1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH vụ NHẬP KHẨU ô tô đã QUA sử DỤNG tại CÔNG TY TNHH HIỆP hòa

35 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 250 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ của khoa học: - Thu thập, mô tả, phân tích, tổng hợp và giải thích các sự kiện - Phát hiện các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội, tư duy và nhận thức - Hệ thống hóa các kiế

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Các thành tựu khoa học và công nghệ ngày càng xuất hiện một cách hết sứcnhanh chóng và được đổi mới liên tục Ngày nay, nghiên cứu khoa học là mộttrong những hoạt động có tốc độ phát triển nhanh nhất thời đại Bộ máy nghiên cứukhoa học đã trở thành khổng lồ, nó đang nghiên cứu tất cả các góc cạnh của thếgiới Các thành tựu nghiên cứu khoa học đã được ứng dụng vào mọi lĩnh vực củacuộc sống Khoa học đã làm đảo lộn nhiều quan niệm truyền thống, nó làm cho sứcsản xuất xã hội tăng lên hàng trăm lần so với vài thập niên gần đây Về phần mình,bản thân khoa học càng cần được nghiên cứu một cách khoa học Một mặt, phảitổng kết thực tiễn nghiên cứu khoa học để khái quát những lý thuyết về quá trìnhsáng tạo khoa học; mặt khác, phải tìm ra được các biện pháp tổ chức,quản lý vànghiên cứu khoa học tốt hơn làm cho bộ máy khoa học vốn đã mạnh, lại phát triểnmạnh hơn và đi đúng quỹ đạo hơn

Sự phát triển của khoa học hiện đại không những đem lại cho con ngườinhững hiểu biết sâu sắc về thế giới, mà còn đem lại cho con người cả những hiểubiết về phương pháp nhận thức thế giới Chính vì vậy mà phương pháp và phươngpháp luận nghiên cứu khoa học đã gắn liền với hoạt động có ý thức của con người,

là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động nhận thức vàcải tạo thế giới Và cũng chính vì vậy mà hiện nay việc nghiên cứu phương pháp

và phương pháp luận nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên cần thiết nhằm giúpcho công tác nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả hơn, phát triển mạnh mẽ hơn

Trang 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC VÀ

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1.1 Khái niệm và phân loại khoa học

1.1.1 Khái niệm

Khái niệm “khoa học” có một vài nghĩa chính Thứ nhất, khoa học đượchiểu là phạm vi hoạt động của con người hướng tới việc phát triển và hệ thống hóanhững kiến thức mới về thiên nhiên, xã hội, tư duy và nhận thức thế giới xungquanh Thứ hai khoa học biểu hiện kết quả hoạt động này – là một hệ thống cáckiến thức khoa học thu được Thứ ba khoa học được hiểu là một trong những hìnhthức của ý thức xã hội, tổ chức xã hội Ở nghĩa thứ ba khoa học là một hệ thốngcác mối quan hệ giữa các cơ quan khoa học và các thành viên của hội khoa học,cũng như bao gồm cả hệ thống thông tin khoa học, các tiêu chuẩn và giá trị khoahọc…

Mục đích trực tiếp của khoa học là thu nhận kiến thức về thế giới kháchquan và chủ quan, hiểu biết sự thật khách quan

Nhiệm vụ của khoa học:

- Thu thập, mô tả, phân tích, tổng hợp và giải thích các sự kiện

- Phát hiện các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội, tư duy và nhận thức

- Hệ thống hóa các kiến thức thu được

- Giải thích bản chất của các hiện tượng và các quá trình

- Dự báo các biến cố, các hiện tượng và các quá trình

- Xác lập các hướng và hình thức sử dụng các kiến thức thu được

Trang 3

1.1.2 Phân loại khoa học

Cách phân loại khoa học của Ph.Ăng-ghen đưa ra trong tác phẩm “phép biệnchứng của tự nhiên” là cách phân loại nổi tiếng nhất Xuất phát từ sự phát triển củavật chất vận động từ thấp đến cao, ông đã nhìn nhận ra khoa học cơ học, khoa họcvật lý, hóa học, sinh học, các khoa học xã hội

Trên nguyên tắc về sự lệ thuộc của hình thức vận động của vật chất mà cáchphân loại khoa học của B.M Kedrov cũng dựa vào đó Ông phân biệt sáu hìnhthức vận động chủ yếu của vật chất: vật lý, hóa học nguyên tử, địa chất, sinh học

và xã hội

Hiện nay, tùy thuộc vào phạm vi, đối tượng và phương pháp nhận thứcngười ta phân biệt các khoa học sau:

1, về tự nhiên – là khoa học tự nhiên

2, về xã hội – là khoa học xã hội nhân văn

3, về tư duy và nhận thức – là logic, nhận thức và nhận thức luận

Trong cách phân loại các hưởng và chuyên ngành của giáo dục chuyênnghiệp cao cấp có danh mục các chương trình thạc sĩ (chuyên môn hóa) được hộiđồng khoa học về phương pháp luận xây dựng - đó là những bộ phận của quản lýđào tạo thạc sĩ theo các hướng đào tạo, người ta phân biệt thành:

1) Khoa học tự nhiên và toán học (cơ học, vật lý, hóa học, sinh học, khoa họcđất, địa lý, khí tượng thủy văn, địa chất, sinh thái học );

2) Khoa học xã hội và kinh tế - xã hội (văn hóa học, thần học, ngữ văn, triếthọc, ngôn ngữ học, báo chí, điện ảnh, lịch sử, chính trị, tâm lý học, công tác xã hội,

xã hội học, nghiên cứu vùng, quản lý, kinh tế, nghệ thuật, văn hóa thể thao, thương

Trang 4

mại, kinh tế nông nghiệp, thống kê, nghệ thuật, pháp luật );

3) Khoa học kỹ thuật (xây dựng, xuất bản, viễn thông, luyện kim, khai mỏ,điện tử và vi điện tử, trắc địa, kỹ thuật vô tuyến, kiến trúc );

4) Khoa học nông nghiệp (nông học, chăn nuôi, thú ý, kỹ thuật nông nghiệp,lâm nghiệp, thủy sản )

Xin lưu ý rằng, trong cách phân loại như vậy các khoa học nông nghiệp vàkhoa học kỹ thuật được phân biệt thành nhóm riêng, còn toán học lại không phải làkhoa học tự nhiên

Có một số nhà khoa học không coi triết học là khoa học hoặc đặt nó nganghàng với khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội Điều này đượcgiải thích rằng nó được xem như thế giới quan, sự hiểu biết về thế giới nói chung,phương pháp luận nhận thức hoặc như một khoa học của mọi khoa học Triết học,theo ý kiến của họ, không nhằm mục đích thu thập, phân tích và tổng hợp các sựkiện, phát hiện các quy luật vận động của thực tại, nó chỉ sử dụng những thành quảcủa các khoa học cụ thể

Gác lại những lập luận về mối quan hệ giữa triết học và khoa học, chúng tahãy lưu ý rằng triết học luôn luôn là khoa học, có đối tượng và phương phápnghiên cứu của riêng mình về các quy luật chung và đặc tính của toàn bộ thế giớivật chất khách quan vô cùng vô tận trong không gian và thời gian

Trong danh mục các chuyên ngành của các cán bộ khoa học được phê duyệtbởi bộ khóa học và công nghệ Nga ngày 25 tháng 01 năm 2000, đã chỉ ra nhữnglĩnh vực khoa học sau đây: toán lý, hóa học, sinh học, địa chất - khoáng học, kỹthuật, nông nghiệp, lịch sử, kinh tế, triết học, ngôn ngữ học, địa lý, luật, sư phạm, yhọc, dược học, thú y, nghệ thuật, kiến trúc, tâm lý, xã hội, chính trị, văn hóa vàkhoa học về trái đất

Mỗi một nhóm khoa học có tên gọi như trên có thể được phân chia tiếp theo

Ví dụ như, khoa học pháp lý nghiên cứu các hiện tượng nhà nước còn được phân

Trang 5

chia thành những nhóm sau:

1) Lịch sử (lịch sử của nhà nước và pháp luật của nước mình, lịch sử nhànước và pháp luật của nước ngoài, lịch sử của các học thuyết chính trị và phápluật);

2) Ngành luật (hiến pháp, luật nhà nước, luật dân sự, luật hành chính, luật laođộng, luật binh, luật quoc tế );

3) Luật thực dụng ( )

Qua các nhóm tên gọi của khoa học V.M Xưri đã nhìn nhận thêm nhữngkhoa học nghiên cứu nhà nước và pháp luật của nước ngoài, cũng như việc điềuchỉnh pháp luật các mỗi quan hệ (luật quốc gia của nước ngoài, luật quốc tế ).Một số tác giả gộp lý thuyết nhà nước và pháp luật vào nhóm khoa học lịch sử

- lý thuyết Rõ ràng là lý thuyết nhà nước và pháp luật cần phải được xếp vào vị tríđặc biệt trong tập hợp các khoa học pháp lý Theo quan hệ với những khoa họcpháp lý khác nó thể hiện như một khoa học tổng quát và thực hiện chức năng vàphương pháp luận

Tồn tại nhiều cách phân loại khác về khoa học Ví dụ, tùy thuộc vào quan hệvới khoa học ứng dụng, người ta chia thành khoa học nền tảng (lý thuyết) làm rõnhững quy luật cơ bản của thế giới khách quan và không trực tiếp hướng tới thựctiễn, và khoa học ứng dụng hướng vào giải quyết các vấn đề kỹ thuật, sản xuất, xãhội

Cách phân loại đặc biệt về khoa học đã được L.G Djakhai đề xuất Sau khiphân chia khoa học tự nhiên, xã hội và nhận thức thành khoa học lý thuyết và ứngdụng, ông phân biệt, trong cách phân loại này, triết học, các khoa học cơ bản vàkhoa học riêng được tách ra từ chúng Ví dụ, trong khoa học lý thuyết cơ bản về xãhội ông còn đưa thêm vào cả lịch sử, chính trị, pháp quyền, thần học, nghệ thuật,ngôn ngữ Các khoa học này đều có sự phân chia cụ thể hơn, ví dụ, lịch sử đượcchia thành nhân trắc học, nhân chủng học và lịch sử thế giới Khái niệm nhà nước

