi phítài chính không có, đòn bẩy tài chính dương nhưng cũng có hạn chế như: khi chậmtrả lương cho người lao động thì dễ làm nảy sinh vấn đề đình công, nghỉ việc, ảnhhưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của công ty, hay nếu phải trả người bánduy trì trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng tới uy tín của công ty…
Nợ dài hạn của công ty trong các năm 2012 – 2014 luôn chiếm tỷ trọng rất nhỏ(lần lượt là 8,71%, 6,39%, 4,57%) và chủ yếu chỉ có phải trả dài hạn khác
Vì thế công ty không phải chịu áp lực thanh toán của nợ nhưng không có điều kiện
sử dụng ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính
Bên cạnh đó, nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty TNHH MTV Đường BộHải Phòng năm 2012 là 24,46 tỷ đồng, chiếm 75,87% tổng nguồn vốn Đến năm
2013, chỉ tiêu này giảm đột ngột xuống 7,66 tỷ đồng, tức giảm tới 68,67% so vớinăm 2012 Sự thay đổi này là do nguồn kinh phí và quỹ khác của công ty phát sinhquá lớn, chi phí phải bỏ ra quá nhiều khiến cho chỉ tiêu này bị âm Tuy nhiên, vấn
đề này đã được cải thiện đáng kể trong năm 2014, vốn chủ sở hữu của công ty đãtăng khá nhanh trở lại, từ 7,66 tỷ đồng lên tới khoảng 12 tỷ đồng, tức tăng 4,34 tỷđồng tương ứng với tốc độ tăng 56,62% Có sự thay đổi này chủ yếu là do vốn đầu
tư của chủ sở hữu trong công ty được tăng thêm 3,34 tỷ đồng, cho thấy các chủ sởhữu tiếp tục đầu tư thêm vốn, tạo nguồn lực để bù đắp và duy trì hoạt động kinhdoanh của công ty Mặt khác, khoản lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của công tytrong năm 2013 tuy có tăng nhẹ (28,58%) nhưng tới năm 2014 đã bị giảm nhiều(69,31%), chứng tỏ hoạt động kinh doanh của công ty chưa có hiệu quả, cần phảitìm cách khắc phục trong thời gian tới