Đây là một việc hết sức khó khăn đòi hỏi phải có sự phối hợp lỗ lực của toàn thể cộng đồng cũng như ý trí vươn lên của chính người nghèo.Qua quá trình học tập tại trường và qua một thời
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Thế kỉ XX đã chứng kiến một sự tiến bộ vượt bậc trong công cuộc giảm nghèo và cải thiện phúc lợi Trong bốn thập niên vừa qua, tuổi thọ trung bình ở các nước đang phát triển đã tăng trung bình 20 năm, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh và tỷ lệ sinh giảm hơn một nửa Từ năm 1965 đến năm 1968, thu nhập bình quân tăng hơn hai lần ở các nước đang phát triển và riêng trong giai đoạn 1990 –
1998, số người trong cảnh nghèo cùng cực đã giảm được 78 triệu người Tuy vậy, bước sang thế kỷ XXI, nghèo đói vẫn còn là một vấn đề rất lớn của toàn cầu Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, thu nhập trung bình của 20 nước giàu nhất gấp 37 lần mức trung bình của 20 nước nghèo nhất (khoảng cách này đã tăng gấp đôi trong vòng 40 năm qua) Vấn đề nghèo đói vẫn còn rất nan giải ở trên khắp các hành tinh của chúng ta , chính vì vậy xoá đói giảm nghèo là một việc làm quan trọng và hết sức cần thiết ở Việt Nam xoá đói giảm nghèo được Đảng và Nhà Nước coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng bền vững, góp phần thực hiện CNH-HĐH đất nước, phấn đấu để nước ta trong giai đoạn tới cơ bản thành một nước công nghiệp
Quán triệt quan điểm của Đảng, tỉnh Thanh hoá đã luôn quan tâm đến công tác xoá đói giảm nghèo trong suốt quá trình phát triển Tỉnh Uỷ, UBND, HĐND,và các cơ quan ban ngành phối kết
Trang 2hợp tổ chức, điều tra , rà soát, chặt chẽ đến từng hộ gia đình, để nắm bắt được hiện trạng đói nghèo trên địa bàn tỉnh từ đó tìm ra các biện pháp khắc phục hạn chế nhằm xoá được nạn đói giảm được hộ nghèo Mục tiêu của Thanh Hoá là đến năm 2005 không còn hộ đói, năm 2010 không còn xã nghèo Đây là một việc hết sức khó khăn đòi hỏi phải có sự phối hợp lỗ lực của toàn thể cộng đồng cũng như ý trí vươn lên của chính người nghèo.
Qua quá trình học tập tại trường và qua một thời gian nghiên cứu thực tế em đã nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xoá đói giảm nghèo đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của Thanh Hoá nói riêng và của Việt Nam nói chung Chính vì
vậy em đã chọn và nghiên cứu đề tài : “Phương hướng giải pháp thực hiện xoá đói giảm nghèo của tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới ” Nhằm mở rộng phần nhận thức của mình hơn về vấn đề
nan giải đó và cũng hy vọng đóng góp một ý kiến nhỏ bé của mình vào sự phát triển của tỉnh nhà trên con đường phát triển chung của đất nước
Kết cấu của đề tài bao gồm 3 phần chính sau:
Chương I : Đói nghèo và sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo Chương II: Thực trạng đói nghèo và nguyên nhân đói nghèo của tỉnh Thanh Hoá trong thời gian qua.
Chương III: Phương hướng, giải pháp thực hiện xoá đói giảm nghèo của tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới.
Trong chuyên đề này em đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp duy vật lịch sử; phương phương pháp so sánh; phương pháp quy
Trang 3nạp; phương pháp diễn dịch; phương pháp phân tích để hoàn thành chuyên đề.
Do nhận thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn nên chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, của các cô chú phòng Tổng Hợp Sở Kế Hoạch Đầu Tư tỉnh Thanh Hoá để bài viết hoàn chỉnh hơn Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn thầy giáo Tiến Sĩ: Lê Huy Đức, cùng các cô chú phòng Tổng Hợp Sở Kế Hoạch và Đầu Tư đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 4CHƯƠNG I ĐÓI NGHÈO, SỰ CẦN THIẾT PHẢI XOÁ ĐÓI GIẢM
NGHÈO
I CÁC QUAN NIỆM VỀ ĐÓI, NGHÈO
1 Quan niệm về đói, nghèo.
Xã hội loài người đã phát triển qua nhiều nấc thang lịch sử do trình độ lực lưọng sản xuất quyết định Bằng lao động sản xuất, con người khai thác thiên nhiên để tạo ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở và những nu cầu khác Năng xuất lao động ngày càng cao thì của cải ngày càng nhiều, các nhu cầu sống được đáp ứng đầy đủ hơn, trái lại năng xuất lao động thấp, của cải vật chất thu được ít, con người rơi vào cảnh nghèo đói
Tuy nhiên, ở trong các thời đại khác nhau, cũng có nhiều cách lý giải khác nhau về quan niệm, nguyên nhân và cách giải quyết đối với hiện tượng nghèo đói
Trong thời kỳ tiền sử mông muội, loài người trong khi bức ra, tách khỏi thế giới động vật trong giới tự nhiên để trở thành người
và tổ chức thành đời sống xã hội thì cùng với bước ngoặc vĩ đại ấy, con người đã phải thường xuyên đối mặt với đói nghèo ở đây, nghèo đói là hệ quả trực tiếp của lạc hậu, mông muội là điển hình của sự thống trị của tự nhiên đối với con người
Khi xuất hiện con người với thân phận nô lệ, một thứ hàng hoá có thể mua bán, một công cụ biết nói ( chế độ chiếm hữu nô
Trang 5lệ ) hoặc là những kể đi làm thuê kiếm miếng cơm manh áo qua ngày ( chế đọ phong kiến) thì nghèo đói mới diễn ra như hệ quả của áp bức xã hội, của chế độ người bóc lột người Trong các chế
độ xã hội này sự giàu có ở cực này dựa trên sự bóc lột, sự bần cùng hoá ở cực khác Cực này càng giàu thì cực kia càng nghèo
Sự ra đời và phát triển cuả Chủ nghĩa Tư bản vẫn chủ yếu dựa trên phương thức cướp đoạt, bóc lột, bần cùng hoá đối với người lao động Và nguồn gốc sâu xa của nghèo đói trên đây là ở chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, ở chế độ áp bức, bóc lột và tình trạng nô dịch của con người Do đó, chỉ xoá bỏ chế
độ tư hữu, bóc lột đó thì mới có thể giải phóng giai cấp vô sản và quần chúng lao động khỏi cảnh nghèo đói lầm than, làm cho họ trở thành người lao động tự do và làm chủ tiến tới một xã hội công bằng văn minh, đạt được sự hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích
xã hội
Chính vì vậy sau Cách Mạng Tháng Mười năm 1917, trong bước chuyển từ “Chính sách cộng sản thời chiến” sang “Chính sách kinh tế mới” (NEP) Lênin là người chủ trương phát triển kinh
tế hàng hoá, dùng lợi ích vật chất, coi đó như là một nhân tố kích thích, một đòn bẩy kinh tế khuyến khích người lao động, giải phóng sức sản xuất, làm cho nền kinh tế khởi sắc, từng bước thoát khỏi sự trì trệ, trên cơ sở đó đã xoá được căn bản tình trạng nghèo đói đang hoành hành khắp nước Nga
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghiã Mác-Lênin, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc nước ta, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những tư tưởng quý báu về cách mạng
Trang 6xã hội chủ nghĩa Đó là quan niệm của Người về chủ nghĩa xã hội
là xa lạ với nghèo đói, bần cùng và lạc hậu Hồ Chí Minh luôn
nhấn mạnh phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất hơn nữa, thực hành tiết kiệm “Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc” Đây là con đường lâu dài và chắc chắn đối với công tác xoá đói giảm nghèo nói riêng và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân nói chung Đặc biệt là tư tưởng của Người: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá
giàu thì giàu thêm” Theo Người, xoá đói phải tiến tới giảm nghèo
và tăng giàu Đói, nghèo là một cửa ải phải vượt qua, phải tiến tới
giàu có, giàu có nữa giàu có mãi, “dân có giàu thì nước mới mạnh” Cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội như một xã hội giàu
có, phồn thịnh về kinh tế ,lành mạnh về xã hội,văn minh và văn hoá Quan niệm trên đây chứa đựng ý nghĩa giải phóng to lớn sức sản xuất, giải phóng tư tưởng và tiềm năng xã hội, hướng tới một
sự phát triển năng động của toàn xã hội vì hạnh phúc của con người
Nếu điểm xuất phát tới chủ nghĩa xã hội lại quá thấp và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội còn là mới mẻ, đang từng bước phải tìm tòi về con đường, cách đi, mô hình, cách làm như ở nước ta thì vấn đề đói nghèo đói vẫn còn tồn tại là vấn đề khó tránh khỏi
Đối với Việt Nam để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng
xa hơn so với các nước, con đường phát đi của chúng ta là phát triển rút ngắn đồng thời gắn liền với việc giảm tối đa cái giá phải
Trang 7trả - trong đó có việc giải xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam,đó là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2 Các khái niệm về đói nghèo.
