ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM PHƯƠNG THẢO PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM PHƯƠNG THẢO
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN
TRONG CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN
THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM PHƯƠNG THẢO
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN
TRONG CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN
THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH
Chuyên ngành : Luật kinh tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Dũng Sỹ
Hà Nội – 2015
Trang 3MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU VÀ THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý, sử dụng vốn trong Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 6 1.1.1.Khái niệm Quản lý, sử dụng vốn và Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 6 1.1.2 Nội dung pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 9 1.2 Đầu tư ngoài ngành và thoái vốn đầu tư ngoài ngành của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 10 1.2.1 Khái niệm và nguyên nhân đầu tư ngoài ngành 10 1.2.2 Những vấn đề lý luận về thoái vốn ngoài ngành của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH 33
Trang 42.1.Thực trạng về đầu tư ngoài ngành ở Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 33 2.2 Thực trạng về thoái vốn ngoài ngành ở Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 42
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG VỐN Ở CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH 55
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu qua hoạt động thoái vốn ngoài ngành 55 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu qua hoạt động thoái vốn ngoài ngành 60 3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 60 3.2.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về thoái vốn ngoài ngành tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 63 3.2.3 Tăng cường các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thoái vốn ngoài ngành tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 64
KẾT LUẬN 75 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNNN Doanh nghiệp nhà nước MTV Một thành viên
TNHH Trách nhiệm hữu hạn TĐKT Tập đoàn kinh tế
TĐ Tập đoàn
TCT Tổng công ty
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán so với vốn chủ sở hữu và tổng tài sản Trang 31 Bảng 2.2 Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm so với vốn chủ sở hữu và tổng tài sản Trang 31 Bảng 2.3 Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực bất động sản so với vốn chủ sở hữu và tổng tài sản Trang 32 Bảng 2.4 Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng so với vốn chủ sở hữu và tổng tài sản Trang 32 Bảng 2 5 Tỷ lệ % vốn Nhà nước nắm giữ tại 10 doanh nghiệp được SCIC thoái vốn Trang 42
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, doanh nghiệp có vốn nhà nước trong đó có Công
ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu đã thực sự là một trong những lực lượng đi đầu trong xây dựng và phát triển kinh tế, là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội
Tuy nhiên, khi nền kinh tế lâm vào khó khăn kéo dài, hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tài chính của các công ty này đã bộc lộ nhiều hạn chế Một trong những yếu kém hiện nay đó là việc quản lý, sử dụng nguồn vốn Nhà nước còn có nhiều sai phạm trong khi các doanh nghiệp này lại có xu hướng dùng vốn Nhà nước để đầu tư ngoài ngành một cách tràn lan, gây lãng phí
Trước tình hình đó, thoái vốn ngoài ngành được xem là một trong những giải pháp, nhiệm vụ cụ thể, trọng tâm, cấp bách nằm trong đề án tái cơ cấu DNNN mà cụ thể là tái cơ cấu DNNN về mặt tài chính được Thủ tướng Chính phủ yêu cầu kiên quyết thực hiện trong năm 2015 để công tác quản lý, sử dụng vốn trong DNNN trong đó có Công ty TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu thực sự có hiệu quả cao, tạo môi trường tài chính trong sạch
Nhận thức được tính cấp thiết của việc quản lý, sử dụng vốn trong Công
ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài ngành xét ở góc độ pháp lý, học viên chọn đề tài “Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài ngành” là hết sức có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn,
Trang 8- Nguyễn Tiến Hòa (2014), Hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại một số TĐKT nhà nước, Luận văn Thạc sĩ kinh doanh
và quản lý, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Trần Ngọc Dung (2011), Pháp luật Việt Nam về TĐ kinh tế nhà nước, Luận văn Thạc sĩ Luật, Khoa Luật
- Một số luận văn thạc sĩ luật học, khóa luận tốt nghiệp của Trường Đại học Luật Hà nội và của các cơ sở khác
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình và các tài liệu khác có liên quan đến pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công
ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài ngành để từ đó rút ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng vốn tại các DNNN nói chung
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát: Làm rõ được những vấn đề lý luận về quản lý, sử dụng vốn trong công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu và bản chất của đầu tư vốn ngoài ngành cũng như vấn đề lý luận về thoái vốn ngoài ngành
Trang 93
của công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu Thực trạng pháp luật
về quản lý, sử dụng vốn trong công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài ngành có những thuận lợi hay khó khăn, bất cập nào Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài ngành
Để thực hiện mục tiêu tổng quát nói trên, luận văn có nhưng mục tiêu cụ thể sau đây:
- Hiểu được ý nghĩa của thoái vốn ngoài ngành đối với công tác bảo toàn, quản lý, sử dụng vốn Nhà nước ở Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ
sở hữu
- Hệ thống hóa các quy định pháp luật liên quan đến công tác quản lý, sử dụng vốn xét từ một vấn đề cụ thể là thoái vốn ngoài ngành ở Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
