Sức ép lớn tớitái nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thức quá mức các nguồn tàinguyên phục vụ cho các yêu cầu nhà ở, sản xuất lương thực thực phẩm, sản xuấtcông nghiệp… cà
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN I 4
THỰC TRẠNG CHUNG VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 4
1.1Khai thác Tài nguyên quá mức có nguy cơ cạn kiệt 4
1.1.1 Khai thác tài nguyên tái sinh 4
1.1.2 Khai thác tài nguyên không tái sinh 5
1.2 Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở Việt Nam 6
PHẦN II 8
CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 8
2.1 Thuế 8
2.1.1 Thuế tài nguyên 8
2.1.2 Thuế môi trường 10
2.1.2 Vai trò mục đích và ý nghĩa của công cụ thuế trong quản lý tài nguyên môi trường ở Việt Nam 13
2.1.3 Ưu và nhược điểm của công cụ thuế trong quản lý TNMT 16
2.2 Phí 17
2.2.1 Vai trò mục đích và ý nghĩa của công cụ phí trong quản lý tài nguyên môi trường ở Việt Nam 19
2.2.2 Ưu điểm và nhược điểm của công cụ phí trong quản lý tài nguyên và môi trường ở Việt Nam 19
2.3 Phân biệt hai công cụ thuế và phí trong quản lý TNMT 20
2.4 Thực trạng về việc áp dụng công cụ thuế và phí trong quản lý tài nguyên ở Việt Nam 22
Trang 22.5 Kết quả đạt được và khó khăn tồn tại của việc sử dụng công cụ thuế và phí
trong quản lý tài nguyên môi trường ở việt nam 35
PHẦN III 36
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁO NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUÊ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 36
3.1 Giải pháp về thể chế chính sách 36
3.2 Giải pháp về giáo dục và truyền thông 36
3.3 Giải pháp khác 37
KẾT LUẬN 38
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN NHÓM 39
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Môi trường đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống conngười,sinh vật và sự phát triển kinh tế,văn hoá-xã hội của đất nước Sức ép lớn tớitái nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thức quá mức các nguồn tàinguyên phục vụ cho các yêu cầu nhà ở, sản xuất lương thực thực phẩm, sản xuấtcông nghiệp… càng ngày càng làm cho cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường
và hậu quả cuối cùng là làm suy thoái chất lượng cuộc sống của con người Do
đó, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên đã trở thành một vấn đề hết sức quantrọng, một trong những mục tiêu chính nằm trong các chính sách chiến lược củacác quốc gia trong đó có Việt Nam Quá trình công nghiệp hoá,đô thị hoá cũngnhư hội nhập nền kinh tế thế giới ở nước ta diễn ra mạnh mẽ và kéo theo hàngloạt những thách thức về môi trường Bằng những biện pháp và chính sách khácnhau, nước ta đang can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức xãhội để bảo vệ môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môitrường Trong những biện pháp chính sách mà Việt Nam sử dụng cũng như nhiềunước trên thế giới, nước ta đã áp dụng các công cụ hữu hiệu của mình trong đó cócông cụ kinh tế Việc áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trườnggóp phần giải quyết những xung đột đó Đặc biệt công cụ thuế và phí giữ vai tròchủ chốt trong các công cụ kinh tế của quản lý tài nguyên môi trường ở ViệtNam
Trang 4PHẦN I THỰC TRẠNG CHUNG VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY
Ở VIỆT NAM
1.1Khai thác Tài nguyên quá mức có nguy cơ cạn kiệt.