2.1.Các khái niệm về nghèo
Thế giới thường dùng khái niệm nghèo khổ và nhận định
"nghèo khổ " theo 4 khía cạnh về : thời gian , không gian , về giới
Về không gian : Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, nơi
có đông dân sinh sống Bên cạnh đó tình trạng đói nghèo ở thành thị cũng có xu hướng tăng
Về giới: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giói , những
hộ gia đình nghèo nhất là những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ Trong những hộ nghèo đói do đàn ông làm chủ thì phụ nữ khổ hơn nam giói
Về môi trường : Phần lớn người nghèo đều sống ở vùng sinh thái khắc nghiệt, ở đó tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp về môi trường đang ngày càng trầm trọng hơn
Khái niệm về nghèo khổ của UNDP – 1998.
Năm 1998, UNDP công báo một bản báo cáo nhan đề “Khắc phục sự nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo như sau:
Trang 8Sự nghèo khổ của con người : Thiếu những quyền cơ bản của
con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ
Sự nghèo khổ về tiền tệ : Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng
và khả năng chi tiêu tối thiểu
Sự nghèo khổ cực độ: Nghèo khổ, khốn cùng tức là không có
khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản tối thiểu
Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn
được xác định như sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở những nước khác nhau
Sự nghèo khổ tương đối: Sự nghèo khổ được xác định theo
những chuẩn mực có thể thay đổi với thời gian ở nước này hay nước khác Ngưỡng này có thể tăng lên đồng thơì với thu nhập
Sự nghèo khổ tuyệt đối: Sự nghèo khổ được xác định bằng
một chuẩn mực nhất định Chẳng hạn như ngưỡng quốc tế của sự nghèo khổ là 1USD/người/ngày
Khái niệm về nghèo đói của Ngân hàng thế giới (WB).
Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một rổ hàng hoá lương thực hàng ngày trong năm 1993 và được gọi là
“ngưỡng nghèo về lương thực, thực phẩm” Ngưỡng nghèo này thưòng thấp bởi vì nó không tính đến số tiền chi tiêu cho những sản phẩm phi lương thực khác
Ngưỡng nghèo thứ hai là “ ngưỡng nghèo chung” bao gồm cả chi tiêu cho lương thực thực phẩm và chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực
Xuất phát từ nhu cầu calo tối thiểu cần thiết cho mỗi cơ thể theo thể trạng con người: WB đã đưa ra con số phổ biến được sử dụng là 2100 kilo calo cho một người mỗi ngày Mỗi gia đình Việt
Trang 9Nam phải mất bao nhiêu tiền để mua được một rổ hàng hoá lương thực đủ để cung cấp 2100 calo cho mỗi người một ngày Vì vậy, nghèo đói theo đĩnh nghĩa của WB là những hộ không có khả năng chi trả cho số hàng hoá lương thực của mình để đủ cung cấp 2100 calo cho mỗi ngưòi một ngày.
Khái niệm về nghèo đói trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương do ESCAP tháng 9/1993.
Nghèo tuyệt đối: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư
không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngưòi, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư sống
dưới mức trung bình của cộng đồng
2.2 Các khái niệm về đói
Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Hay có thể nói đói là một nấc thấp nhất của nghèo.
Tài liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phân loại đói làm hai dạng (theo mốc đánh giá năm 1993):
Thiếu đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có thu nhập
dưới mức thu nhập là 12 kg gạo/người/tháng Hay là tình trạng của một bộ phận dân cư ở nông thôn có thu nhập dưói mức 20.400 đồng/ngưòi/tháng và ở thành thị là 24.500 đồng/người/tháng
Đói gay gắt: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức
thu nhập dưới mức 8 kg gạo/người/tháng và ở thành thị là 16.300 đồng/ngưòi/tháng
Trang 10Ngoài ra còn có khái niệm khác nhằm làm rõ hơn tình trạng nghèo đói ở Việt Nam.
Nghèo đói kinh niên: ( tương ứng với nghèo truyền từ đời này
qua đời khác) là bộ phận dân cư nghèo đói nhiều năm liền cho tới thời đang xét
Nghèo đói cấp tính:( hay còn gọi là nghèo mới ) là bộ phậ
dân cư rơi vào tình trạng nghèo đói đột xuất vì nhiều nguyên nhân như phá sản và các rủi ro khác, tại thời điểm đang xét
II CÁC QUAN NIỆM VỀ XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO
1 Khái niệm về xoá đói, giảm nghèo.
1.1 Khái niệm về xoá đói
Xoá đói là làm cho bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống, từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu
và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống
1.2 Khái niệm giảm nghèo
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống Nói một cách khác giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn
Ở khía cạnh khác giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người
Trang 11Ở góc độ nước nghèo: Giảm nghèo ở nước ta chính là từng
bước thực hiện quá trình chuyển đổi các trình đọ sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn đọng trong xã hội sang trình độ sản xuất mới, cao hơn Mục tiêu hướng tới là trình độ sản xuất tiến tiến của thời đại
Ở góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện
giúp đỡ người có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng
đã chỉ ra rằng 3 thước đo xác định mức độ đói nghèo có thể được tính bằng công thức sau:
N
Pα
1 1
Trong đó yi là đại lượng xác định phúc lợi( ở đây chi tiêu tính trên đầu người) cho người thứ i, z là ngưỡng nghèo, N là số người
có trong mẫu dân cư, M là số người nghèo và α có thể được diễn
Trang 12giải như là đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa những người nghèo.
Khi α=0, đẳng thức trên tương đương với M/N, tức là bằng
số người nghèo chia cho tổng số người ở trong mẫu Thước đo xác định quy mô đói nghèo và được sử dụng rất phổ biến này được gọi
là tỷ số đếm đầu người hay chỉ số đếm đầu khi chuyển sang tính dưới dạng % Mặc dù chỉ số đếm đầu dễ được diễn giải song nó không nhạy cảm với khoảng cách của những người nghèo so với ngưỡng nghèo
Khi α=1, ta có chỉ số khoảng cách nghèo đói Chỉ số này cho biết sự thiếu hụt trong chi tiêu của các hộ nghèo so với ngưỡng nghèo và nó được biểu hiện như mức trung bình của tất cả mọi người trong quần thể Khoảng cách nghèo đói được tính đơn giản như là tổng tất cả các khoảng cách nghèo đói ở trong quần thể, có thể được sử dụng để xác định chi phí tối thiểu để xoá bỏ nghèo đói trong điều kiện mọi khoản chuyển nhượng được chuyển đến đúng đối tượng Tuy nhiên, việc chuyển giao các khoản chuyển nhượng theo định hướng mục tiêu thường đi kèm với hao hụt và chi phí hành chính và bởi vậy chi phí thực tế để xoá bỏ nghèo đói thường
là bội số của khoảng cách nghèo đói
Khi α=2, ta có chỉ số khoảng cách nghèo đói bình phương Chỉ số này thể hiện mức độ nghiêm trọng (hay cường độ ) của nghèo đói và tăng thêm trọng số cho nhóm người nghèo nhất trong
số những người nghèo
Không giống như một số thước đo mức độ nghèo đói khác, 3 đại lượng này có tính chất rất hữu ích là nó có thể tính như là tổng
Trang 13số các số hạng được phân nhỏ (chẳng hạn, mức đói nghèo chỉ số đếm đầu người trên toàn quốc sẽ bằng bình quân gia quyền của nghèo đói ở khu vực nông thôn và thành thị , hay bằng bình quân gia quyền của chỉ số đếm tỉ lệ nghèo đói ở các vùng khác nhau).2.2 Các cách tính xác định sự bất bình đẳng.