Trang 6

giống như một khoa học ứng dụng cơ bản còn được cập nhật thêm chính trị, quản

lý, sản xuất, tội phạm học, quân sự, lưu trữ Ngoài ra, ông còn cho cách phân loạikhoa học gọi là “ghép nối”:

khoa học trung gian nảy sinh trên biên giới của hai khoa học gần nhau (ví dụ,logic toán, hóa học vật lý);

khoa học liên hợp được hình thành bằng cách liên kết các nguyên lý vàphương pháp của hai khoa học xa nhau (ví dụ, vật lý địa cầu, địa lý kinh tế);

khoa học tập hợp được hình thành bằng cách hên hợp hàng loạt các khoa học

lý thuyết (ví dụ, hải dương học, thủy sinh học, khoa học nhập môn)

Trong tuyển tập thống kê thường người ta phân chia các lĩnh vực khoa họcsau đây: hàn lâm, ngành, đại học và công xưởng

1.1.3 Những vấn đề chung về nghiên cứu khoa học

Các nghiên cứu khoa học bao gồm các quá trình như sau: lựa chọn đề tài, tìmkiếm thông tin và tim kiếm khoa học, áp dụng Quá trình trung tâm - đó là việc tìmkiếm khoa học - là hoạt động trí tuệ Vì vậy việc nghiên cứu các cơ sở của nghiêncứu khoa học nên bắt đầu từ những phương pháp luận macxit- lêninit (các nguyên

lý nghiên cứu khoa học) và vai trò của trí tuệ trong nhận thức

Việc bảo đảm cho nghiên cứu khoa học bởi một cơ sở phương pháp luận thựcthụ - là sự cần thiết khách quan, vì không một khoa học nào có thể tồn tại màkhông sử dụng phép tổng quát khoa học, các quy luật, các phạm trù, các nguyên lýtriết học phản ánh các quy luật chung của tồn tại và nhận thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng xây dựng các quy luật phổ biến của nhận thức;

là lý thuyết triết học tổng hợp phát triển thế giới (trong đó có khoa học nhận thức);thể hiện như là “kết quả, tập hợp, kết luận của lịch sử nhận thức thế giới”; xác địnhcác nguyên lý của thế giới quan nhận thức, còn đối với khoa học nó đóng vai trò làphương pháp và lý thuyết cho phép thiết lập một thế giới quan khoa học thốngnhất

Trang 7

Phương pháp luận khoa học đặc trưng cho bản chất của nghiên cứu khoa học

và logic phát triển của khoa học; xác định các giai đoạn thu thập và xử lý các thôngtin khoa học cần thiết; giúp lựa chọn các phương pháp; làm rõ tính quy luật củanghiên cứu tài liệu thực tế; bảo đảm kiểm tra các kết quả; xác định sự áp dụng củakiến thức khoa học nhận được trong quá trình hoạt động sáng tạo

Hoạt động khoa học đồng nghĩa với lao động sáng tạo với cường độ cao Vìvậy, cần phải làm quen với những nguyên tắc tổ chức của nó, xem xét trước địnhhướng hợp lý, kiểm soát hoạt động trí óc, cũng như những yêu cầu khác của tổchức lao động khoa học, khi chú ý tới các tiền đề tâm lý (cấu trúc của cá nhân, mốiquan hệ với nhau trong tập thể sản xuất, tâm lý lãnh đạo và sự tuân thủ, tiềm năng

cá nhân và việc sử đụng tiềm năng đó)

Các vấn đề về tổ chức các quá trình riêng rẽ của nghiên cứu khoa học và toàn

bộ mắt xích của dây chuyền “nghiên cứu - phát minh - sản xuất” trong khuôn khổliên hợp sản xuất khoa học và các chương trình mục tiểu tổng hợp được xem xéttrong tài liệu chuyên ngành

1.1.3.1 Lựa chọn đề tài (chủ đề)

Nghiên cứu khoa học bao gồm bốn quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau:

I - là việc làm đầu tiên với vấn đề, đó là lựa chọn đề tài, thiết lập kế hoạchchương trình, xác định sơ bộ hiệu quả kinh tế mong đợi;

II - là tìm kiếm thông tin, phân tích đến cùng các kết quả tìm kiếm được,chính xác hóa mục tiêu, xác định đề tài;

III - tìm kiếm khoa học (các nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết), nghiêncứu bản chất vật lý của đối tượng, xây dựng lý thuyết, luận chứng khoa học vềphương pháp luận, lựa chọn cơ sở kỹ thuật, thực nghiệm, xử lý kết quả, xây dựngcác luận điểm khoa học mới, lập báo cáo khoa học - kỹ thuật, xem xét chi tiết lại,thảo luận và hiệu chỉnh;

IV - là áp dụng, thực hiện các công tác bổ sung, kinh nghiệm cấu tạo, trong

Trang 8

giai đoạn này tiến hành nghiên cứu khoa học và đánh giá hiệu quả kỹ thuật - kinhtế.