- Phân tích đánh giá những ưu điểm, tồn tại của các quy định pháp luật đó
và đề xuất những giải pháp hoàn thiện mà bản thân cho là phù hợp
4 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cụ thể pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước trong Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài ngành
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một luận văn Thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu ở
các Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
6 Các phương pháp nghiên cứu
Trang 104
- Phương pháp hệ thống: sử dụng cho Chương I để hệ thống hóa các văn bản pháp lý, các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vốn qua thực tiễn thoái vốn ngoài ngành của Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu;
- Phương pháp thống kê, phân tích các số liệu đã thống kê được;
- Phương pháp so sánh;
- Kế thừa các số liệu của các công trình nghiên cứu khác liên quan đến đề tài, các kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và dựa trên những định hướng chỉ đạo của Chính phủ để đưa ra các kiến nghị
7 Điểm mới của luận văn
Từ trước đến nay, vấn đề về sở hữu, quản lý, sử dụng, bảo toàn vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp luôn được dư luận quan tâm đặc biệt nhìn từ khía cạnh đầu tư ngoài ngành và thoái vốn ngoài ngành Tuy rằng đã có rất nhiều bài viết liên quan đến lĩnh vực này song mới chỉ dừng lại ở những báo cáo, bài báo mà chưa thực sự chuyên sâu chi tiết ở một quy mô công trình luận văn nghiên cứu Chính vì thế học viên xin được lựa chọn đề tài này để nghiên cứu ở cấp thạc sĩ luật học, hy vọng sau khi hoàn thành xong luận văn sẽ là tài liệu tham khảo có tính mới và đóng góp một phần nhỏ trong lĩnh vực pháp lý
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý, sử dụng vốn trong
công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu và thoái vốn ngoài ngành
Trang 115
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công ty
TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài ngành
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong
Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua hoạt động thoái vốn ngoài ngành
Trang 126
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU VÀ THOÁI VỐN
NGOÀI NGÀNH 1.1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý, sử dụng vốn trong Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
1.1.1.Khái niệm Quản lý, sử dụng vốn và Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
Quản lý vốn, sử dụng vốn là những hoạt động rất quan trọng đối với bất
kỳ đơn vị kinh doanh nào bởi liên quan trực tiếp đến doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp đặc biệt đối với các doanh nghiệp Nhà nước sử dụng các nguồn lực mang yếu tố nhà nước để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh
Quản lý, sử dụng vốn là tập hợp các hành vi hoạch định, tổ chức, bố trí, phân phối, kiểm soát các nguồn vốn, tài sản sao cho phù hợp với phương hướng, kế hoạch, mục tiêu đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách hiệu quả, an toàn và tiết kiệm nhất
Pháp luật Quản lý, sử dụng vốn trong công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ hình thành trong lĩnh vực quản lý, sử dụng vốn ở công ty TNHH MTV chủ sở hữu Nhà nước
Yêu cầu, nguyên tắc cơ bản của quản lý, sử dụng vốn nhà nước:
Thứ nhất, quản lý, sử dụng vốn phải đáp ứng yêu cầu bảo toàn và phát triển vốn, tránh để xảy ra thất thoát, mất vốn: Một trong các yêu cầu cốt lõi
Trang 137
đảm bảo cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp là phải bảo toàn
và phát triển được vốn Đây cũng là tiêu chí kinh tế quan trọng để đánh giá doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không, làm căn cứ quyết định chiến lược phát triển dài hạn trong tương lai, cũng như kế hoạch sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn Yêu cầu này đã được thể chế bằng những quy định về sử dụng vốn, tài sản; quy chế, định mức sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản, thực hiện việc kiểm kê, đánh giá và xác định đúng nguyên giá tài sản…
Thứ hai, sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả: đây là nguyên tắc bắt buộc trong việc sử dụng vốn đầu tư, huy động, đặc biệt là nguồn vốn nhà nước
Cơ chế nhà nước ngày càng có xu hướng tạo điều kiện, trao quyền chủ động cho doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn Tuy nhiên, điều kiện đi kèm phải đảm bảo đúng mục đích sử dụng, đó cũng chính là yêu cầu bắt buộc trong việc huy động vốn, vay vốn theo mục đích xác định của từng dự án sản xuất, kinh doanh và nó là cơ sở để thực hiện hạch toán tài chính doanh nghiệp, cũng như đánh giá chính xác về hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của dự án sản xuất, kinh doanh
Thứ ba, duy trì cơ cấu vốn hợp lý: cơ cấu vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được
mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh Cấu trúc vốn tối ưu liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp Góp phần hỗ trợ xử lý kịp thời giá trị tài sản tổn thất, các khoản nợ không có khả năng thu hồi và trích lập, sử dụng các khoản dự phòng rủi ro theo quy định
Trang 148
Thứ tư, đảm bảo đúng quy định của pháp luật: Việc quản lý, sử dụng vốn trong doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật là trách nhiệm của bất kỳ doanh nghiệp nào, đó có thể là pháp luật về kinh doanh, xây dựng, đấu thầu, xử lý tài sản… và bản thân quy chế quản lý tài chính của doanh nghiệp, chế độ quản lý sử dụng vốn, tài sản, phân phối lợi nhuận, chế độ quản lý tài chính khác và chế độ kế toán theo quy định của pháp luật Pháp luật quản lý,
sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận quan trọng trong chính sách pháp luật tài chính đối với doanh nghiệp nói riêng và hệ thống các chính sách tài chính nói chung Chính sách quản lý vốn đúng đắn sẽ kích thích sự chuyển dịch các luồng giá trị trong nền kinh tế quốc dân theo hướng duy động mọi nguồn vốn vào đầu tư phát triển sản xuất, tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn ở doanh nghiệp, nhờ đó tăng quy mô và tốc độ phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước Nguồn thu vào ngân sách nhà nước càng nhiều thì Chính phủ càng có khả năng tài chính
để tăng quy mô đầu tư vốn, phát triển các quỹ tài trợ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; kế đó, quy mô đầu tư và tài trợ từ ngân sách đối với doanh nghiệp càng lớn thì nó sẽ kích thích mạnh mẽ hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế,
và qua đó Chính phủ còn thực hiện được yêu cầu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế theo định hướng đã đề ra Do đó, Nhà nước rất chú trọng đầu tư, ban hành một
hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước, đặc biệt điều chỉnh hoạt động đầu tư ngoài ngành vốn rất phức tạp và ảnh hưởng lớn đối với việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn Nhà nước ở các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu
Trang 159
1.1.2 Nội dung pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong công ty TNHH MTV do NN làm chủ sở hữu
Như chúng ta biết, lĩnh vực quản lý, sử dụng vốn Nhà nước là một vấn đề
vô cùng rộng lớn bởi chính đối tượng của nó là “vốn, tài sản Nhà nước” bản chất đã rất phức tạp Do đó, nội dung pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này gồm nhiều vấn đề, cụ thể:
- Bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp
Việc bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp được thực hiện bằng các biện pháp như trích lập dự phòng rủi ro các khoản đầu tư tài chính, mua bảo hiểm tài sản, xử lý nợ không có khả năng thu hồi
- Đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cổ định Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định từng dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định với giá trị không quá 50% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp Trong trường hợp giá trị đầu tư lớn hơn mức trên thì phải được chủ sở hữu cho phép Hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty phân cấp cho Tổng giám đốc hoặc Giám đốc quyết định các dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định
Trường hợp quyết định không đúng thẩm quyền hoặc tài sản cố định được đầu tư, xây dựng, mua, bán không sử dụng được, sử dụng không hiệu quả thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
- Quản lý của doanh nghiệp đối với công ty con do doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn góp của doanh nghiệp tại công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn Bao gồm: Quyết định thành lập; ban hành quy chế tài
Trang 16Bất kỳ doanh nghiệp nào đều tồn tại và phát triển dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp đó Trong khi nguồn lực luôn luôn hữu hạn đối với ngay cả một quốc gia, vì vậy quản lý, sử dụng vốn ở công ty TNHH MTV chủ sở hữu Nhà nước thực sự có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết phải được điều chỉnh bởi một hệ thống các quy phạm pháp luật hết sức chắc chắn
1.2 Đầu tư ngoài ngành và thoái vốn đầu tư ngoài ngành của Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
1.2.1 Khái niệm và nguyên nhân đầu tư ngoài ngành
Khái niệm
Ở hầu hết các quốc gia, để điều tiết nền kinh tế vĩ mô, Nhà nước cần nắm giữ và chi phối các lực lượng kinh tế chủ đạo ở một số ngành, lĩnh vực mũi nhọn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, với chiến lược nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, Chính phủ đã xây dựng các TCT, TĐ làm trụ cột cho nền kinh tế đất nước, mỗi một TCT hay TĐ Nhà nước sẽ đảm nhiệm vai trò phát triển một lĩnh vực nhất định mà những lĩnh vực ấy là những ngành nghề kinh tế trọng điểm mũi nhọn của đất nước Tuy nhiên các TĐ, TCT Nhà nước ra đời và
Trang 1711
phát triển trong bối cảnh những năm 2005- 2008 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực hấp dẫn như tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản,… Thay vì tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính mà Nhà nước giao phó, các TĐ, TCT Việt Nam lại tiến hành đẩy mạnh đầu tư ngoài ngành
Trong Nghị định số 69/2014/NĐ-CP ngày 15/07/2014 về TĐ kinh tế Nhà nước và TCT Nhà nước, tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 giải thích từ ngữ:
1 Ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp là ngành nghề được xác lập từ mục đích đầu tư thành lập và chiến lược phát triển doanh nghiệp, do chủ sở hữu quy định và giao cho doanh nghiệp thực hiện khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp
2 Ngành nghề kinh doanh có liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là ngành nghề có liên quan) là ngành nghề phụ trợ hoặc phái sinh từ ngành nghề kinh doanh chính, trên cơ sở điều kiện và lợi thế của ngành nghề kinh doanh chính hoặc sử dụng lợi thế, ưu thế của ngành nghề kinh doanh chính và phục vụ trực tiếp cho ngành nghề kinh doanh chính
Như vậy, từ những định nghĩa trên có thể hiểu “đầu tư ngoài ngành” là hoạt động đầu tư ở những ngành nghề kinh doanh không liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp, những ngành nghề mà không phái sinh hoặc không phát triển từ ngành nghề kinh doanh chính, ngành nghề có liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính
Các nguyên nhân dẫn đến hoạt động đầu tư ngoài ngành của các
công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu:
Trang 18- Pháp luật cũng trao quyền còn khá lớn cho Hội đồng thành viên trong việc quyết định phương án huy động vốn, quyết định các dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định và đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp với tỷ lệ lên tới 50% vốn chủ sở hữu Đây là một tỷ lệ còn tương đối cao chưa đảm bảo
an toàn vốn, lại không hạn chế số lượng dự án đầu tư có quy mô tương tự trong một năm