Ba thước đo xác định mức độ bất bình đẳng được sử dụng trong báo cáo gồm: Tỷ số giữa chi tiêu của nhóm người có mức chi tiêu cao nhất với chi tiêu của nhóm người có mức chi tiêu thấp nhất, hệ số Gini , và chỉ số Theil L Cũng giống như thước đo nghèo đói đã đề cập ở trên, các đại lượng này đều được tính dựa vào mức chi tiêu trên đầu người như là thước đo của phúc lợi, nếu được sử dụng khác đi sẽ được giải thích rõ
Tỉ số chi tiêu của nhóm giàu nhất chia cho chi tiêu của nhóm người nghèo nhất là một đại lượng được sử dụng rất phổ biến ở cả các nước phát triển và đang phát triển, (một nhóm bao gồm 20% dân số) Hạn chế chính của thước đo xác định sự bất bình đẳng này
là bỏ qua chi tiêu của 60% dân số là những người có mức chi tiêu trung bình và nó cũng không tính đến sự phân bố chi tiêu trong các nhóm người nghèo nhất và người giàu nhất
Hệ số Gini là thước đo xác định sự bất bình đẳng nhận giá trị trong khoảng từ 0 (khi tất cả mọi người có mức chi tiêu hoặc thu nhập như nhau) đến 1 (khi một người nắm giữ mọi thứ của xã hội !) Hệ số Gini càng tiến tới gần 1 thì sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng lớn Đối với hầu hết các nước đang phát triển, hệ số Gini chi tiêu hoặc thu nhập nằm trong khoảng từ 0,3-0,6
Trang 14Hệ số Gini minh hoạ trên đồ thị được biểu thị bằng phần diện tích nằm dưới đường cong Lorenz chia cho phần diện tích nằm phía dưới đường chéo công bằng Do vậy đường cong Lorenz càng cách xa đường công bằng bao nhiêu thì hệ số Gini càng lớn bấy nhiêu Tuy là một thước đo xác định sự bất bình đẳng được sử dụng rất phổ biến song hệ số Gini còn có một số hạn chế Những hạn chế đó là : (a) hệ số Gini không phải lúc nào cũng tăng lên khi lấy tiền của một người và chuyển sang cho một ngươì khác giàu hơn; và (b) không thể phân tách hệ số Gini theo các nhóm con (chẳng hạn như các khu nông thôn và đô thị hoặc cho 7 khu vực hành chính ở Việt Nam) và sau đó “tổng hợp lại” để rút ra hệ số Gini của quốc gia.
Chỉ số Theil L là đại lượng xác định sự bất bình đẳng dựa trên lý thuyết thông tin/ xác suất Chỉ số Theil L biến thiên từ 0 (công bằng tuyệt đối ) đến ∞ (bất bình đẳng tuyệt đối ) song chỉ số này ít khi lớn hơn 1 Cũng giống như hệ số Gini, chỉ số Theil L càng lớn thì sự bất bình đẳng trong phân phối chi tiêu (hoặc thu nhập) càng cao Chỉ số Theil L được tính như sau:
1ln
Trong đó, giống như trên, yi là đại lượng xác định phúc lợi cho người thứ i, N là số lượng người có trong quần thể và Y là tổng của các đại lượng xác định phúc lợi của tất cả các cá nhân (tức là tổng chi tiêu hoặc tổng thu nhập )
Trang 15Thước đo chỉ số Theil L có 2 ưu điểm chính : (a) làm tăng trọng số của những người có thu nhập thấp ; (b) không giống như
hệ số Gini, nó có thể được phân ra theo các nhóm con (nói một cách chính xác, chỉ số Theil L quốc gia là bình quân gia quyền của các chỉ số của các nhóm con trong đó trọng số là các tỷ trọng trong quần thể dân cư) Ưu điểm thứ hai này rất quan trọng vì nó cho phép xem xét các yếu tố dẫn đến thay đổi trong sự bất bình đẳng ở cấp độ quốc gia
Một thước đo xác định sự bất bình đẳng có liên quan khác là chỉ số Theil T về sự bất bình đẳng Chỉ số này nhận giá trị biến thiên từ 0 đến log(N) Bản báo cáo này sử dụng chỉ số Theil L vì chỉ số này nhạy cảm hơn chỉ số Theil T đối với sự bất bình đẳng ở phần thấp trong đồ thị phân phối thu nhập
3.Các tiêu thức và chuẩn mức đánh giá nghèo đói.
3.1 Các tiêu thức đánh giá nghèo đói
Để xác định ngưỡng nghèo có nhiều chỉ tiêu, chuẩn mực đánh giá khác nhau
a) Tiêu thức về chỉ tiêu chất lượng cuộc sống (PQLI) chỉ số PQLI bao gồm ba mục tiêu cơ bản là tuổi thọ, tỷ lệ tử vong của trẻ
sơ sinh và tỷ lệ mù chữ
b) Tiêu thức về chỉ tiêu phát triển con người (HDI) do UNDP đưa ra gồm: tuổi thọ, tình trạng biết chữ người lớn, thu nhập bình quân trên đầu người trong năm
c) Tiêu thức về chỉ tiêu nhu cầu dinh dưỡng: Tính mức tiêu dùng qui ra kilocalo cho một người trong một ngày
Trang 16d) Tiêu thức về thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người: Đây là chỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nước và tổ chức quốc tế đang dùng để xác định giàu nghèo
Tại đại hội lần thứ II của uỷ ban giảm nghèo khổ khu vực (ESAP) họp tại BangKoc tháng 9/1995, Ngân hàng thế giới đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình quân đầu ngươì dưới 370 USD/ người/năm
Tóm lại, sự kết hợp chỉ tiêu GDP, HDI, và PQLI cho phép nhìn nhận các nước giàu, nghèo chính xác và khách quan hơn Bởi
nó cho phép đánh giá khách qua, toàn diện của con người trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội
3.2 Mức chuẩn đánh giá nghèo đói
a) Mức chuẩn nghèo đói đối với quốc tế (đánh giá nước giàu, nước nghèo)
Ở một khía cạnh khác nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng, một miền Các chỉ số xác định thế nào là nghèo cho biết trình độ phát triển kinh tế - xã hội nói chung và trình độ lực lượng sản xuất nói riêng ở vùng, miền,quốc gia ấy ở tại một thời điểm nhất định Ví dụ: với chỉ số nghèo là 400 USD/người/ năm cho biết đây là nước nghèo đang phát triển Với chỉ số nghèo là 13.000 USD/người/năm cho biết đây là nước phát triển
Như vậy trên thế giới tương đương với ba nhóm nước có ba dạnh nghèo khác nhau: Nghèo ở các nước có trình độ kinh tế phát triển cao; nghèo ở các nước có trình độ phát triển kinh tế chậm và
Trang 17nghèo ở các nước có trình độ phát triển kinh tế trung bình Việc phân định ba dạng nghèo như vậy có ý nghĩa rất lớn trong việc xem xét đánh giá nghèo ở mỗi nước thuộc dạng nào, tương ứng với trình độ phát triển kinh tế – xã hội nào để có cách nhìn tổng quát trong quá trình giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo.