1.1.1 Khai thác tài nguyên tái sinh
Tài nguyên tái sinh đặc biệt là tài nguyên rừng ở Việt Nam có diện tích 20 triệu ha,chiếm khoảng 20% diện tích toàn quốc(số liệu năm 1999)
- Trước đây,rừng chiếm diện tích khoảng 60 triệu km 2
- Đến năm 1958 chỉ còn 44,05 triệu km 2 (chiếm khoảng 33% diện tích đất liền)
- Năm 1973 còn 37,37 triệu km 2
- Hiện nay diện tích rừng ngày càng giảm,chỉ còn khoảng 29 triệu km 2
Ở Việt Nam:
+ Năm 1976 còn 11 triệu ha,tỉ lệ che phủ còn 34%
+ Năm 1985 còn 9,3 triệu ha,tỉ lệ che phủ còn 30%
+ Năm 1995 còn 8 triệu ha,tỉ lệ che phủ còn 28%
Ngày nay chỉ còn 7,8 triệu ha,chiếm 23,6% diện tích,tức là dưới mức bảođộng cân bằng 3%.Mặc dù tổng diện tích rừng toàn quốc tăng trong những nămqua,nhưng diện tích rừng bị mất còn ở mức ở mức cao.Thống kê từ năm 1991 đếntháng 10/2008,tổng diện tích rừng bị mất là 399.118 ha,bình quân57.019ha/năm.Trong đó,diện tích được Nhà nước cho phép chuyển đổi mục đíchmục đích sử dụng đất có rừng là 168.634;khai thác trắng rừng(chủ yếu là rừngtrồng)theo kế hoạch hàng năm được duyệt là 135.175ha;rừng bị chặt phá trái phép
là 68.662;thiệt hại do cháy rừng 25,393 ha,thiệt hại do sinh vật gây nên 828 ha
Như vậy,diện tích mất chủ yếu do được phép chuyển đổi mục đích sử dụng
và khai thác theo kế hoạch chiếm 76%,diện tích rừng bị thiệt hại do các hành vi viphạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng tuy có giảm,nhưng vẫn ở
Trang 5mức cao làm mất 94.055 ha rừng ,chiếm 23,5% trong tổng diện tích rừng mấttrong 7 năm qua,bình quân thiệt hại 13,436ha/năm.
Tài nguyên rừng Việt Nam đang gặp phải nhiều vấn đề như nạn phá rừng tráiphép dưới nhiều hình thức và mục đích khác nhau đang diễn ra rất phức tạp,gâynhiều khó khăn cho các cấp chính quyền cũng như cơ quan chức năng trong vấn đềquản lý.Đây là vấn đè mang tính chất xã hội cao,để giải quyết vấn nạn này khôngđơn thuần là giải pháp riêng biệt của một ngành,một lĩnh vực mà cần có nhữnggiải pháp tổng hợp với sự tham gia của nhiều ngành chức năng
1.1.2 Khai thác tài nguyên không tái sinh
Tài nguyên không thể tái tạo bao gồm các loại nhiên liệu - dầu, khí đốt tựnhiên, uranium, than đá – và khoáng sản - đồng, nickel, bauxite, kẽm và nhiềuloại khác Những tài nguyên thiên nhiên này được hình thành từ các quá trình địa
lý mà thông thường kéo dài hàng triệu năm, do đó chúng ta có thể coi những loạitài nguyên này là có trữ lượng cố định Nghĩa là trữ lượng khoáng sản trong lòngđất là cố định và một khi lấy đi sẽ không thay thế được Tính không thể tái tạogây ra một số vấn đề trong phân tích quá trình sản xuất và khai thác ở các mỏ, mànhững vấn đề này không phát sinh đối với các loại hàng hóa có thể tái sản xuấtnhư nông sản, thủy sản và gỗ
Khai thác tài nguyên không tái sinh hiện nay gây ra lãng phí và tổn thất tàinguyên
Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước có khoảng trên 1.000 điểm khai thác - chếbiến khoáng sản có đăng ký hợp pháp, bên cạnh hàng trăm nghìn cơ sở khai thácbất hợp pháp khác cùng cạnh tranh với nhau PGS.TS Nguyễn Khắc Vinh - Chủtịch Tổng hội Địa chất Việt Nam cho biết, tổng kết 13 năm thực hiện LuậtKhoáng sản (1996-2009) và trên thực tế đã thấy rất rõ, tình trạng khai thác tàinguyên khoáng sản tràn lan, nhiều nơi vô tổ chức đã không những làm thất thoátlớn nguồn tài nguyên mà còn ảnh hưởng xấu đến cơ sở hạ tầng, làm xuống cấp rấtnhanh hệ thống đường xá, cầu cống, phá hủy môi trường sống, nảy sinh nhiều tệnạn xã hội cho địa phương nơi có mỏ
Trang 6Trong 13 năm, cấp Trung ương đã cấp 353 giấy phép khai thác mỏ, cấp địaphương cấp tới 3.822 giấy phép khai thác mỏ Các tỉnh cấp giấy phép khai thác