- Chậm xây dựng một hệ thống tiêu chí an toàn về mặt tài chính trong hoạt động sản xuất- kinh doanh, đầu tư Trước khi ban hành Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009, không có văn bản pháp luật nào quy định về
hệ số an toàn vốn, tỷ lệ vốn và điều kiện được đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro như chứng khoán, ngân hàng, bất động sản, quỹ đầu tư Hệ quả là nhiều TĐ,
Trang 1913
TCT đi vay hoặc chiếm dụng vốn quá lớn so với vốn chủ sở hữu để đầu tư quá nhiều vào các lĩnh vực rủi ro, trong khi đang rất thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính, vừa làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, tài sản Nhà nước vừa làm giảm năng lực thực hiện nhiệm vụ chính được Nhà nước giao
Nguyên nhân thứ hai là do cơ chế quản lý chưa thực sự phù hợp
- Chủ sở hữu là các cơ quan quản lý Nhà nước bao gồm Chính phủ, các
Bộ ban ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện chức năng quản lý hành chính, ban hành các chính sách Tuy nhiên với vai trò là chủ sở hữu, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu cho nên rất dễ can thiệp một cách duy ý chí vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Điều này dẫn đến tình trạng chồng chéo, thiếu minh bạch về vai trò, chức năng của
cơ quan Nhà nước và do cùng một lúc phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ nên tạo sức ép cho bộ máy, giảm đi tính chuyên nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ
- Những cơ quan quản lý, điều hành công ty bao gồm Hội đồng thành viên, Ban giám đốc được thành lập để thực hiện quản lý, điều hành, đưa hoạt động, sản xuất kinh doanh của công ty 100% vốn Nhà nước hướng đi theo nhiệm vụ, mục tiêu mà Nhà nước giao cho nhằm phát triển những ngành kinh
tế mũi nhọn của đất nước như điện lực, tài nguyên khoáng sản Song các cơ quan này lại vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, huy động vốn nên đã hướng công
ty đầu tư vào những lĩnh vực ngoài ngành
- Người đại diện chủ sở hữu ở công ty xuất phát từ các cán bộ, công chức Nhà nước thực hiện các hoạt động hành chính, công vụ nên chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh tế Thế nhưng họ lại được cử làm đại diện chủ sở
Trang 2014
hữu ở các công ty, tham gia vào các hoạt động kinh doanh sản xuất của công
ty Đây cũng là một nguyên nhân tạo nên sự yếu kém trong cơ chế quản lý
- Người đại diện phần vốn Nhà nước vừa được cơ quan đại diện chủ sở hữu chi trả lại vừa được hưởng thù lao từ chính công ty mà mình làm đại diện Điều này tạo nên một cơ chế không minh bạch, người đại diện có thể không khách quan khi thực hiện chức năng đại diện phần vốn Nhà nước do bị chi phối bởi yếu tố tiền lương, thưởng bởi chính công ty mà mình đại diện
Nguyên nhân thứ ba là do nhu cầu huy động vốn của các công ty TNHH MTV do NN làm chủ sở hữu Năm 2005 là năm phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm, đây là những nơi huy động vốn rất hiệu quả vào thời kỳ đó nhất là đối với những DNNN đang rất cần vốn để thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội
ở những lĩnh vực mũi nhọn của đất nước Chẳng hạn, việc tham gia vào lĩnh vực ngân hàng giúp các DNNN giải quyết những khó khăn về huy động vốn đầu tư cho ngành nghề kinh doanh chính Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân là các DNNN vì muốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, hướng tới mục đích dần dần chi phối, chiếm lĩnh những lĩnh vực này đã tiến hành đẩy mạnh đầu tư ngoài ngành
1.2.2 Những vấn đề lý luận về thoái vốn ngoài ngành của Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
Khi công ty đầu tư ngoài ngành, ít nhiều bản thân doanh nghiệp đánh mất
đi lợi thế cạnh tranh do sự phân tán các nguồn lực và thiếu kinh nghiệm của bộ máy quản lý Bên cạnh đó, việc kiểm soát vốn vào hoạt động đa lĩnh vực là rất phức tạp, nếu làm không tốt thì sự thất thoát, lãng phí và khả năng đổ vỡ tài
Trang 2115
chính là những nguy cơ có thực Đặc biệt, cần thấy rằng, với khả năng tài chính
có hạn của mình, việc đầu tư vốn dàn trải sẽ buộc doanh nghiệp phải tìm đến nguồn vốn mới với những điều khoản thương mại không có lợi, dễ phát sinh nợ
và lãng phí nguồn vốn ngân sách Nhà nước và tín dụng đầu tư Tỷ lệ vốn bị chiếm dụng cao, nợ quá hạn và khó đòi phát sinh lớn Đầu tư ngoài ngành chệch hướng không hiệu quả làm xấu đi hình ảnh của doanh nghiệp, thậm chí đánh mất thương hiệu và gây ra những thiệt hại to lớn khó lường cho doanh nghiệp Do vậy về nguyên tắc không được đầu tư ra ngoài ngành Nhưng thực
tế các công ty đã đầu tư ngoài ngành nên cần phải tiến hành thoái vốn
Khái niệm thoái vốn ngoài ngành
“Thoái vốn” là một hình thức rất phổ biến trong đầu tư, khi mà các nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức muốn rút vốn đầu tư của mình sau khi nhận thấy khoản đầu tư không hiệu quả, có khả năng rủi ro, thất thoát lớn, hoặc do sự thay đổi chính sách, chiến lược kinh doanh của chính doanh nghiệp, ngoài ra còn phụ thuộc vào diễn biến phát triển của thị trường trong và ngoài nước Thoái vốn cũng không phải là ngoại lệ đối với các doanh nghiệp Nhà nước trong đó có công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu Hiện nay chưa có định nghĩa nào cụ thể về vốn ngoài ngành Tuy nhiên, từ định nghĩa về
“ngành nghề kinh doanh chính”, “ ngành nghề không liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính”, có thể hiểu “vốn ngoài ngành” là vốn đầu tư vào những ngành nghề kinh doanh không liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp, những ngành nghề mà không phái sinh hoặc không phát triển từ ngành nghề kinh doanh chính, ngành nghề có liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính
Trang 2216
“Thoái vốn ngoài ngành của công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ
sở hữu là hoạt động rút vốn chủ sở hữu Nhà nước giao cho các công ty sau khi các công ty này tiến hành đầu tư ngoài ngành”
Mục đích của thoái vốn ngoài ngành