Với cách đánh giá nghèo như trên, nghèo ở Việt Nam mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản này, nhưng nổi bật ở hai đặc trưng:
- Nghèo dai dẳng kéo dài, nghèo từ đời nay sang đời khác
- Nghèo có cấp độ rất lớn, khoảng cách giữa thu nhập quan sát được vơí ngưỡng nghèo được quy định ở Việt Nam và trên thế giới là rất lớn Biểu hiện là, Việt Nam vẫn còn một bộ phận dân cư
bị đói
Đây là hai đặc trưng phản ánh thực trạng ở Việt Nam là nước còn rất nghèo, nằm trong nhóm nước đang phát triển với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém Đồng thời hai đặc trưng này chi phói rất nhiều đến trình đọ giảm nghèo ở nước ta hiện nay
Nếu căn cứ vào GDP trên đầ người / năm ở vào thời điểm năm 1990 để phân tích cho thấy:
Trên 25.000 USD : nước cực giàu
Trên 20.000 – 25000 USD : nước giàu
Trên 10000 – 20000 USD : nước khá giàu
Trên 2500 – 10000 USD : nước trung lưu
Trên 500 – 2500 USD : nước nghèo
Dưới 500 USD : nước cực nghèo
Trang 18Việt Nam mới đạt được 386 USD/người/năm (Năm2000) được xếp thứ 110/171 trên thế giới, nằm trong nhóm cực nghèo.
b) Mức chuẩn nghèo đói đối với Việt Nam
Theo thông báo số 1751/LĐTBXH ngày 20/05/1997 của Bộ Lao Động Thương binh xã hội , chuẩn đói nghèo được quy định như sau ( chuẩn cũ )
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu nghười trong tháng dưới:
15kg gạo tương đương với 70.000 đồng đối với khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo
20kg gạo tương đương với 90.000 đồng đối với khu vực thành thị
Hộ đói là hộ có thu nhập bình quan đầu người trong tháng dưới 13kg gạo tương đương với 45.000 đồng
Xã nghèo là xã có tỉ lệ hộ nghèo đói từ 40% trở lên , thiếu cơ
sở hạ tầng (đường giao thông , trường học , trạm y tế, điện sinh hoạt , nước sinh hoạt , thuỷ lợi nhỏ và chợ)
-Căn cứ vào quy mô tốc độ tăng trưởng kinh tế ,nguồn lực tài chính 2001-2005 và mức sống thực tế của người dân ở từng vùng ,
Bộ lao động thương binh xã hội Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo đói mới nhằm lập danh sách hộ nghèo từ câps thôn xã , và danh sách xã nghèo từ cấp huyện trở lên đẻ hưởng ứng sự trợ giúp của chính phủ từ chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và các chính sách hỗ trợ khác Cụ thể như sau :
Theo quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ trưởng Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội
Trang 19công bố chuẩn đói nghèo mới được quy định theo mức thu nhập bình quân đàu người trong hộ cho từng vùng như sau :
Vùng nông thôn miền núi hải đảo quy định từ 80.000 đồng/người/ tháng trở xuống, bằng 960.000 đồng / người / năm
Vùng nông thôn đồng bằng 100.000 đồng / người / tháng trở xuóng, bằng 1.200.000 đồng / người/ năm
Vùng thành thị là 150.000 đồng /người / tháng, bằng 1.800.000 đồng /người /năm
Trong tương lai Việt Nam sẽ tiến đến 1 chuẩn thống nhất để đánh giá tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam và có tính đén tiêu chí Quốc Tế
để so sánh
• Nghèo đói theo đánh giá của ngân hàng thế giới ( WB)
Ngân hàng thế giới dựa theo mức nhu cầu calo tiêu thụ hàng ngày là 2.100 calo/ người/ ngày và đồng thời cũng tính đến việc thay đổi giá cả theo từng vùng của một số nhóm hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu đã đưa ra một tiêu chuẩn để đáng giá nghèo đói tại Việt Nam là 1.090.000 đồng/ người/ năm, nnếu tính riêng cho đô thị là 1.203.000 đồng/ người/ năm và ở nông thôn là 1.040.000 đồng/ người/ năm Ta thấy mức tiêu chuẩn này cao hơn mức tiêu chuẩn của Tổng cục Thống kê nhiều, dẫn đén một tình trạng có sự khác biệt lớn trong cách đánh giá tình trạng nghèo đói Theo tiêu chuẩn này thì Việt Nam có đến một nửa dân số (51%) được cccoi là nghèo đói, trong một nửa số nghèo này tức là khoảng 25% tổng số dân thuộc diện nghèo đói về lương thực, nghĩa là dù
họ có dùng toàn bộ thu nhập của mình để tiêu dùng cho nhu cầu
Trang 20lương thực, thực phẩm cơ bản thì vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ calo cơ bản hàng ngày.
Về mặt cơ cấu, mức độ nghèo khó ở nông thôn cao hơn nhiều
so với thành thị, năm 1999 tỉ lệ nghèo đói về lương thực, thực phẩm của thành thị là 4,6%, trong khi đó của nông thôn là 15,9%
Số dân nghèo khổ ở nông thôn chiếm tỉ lệ cao so với các vùng đô thị , trên 80% người nghèo là nông dân , trình độ tay nghề thấp, sống tập trung chủ yếu ở nông thôn
Bảng 1: Ước tính quy mô và tỉ lệ nghèo đói theo chuẩn nghèo
mới giữa thành thị và nông thôn năm 2000
Số hộ nghèo (nghìn hộ )
So với số hộ trong vùng (%)
Nguồn: Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo.
Mức độ nghèo khổ cũng không đồng đều giữa các khu vực Đối với các vùng xa xôi hẻo lánh tại Bắc Trung Bộ, số người nghèo chiếm tới 71% dân số Tại các vùng Trung du, miền núi phía Bắc, tỷ lệ này là 59% dân số Đây là các vùng có tỷ lệ nghèo khổ cao hơn mức trung bình của cả nước Hai vùng này chiếm khoảng 40% số người nghèo tại Việt Nam, tuy chúng chỉ chiếm 29% dân
số cả nước Tỷ lệ nghèo thấp nhất là 33% tại vùng Đông Nam Bộ,
Trang 21nơi có trung tâm kinh tế mạnh nhất của cả nước là thành phố Hồ Chí Minh Bốn vùng khác nhau là cao nguyên Trung bộ, đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng Sông Cửu Long và Duyên hải miền Trung đều có tỷ lệ nghèo đói thấp hơn một chút so với mức trung bình chung của cả nước, chiếm khoảng từ 48-50%.