mỏ nhiều nhất là Bình Thuận (200), Vĩnh Long (155), Yên Bái (152), Cao Bằng(142), Lâm Đồng (136), Nghệ An (126), Lai Châu (124), Lào Cai (121) Nhiềuloại khoáng sản như đồng, chì, kẽm, antimon, than… xuất thô tiểu ngạch sangnước ngoài làm thất thoát đáng kể và cạn kiệt tài nguyên khoáng sản của đấtnước
Kết quả nghiên cứu gần đây của các chuyên gia Viện Tư vấn phát triển (CODE)cũng chứng minh rằng, mặc dù Luật Khoáng sản quy định hạn chế khai thác xuấtkhẩu sản phẩm thô, song hầu hết các doanh nghiệp khai thác của Việt Nam hiệnnay muốn thu lợi nhuận nhanh nên chỉ chú trọng khai thác xuất khẩu dừng lại ởmức quặng và tinh quặng Vì vậy, giá trị và hiệu quả sử dụng thấp, chưa tươngxứng với giá trị tài nguyên khoáng sản, đồng thời gây lãng phí rất lớn tài nguyên
do không tận dụng được đáng kể sản phẩm khoáng sản khác đi kèm
Hiện nay, ở một số mỏ quy mô khai thác nhỏ, với mức độ cơ giới hóa thấp nên đa
số chỉ lấy được những phần trữ lượng giàu nhất, bỏ đi toàn bộ quặng nghèo vàkhoáng sản đi kèm, dẫn đến lãng phí tài nguyên Đáng lo ngại hơn, việc khai tháctheo dạng “ăn sổi” còn gây tổn thất trong chế biến khoáng sản ở mức độ cao.Chẳng hạn trong khai thác vàng, độ thu hồi quặng vàng trong chế biến (tổng thuhồi) hiện chỉ đạt khoảng 30-40%, nghĩa là khoảng một nửa thải ra ngoài môitrường Thêm nữa, thực trạng tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác còn ởmức độ cao, đặc biệt ở các mỏ hầm lò, các mỏ địa phương quản lý Một số điềutra nghiên cứu cho thấy, tổn thất khai thác khoáng sản như: khai thác apatit 26-43%; quặng kim loại 15-30%; vật liệu xây dựng 15-20%
1.2 Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở Việt Nam
Môi trường đất
Môi trường đất của nước ta có tình trạng ô nhiễm kim loại do các nguồn thải
từ hoạt động công nghiệp,hàm lượng các chất độc hại,kim loại nặng nhiều Nướcthải được thải trực tiếp ra các song từ đó gây ô nhiễm đất Ngoài ra, ô nhiễm đấtcòn do các chất thải công nghiệp,nhất là việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo
vệ thực vật, do khai thác nước ngầm thiếu quy hoạch, không kiểm soát chặt chẽ
Môi trường nước
Môi trường nước mặt: hiện nay do áp lực của việc gia tăng dân số,côngnghiệp hóa,đô thị hóa dẫn tới tình trạng các sông hồ bị ô nhiễm nặng,nước thải ởbệnh viện được đổ thẳng ra các sông,hồ mà không qua hệ thống xử lý, trong đó90% nước thải công nghiệp có hàm lượng độc hại đổ trức tiếp mà không qua xử lý
Môi trường nước ngầm: do 40% nguông nước ngầm từ các sông,hồ nêntình trạng nguồn nước ngầm của thành phố cũng rơi vào trình trạng ô nhiễm, hàm
Trang 7lượng amoni,nitrat,độ oxy hóa… vượt nhiều lần chỉ tiêu cho phép Tầng nướcngầm dưới ( cách mặt đất từ 45m đến 60m) là nguồn cuung cấp cho các nhà máycũng bị nhiễm bẩn
Môi trường không khí
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề nóng bỏng,môi trường khí quyển cónhiều biến đổi rõ rệt và và có ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.Ô nhiễmtuwd con người,do con người khai thác và sử dụng than đá,dầu mỏ,khí đốt Đồngthời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như:chất thải sinh hoạt,chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm chi hàm lượng cácloại khí độc hại tăng lên nhanh chóng.Ô nhiễm từ các phương tiện giao thông, cáccông trình xây dựng.Hoạt động sản xuất công nghiệp là nguyên nhân gây ô nhiễmkhông khí,nhất là khí thải SO2 Khí thải ô nhiễm phát sinh từ các nhà máy,xínghiệp chủ yếu do quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch như than dầu
Trang 8PHẦN II CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI
TRƯỜNG HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
3 Đối với Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cánhân làm đầu mối thu mua thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộpthuế
4 Tổ chức, cá nhân nhận thầu thi công, không có giấy phép tài nguyên, nhưngtrong quá trình thi công có phát sinh sản lượng tài nguyên khai thác tiêu thụ thìđều phải khai, nộp thuế tài nguyên với cơ quan thuế địa phương khai thác tàinguyên
Trang 95 Trường hợp Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò, khaithác dầu thô và khí thiên nhiên tại Việt Nam thì người nộp thuế được xác định nhưsau:
a Đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng chia sảnphẩm, người nộp thuế là người điều hành thực hiện hợp đồng
b Đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng điều hànhchung, người nộp thuế là Công ty điều hành chung
c Đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng liên doanh,người nộp thuế là doanh nghiệp liên doanh
d Đối với trường hợp Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam hoặc các Tổngcông ty, Công ty thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam tự tiến hành hoạtđộng tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu thô, khí thiên nhiên, người nộp thuế làTập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam hoặc các Tổng công ty, Công ty thuộc Tậpđoàn dầu khí quốc gia Việt Nam
6 Tổ chức, cá nhân sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi được đầu tư bằngnguồn vốn không thuộc ngân sách Nhà nước hoặc có một phần vốn ngân sách nhànước để phát điện là đơn vị phải nộp thuế tài nguyên và tiền sử dụng nước
7 Đối với tài nguyên thiên nhiên cấm khai thác hoặc khai thác trái phép bị bắtgiữ, tịch thu thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên và được phép bán ra thì tổ chứcđược giao bán phải nộp thuế tài nguyên trước khi trích các khoản chi phí liên quanđến hoạt động bắt giữ, bán đấu giá, trích thưởng theo chế độ quy định
Về đối tượng chịu thuế : Khoáng sản kim loại; khoáng sản không kim loại; Dầuthô; Khí thiên nhiên; sản phẩm rừng tự nhiên; thuỷ sản tự nhiên, nước tự nhiên
và tài nguyên thiên nhiên khác
Về căn cứ tính thuế : Theo quy định tại Điều 4 - Thông tưsố105/2010/TT-BTCthì căn cứ tính thuế là sản lượng tài nguyên tính thuế (thay cho sản lượng tài
Trang 10nguyên thương phẩm thực tế khai thác trong kỳ), giá tính thuế đơn vị tàinguyên, thuế suất thuế tài nguyên, trong đó giá tính thuế đơn vị tài nguyênđược áp dụng tương ứng với loại tài nguyên chịu thuế của kỳ tính thuế.
Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệcủa doanh nghiệp, phương thức quản lý của Nhà nước và điều kiện địa chất kỹthuật của khu vực khai thác tài nguyên để bảo đảm có sự phân biệt đối với cácdoanh nghiệp hoặc hoạt động gây ra tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường ởcác mức độ khác nhau Nguyên tắc chung của thuế tài nguyên là: hoạt động cànggây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường thì càng phải chịu mức thuếcao hơn
2.1.2 Thuế môi trường
- Khái niệm :
+ Theo nghĩa rộng, thuế môi trường là toàn bộ các khoản thuế mà chủ thểnộp thuế phải đóng góp liên quan đến việc tác động đến môi trường thông quahành vi của mình Dưới giác độ này, thuế môi trường được hiểu là thuế liên quanđến môi trường, bao gồm các loại thuế như thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt(đối với các sản phẩm gây ô nhiễm như ô tô, thuốc lá), thuế thu nhập doanh nghiệp(ví dụ: sử dụng công nghệ sạch, khai thác tài nguyên quý hiếm), v.v
+ Theo nghĩa hẹp, thuế môi trường được hiểu là một loại thuế riêng biệt,được Quốc hội ban hành dưới hình thức Luật hoặc Pháp lệnh, điều chỉnh quan hệthuế giữa nhà nước và các chủ thể có hành vi tác động tiêu cực đến môi trường
- Ðối týợng chịu thuế:
Trang 114 Túi ni lông thuộc diện chịu thuế.