- Thứ nhất, thoái vốn đầu tư ngoài ngành để bảo toàn vốn Nhà nước Các Công ty TNHH do Nhà nước làm chủ sở hữu với nhiệm vụ phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước tuy nhiên lại kinh doanh sang những lĩnh vực ngoài ngành có độ rủi ro gây thua lỗ nặng làm thất thoát lãng phí tài sản của Nhà nước Trước tình hình đó, thoái vốn để hạn chế thiệt hại cho Nhà nước đến mức thấp nhất
- Thứ hai, thoái vốn đầu tư ngoài ngành để tập trung, chuyên môn hóa ngành nghề chính
- Thứ ba, thoái vốn đầu tư ngoài ngành để hạn chế độ rủi ro tài chính, ngăn chặn sự sụp đổ dây chuyền của hệ thống kinh tế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản Một số TĐ, TCT đã tham gia đầu tư vào ngân hàng thương mại cổ phần, Công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, Công ty bảo hiểm, bất động sản Đây là những lĩnh vực nhạy cảm chứa nhiều rủi ro Do vậy, rút những phần vốn đầu tư ở những nơi thua lỗ càng sớm càng hạn chế khả năng rủi ro tài chính
- Thứ tư, thoái vốn góp phần làm tăng hiệu quả trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư của các Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu Thông qua thoái vốn ngoài ngành, những thông tin, thông số về chất lượng dự án đầu
tư, nợ phải trả, nợ phải thu, nợ phải thu khó đòi sẽ được công khai minh bạch, tình hình kinh doanh lợi nhuận sẽ được đánh giá, nhờ đó mới nắm được tình sử
Trang 2317
dụng vốn đầu tư để có những biện pháp quản lý, sử dụng vốn sao cho phù hợp Các văn bản pháp luật, quy định hành chính liên quan đến quản lý sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước ở các Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu cũng được rà soát, phân loại lại: Những quy định nào không phù hợp thì loại
bỏ, thay thế, những quy định nào cần phải sửa đổi, bổ sung Tất cả sẽ được nhìn nhận một cách tổng quát, khách quan thông qua thoái vốn ngoài ngành
- Thứ năm, thoái vốn để tiến tới cổ phần hóa DNNN, thu hẹp những ngành, lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không thể tham gia Từ đó, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, , tiến tới chuyển dịch các nguồn lực kinh tế từ khu vực công cho khu vực tư nhân, thu gọn lại khu vực kinh tế Nhà nước, buộc các cơ quan Nhà nước, cán bộ Nhà nước rút lui dần ra khỏi lĩnh vực kinh doanh để tập trung cho chức năng điều tiết chính sách Thực tế chứng minh khu vực kinh tế
tư nhân thực sự là động lực cho sự phát triển kinh tế, xóa bỏ ý thức từ lâu rằng hình thức sở hữu Nhà nước có vị trí độc tôn, Nhà nước phải đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt tăng trưởng Khi chuyển dịch sang nền kinh tế tư nhân sẽ huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước Trong bài viết “ Tái cấu trúc TĐ và DNNN: một góc nhìn
từ thể chế và pháp luật”, tác giả Phạm Duy Nghĩa nhận định ý nghĩa của thoái vốn: “Dù chưa được tuyên bố chắc chắn, song nếu việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành được hiểu là sẽ nhường vốn lại cho khu vực tư nhân, thì điều đấy có thể dẫn tới tư nhân hóa, xét về bản chất sở hữu Nếu mạnh dạn tư duy như vậy, một Chương trình thoái vốn quy mô lớn cần phải là một trong những nội dung chìa khóa, bản lề, thực sự phải là trọng tâm của các nỗ lực tái cơ cấu tổng thể
Trang 2418
nền kinh tế Vừa thu lại vốn giảm thâm hụt cho ngân sách , tạo ra tiền đề để Chính phủ thực hiện tái cơ cấu, vừa thu hẹp kinh tế Nhà nước, vừa mở rộng kinh tế tư nhân, vừa thúc đẩy cạnh tranh và thay đổi chức năng điều tiết của Nhà nước, với nhiều mục tiêu như vậy, Chương trình thoái vốn quy mô lớn sẽ thực sự tạo ra những sức ép thay đổi thể chế rất lớn lao”[34]
Trong tương lai, Nhà nước không nên nắm giữ cổ phần trong các đơn vị, ý nghĩa chính của thoái vốn ngoài ngành là để tiến tới cổ phần hóa, người lao động được làm chủ công ty của họ Khi các nhà đầu tư làm chủ doanh nghiệp bởi liên quan trực tiếp đến lợi ích bản thân họ, hỏ bỏ chính đồng tiền của mình
ra thì họ sẽ có động lực, trách nhiệm để thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, họ sẽ chủ động kênh sản xuất, kênh phân phối, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng dự án đầu tư
Các trường hợp tiến hành thoái vốn ngoài ngành
-Thứ nhất, thoái vốn trong trường hợp các Công ty TNHH MTV do NN làm chủ sở hữu đầu tư ngoài ngành bất hợp pháp Cụ thể là đầu tư không đúng thẩm quyền, đầu tư không đúng với yêu cầu của chủ sở hữu Nhà nước, đầu tư không vì lợi ích chung của công ty mà do xuất phát từ lợi ích cá nhân
- Thứ hai, trong trường hợp đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán đã khiến thất thoát, lãng phí vốn, tài sản Nhà nước thì phải thoái vốn
- Thứ ba, trong trường hợp thực hiện theo Đề án tái cơ cấu, cổ phần hóa
đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tiêu chí, danh mục phân loại DNNN theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Các hình thức thoái vốn ngoài ngành
Trang 25a) Việc chuyển nhượng cổ phần thực hiện theo phương thức giao dịch khớp lệnh hoặc thỏa thuận theo quy định của pháp luật về chứng khoán Trường hợp thực hiện giao dịch thỏa thuận qua sở giao dịch chứng khoán hoặc sàn giao dịch Upcom thì giá thỏa thuận phải nằm trong biên độ giá giao dịch của mã chứng khoán tại ngày chuyển nhượng
b) Sau khi tổ chức bán theo quy định tại Điểm a Khoản này mà không bán hết số cổ phần chào bán trong thời gian 03 tháng kể từ ngày đầu tiên thực hiện giao dịch khớp lệnh hoặc thỏa thuận thì đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước xem xét, quyết định điều chỉnh giảm giá bán tối đa 10% so với bình quân giá giao dịch thành công của 15 ngày trước ngày xác định giá điều chỉnh để bán thỏa thuận Đối với các Công ty TNHH MTV do Nhà nước là chủ sở hữu, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty quyết định thực hiện bán thỏa thuận sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Trường hợp Công ty cổ phần mới niêm yết chưa đủ 15 ngày thì xác định từ thời điểm bắt đầu niêm yết đến ngày xác định giá điều chỉnh
Trang 2620