Xác định đề tài Việc đề tài hóa các nghiên cứu khoa học được rút ra từ những

kế hoạch quốc gia về khoa học và kỹ thuật, các dự án của các kế hoạch này đượcchuẩn bị bởi các chuyên gia, được hội thảo cụ thể ở các viện hàn lâm khoa học, rồisau đó được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt như một văn bản quốc gia có hiệulực bắt buộc đối với mọi người thực hiện nó Khi lập kế hoạch công tác nghiên cứukhoa học, người ta lập các kế hoạch năm và năm năm Ngoài các kế hoạch này, các

cơ quan khoa học cũng lập các kế hoạch: về khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứukhoa học và kế hoạch nghiên cứu thử nghiệm khoa học, về giáo dục, đào tạo cán

bộ khoa học và chuẩn bị các tài liệu nghiên cứu để xuất bản, công bố Các côngtrình nằm trong kế hoạch dựa trên cơ sở quyết định của chính phủ được coi lànhững công trình quan trọng

Các bộ phận cấu thành kế hoạch năm là: kế hoạch ứng dụng kết quả nghiêncứu khoa học, kế hoạch lao động, dự toán sản xuất, kế hoạch tài chính, kế hoạchcủa các giải pháp tổ chức - kỹ thuật (thể hiện mối quan hệ gắn kết giữa các phươngpháp lập kế hoạch và tài chính của các nghiên cứu) Khuôn khổ chi phí cho khoahọc ở Việt Nam khoảng 2-3% GDP từ ngân sách quốc gia và các nguồn riêng củacác cơ quan

Để xác định hưởng nghiên cứu và khai thác, cần phải sử dụng các dự báokhoa học - tầm nhìn trước Chúng ta xét trình tự thiết lập các dự báo hiện đang ápdụng

Bộ Khoa học công nghệ quyết định dự báo khoa học - kỹ thuật của toàn bộnền kinh tế quốc dần dựa trên cơ sở các đề xuất của các bộ lĩnh vực, ngành Trong

dự báo đã xây dựng các vấn đề cơ bản phát triển khoa học và kỹ thuật, đề xuất sửdụng các thành tựu gần đây, cũng như xác định mức phát triển kỹ thuật của cáclĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, nhấn mạnh các nghiên cứu khoa học quan trọng

Trang 9

Các bộ ngành xây dựng dự báo khoa học kỹ thuật phát triển lĩnh vực, tươngứng với nó, các viện nghiên cứu khoa học, ủy ban nghiên cứu thử nghiệm chế tạo,các trường đại học và các cơ quan khác lập kế hoạch nghiên cứu khoa học và côngtrình chế tạo thử nghiệm của riêng mình

Việc lập kế hoạch và dự báo khoa học - có nghĩa là chỉ ra xu hướng phát triển

nó, thời hạn nghiên cứu các vấn đề tổng hợp lớn, khối lượng các chi phí về vật chất

và lao động cần thiết, khả năng sử dụng thực tế của các kết quả nghiên cứu khoahọc

Các dự báo được sắp xếp thành các chu kỳ khác nhau: 15 - 20 năm (tươngứng với chu kỳ “nghiên cứu - khai thác - sản xuất”), 40-50 năm (chủ yếu là các chỉtiêu chất lượng), 100 năm và hơn nữa (làm cơ sở cho thế giới quan và trực quancủa các chuyên gia)

Mặc dù vấn đề dự báo vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu, trên thực tế người

ta đang sử dụng các dự báo nghiên cứu (để xác định sự phát triển của khoa học - kỹthuật), dự báo chương trình (để xác định chương trình của con đường đạt đượcmục tiêu và nhiệm vụ dự báo của quá trình khoa học - kỹ thuật); dự báo tổ chức (đểxác định các giải pháp tổ chức bảo đảm đạt được mục tiêu dự báo) Liên quan tớiviệc tổ chức các tổ hợp khoa học - sản xuất, xu thế là các kế hoạch đã xem xéttrước toàn bộ tập hợp các công trình trong vòng 15 - 20 năm tính từ lúc đặt vấn đềđến khi áp dụng vào sản xuất

Các vấn đề của dự báo được khoa học dự báo nghiên cứu Khoa học dự báo

sử dụng các phương pháp sau: ngoại suy, tương tự lịch sử, thông tin sáng chế, đánhgiá thực nghiệm, mô hình hóa, thống kê, tổ hợp Phổ biến rộng rãi là các phươngpháp mô hình hóa và đánh giá thực nghiệm

Các công trình nghiên cứu - khoa học được phân biệt theo dạng liên hệ vớisản xuất thực tế (tạo ra các máy mới, cải thiện các mối quan hệ sản xuất, nâng cao

Trang 10

trình độ tổ chức sản xuất ), theo mức độ quan trọng (các công trình quan trọngnhất theo kế hoạch quốc gia và theo nhiệm vụ của các bộ ngành, theo kế hoạchhoặc sáng kiến của người thực hiện); tùy thuộc vào nguồn tài chính (ngân sáchquốc gia, theo thỏa thuận); theo độ dài thời gian nghiên cứu (dài hạn và ngắn hạn,thường được thực hiện trong vòng một năm); theo ý nghĩa đặt ra (lý thuyết nềnmóng cho phát triển lý thuyết tiếp theo, ứng dụng để tạo ra các phương phápnghiên cứu kỹ thuật mới, các công trình nghiên cứu để biến các công trình lýthuyết và thực dụng thành phụ lục kỹ thuật).