5 Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng.
6 Thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng.
7 Thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng.
8 Thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng.
9 Trýờng hợp xét thấy cần thiết phải bổ sung ðối týợng chịu thuế khác cho phù hợp với từng thời kỳ thì Ủy ban thýờng vụ Quốc hội xem xét, quy ðịnh.
- Ðối týợng không chịu thuế
1 Hàng hóa không quy ðịnh tại Ðiều 3 của Luật này không thuộc ðối týợng chịuthuế bảo vệ môi trýờng
2 Hàng hóa quy ðịnh tại Ðiều 3 của Luật này không chịu thuế bảo vệ môi trýờngtrong các trýờng hợp sau:
a) Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu, biên giới ViệtNam theo quy ðịnh của pháp luật, bao gồm hàng hóa ðýợc vận chuyển từ nýớcxuất khẩu ðến nýớc nhập khẩu qua cửa khẩu Việt Nam nhýng không làm thủ tụcnhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam; hànghóa quá cảnh qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam trên cõ sở Hiệp ðịnh ký kết giữaChính phủ Việt Nam và Chính phủ nýớc ngoài hoặc thỏa thuận giữa cõ quan,ngýời ðại diện ðýợc Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nýớc ngoài ủy quyền theoquy ðịnh của pháp luật;
b) Hàng hóa tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu trong thời hạn theo quy ðịnh của phápluật;
Trang 12c) Hàng hóa do cõ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cõ sở kinhdoanh xuất khẩu để xuất khẩu, trừ trýờng hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân muahàng hóa thuộc đối týợng chịu thuế bảo vệ môi trýờng để xuất khẩu.
- Cãn cứ tắnh thuế
1 Cãn cứ tắnh thuế bảo vệ môi trýờng là số lýợng hàng hóa tắnh thuế và mứcthuế tuyệt đối
2 Số lýợng hàng hóa tắnh thuế đýợc quy định nhý sau:
a) Đối với hàng hóa sản xuất trong nýớc, số lýợng hàng hóa tắnh thuế là sốlýợng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho;
b) Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lýợng hàng hóa tắnh thuế là số lýợng hànghóa nhập khẩu
3 Mức thuế tuyệt đối để tắnh thuế đýợc quy định tại Điều 8 của Luật này
Chắnh phủ quy định chi tiết Điều này.Thuế BVMT áp dụng cho việc sử dụngcác sản phẩm gây ô nhiễm Ngýời chịu thuế là ngýời tiêu dùng (bao gồm cả tổchức, cá nhân) do sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm Ngýời sản xuất, ngýời nhậpkhẩu là ngýời nộp thay cho ngýời tiêu dùng
- Phýõng pháp tắnh thuế
Số thuế bảo vệ môi trýờng phải nộp bằng số lýợng đõn vị hàng hóa chịu thuếnhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đõn vị hàng hóa
Trang 132.1.2 Vai trò mục đích và ý nghĩa của công cụ thuế trong quản lý tài nguyên
môi trường ở Việt Nam.
.2.1.2.1 Thuế tài nguyên
• Vai trò của thuế tài nguyên
Tăng hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên: do chi phí thấp khi sử dụng, mặtkhác nó tác động đến quyền lợi kinh tế của các cá nhân hay doanh nghiệp, do vậyngười ta phải tính đến việc sử dụng nguồn tài nguyên như thế nào là tiết kiệm vàhiệu quả nhất mà không ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận
Tạo nguồn thu quan trọng cho NSNN
Góp phần tăng cường quản lý NN trong việc bảo vệ, sử dụng hiệu quảnguồn tài nguyên quốc gia
Tăng cường trách nhiệm và nâng cao thức của tổ chức, cá nhân đối vớinguồn tài nguyên thiên nhiên
• Mục đích, ý nghĩa của thuế tài nguyên
Mục đích chính của thuế tài nguyên là khuyến khích phát triển kinh tế đi liền với
sử dụng nguồn tài nguyên hợp lí và hiệu quả, chống lãng phí đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống
Tăng cường quản lý nhà nước, thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước về tiếp tục cải cách, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp với cácqui định của Hiến pháp, tính thống nhất và đồng bộ với các văn bản pháp luật cóliên quan khác; thực hiện cam kết của Chính phủ với cộng đồng quốc tế trongviệc góp sức bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên
2.1.2.2 Thuế môi trường
• Vai trò của thuế môi trường
Thuế môi trường góp phần tăng cường trách nhiệm và nâng cao thức của tổchức, cá nhân đối với môi trường
Thuế môi trường là loại thuế thực hiện theo nguyên tắc “người gây ô nhiễmtrả” nên nó buộc các chủ thể gây ô nhiễm và các liên đới phải chịu trách nhiệm vềchi phí do hoạt động gây ô nhiễm của họ bằng cách đưa chi phí ngoại ứng vàogiá
Trang 14Với việc sẽ đưa chi phí ngoại ứng vào giá “nội hoá các chi phí ngoại ứng” nhờ đóchi phí xã hội và chi phí cá nhân của các nhà sản xuất tiến gần nhau hơn Các mứcgiá trở nên chính xác hơn, do đã bao gồm đầy đủ các yếu tố cần thiết.
Thuế môi trường khuyến khích sản xuất, tiêu dùng hàng hoá thân thiện vớimôi trường hơn
Có thể sử dụng thuế để kích thích và điều chỉnh sản xuất và tiêu dùng theo hướngbảo vệ môi trường Đối với cả người tiêu dùng (muốn mua với giá thấp hơn) vànhà sản xuất (bán được nhiều sản phẩm hơn,lợi nhuận cao hơn) thì thuế môitrường sẽ có nhiều tác dụng khuyến khích, điều chỉnh định hướng sản xuất và tiêudùng theo hướng thân thiện với môi trường hơn
Thuế môi trường thúc đẩy cải cách đổi mới công nghệ
Bởi nếu đánh thuế môi trường mà giá nhiên liệu tăng thì điều này sẽ thúc đẩy việcnghiên cứu tìm ra nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăngcủa con người Điều đó có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình sảnphẩm Rõ ràng thuếmôi trường có thể giúp chuyển dịch nền kinh tế theo hướng sửdụng có hiệu quả đối với các loại năng lượng và nguồn lực bằng việc tăng giá sảnphẩm tự nhiên Thuế môi trường có tác động làm thay đổi cả quy mô và cơ cấucủa sản xuất và tiêu dùng Đặc biệt, khi các dấu hiệu về giá được dự báo dần dầnvượt qua mức giá dự kiến trong kế hoạch dài hạn của nền công nghiệp
Thuế môi trường góp phần bổ sung nguồn vốn để đầu tư cải tạo môi trường,mang lại nguồn thu nhất định cho ngân sách để đầu tư cải tạo môi trường
Thuế môi trường góp phần nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối vớimôi trường
Thuế môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ônhiễm khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế hoặc hạnchế tiêu dùng sản phẩm (xăng, dầu, than )
Từ đó, tiết kiệm cá nhân, tiết kiệm xã hội, giảm ô nhiêm môi trường, giảm chi phí
xử lý ô nhiễm Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đầu tư, sản xuất và tiêudùng của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệuquả, giảm bớt các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu dùng đến môi trường, giảmthiểu ô nhiễm và suy thoái về môi trường Thayđổi nhận thức của người dân vềvai trò của môi trường là mục tiêu lớn nhất mà các chính sách hướng tới
Trang 15Thuế môi trường góp phần bảo vệ môi trường Thuế môi trường góp phầnhạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm của các tổ chức, cánhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tácđộng tiêu cực đến môi trường (khí Carbon, lưu huỳnh thải ra khi sử dụng xăng,dầu, than …) Từ đó, hướng tới nền kinh tế phát triển bền vững, phát triển kinh tếgắn với bảo vệ môi trường.