c) Mức chuẩn nghèo đói đối với Thanh Hoá
So với mức chung của cả nước, tỉ lệ nghèo đói của tỉnh Thanh Hoá còn khá cao (cao hơn mức trung bình của cả nước ) Từ năm 2001, tuy chuẩn hộ nghèo mới của nước ta giai đoạn 2001-
2005 chỉ có chuẩn nghèo theo vùng , không có chuẩn riêng đối với
hộ đói , song do tỉnh Thanh Hoá có số lượng hộ dưới chuẩn nghèo quá lớn , trong đó có nhiều hộ có mức thu nhập bình quân đầu người quá thấp Vì vậy , để có những giải pháp phù hợp , Thanh Hoá phân loại hộ nghèo của Tỉnh thành 2 loại theo mức thu nhập :
Hộ nghèo có mức thu nhập dưới 55.000 đồng /người /tháng (gọi
Trang 22Cơ cấu đói nghèo theo khu vực : khu vực thành thị , khu vực nông thôn miền xuôi, khu vực miền núi
Cơ cấu đói nghèo theo khu vực của tỉnh Thanh Hoá được biểu hiện như sau:
-Tỉ lệ đói nghèo ở thành thị thấp hơn so với tỉ lệ đói nghèo ở nông thôn, đây cũng chính là hiện tượng chung của cả nước Khu vực thành thị điều kiện KTXH nói chung cao hơn so với nông thôn Tình trạng đói nghèo ở thành thị tập trung chủ yếu ở các hộ sống vùng ven đo, không có việc làm
-Tỉ lệ nghèo đói ở miền núi cao hơn miền xuôi, trong đó tỉ lệ
hộ đói ở miền núi cao gấp nhiều lần tỉ lệ hộ đói ở miền xuôi và tỉ lệ
ở thành thị Điều này chứng tỏ tình trạng đói nghèo ở miền núi gay gắt hơn miền xuôi
III ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÓI NGHÈO VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
1 ảnh hưởng của đói nghèo
1.1 Đói nghèo với tăng trưởng kinh tế
Để tăng trưởng kinh tế, mỗi quốc gia phải có thu nhập, và thu nhập đó ngày càng phải tăng lên để có tích luỹ cho giai đoạn sau Tuy nhiên đói nghèo lại là nguyên nhân làm giảm mức thu nhập quốc dân , và làm giảm tích luỹ, vì Nhà Nước phải tăng các khoản chi cho bảo đảm xã hội Xét về tuỵệt đói , mức thu nhập của người nghèo luôn ở mức thấp hơn mức trung bình của xã hội , vì vậy tỉ lệ đói nghèo càng cao càng ảnh hưởng nhiều tới mức thu nhập trong nước Hơn thế nữa do trình độ hiểu biết áp dụng khoa học công nghệ của người nghèo là hạn chế nên năng suất lao động của hộ
Trang 23nghèo rất thấp, nó dẫn tới năng xuất lao động xã hội và mức tăng trưởng kinh tế luôn ở những chỉ số thấp Thất nghiệp gia tăng, thu hập không đủ cho chi dùng vật phẩm tối thiểu,do đó càng không thể có điều kiện chi đùng cho những nhu cầu văn hoá tinh thần để vượt qua ngưỡng tồn tại sinh học, vươn tới việc thoả mãn nhu cầu phát triển chất lượng con người Đó là hiện trạng nghèo đói về kinh
tế của dân cư
Nhìn từ góc độ xã hội, nghèo đói của dân cư biểu hiện qua tỷ
lệ lao động thất nghiệp ( tuyệt đối và tương đối ), chỉ số về tổng số sản phẩm quốc nội, thu nhập bình quân theo đầu người, mức độ thấp kém của đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, kể cả phát triển giáo dục, khoa học - kỹ thuật, văn hoá và các lĩnh vực khác y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và phúc lợi xã hội
Nghèo đói càng gay gắt thì phát triển kinh tế càng bị kìm hãm Trình độ phát triển càng chậm chạp thì càng thiếu điều kiện
và khả năng từ bên trong để khắc phục đói nghèo
Tính tất yếu và bức xúc giải quyết vấn đề giảm nghèo ( xoá đói ) còn ở chỗ trong thời đại mở cửa vấn đề hoà nhập và sự bất lợi của nước nghèo, nước chậm phát triển trong quan hệ kinh tế với nước khác là rất lớn
Đối với nước nghèo, tăng trưởng kinh tế với tốc độ kinh tế chậm sẽ không có vị thế khi đàm phán kí kết với các nhà đầu tư nước ngoài và sẽ không đủ khả năng tiến hành những hoạt động mang lại phần lợi nhuận cao như buôn bán và dịch vụ ngân hàng
Bên cạnh những thành tựu về tăng trưởng kinh tế nhanh đồng thời đòi hỏi cần có chiến lược phát triển con người Nếu có được
Trang 24một lực lượng lao động có văn hoá, có chuyên môn và giàu kinh nghiệm sẽ là kho báu quý giá để ngăn chặn sự phụ thuộc quá mức vào khả năng chuyên môn của nước ngoài.
Hơn thế nữa, nước nghèo thường chịu sự áp đặt của nước giàu, nước phát triển trong quan hệ hợp tác kinh tế Từ sự thua thiệt
về kinh tế đã ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại của nước trên chính trường quốc tế Tiếng nói và vai trò của nước nghèo trên các diễn đàn quốc tế ít được chú ý Một nước càng giàu và càng mạnh thì càng có khả nắm được những lợi thế về kỹ thuật Nền văn hoá được khẳng định mf không bị đe doạ Luôn giữ được độc lập và có chủ quyền trong những lựa chọn của mình Sự ảnh hưởng và khả năng làm bá chủ của nước đó càng rộng Đối với nước càng nghèo thì càng thiếu (trong tất cả các lĩnh vực ) những đảm bảo cho phép một nhà nước, một quốc gia được tồn tại
1.2 Đói nghèo với chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của mỗi quốc gia Điều đó bắt nguồn từ vai trò của con người trong sự phát triển Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu , mà nếu thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sự phát triển Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu củ yếu gồm: Tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá của người lao động, trình độ chuyên môn kỹ thuật Chất lượng nguồn nhân lực còn được thể hiện thông qua chỉ số phát triển con người HDI Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống, và sự công bằng tiến bộ xã hội
Trang 25Nhìn chung đói nghèo là một trở ngại lớn cho sự phát triển trí lực Trẻ em thuộc gia đình nghèo thường phải bỏ học sớm để tham gia sản xuất giúp đỡ gia đình và bản thân mặc dù năng suất lao động thấp.Vì đói gnhèo nên khả năng cũng như điều kiện của người nghèo tiếp xúc với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật là rất hạn chế Do đó trình độ hiểu biết của người nghèo về phát triển kinh tế-xã hội , sự cần thiết phải đổi mới phương thức sản xuất , áp dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình sản xuất là rất kém Điều này dẫn tới năng suất lao động của người nghèo thấp Đó là "cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo"
1.3 Đói nghèo và sự gia tăng dân số
Đói nghèo và sự gia tăng dân số luôn có mối quan hệ nhân quả với nhau Đói nghèo vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của sự gia tăng dân số, ngược lại dân số tăng quá nhanh tất yếu dẫn đến tình trạng đói nghèo
Thực tế các nước đông dân , dân số tăng nhanh thì người dân nói riêng và quốc gia nói chung phải dành chi phí rất lớn cho các nhu cầu tiêu dùng nên khó có điều kiện tích luỹ để mở rộng sản xuát Đối với gia đình đông con, do không có điều kiện nuôi dậy con em tốt nên bị hạn chế bởi kiến thức và không đủ các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của con cái Mặt khác, khi đã đói nghèo thường đi đôi với năng suất lao động thấp , nên người dân lại càng cần nhiều sức lao động hơn Điều này làm tăng nhu cầu có nhiều con của các gia đình nghèo Đói nghèo cũng làm cho người dân khó có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, trong đó có dịch vụ
Trang 26KHHGĐ Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng mức sinh sản của gia đình nghèo.
Đói nghèo và gia tăng dân số tựa hồ như cái vòng luẩn quẩn : Càng đói, càng nghèo=>dân số càng tăng nhanh=>lại càng đói, càng nghèo hơn
1.4 Đói nghèo với các tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội không chỉ là mối nguy với an ninh xã hội và sự bình yên của mỗi gia đình , mà giờ đây nó thực sự đe doạ sự tồn vong của giống nòi.Tình trạng gia tăng tệ nạn xã hội hiện nay do lối sống gấp, muốn làm giàu nhanh chóng bằng mọi cách của nền kinh tế thị trường, do tình trạng thất ngiệp , thiếu việc làm nhưng trong đó có một nguyên nhân góp phần làm gia tăng đáng kể tệ nạn
xã hội phải nói đến đó là do sự nghèo khổ Hàng năm số lượng người nghèo từ nông thôn ra thành thị là rất đông , số người ăn xin, trẻ em lang thang cũng ngày một gia tăng , dẫn đến tình trạng phức tạp lộn xộn ở các đô thị lớn,làm nảy sinh các tệ nạn xã hội Trong
đó Thanh Hoá là một trong những tỉnh có số trẻ em lang thang đông nhất cả nước
1.5 Đói nghèo và địa vị kinh tế - xã hội của người nghèo trong cộng đồng
Nhìn chung trong mọi lĩnh vực , địa vị chính trị xã hội của người nghèo đều thấp hơn một cách đáng kể so với mức trung bình (về lượng) và những vị trí vừa phải và thấp trong chính quyền đoàn thể(về chất) Lý do thật đợn giản : vì thứ nhất người nghèo ít có khả năng và điều kiện tham gia vào công tác xã hội, phần lớn thời gian của họ là để lao động tìm cách nuôi sống gia đình mình Thứ
Trang 27hai , là do học vấn của người nghèo thường thấp , ít có điều kiện được giao du học hỏi nên trình độ hiểu biết hạn hẹp , ít có điều kiện tham gia vào công tác chính trị xã hội được Thứ ba bản thân người nghèo không được cộng đồng tín nhiệm trong việc làm gương về trình độ hiểu biết và kinh ngiệm làm ăn trong sản xuất
kinh doanh.