Ở nước ta các nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các viện nghiên cứukhoa học của Bộ Khoa học - công nghệ quốc gia và các bộ ngành, ở các trường đạihọc, các cơ quan thiết kể - chế tạọ và công nghệ, các phòng thí nghiệm

Các cơ quan nghiên cứu khoa học đầu ngành thực hiện sự phối hợp giữa các

cơ quan ban ngành Tổ chức khoa học cao nhất - là Bộ Khoa học công nghệ, quản

lý hệ thống các viện, các cơ quan nghiên cứu khoa học và các tổ chức khác, ngoài

ra còn các cơ quan nghiên cứu khoa học của các bộ ngành, các trường đại học Giữ vai trò quan trọng nữa là các hội khoa học và kỹ thuật Gần đây đã thànhlập một hệ thống các trung tâm khoa học Khi tổ chức các tập thể khoa học hiệnnay phổ biến có cấu trúc bốn cấp (nhóm, phòng thí nghiệm, phòng ban, cơ quanhoặc nhóm, bộ môn, khoa, viện) Giám đốc (hiệu trưởng) giữ quyền quyết địnhcuối cùng về mọi vấn đề quản lý các nghiên cứu khoa học và là chủ tịch hội đồngcủa cơ quan (viện) Trong hoạt động của cơ quan khoa học các tổ chức đảng và xãhội cũng đóng vai trò quan trọng

Đề tài nghiên cứu khoa học được lựa chọn phù hợp với các nhiệm vụ pháttriển của nền kinh tế quốc dân của đất nước, khi đó các vấn đề đã được nghiên cứutrong các cơ quan khoa học phải được xét đến Hướng nghiên cứu khoa học baogồm phạm vi nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề lý thuyết - thực nghiệm lớn

có tính nền móng

Trang 11

Vấn đề (theo tiếng Hylạp problema - nhiệm vụ) ở nghĩa lộng - là một vấn đề

lý thuyết hoặc thực nghiệm phức tạp đòi hỏi nghiên cứu, giải quyết; trong khoa học

- là tình huống mâu thuẫn thê hiện dưới dạng các mặt đối lập khi giải thích cáchiện tượng, đối tượng, quá trình nào đó và đòi hỏi lý thuyết thích hợp để phát triểnnó

Vấn đề bao gồm những đề tài bao quát một phạm vi nghiên cứu xác định vàtrước hết bao gồm những nhiệm vụ khoa học nhỏ hơn Đề tài nghiên cứu có thể là

sự phát triển các hệ điều khiển, các công cụ, công nghệ; việc giải quyết vấn đề này

có thể là phát minh, tổng quát hóa tập hợp các sự kiện khoa học

Quá trình lựa chọn đề tài Sau khi luận chứng về vấn đề (nhiệm vụ), người cán

bộ khoa học hoặc tập thể thường phải tự lựa chọn đề tài nghiên cứu Việc lựa chọn

đề tài phải làm quen trước một cách thận trọng với các ấn phẩm trong và ngoàinước về các chuyên ngành đã cho và các chuyên ngành hỗn hợp Trong các tập thể

cổ truyền thống khoạ học và cổ định hướng khoa học, việc lựa chọn đề tài thực sự

là đơn giản: người cộng tác viên bắt đầu nghiên cứu đề tài được luận chứng bởi cácnghiên cứu trước đây; trong các tập thể như vậy sẽ thể hiện được các điều kiện cólợi cho sự tham gia của sinh viên trong công tác nghiên cứu khoa học Sau khi làmquen với đề tài, cán bộ khoa học làm báo cáo trình người hướng dẫn và tập thể,trong đố luận chứng việc đặt vấn đề cho nhiệm vụ và tình hình nghiên cứu vào thờiđiểm đã cho Trong giai đoạn này cần phải chuẩn bị 1 - 2 bản tóm tắt, tiến hành thửnghiệm tìm kiếm, tham khảo ý kiến trong cơ quan nghiên cứu khoa học và trongsản xuất

1.1.3.2 Tìm kiếm thông tin

Sau khi lựa chọn đề tài người ta tiến hành nghiên cứu thận trọng các thông tinkhoa học - kỹ thuật với mục đích chính xác hóa đề tài và luận chứng cho mục đích

và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học Việc tìm kiếm thông tin đó chính là thu thập cácbiểu tượng (vật) mang thông - tin từ các nơi lưu trữ để đáp ứng yêu cầu của người

Trang 12

sử dụng Các hình thức hiệu quả liên quan đến việc thu nhận thông tin khoa học

-kỹ thuật - đó là các cuộc thảo luận, hội nghị chuyên đề, hội thảo, hội khoa học, nơi

có các nha khoa học trao đồi kinh nghiệm tiên tiến xác định sự hợp tác công việc

Nguồn thông tin khoa học (TTKH) Các nguồn thông tin khoa học quan trọng

nhất - là những tài liệu sơ cấp và thứ cấp Nguồn sơ cấp có thể là các tài liệu đãđược in ấn phát hành và chưa phát hành Các tài liệu đã được phát hành - là sáchcũng như các xuất bản phẩm định kỳ, không định kỳ và chuyên ngành khác

Xuất bản phẩm - là ấn phẩm; hiệu đính, biên tập và xem xét trước để truyền bá

thông tin chứa đựng trong đó Sách - là xuất bản phẩm không định kỳ, xuất bảnmột lần hoặc nhiều lần (tái bản); là các trang tài liệu in ấn được đóng thành quyển

có dung lượng lớn hơn 48 trang, về nguyên tắc, có bìa cứng hoặc mềm

Các dạng xuất bản phẩm kỹ thuật chuyên ngành là tài liệu tiêu chuẩn kỹ thuật

và sáng chế, thư mục, mục lục, các trang thông tin Các tài liệu chưa xuất bảnthuộc về: các báo cáo, luận án, tóm tắt luận án

Chúng ta xem tài liệu phát minh như một nguồn thông tin khoa học - kỹ thuật.Tài liệu phát minh là tập hợp các tài liệu đã xuất bản và chưa xuất bản (và nhữngtài liệu thu thập được từ chúng) chứa đựng những khái niệm về các phát minh.Thông tin về các phát minh thường là đầy đủ, tóm tắt và dưới dạng thư mục Loạiđầy đủ - là mô tả phát minh, loại tóm tắt - là bản tin của văn phòng phát minh vàcác chi dẫn bổ sung, loại thư mục - là những thẻ in ấn

Thông tin phát minh được hệ thống hóa nhiều nhất, chứa đựng những kháiniệm về tất cả những thành tựu chủ yếu của loài người trong khoảng thời gian 200năm sau cùng Năm 1970 quỹ phát minh thế giới đã tính được hơn 13 triệu phátminh Thông tin về phát minh đã tin cậy và thống nhất hơn Mỗi một mô tả phátminh - chỉ là về một phát minh

Việc tìm kiếm thông tin phát minh là cần thiết cho việc xác định: những điểmmới của bản đăng ký phát minh được đề xuất; mức độ hiện đại của giải pháp phát

Trang 13

minh trong lĩnh vực cụ thể của kỹ thuật; tính thuần khiết của phát minh cung cấp;bản quyền của người phát minh Khi đó người ta sử dụng các dạng khác nhau củacông việc tìm kiếm như: chủ đề, tên, danh mục, các phát minh - tương tự, thời hạnhiệu lực của phát minh.

Trong công văn đặt trước (công văn yêu cầu), nên lập một cách chính xác cácđối tượng tìm kiếm và chỉ rõ nơi cần tìm kiếm Tùy thuộc mục đích tìm kiếm màxác định thời gian tìm kiếm Như vậy, công việc kiểm tra, đề nghị đánh giá tínhmới của thế giới được tiến hành trong chu kỳ 50 năm

Sau đó cần phải xác định cấp mà các tài liệu nghiên cứu được sắp xếp Việcphân loại các phát minh làm giảm nhẹ cho định hướng Hiện nay với mục đíchgiảm nhẹ định hướng trong các tài liệu phát minh, người ta sử dụng cách phân loạiphát minh quốc tế, các chỉ số phân loại của nó được tập hợp theo chỉ dẫn theo bảngchữ cái của các đối tượng Cách phân loại này được áp dụng ở Liên Xô từ năm

1970 và là cách chủ yếu

Từ năm 1972 viện nghiên cứu khoa học trung ương về thông tin phát minh vàviện nghiên cứu kỹ thuật - kinh tế đã cho xuất bản bằng tiếng Nga tuyển tập cácphát minh của nước ngoài Nó gồm các vấn đề theo 53 nhóm đăng ký tương ứngvới các danh mục phân loại phát minh quốc tế và sử dụng bản tin phát minh của

Mỹ, Anh, Đức, Pháp và Nhật Bản

Nguồn tin thứ cấp được xây dựng từ việc xử lý lại nguồn sơ cấp; chúng giúpvượt qua rào cản về ngôn ngữ, yếu tố bùng nổ thông tin; làm giảm nhẹ cho sự làmquen với các bản thảo chưa xuất bản và dạng đề pô Các xuất bản phẩm thứ cấp gồmnhững dạng sau: thông tin tín hiệu; thông tin nhanh; tạp chí tóm tắt; tổng quan vàbản dịch Các yêu cầu bắt buộc của xuất bản phẩm thông tin - là mô tả mục lục,trong đó tối thiểu phải có những khái niệm về in ấn, tên sản phẩm, khái niệm về tácgiả, tên gọi của nhà xuất bản, nơi và năm xuất bản

Ý nghĩa cơ bản của thông tin tín hiệu - là thông báo hoạt động về xuất bản có

Trang 14

bảo đảm tới tận tay người đặt hàng copy Thông túi tín hiệu được xuất bản cấpquốc gia, trung ương, ngành và giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học liên ngành

và là danh mục được hệ thống hóa mô tả mục lục các nguồn trong và ngoài nướcchứa đựng các xuất bản phẩm dưới dạng tóm tắt

Thông tin nhanh là những xuất bản phẩm có định kỳ được xuất bản ở cấptrung ương, lĩnh vực và các cơ quan nghiên cứu khoa học khác nhau Thông tinnày giới thiệu hoạt động của các chuyên gia với các công bố quan trọng nhất trongcác xuất bản phẩm trong và ngoài nước Các xuất bản phẩm thông tin nhanh đượcxuất bản trong vòng một tháng kể từ ngày nộp bản thảo cho cơ quan nghiên cứukhoa học và bao gồm các bản tóm tắt mở rộng

Trong các tạp chí tóm tắt có xuất bản các mô tả mục lục, chú thích hoặc tóm tắt

các ấn phẩm đầu tiên, cho phép độc giả theo dõi sự xuất hiện các ấn phẩm có giá trịnhất, cũng như thực hiện việc tìm kiếm theo các bộ tạp chí đã xuất bản trước đây,

theo các công cụ sổ tay - tìm kiếm đã được trạng bị Tổng quan và biên dịch là dạng

hiện đại nhất của thông tin, trong đó có các tài liệu - nguồn sơ cấp làm sáng tỏ dướidạng nén, tổng quát hóa

Trình tự làm quen với các nguồn tài liệu thứ cấp phụ thuộc vào việc danh sáchcác tài liệu đã được lựa chọn trước hay chưa Việc tìm kiếm theo danh sách đãđược lựa chọn được thực hiện nhờ thư mục theo thứ tự bảng chữ cái Khi không códanh mục tài liệu tham khảo thì nên sử dụng thư mục đã dược hệ thống hóa

Trong những trường hợp, khi các tài liệu thạm khảo được lựa chọn theo thưmục đã được hệ thống hóa chưa đủ, thì nên tìm đến những tủ hồ sơ, sổ tay mục lụcchính, trong đó có tập hợp các bài báo từ các tạp chí trong nước, các tuyển tập vàcông trình cũng đã được hệ thống hóa theo cách phân loại tổng hợp theo hệ thậpphân Chìa khóa mở vào hệ mục lục đã được hệ thống hóa và vào tủ hồ sơ sổ taymục lục chính là chỉ dẫn đối tượng theo bảng chữ cái

Khi không có các chi dẫn mục lục theo lĩnh vực trong tủ hồ sơ thì nên tìm đến

Trang 15

tủ hồ sơ “mục lục quốc gia”, cũng như tìm đến phần “tuyển tập mục lục” trong

“biên niên sử về sách” và “biên niên sử về các bài báo” hoặc danh mục các tài liệuthông tin chủ yếu của quốc gia Có thể sử dụng cả các danh sách các tài liệu thamkhảo trong các công trình khoa học, các từ điển bách khoa thư chung và theo từnglĩnh vực và các nguồn mục lục khác

Các phương tiện kỹ thuật tìm kiếm thông tin , Việc tìm kiếm thông tin - đó là

một hệ thống các quan hệ phức tạp giữa tác giả, tài liệu khoa học và ngườiốtửdụng Cuốn sách, bài báo khoa học hoặc một tài liệu khoa học khác (ảnh, hệ thốngthiết bị MTĐT) - đó là những thông báo nhằm truyền qua trung tâm liên hệ từ tácgiả đến người dùng Nên tổ chức thông tin sao cho bảo đảm giảm nhẹ việc tìm kiếm(xác định vị trí tìm kiếm) và thu thập chúng, được thực hiện nhờ các hệ thốngthông tin tìm kiếm

Gần đây người ta chú ý nhiều tới việc nghiên cứu các quy luật của hoạt độngkhoa học - thông tin, việc xây dựng hệ thống phục vụ thông tin hiện đại hơn vàkhoa học mới - tin học Tự động hóa xử lý thông tin, tạo lập mạng thông tin rộngrãi Trong các cơ quan tương ứng cũng áp dụng tổ hợp hệ thống tìm kiếm thông tinhiệu quả, có sử dụng máy tính điện tử và tự động hóa tìm kiếm, thu thập và truyềnthông tin

Các hướng chủ yếu khi tạo lập hệ thống tìm kiếm thông tin như sau: nghiêncứu các phương pháp xử lý thông tin và các cách thức chức năng hóa hệ thống; lựachọn hoặc tạo lập ngôn ngữ thông tin; lựa chọn hoặc kiến tạo các phương tiện kỹthuật; nghiên cứu xây dựng bảo đảm chương trình

Hệ thống tìm kiếm thông tin được phân loại theo các cách sau đây:

Thẻ tìm kiếm bằng tay Ví dụ, tấm thẻ được phân loại theo cách phân loại ở

thư viện bất kỳ hoặc theo cách phân loại tổng hợp hệ thập phân

Thẻ có đục lỗ biên Mỗi một thẻ phản ánh nội dung của một tài liệu Việc

phân tích nội dung này có thể được ấn định bời một ô hoặc tổ hợp của chúng trên

Trang 16

biên thẻ.

Thẻ nhận bứt Áp dụng tờ giấy có lưới kẻ ô ly có phân chia theo phương đứng

và ngang Đặt khuôn đồ hình này lên nguồn sáng chiếu rõ tấm thẻ, có thể xác địnhđược vị trí lỗ thủng trùng hợp Việc tìm kiếm được bắt đầu từ chỉ số yêu cầu và lựachọn thẻ có chỉ so cần thiết

Máy đục lỗ Nhờ đục lỗ qua bàn phím trên mỗi thẻ đục lỗ, dưới dạng mã hóa,

sẽ ghi thông tin về tài liệu

Vi phim Trên phím xung, một mã của tài liệu cần tìm được gõ một nhát.

Băng từ và phim Từ thẻ người ta ghi lên băng từ hoặc phim Hình thức này

được sử dụng trong hệ thống lưu trữ và tìm kiếm thông tin cùng với tổ hợp máytính điện tử

Máy tính Nạp các công thức chuyên môn vào máy, trong đó có khả năng chi

ra một số lượng lớn các từ khóa Chúng được mã hóa trên băng và đựợc đưa vàothiết bị ghi nhớ

Các nghiên cứu có tính nền móng được thể hiện trong thực tiễn qua cácnghiên cứu có tính ứng dụng Không có nghiên cứu nền móng “thuần túy” và ứngdụng “thuần túy”, mà chỉ có sự thống nhất biện chứng của các nghiên cứu có tínhnền mỏng và có tính ứng dụng bổ sung cho nhau, thúc đẩy nhau phát triển Nênchú ý ràng, ở mức độ nào đó, sẽ rất có lợi ngay cả kết quả nghiên cứu khoa học

Trang 17

chưa thành công, vì nó giúp tránh được sự làm việc theo hướng không đúng.

Các nguyên tắc tìm kiếm khoa học Hiệu quả của việc tìm kiếm khoa học phụ

thuộc vào việc tổ chức nó

Các nguyên tắc chủ yếu tìm kiến khoa học - là tính tập thể, tính đồng bộ, tínhhoàn thiện, tính thích dụng của ý tưởng khoa học và kỹ thuật, sự phổ biến cácnguyên lý chủ yếu của khoa học này sang khoa học khác, sự tổ hợp các nghiên cứu

có tính nền móng, lý thuyết và thực nghiệm

Ở giai đoạn hiện đại của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, để tiến hànhnghiên cứu khoa học cần phải tổ chức các tập thể đồng bộ các nhà khoa học củacác chuyên ngành khác nhau Khoa học hiện đại đang mang trong mình một đặctrưng toàn cầu và đòi hỏi sự liên hợp các lực lượng khoa học và nguồn vật chất kỹthuật của các quốc gia khác nhau Hiện đang được mở rộng không ngừng sự hợptác khoa học, được đàm phán bởi hai hay nhiều bên, bởi chương trình hội nhậpkinh tế đồng bộ

Nhờ có sự giải tỏa sự căng thẳng quốc tế mà có thể cổ sự hợp tác hữu nghịgiữa các nhà khoa học sống ở các quốc gia khác nhau có chế độ xã hội khác nhau

Họ đang nghiên cứu những vấn đề ảnh hưởng đến mối quan tâm của loài người(tìm kiếm không gian vũ trụ, nghiên cứu đại dương, bảo vệ môi trường, chống ônhiễm, sự biến đổi khí hậu )

Khi lập kế hoạch và tổ chức cần phải kết hợp các nghiên cứu có tính nềnmóng và ứng dụng Tất nhiên, không nên lập kế hoạch phát minh, nhưng có thể vàcần phải dự báo các hướng làm việc tạo ra các diều kiện để thành công Trongnhững điều kiện lao động khoa học tập thể, đảm bảo phối hợp đúng đắn các nghiêncứu có tính nền mỏng và ứng dụng Trong những điều kiện như vậy các nghiêncứu khoa học sẽ trở thành khoa học thống nhất ngay cả việc ứng dụng nó

Điều kiện phát triển thành công các nghiên cứu khoa học ở các trường đại học

- là sự hợp tác chặt chẽ với các cơ quan quản lý khoa học, còn đối với hội thảo, hội

Ngày đăng: 22/04/2016, 20:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Phân tích kết quả kinh doanh của công ty 3 năm gần đây - BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH vụ NHẬP KHẨU ô tô đã QUA sử DỤNG tại CÔNG TY TNHH HIỆP hòa
Bảng 2.1 Phân tích kết quả kinh doanh của công ty 3 năm gần đây (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w