• Mục đích, ý nghĩa của thuế môi trường:
Từ vai trò quan trọng của thuế môi trường, ta thấy việc ban hành thuế môitrường có những mục đích, ý nghĩa to lớn trong công cuộc bảo vệ môitrường như sau:
- Thuế môi trường tạo một hành lang pháp lý đồng bộ, ổn định, điềuchỉnh toàn diện các hành vi tác động tiêu cực đến môi trường, để điều chỉnhtrực tiếp hành vi của các chủ thể có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp gây ônhiễm môi trường và nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, chống chuyển dịchcông nghệ bẩn vào Việt Nam, đồng thời tạo lập và sử dụng nguồn kinh phítrực tiếp đó để đầu tư xây dựng các biện pháp cải thiện môi trường, chi phícho việc bảo vệ môi trường, tuyên truyền tác động đến ý thức cộng đồngtrong việc bảo vệ môi trường
- Thuế môi trường với mục đích chính là khuyến khích phát triển kinh
tế đi liền với giảm ô nhiễm môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tếbền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao ý thức bảo vệ môitrường của xã hội, từ đó thay đổi nhận thức và hành vi của người dân vàdoanh nghiệp trong sản xuất và tiêu dùng nhằm giảm phát thải Nâng caonhận thức của các tầng lớp trong xã hội về ý thức bảo vệ môi trường, từ đógóp phần thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng sản phẩm gây ô nhiễm môitrường khi sử dụng phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay và những năm tới
- Nhằm góp phần thay đổi công nghệ sản xuất, khuyến khích nhữngnơi sản xuất theo công nghệ tốt hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn cho môi trường.Việc đánh thuế môi trường góp phần kích thích chủ thể sản xuất lựa chọncông nghệ sản xuất ít gây ô nhiễm để giảm thuế môi trường và tăng sức cạnhtranh hàng hoá trên thị trường
- Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó góp phầnthay đổi nhận thức, hành vi của tổ chức, cá nhân trong sản xuất và tiêu dùngnhằm giảm phát thải ô nhiễm tại nguồn
Trang 16- Việc ban hành thuế môi trường là công cụ thay đổi thói quen tiêudùng “xa xỉ” của người dân, giúp người dân ý thức hơn trong việc lựa chọnsản phẩm tiêu dùng
- Tăng cường quản lý nhà nước, thể chế hoá chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải cách, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ,phù hợp với các qui định của Hiến pháp, tính thống nhất và đồng bộ với cácvăn bản pháp luật có liên quan khác; thực hiện cam kết của Chính phủ vớicộng đồng quốc tế trong việc góp sức giải quyết vấn đề môi trường toàncầu
- Luật thuế môi trường là một trong những sắc thuế cần được xâydựng để hoàn thiện hệ thống chính sách thuế của nước ta đến năm 2010với mục tiêu đánh thuế vào các đối tượng gây ô nhiễm môi trườngnhằm bảo vệ môi trường sinh thái, nhằm góp phần thay đổi nhận thức củacon người đối với môi trường, tạo thêm nguồn lực để khôi phục môi trườngsinh thái
- Nhằm động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu đểgiải quyết vấn đề môi trường, đồng thời phải đảm bảo tính cạnh tranh củanền kinh tế, của các sản phẩm chủ yếu của Việt Nam
2.1.3 Ưu và nhược điểm của công cụ thuế trong quản lý TNMT
Bổ sung ngân sách quốc gia
Trang 17 Thuế (thuế môi trường) làm tăng chi phí đầu vào, giảm lợi nhuận các doanhnghiệp.
Ảnh hưởng đến phân phối thu nhập: nhóm đối tượng có thu nhập thấp sẽ bịảnh hưởng lớn hơn so với nhóm đối tượng có thu nhập cao hơn
Đầu tư vào các hệ thống thiết bị, quản lý giám sát, kiểm soát việc đánhthuế vào các hành vi gây ô nhiễm môi trường đòi hỏi chi phí lớn
2.2 Phí
- Khái niệm:
Phí môi trường là khoản thu từ ngân sách nhà nước dành cho hoạt động bảo vệmôi trường, tính trên lượng chất thải của chất ô nhiễm và chi phí xử lý ô nhiễmhoặc khắc phục tác động tiêu cực do chất ô nhiễm môi trường nhằm ngăn ngừa xảthải ra môi trường các chất ô nhiễm có thể xử lý được
- Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; chế độ thu,nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
- Đối tượng chịu phí
1 Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường theo quy định tại Nghị định này lànước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt
2 Nước thải công nghiệp là nước từ các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến nông sản,lâm sản, thủy sản xả thải ra môi trường
3 Nước thải sinh hoạt là nước từ các hộ gia đình, tổ chức khác không thuộc đốitượng quy định tại Khoản 2 Điều này xả thải ra môi trường
- Người nộp phí
1 Tổ chức, cá nhân xả nước thải quy định tại Điều 2 Nghị định này ra môitrường là người nộp phí bảo vệ môi trường
Trang 182 Trường hợp các tổ chức, cá nhân xả nước thải vào hệ thống thoát nước và đãnộp phí thoát nước thì đơn vị quản lý, vận hành hệ thống thoát nước là người nộpphí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã tiếp nhận và thải ra môi trường.
3 Đối với cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản quy định tạiKhoản 2 Điều 2 Nghị định này sử dụng nguồn nước từ đơn vị cung cấp nước sạchcho hoạt động sản xuất, chế biến thì phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nướcthải công nghiệp (không phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinhhoạt)
- Đối tượng không chịu phí
Không thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trong các trường hợp sau:
1 Nước xả ra từ các nhà máy thủy điện, nước tuần hoàn trong các cơ sở sảnxuất, chế biến mà không thải ra môi trường;
2 Nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra;
3 Nước thải sinh hoạt của hộ gia đình ở địa bàn đang được Nhà nước thực hiệnchế độ bù giá để có giá nước phù hợp với đời sống kinh tế - xã hội;
4 Nước thải sinh hoạt của hộ gia đình ở các xã thuộc vùng nông thôn và nhữngnơi chưa có hệ thống cấp nước sạch;
5 Nước làm mát thiết bị, máy móc không trực tiếp tiếp xúc với các chất gây ônhiễm, có đường thoát riêng;
6 Nước mưa tự nhiên chảy tràn
- Nguyên tắc tính phí:
Phí môi trường áp dụng vào quá trình sản xuất gây ô nhiễm Người chịu phí
và người nộp phí là người xả thải ra môi trường (cùng một chủ thể) Phí môitrường thường gắn với dịch vụ nhất định và được xác định theo nguyên tắc bùđắp chi phí xử lý ô nhiễm môi trường Phí môi trường hiện bao gồm phí nướcthải, phí chất thải rắn, phí khai thác khoáng sản
2.2.1 Vai trò mục đích và ý nghĩa của công cụ phí trong quản lý tài nguyên môi trường ở Việt Nam.
Vai trò của phí môi trường
Trang 19Phí môi trường là một công cụ kinh tế hiệu quả trong hoạt động bảo vệ môitrường, nên nó có những vai trò chủ yếu sau:
Điều chỉnh hành vi môi trường một cách tự động do mức thải có quan hệmột cách tự động với phí BVTNMT
Tính hiệu quả về chi phí với một mức thải nhất định thì phí BVMT đảmbảo được mục tiêu chi phí tối thiểu
Khuyến khích hành vi BVMT do phí BVMT không chỉ tác dụng trực tiếp
và lâu dài đối với hành vi gây ảnh hưởng tới môi trường của doanh nghiệp mà còn
có tác dụng trong nghiên cứu, triển khai thay đổi và phát triển kĩ thuật, công nghệsản xuất có lợi cho môi trường
Gia tăng nguồn thu nhập phục vụ trở lại cho BVMT và đóng góp NSNN
Duy trì và chuyển giao hợp lý nguồn lực do định giá các nguồn TNMT, làthành tố quan trọng cho phát triển bền vững và góp phần tích cực cho việc sử dụnghiệu quả các nguồn lực
Mục đích và ý nghĩa của công cụ phí
Mục đích
Làm thay đổi hành vi người gây ô nhiễm: khuyến khích các tác nhân gây ônhiễm giảm lượng gây ô nhiễm ra môi trường, hướng tới hành vi thân thiện, bảo
vệ môi trường của các doanh ngihệ, hộ gia đình
Làm tăng nguồn thu cho NSNN
Ý nghĩa
Phí BVMT thể hiện sự quan tâm của nhà nước đến lĩnh vực môi trường và thểhiện sự liên kết chặt chẽ giữa môi trường với phát triển bền vững,lợi ích kinh tế điđôi với lợ ích môi trường.Đặc biệt, phí MT góp phần giáo dục và nâng cao ý thứccủa người dân và doanh nghiệp
2.2.2 Ưu điểm và nhược điểm của công cụ phí trong quản lý tài nguyên và môi trường ở Việt Nam
Ưu điểm