2.Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo
Đói nghèo là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu Sinh thời Bác hồ vẫn hằng mong muốn " ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành " Chính vì vậy ngay từ khi Việt Nam giành được độc lập 1945, Bác đã xác định đói nghèo như là một thứ giặc , cũng như giặc dốt giặc ngoại xâm, nên đã đưa ra nhiều mục tiêu phấn đấu để nhân dân thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm ấm no hạnh phúc Thực hiện mong muốn đó của Bác , trong nhiều năm qua Chính phủ Việt Nam luôn coi công tác XĐGN
là mục tiêu xuyên xuốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Kể từ năm 1992 thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà Nước phong trào XĐGN đã lôi cuốn vận động được mọi tầng lớp nhân dân tham gia có tác dụng thiết thực trong công tác XĐGN
XĐGN chính là việc nhà nước và xã hội tạo điều kiện giúp đỡ cho những người nghèo vươn lên thoát nghèo , biết cách tự thoát nghèo tránh tái nghèo khi gặp rủi ro Bên cạnh sự hỗ trợ về vật chất trực tiếp cho người nghèo thì việc tạo ra việc làm cho người nghèo, hướng dẫn cách làm ăn , sản xuất kinh doanh cho người nghèo theo điều kiện cụ thể của họ mới là XĐGN thực sự
Trang 28Sự cần thiết của công tác XĐGN được thể hiện qua những nội dung sau:
2.1.XĐGN là một chính sách lớn vì xã hội nhân văn
Xuất phát từ những ảnh hưởng của đói nghèo đối với sự phát triển kinh tế xã hội, XĐGN nổi lên như là một vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc cần phải giải quyết để đổi mới và phát triển đất nước Nếu vấn đề XĐGN không được giải quyết thì không một mục tiêu nào về phát triển kinh tế xã hội , như tăng trưởng kinh tế , cải thiện đời sống nhân dân , ổn địng xã hội , đảm bảo quyền con người được thực hiện
2.2 XĐGN tạo điều kiện cho phát triển
Trong thế giới hiện đại , thực chất của sự phát triển chính là phát triển con người Nó vừa là mục tiêu hàng đầu vừa là động lực
to lớn khơi dậymọi tiềm năng của mỗi cá nhân và cả cộng đồng trong công cuộc xây dựng đất nước XĐGN là một trong những chính sách xã hội hướng vào phát triển con người , nhất là đối với nhóm người nghèo , tạo cơ hội chô họ tham gi a vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
2.3 XĐGN góp phần đảm bảo an ninh trật tự xã hội và là cơ
sở để bảo vệ môi trường sinh thái
Đói nghèo là một nguy cơ không có tiếng ồn , nhưng lại là một nguyên nhân chủ yếu gây nên tội phạm , các tệ nạn xã hội , bạo lực , mất an ninh xã hội Nó không chỉ kéo theo hậu quả kinh
tế xã hội nghiêm trọng cho các nước đang phát triển mà còn là nguyên nhân quan trọng của xung đột mất ổn định chính trị Vì vậy
Trang 29XĐGN là một trong những biện pháp góp phần đảm bảo ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội
2.4 XĐGN là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng xã hội, tăng trưởng bền vững và thực hiện cam kết quốc tế
XĐGN là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng bền vững Vì XĐGN tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực lượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định cho giai đoạn cất cánh Trên phương diện nào đó, xét về ngắn hạn khi phân phối 1 phần đáng kể trong thu nhập xã hội cho trương trình XĐGN thì nguồn lực dành cho tăng trưởng kinh tế có thể bij ảnh hưởng, song xét 1 cách toàn diện về dài hạn thì kết quả XĐGN lại tao tiền đề cho tăng trưởng nhanh và bền vững Mặt khác đói nghèo là vấn đề có tính chất toàn cầu, thực hiện chính sách XĐGN , tấn công vào nghèo đói chính là thực hiện cam kết quốc tế Theo cam kết Copenhaghen về phát triển xã hội thì " XĐGN là một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức, xã hội , chính trị và kinh tế ", do đó trong kế hoạch hành động thực hiện các mục tiêu về phát triển xã hội, Việt Nam cam kết dành ưu tiên hàng đầu cho XĐGN
Đối với tỉnh Thanh Hóa là 1 tỉnh nghèo trong cả nước, hơn nữa lại là tỉnh đông dân , hơn 3,5 triệu dân ( đứng thứ hai toàn quốc sau thành phố HCM ), với 27 huyện, thị xã , thành phố, 630 xã, phường thị trấn , có 11 huyện miền núi , 220 xã miền núi, hơn 1 triệu dân số sống ở khu vực miền núi Tỉ lệ đói nghèo còn ở mức cao Năm 1993 là 27,3% đến năm 1996 còn 23,77% và năm 2000 giảm xuống còn 14% (theo chuẩn mực cũ) Đầu năm 2001, theo
Trang 30chuẩn mực hôn nghèo mới , Thanh Hóa còn gần 170.000hộ nghèo, chiếm gần 22% so với tổng số hộ, chưa kể một bộ phận lớn dân số nông nghiệp tuy không thuộc diện hộ nghèo , nhưng do thu nhập không ổn định , nằm giáp ranh chuẩn nghèo cũng có nguy cơ đói nghèo
Trước thực trạng đói nghèo của tỉnh như hiện nay có thể nói
đó là một thách thức lớn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao , rút ngắn dần khoảng cách về kinh tế đối với các tỉnh khác trong cả nước đòi hỏi Thanh Hóa trước hết phải qúan tâm đến công tác XĐGN
Như vậy XĐGN là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hóa nhằm tạo đà cho nền kinh
tế của tỉnh phát triển , bắt kịp với kinh tế xã hội của các tỉnh , thành phố khác trong cả nước
Trang 31
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ NGUYÊN NHÂN ĐÓI
NGHÈO CỦA TỈNH THANH HÓA
I ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TỈNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI CỦA TỈNH
1 Đặc điểm tự nhiên -xã hội của tỉnh
Thanh Hóa có diện tích tự nhiên 11.106,09 km2, là tỉnh có miền núi, vùng cao -biên giới , vùng đồng bằng và vùng biển, xếp thứ 6 về diện tích trong cả nước Dân số toàn tỉnh 3,52 triệu người xếp thứ 2 về dân số , có các dân tộc Kinh , Mường, Thái, Tày, Dao, Hmông, Mật độ dân số vào loại trung bình : 317 người /km2 Về
tổ chưcs hành chính gồm 24 huyện, 1 thành phố cấp 3(thành phố Thanh Hóa ), 2 thị xã ( bỉm sơn và Sầm Sơn) với tổng số xã 582,
30 thị trấn, 18 phường trong đó có 220 xã thuộc miền núi Dân số
đô thị chiếm 9,2% số dân toàn tỉnh
Thanh Hóa tiếp giáp 3 tỉnh Sơn La , Hòa Bình , Ninh Bình ở phía bắc, phía nam giáp Nghệ An, phía tây giáp Lào, phía đông là vịnh Bắc Bộvới chiều dài bờ biển 102km Có đường quốc lộ 1A, quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng và ven biển của tỉnh , tạo điều kiện thuận lợi giao lưu với các tỉnh thành phố khác trong cả nước Đường chiến lược Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng trung du và miền núi của tỉnh và các mièn trong cả nước Đường 217 nối Thanh Hóa với tỉnh Hủa Phăn (Lào)
Trang 32Tài nguyên đất với S 111069,09 ha chia làm 10 nhóm đất chính với 28 loại đất khác nhau: đát đỏ vàng , đất vàng đỏ trên núi, đất phù sa, bồi tụ , đất bị xói mòn, đất bạc màu, đất lầy thụt than bùn, đất mặn đất cát.Trong đó hiện đã sử dụng 756669,73 ha = 68,13% diện tích tự nhiên, sử dụng vào sản xuất nông nghiệp 239.842,2 ha , vì vậy khả năng mở rộng diện tích để phát triẻn sản xuất nông lâm ngư nghiệp của Thanh Hoá còn khá lớn.
Về tài nguyên nguòn nhân lực : Thanh Hoá là tỉnh đất rộng người đông,.dân số tăng nhanh chủ yếu là tăng tự nhiên , trong tỉnh
có nhiều dân tộc anh em sinh sống,người Kinh chiếm tỉ trọng lớn nhất 84,75% ,Mường 8,7% ,Thái 6% ,các dân tộc khác chiếm tỉ trọng không đáng kể Với dân số đông như vậy Thanh Hoá có một nguồn nhân lực dồi dào thuận lợi phát triển các ngành sử dụng nhiều lao dộng,tuy nhiên các dân tộc ít ngừơi sống ở vùng núi ,biên giớ i,dân trí thấp ,kinh tế nghèo,đời sống khó khăn, vì thế đa phần lực lượng lao động của Thanh Hoá ít được qua đào tạo ,tay nghè kém,cần được bồi dưỡng quan tâm hơn nữa.Năm 2002 dân số trong
độ tuổi lao động có 1,948 triệu người , chiếm tỉ lệ 54,60% tổng dân
số toàn tỉnh Lao động xã hội đang làm việc trong các ngành kinh
tế quốc dân có 1,503 triệu người, trong đó số lao dộng đang làm việc trong các ngành nông lâm ngư nghiệp là chủ yếu ( chiếm 81,43%) Lao động xã hội đang làm việc trong các ngành thuộc khu vực nhà nước : do TW quản lý là 19,078 ngàn người , do địa phương quản lý là 75,835 ngàn người ( năm 1999) Năm 2000 tỷ lệ lao động tíât nghiệp ở đô thị : 6,34%, sử dụng quỹ thời gian lao
Trang 33động ở nông thôn là 74,3% Nguồn lao động trẻ dưới 30 tuổi chiếm
tỉ trọng cao
Năm 2002 khu vực miền núi Thanh Hoá còn 71/220 xã chưa
có điện , 14 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã Đời sống nhân dân còn khó khăn,tỉ lệ nghèo đói cao,đén nay khu vực miền núi của tỉnh còn 35.365 hộ đói nghèo chiếm tỉ lệ lên 32,26% và 63,392 hộ nghèo chiếm tỉ lệ 38,42%số hộ (theo tiêu chí mới )
2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh
2.1 Về kinh tế
Trong những năm qua tuy có nhiều khó khăn mới nảy sinh như cuộc khủng hoảng tài chính khu vực (giai đoạn 1996-2000) đã ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của cả nước, trong đó có Thanh Hóa, song ne3èn kinh tế của tỉnh vẫn tiếp tục tăng trưởng với tốc
độ cao hơn, bình quân 7,3%năm, trong đó tốc độ tăng công nghiệp -xây dựng :13,5%, dịch vụ 7,3%, nông lâm ngư nghiệp 3,7% Tổng GDP của tỉnh đến năm 2000 đạt 7.690,75 tỉ đồng, tăng gấp 2 lần (1,96) lần so với năm 1990
136.57 1 3.927,5 3.111,6 1.177,9
228.89 2 6.370, 6 5.580, 0 2.180,
361.01 6 8.524, 2 8.059, 5 3.460,
456.000 10.100 8.900 4.364
Trang 346 6 Nhịp độ tăng
6,94 7,3 6,73 6,27
Nguồn : "quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010"
Dự ước cơ cấu GDP năm 2000 là : nông lâm ngư nghiệp 39,9%, công nghiệp -xây dựng 26,4%, dịch vụ 33,7% GDP bình quân đầu người năm 2000 đạt 291,USD( tăng 71,3 U SD so với năm 1995) Sản lượng lương thực năm 2000 tuy vụ mùa bị thiên tai nặng, nhưng vẫn đạt 1,3 triệu tấn Nông lâm ngư nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với việc khai thác tiềm năng kinh tế biển và trung du miền núi Các vùng cây công nghiệp tập trung, chuyên canh được quan tâm đầu tư phát triển Đếm nay
đã hình thành vùng nguyên liệu mía 29.500ha, cao su7000ha, cà phê3000ha, các loại cây lạc đay cói thuốc lá đỗ tương đều có tốc độ tăng cả về diện tích và sản lượng
Chăn nuôi phát triển và chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa Nghề rừng được tổ chức lại và phát triển theo hướng lâm nghiệp xã hội, chuyển từ khai thác là chủ yếu sang trồng mới, khoanh nuôi , chăm sóc và bảo vệ, gắn việc trồng rừng phòng hộ với phát triển kinh tế, bình quân hàng năm thời kì 1996-2000 trồng được 7.238 ha rừng tập trung, nâng độ che phủ lên 37% Nghề rừng
Trang 35phát triển đúng hướng đã góp phần XĐGN, giải quyết việc làm cho hàng vạn hộ nông dân ở các huyên miền núi.
Kinh tế biển có chuyển biến về đánh bắt nuôi trồng và dịch
vụ hậu cần chế biến Từ năm 1996-2000 đầu tư 128 tầu công suất, tạo việc làm cho 41.000 lao động Nuôi trồng thủy sản tăng diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế Sản lượng hải sản năm
2000 đạt 47,5 ngàn tấn, gấp 1,5lần 1995
Công nghiệp mặc dù gặp nhiều khó khăn thách thức nhưng giá trị sản xuất hàng năm vẫn tăng 15,8%, đặc biệt năm 2000đã có bước tăng trưởng nhảy vọt 60,5% Nột số cơ sở công nghiệp tiếp tục được tổ chức sắp xếp lại, đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ , lựa chọn sản phẩm có thế mạnh , giữ được ổn định và mở rộng sản xuất kinh doanhtrong điều kiện cạnh tranh gay gắt Các cơ sở công nghiệp lớn được đầu tư xây dựng mới bắt đầu đi vào sản xuất tạo ra năng lực sản xuất mới Một số sản phẩm công nghiệp có tốc độ tăng khá như : xi măng, đường, bao bì, giầy xuất khẩu
Các hoạt động dịch vụ phát triển đa dạng ở nhiều thành phần kinh tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuát , đời sống Hệ thống thông tin dịch vụ về giống , vật tư, phân bón, vận tải, đặc biệt là thông tin liên lạc có bước phát triển khá.Thương mại xã hội phát triển ở hầu hết các địa bàn trong tỉnh, hàng hóa phong phú , lưu thông thuận tiện, giữ ổn định thị trường Hoạt động xuất khẩu bước đầu đã gắn với sản xuất bằng việc đầu tư vốn, vật tư, giống và
kỹ thuật để thu mua chế biến tiêu thụ sản phẩm
Bảng3: Tổng kim ngạch Xuất khẩu-Nhập khẩu của tỉnh Thanh
Hóa qua các năm(đơn vị 1000USD)
Trang 36199 1
199 2
199 3
199 4
199 5
199 6
199 7
199 8
199 9
678 4 2,12 171 31
977 3 3,00 256 88
202 34 6,14 214 05
143 36 4,29 289 51
135 09 4,00 187 51
265 66 7,75 366 43
283 56 8,17 200 00
258 79 7,35 280 00
3450 0 9,95 3000 0
Nguồn : quy hoạch phát triển tỉnh Thanh Hóa đén năm 2010
Giá trị nhập khẩu bình quân giai đoạn 1991-1995 đạt 21,18 triệu USD/năm Riêng năm 1995 giá trị nhập khẩu đạt tới 28,95 triệu USD Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là ô tô, sắt thép, xe máy, xăng, phân đạm , máy thu thanh , Trong tổng kim ngachj nhập khẩu tỉnh đã giành 82,5% để nhập tư liệu sản xuất Giai đoạn 1996-
2000 tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh là 25,76 triệu USD/ năm Năm 2000 đạt 64,5 triệu tổng giá trị xuất nhập khẩu, tỉ trọng xuất nhập khẩu so với GDP là 8,9%(chưa tính giá trị nhập khẩu vật tư thiết bị của các công ty kiên doanh )
Thu ngân sách luôn đạt vượt kế hoạch , đảm bảo thực hiện nghiêm túc các luật thuế có tác dụng khuyến khích sản xuất kinh doanh, chi ngân sách có bước cải tiến vừa đáp ứng nhu cầu chi cho các hoạt động thường xuyên của địa phương , vừa tăng chi đầu tư phát triển
Hoạt động ngân hàng tín dụng -ngân hàng tập trung khai thác các nguồn vốn , tăng cho vay trung dài hạn phục vụ sản xuất Mức tăng nguồn vốn huy động trên địa vàn bình quân 34,65%/năm Tổng dư nợ năm 2000 tăng gấp 2,9 lần năm 1995 Tỉ lệ dư nợ cho
Trang 37vay trung hạn , dài hạn từ 22,1% năm 1995 tăng lên 42% năm 2000.
2.2 Một số ngành kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội chủ yếu
Hệ thống giao thông phát triển tốc độ nhanh , các trục giao thông Bắc -Nam , Đông -Tây được nâng cấp, hầu hết các cầu qua sông lớn được xây dựng và đưa vào sử dụng , giao thông nông thôn từng bước được cấp phối rải nhựa
Hệ thống thủy lợi đe điều được đầu tư thích đáng , công tác quản ký đê điều và phòng chống bão lụt được tăng cường Hệ thống thủy nông sông Chu, Cẩm Thủy, Bắc Sông Mã, Nam Sông
Mã, được cải tạo nâng cấp bảo đảm cơ bản tưới chủ động cho phần diện tích lúa Với phương thức Nhà Nứôc và nhân dân cùng làm , thực hiện chủ trương kích cầu, những năm gần đây phong trào kiên cố hóa kênh mương được đẩy mạnh Đến nay đã có 2905
km kênh mương được kiên cố hóa , phát huy hiệu quả kinh tế rõ rệt
Hệ thống điện lưới được xây dựng đén 26 huyện thị thành phố , số xã có điện là 80%.Bưu chính viễn thông hiện đại hóa với tốc độ nhanh.Năm 2000có 586 xã , phường có máy điện thoại , bình quân 1,1 máy trên 100 dân
2.3 Về văn hóa xã hội
Hệ thống và quy mô các ngành học , cấp học phát triển loại hình trường lớp công lập mở rộng đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục miền núi được quan tâm , chất kượng giáo dục
Trang 38toàn diện được chú ý Cớ sở vật chất trường học được nâng cấp, đến nay có 25,6% số phòng học được xây dựng kiên cố.
Cùng với phát triển giáo dục - đào tạo công tác y tế chăm sóc sức khẻo cộng đồng được chú ý phát triển Bệnh viện tỉnh đủ đa khoa và huyên khoa, cơ bản trị được một số bệnh tương đối hiểm nghèo Bệnh viện tuyến huyện thường xuyên được tăng cường cả
cơ sở vật chất và thầy thuốc, đã hỗ trợ tuyến xã một cách tích cực Việc khám chữa bệnh một cách kịp thời hơn, cơ bản đã ngăn chặn kịp thời hơn các dịch bệnh
Công tác KHHGD có nhiều cố gắng cả về đầu tư cơ sở vật chất ,tổ chức mạng lưới truyền thông và dịch vụ Tỉ lệ tăng dân số giảm xuống còn 1,4% năm 2000
II THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC TRONG CÔNG CUỘC XĐGN CỦA THANH HÓA NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1 Thời kỳ 1996-2000
Thực hiện Nghị quyết số 04-NG/TU ngày 13/5/98 của Thường vụ Tỉnh ủy về việc đẩy mạnh chương trình XĐGN, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Tỉnh khóa XIII kỳ họp thứ 10 về thực hiện XĐGN , UBND tỉnh có công văn số 2430/ UB_VX ngày 13/11/98 về việc kiện toàn BCĐ và hướng dẫn thực hiện chương trình XĐGN Các cấp , ngành và nhân dân trong tỉnh đã có nhiều
nỗ lực nhằm thực hiện mục tiêu chương trình XĐGN và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Trung bình mỗi năm tỉ lệ hộ đói nghèo giảm 2% , hệ thống bộ máy làm công tác XĐGN được củng
cố từ tỉnh xuống đén xã và hoạt động ngày càng có kinh nghiệm
Trang 39hiệu quả, nguồn lực tập trung cho XĐGN năm sau cao hơn năm trước.
Theo kết quả điều tra năm 1994, số hộ đói nghèo chiếm tỉ lệ 23,6%.Chia theo khu vực : Miền núi 37,7 % ,miền xuôi18 % Năm
1996 toàn tỉnh có 176451 hộ đói nghèo ( 789000 khẩu ) chiếm tỉ lệ 23,77 % số hộ , trong đó hộ đói chiếm 8,14 % , hộ nghèo chiếm 15,63 % Tỉ lệ hộ đói ,nghèo chủ yếu ở nông thôn và các huyện miền núi (36,46 % tổng số hộ miền nuí )
Thực hiên chương trình XĐGN đến cuối năm 2000, tỉ lệ hộ đói nghèo giảm xuống còn 14 % ( giảm 9,7 % so với năm 1996 ) Đến 12/2000 tổng số hộ đói , nghèo toàn tỉnh là 105.776 chiếm 14% Đặc biệt số hộ đói nghèo thuộc diện chính sách từ 10.636 hộ năm 1999 = 6.03%(so với tổng số hộ đói nghèo ) xuống còn 3.617
hộ = 3.42% năm 2000
Cũng trong thời gian này xét theo tiêu chuẩn đánh giá nghèo đói của Bộ Lao động-Thương binh xã hội năm 1996 thì tỉ lệ nghèo đói của Việt Nam giai đoạn này là :
Năm 1997 Tỷ lệ nghèo đói 17-18%
Năm 1998 Tỷ lệ nghèo đói 15,7%
Năm 1999 Tỷ lệ nghèo đói 13,8%
Năm 2000 Tỷ lệ nghèo đói 11%
Như vậy năm 2000 so với năm 1996 tỉ lệ nghèo đói của tỉnh
đã giảm xuống và giảm nhanh hơn so với tình hình chung của cả nước: Thanh hóa giảm 9,7%, cả nước giảm 8,3% Tuy nhiên năm
2000 thỉ tỉ lệ hộ nghèo đói của tỉnh là 14% cao hơn so với tỉ lệ hộ nghèo đói của cả nước là 11%
Về nhà ở còn 15% số hộ còn sinh sống trong nhà tạm Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo,
Trang 40do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo cũng kiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo Kết quả điều tra đầu năm 2001 cho ta thấy rõ điều này:
Bảng4: Hiện trạng đói nghèo điều tra đầu năm 2001
Khu vực Hộ đói nghèo theo tiêu
Nguồn : Sở kế hoạch Đầu tư tỉnh Thanh Hoá
So với chuẩn cũ, tỷ lệ hộ đói nghèo theo tiêu chuẩn ở mới đều tăng cả mới thị hiếu, miền xuôi, miền núi Đặc biệt là số hộ đói tăng cao ở miền núi (tính theo cả nước) 23,26 % so với 8,84% ( cả cũ )
- Kết quả thực hiện mục tiêu XĐGN 1996- 2000 thấp, tỷ lệ đói nghèo vẫn còn ở mức cao ( cao hơn mức tỷ lệ đói nghèo trung bình của cả nước 3%) Số hộ thoái đói nghèo chưa thật sự vững chắc, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng hay thị thiên tai, bão lụt, mất mùa Tỷ lệ đói nghèo lớn, đặc biệt đối với nhóm hộ nằm sát chuẩn đói nghèo ( Mường lát, Quan hoá, Bá thước, Cẩm thuỷ, Thạch thành, Tĩnh gia, Như xuân, Hà Trung )
Nguyên nhân là do những năm qua cơ sở hạ tầng các xã nghèo đã được tăng cường một bước, song những nhu cầu bức xúc còn lớn, những hộ nghèo còn lại chính là những hộ khó khăn nhất, khó thoát khỏi ngưỡng nghèo do: Đa số tập trung tại những vùng