c) Trường hợp bán thỏa thuận theo quy định tại Điểm b Khoản này với mức giá ngoài biên độ giá giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán, sàn giao dịch Upcom, doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo cho Ủy ban Chứng khoán nhà nước biết trước khi thực hiện giao dịch
2 Tại Công ty cổ phần chưa niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên sàn giao dịch Upcom, nếu giá cổ phiếu chuyển nhượng của khoản đầu tư được tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định thấp hơn mệnh giá thì:
a) Tổ chức bán cổ phần theo hình thức đấu giá công khai theo quy định hiện hành và các quy định tại Quyết định này Mức giá khởi điểm để
tổ chức bán đấu giá thực hiện theo nguyên được xác định trên cơ sở kết quả của đơn vị có chức năng thẩm định giá nhưng không thấp hơn giá trị sổ sách của khoản đầu tư trừ đi dự phòng tổn thất đầu tư tài chính đã được trích lập bổ sung đầy đủ
b) Trường hợp bán đấu giá không thành công hoặc không bán hết số cổ phần chào bán qua đấu giá nhưng có nhà đầu tư cam kết mua thỏa thuận (không bao gồm các nhà đầu tư đã tham gia đấu giá nhưng không thanh toán tiền mua cổ phần) thì đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước xem xét, quyết định bán thỏa thuận cho nhà đầu tư như sau:
- Đối với Công ty TNHH MTV do Nhà nước là chủ sở hữu, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty quyết định thực hiện bán thỏa thuận sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Trang 2721
- Giá bán thỏa thuận không thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất trong trường hợp không bán hết số cổ phần chào bán hoặc theo giá không thấp hơn giá khởi điểm bán đấu giá lần đầu trong trường hợp bán đấu giá không thành công Trường hợp các nhà đầu tư tham gia đấu giá lần đầu nhưng
bỏ cọc toàn bộ thì mức giá thỏa thuận không thấp hơn giá đấu giá thấp nhất Trường hợp các nhà đầu tư cam kết mua cùng khối lượng cổ phần và trả mức giá thỏa thuận bằng nhau thì thực hiện chào bán cạnh tranh theo hình thức bỏ phiếu kín giữa các nhà đầu tư với giá khởi điểm là mức giá trả bằng nhau và nhà đầu tư trả giá cao hơn là nhà đầu tư được mua thỏa thuận
- Thời gian hoàn tất việc bán thỏa thuận tối đa là 60 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp tiền mua cổ phần của cuộc đấu giá lần đầu
c) Trường hợp bán thỏa thuận theo quy định tại Điểm b Khoản này nhưng không thành công hoặc không bán hết số cổ phần chào bán thì đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước xem xét, quyết định điều chỉnh giá để bán đấu giá tiếp lần 2 Mức giá khởi điểm để bán đấu giá lần 2 được thực hiện như sau:
- Trường hợp không có nhà đầu tư mua thỏa thuận theo quy định tại Điểm b Khoản này thì:
+ Giảm tối đa không quá 10% so với giá khởi điểm của cuộc đấu giá lần đầu đối với trường hợp đấu giá không thành công;
+ Giảm tối đa không quá 10% so với giá đấu thành công thấp nhất của cuộc đấu giá lần đầu đối với trường hợp không bán hết số cổ phần chào bán qua đấu giá
+ Giảm tối đa không quá 10% giá đấu thấp nhất của cuộc đấu giá lần đầu đối với trường hợp các nhà đầu tư tham gia đấu giá nhưng bỏ cọc
Trang 28bỏ cọc không được tiếp tục tham gia đấu giá lần 2
- Trường hợp bán thỏa thuận theo quy định tại Điểm b Khoản này nhưng không bán hết số cổ phần chào bán thì giảm tối đa không quá 10%
so với giá bán thỏa thuận thành công thấp nhất
d) Trường hợp bán đấu giá lần 2 vẫn không thành công hoặc không bán hết số cổ phần chào bán thì đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước xem xét, quyết định bán thỏa thuận theo giá không thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất trong trường hợp không bán hết hoặc theo giá không thấp hơn giá khởi điểm bán đấu giá lần 2 trong trường hợp bán đấu giá không thành công Đối với các Công ty TNHH MTV do Nhà nước là chủ sở hữu, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty quyết định thực hiện bán thỏa thuận sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Trường hợp các nhà đầu tư cam kết mua cùng khối lượng cổ phần và trả mức giá thỏa thuận bằng nhau thì thực hiện chào bán cạnh tranh theo hình thức bỏ phiếu kín giữa các nhà đầu tư với giá khởi điểm là mức giá trả bằng nhau và nhà đầu tư trả giá cao hơn là nhà đầu tư được mua thỏa thuận Điều 5 Quyết định số 51/2014/QĐ-TTg quy định về thoái vốn dưới giá trị
sổ sách kế toán:
1 Tại Công ty cổ phần đã niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán hoặc đăng ký giao dịch trên sàn giao dịch Upcom, nếu giá cổ phiếu niêm
Trang 293 Tại Công ty TNHH hai thành viên trở lên:
a) Trường hợp đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước yêu cầu Công
ty TNHH 2 thành viên trở lên mua lại phần vốn góp của mình thì việc xác định giá chuyển nhượng thực hiện theo quy định tại Điều 43 Luật Doanh nghiệp năm 2005
b) Trường hợp đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc chuyển nhượng cho
tổ chức, cá nhân không phải là thành viên trong Công ty thì phải thực hiện theo Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2005, trong đó:
- Nếu chuyển nhượng cho các thành viên khác trong Công ty thì đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước thực hiện bán thỏa thuận Đối với các Công
ty TNHH MTV do Nhà nước là chủ sở hữu, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty quyết định thực hiện bán thỏa thuận sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Giá bán thỏa thuận xác định trên cơ sở kết quả tư vấn của tổ chức có chức năng thẩm định giá
Trang 30- Thứ hai, lựa chọn thuê tổ chức tài chính trung gian (các Công ty chứng khoán) bán đấu giá, hoặc tự tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp trong trường hợp chuyển nhượng các khoản đầu tư tại các Công ty cổ phần chưa niêm yết và vốn Nhà nước đầu tư tại Công ty TNHH có giá trị tính theo mệnh giá từ 10 tỷ đồng trở lên hoặc đấu giá qua Sở giao dịch chứng khoán
- Thứ ba, chào bán công chúng số cổ phần mà DNNN đã đầu tư tại các Công ty đại chúng có hoạt động sản xuất kinh doanh:
+ Năm liền trước năm đăng ký chào bán có lỗ, đồng thời có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán
+ Năm liền trước năm đăng ký chào bán có lỗ nhưng không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán
+ Năm liền trước năm đăng ký chào bán có lãi, đồng thời có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán
- Thứ tư, đối với việc thoái vốn tại các Công ty đầu tư tài chính, các ngân hàng thương mại của các TĐ, TCT Nhà nước, có thể giao các ngân hàng thương mại Nhà nước mua lại hoặc chuyển ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm đại diện chủ sở hữu Điều 6 Quyết định 51/2014/QĐ-TTg đã quy định rõ:
Trang 3125
1 Các doanh nghiệp quy định tại Khoản 1 Điều 2 Quyết định này (Công ty TNHH MTV do Nhà nước là chủ sở hữu sau đây gọi là DNNN) thoái vốn đầu tư tại các Công ty tài chính, ngân hàng thương mại như sau:
a) DNNN sở hữu hoặc cùng DNNN khác sở hữu từ 5% vốn điều lệ trở lên tại các ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét tiếp nhận đại diện chủ sở hữu hoặc chỉ định một hoặc một số ngân hàng thương mại nhà nước (bao gồm ngân hàng thương mại nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn điều lệ) mua lại theo phương án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đối với từng trường hợp;
b) Các trường hợp khác ngoài trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này, DNNN thực hiện thoái vốn đầu tư tại các Công ty tài chính, ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật và quy định tại Điều 4, Điều 5 Quyết định này, đồng thời phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận bằng văn bản đối với bên nhận chuyển nhượng về vấn đề sở hữu vốn, năng lực tài chính theo quy định của pháp luật trước khi chuyển nhượng Trường hợp bán đấu giá không thành công hoặc bán không hết số cổ phần, phần vốn nhà nước chào bán qua đấu giá thì DNNN đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp nhận đại diện chủ sở hữu hoặc chỉ định ngân hàng thương mại nhà nước mua lại trước khi đề nghị SCIC mua theo quy định tại Điều 7 Quyết định này
2 Xác định giá trị phần vốn DNNN đầu tư tại các Công ty tài chính, ngân hàng thương mại như sau:
a) Đối với Công ty tài chính, ngân hàng thương mại chưa niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên sàn Upcom:
Trang 3226
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề nghị tổ chức có chức năng thẩm định giá độc lập xác định giá trị thực tế của Công ty tài chính, ngân hàng thương mại, từ đó xác định mức trích lập dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính cho các khoản vốn DNNN đầu tư tại Công ty tài chính, ngân hàng thương mại và định giá đối với khoản vốn này
- Trường hợp giá trị ghi trên sổ sách kế toán của khoản vốn DNNN đầu tư tại Công ty tài chính, tổ chức tín dụng thấp hơn giá trị do tổ chức có chức năng thẩm định giá độc lập xác định thì giá trị phần vốn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp nhận hoặc ngân hàng thương mại nhà nước được chỉ định mua lại là giá trị ghi trên sổ sách kế toán
- Trường hợp giá trị ghi trên sổ sách kế toán của khoản vốn DNNN đầu tư tại Công ty tài chính, ngân hàng thương mại cao hơn giá trị do tổ chức có chức năng thẩm định giá độc lập xác định thì giá trị phần vốn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp nhận hoặc ngân hàng thương mại nhà nước được chỉ định mua lại là giá trị do tổ chức định giá độc lập xác định hoặc mức giá không cao hơn giá trị ghi trên sổ kế toán trừ (-) đi dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính đã được trích lập đầy đủ theo quy định của pháp luật
b) Đối với Công ty tài chính, ngân hàng thương mại đã niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán hoặc đã đăng ký giao dịch trên sàn Upcom:
- Trường hợp giá trị ghi trên sổ sách kế toán của cổ phiếu thấp hơn giá giao dịch bình quân của cổ phiếu đó trong 10 phiên giao dịch khớp lệnh liền trước thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp nhận hoặc ngân hàng thương mại nhà nước được chỉ định mua lại phần vốn DNNN đầu tư tại Công ty tài chính, ngân hàng thương mại thì giá trị ghi trên sổ sách kế toán là
Trang 33đó trong 10 phiên giao dịch khớp lệnh liền trước là giá Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp nhận hoặc chỉ định ngân hàng thương mại nhà nước mua
3 Việc tái cơ cấu khoản vốn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp nhận, ngân hàng thương mại nhà nước được chỉ định mua lại phần vốn của DNNN đầu tư tại các Công ty tài chính, ngân hàng thương mại thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành
- Thứ năm, trường hợp sau khi đã thực hiện các phương thức trên mà thoái vốn không thành công thì TCT Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước xem xét, mua lại các khoản đầu tư ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
Tại Điều 7 Quyết định 51/QĐ-TTg quy định:
Điều 7 Các khoản vốn đầu tư SCIC tham gia mua lại
1 Đối với vốn nhà nước đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng sau khi xử lý theo quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 6 Quyết định này mà vẫn không bán được hoặc không bán hết thì doanh nghiệp báo cáo chủ sở hữu vốn nhà nước đề nghị SCIC xem xét, thỏa thuận mua số cổ phần, phần vốn nhà nước còn lại theo mức giá không cao hơn giá khởi điểm khi bán thỏa thuận không thành công hoặc không cao hơn giá bán thỏa thuận thành công (trong
Trang 3428
trường hợp không bán hết số cổ phần, phần vốn nhà nước) Giá SCIC mua lại
số cổ phần, phần vốn nhà nước phải đảm bảo không cao hơn giá trị sổ sách kế toán trừ đi dự phòng tổn thất đầu tư tài chính đã được trích lập đầy đủ theo quy định Trường hợp không thỏa thuận được với SCIC việc chuyển nhượng số cổ phần, phần vốn nhà nước thì chủ sở hữu vốn nhà nước kiến nghị Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định
2 Đối với vốn nhà nước đầu tư vào các lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng, SCIC căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc đầu tư vốn quy định tại Nghị định số 151/2013/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm
2013 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của SCIC để xem xét, quyết định mua lại Giá mua lại các khoản đầu tư này theo nguyên tắc quy định tại Khoản 1 Điều này
Trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể có liên quan về hậu quả
thất thoát vốn do đầu tư ngoài ngành của Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
- Đối với chính công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu dùng vốn Nhà nước đầu tư ngoài ngành: Các chủ thể trong công ty như Chủ tịch Hội đồng thành viên, Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc là những chủ thể có thẩm quyền quyết định các dự án đầu tư Trường hợp công ty có hoạt động đầu tư vổn ra bên ngoài theo các lĩnh vực quy định cấm không được đầu tư, đầu tư vượt hạn mức cho phép, yêu cầu phải thoái vốn nhưng không thực hiện hay không thực hiện cơ cấu lại các khoản đã đầu tư thì
cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định và xử lý trách nhiệm đối với Hội
Trang 3529
đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty Do vậy, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong lĩnh vực đầu tư sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, hành chính, các biện pháp xử lý kỷ luật theo Luật cán bộ, công chức, Luật viên chức văn bản pháp luật khác có liên quan
Ví dụ: áp dụng các quy định về xử phạt hành chính theo Nghị định số 66/2012/NĐ-CP Quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước, tại Điều 6 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả quy định:
1 Hình thức xử phạt chính:
Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý,
sử dụng tài sản nhà nước, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:
Trang 36có công năng sử dụng tương đương với tài sản ban đầu;
c) Bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra;
d) Buộc phải nộp lại vào ngân sách nhà nước khoản tiền thu được từ việc sử dụng tài sản không đúng quy định của pháp luật;
đ) Hủy hợp đồng hoặc điều chỉnh lại hợp đồng thuê tài sản; bồi thường số tiền bị phạt do phải hủy hoặc điều chỉnh hợp đồng kinh tế (nếu có)
e) Thu hồi theo quy định của pháp luật hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi đối với những tài sản nhà nước bị sử dụng sai mục đích, vượt tiêu chuẩn, định mức; tài sản mua, biếu, tặng cho, trao đổi không đúng quy định; tài sản bị chiếm đoạt, cho mượn, cho thuê, liên doanh, liên kết không đúng quy định
Đối với những hành vi đầu tư ngoài ngành gây hậu quả thiệt hại nghiêm trọng rất lớn thì áp dụng các biện pháp xử lý trách nhiệm hình sự Ví dụ tại Điều 165 Bộ Luật Hình sự quy định tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng:
1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây thiệt hại từ một trăm triệu đồng đến
Trang 3731
dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tù từ ba năm đến mười hai năm:
a) Vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác;
- Đối với các cơ quan Nhà nước, chủ sở hữu vốn Nhà nước:
Với Chính phủ, các Bộ Ban ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là chủ sở hữu vốn Nhà nước đầu tư vào công ty TNHH MTV
do NN làm chủ sở hữu có thẩm quyền ký phê duyệt các dự án đầu tư Nếu những dự án này không hiệu quả thì áp dụng tương tự các hình thức trách nhiệm pháp lý như đối với chính các chủ thể trong công ty Cá nhân hay tổ chức đều phải chịu trách nhiệm, tuy rằng hiện nay trách nhiệm cá nhân còn mờ nhạt, chưa rõ ràng, cụ thể
Trang 3832
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Chương 1 đã làm rõ các vấn đề lý luận về pháp luật quản lý, sử dụng vốn, nội dung các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, về mặt lý luận đầu tư ngoài ngành, thoái vốn ngoài ngành, tại sao lại có hoạt động đầu tư ngoài ngành, thoái vốn ngoài ngành, các hình thức thoái vốn, các trường hợp phải thoái vốn, trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân khi thiếu trách nhiệm trong thoái vốn ngoài ngành để xảy ra thất thoát vốn
Trang 3933
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN THOÁI
VỐN NGOÀI NGÀNH 2.1.Thực trạng về đầu tư ngoài ngành ở Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu
Như Chương 1 đã làm rõ một trong những nguyên nhân chính dẫn tới
thực trạng đầu tư ngoài ngành diễn ra vượt tầm kiểm soát là do cơ chế pháp luật về đầu tư và cơ chế quản lý còn chưa thực sự hợp lý, chặt chẽ
- Thứ nhất, chậm xây dựng một hệ thống tiêu chí an toàn về mặt tài chính trong hoạt động sản xuất- kinh doanh, đầu tư Trước khi ban hành Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009, không có văn bản pháp luật nào quy định về
hệ số an toàn vốn, tỷ lệ vốn và điều kiện được đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro như chứng khoán, ngân hàng, bất động sản, quỹ đầu tư Hệ quả là nhiều TĐ, TCT đi vay hoặc chiếm dụng vốn quá lớn so với vốn chủ sở hữu để đầu tư quá nhiều vào các lĩnh vực rủi ro
Cụ thể minh họa bằng những số liệu thực tiễn sau:
Theo Báo cáo số 336/BC-CP của Chính phủ gửi Quốc Hội về Thực trạng hoạt động của TĐ, TCT Nhà nước giai đoạn 2006 -2010 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2011 – 2015:
“Giá trị các khoản đầu tư vào chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư, ngân hàng là: Năm 2006 (6.114 tỷ đồng); Năm 2007(14.441 tỳ đồng) Năm 2008 là 19.840 tỷ đồng, Năm 2009 (14.991 tỷ đồng) Trong đó:
Trang 4034
Đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán:
Đến cuối năm 2010, các TĐ, TCT đầu tư 3.576 tỷ đồng vào lĩnh vực chứng khoán; năm 2009 là 986 tỷ đồng, năm 2008 là 1.697 tỷ đồng; năm 2007
Bảng 2.1 Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán so với vốn chủ sở hữu
và tổng tài sản Đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm:
Đến cuối năm 2009 là 1.578 tỷ đồng; năm 2008 là 3.007 tỷ đồng; năm
Bảng 2.2 Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm so với vốn chủ sở hữu và
tổng tài sản Đầu tư vào lĩnh vực bất động sản: