1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁP LUẬT VỀ TÊN THƯƠNG MẠI TRONG SỞ HỮU TRÍ TUỆ

21 431 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 51,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÁP LUẬT VỀ TÊN THƯƠNG MẠI TRONG SỞ HỮU TRÍ TUỆ Chương 1. Lý luận chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 2 1.1. Khái niệm và đặc điểm tên thương mại 2 1.2. Điều kiện bảo hộ tên thương mại 2 1.3. Việc xác lập bảo hộ Tên thương mại 4 1.4. Quyền sở hữu và quyền chuyển nhượng đối với tên thương mại 5 1.5. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 6 1.5.1. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 6 1.5.2. Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 7 1.6. Bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên thương mại 10 Chương 2. Một vài thực trạng về quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại và nhận xét 11 2.1. Sự khác biệt, trùng lặp và phụ thuộc lẫn nhau trong bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại 11 2.2. Quy định về bảo hộ tên thương mại trong Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Doanh nghiệp 13 2.3. Các cơ quan có thẩm quyền quản lý đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 15 2.4. Hiệu lực lãnh thổ của tên thương mại và nhãn hiệu đối với việc vươn ra thị trường nước ngoài của doanh nghiệp 17 Chương 3. Pháp luật quốc tế về bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 18

Trang 1

PHÁP LUẬT VỀ TÊN THƯƠNG MẠI TRONG SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Trang 2

Chương 1 Lý luận chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

1.1 Khái niệm và đặc điểm tên thương mại 1

Khoản 21 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sữa đổi bổ sung năm 2009 nêu “Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh

để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.” Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.Tên thương mại phải là tập hợp các chữ, phát âm được và có nghĩa

Tên thương mại bao gồm hai phần: Phần mô tả và phần phân biệt

- Phần mô tả là một tập hợp các từ có nghĩa mô tả tóm tắt loại hình doanh nghiệp

và lĩnh vực kinh doanh

- Phần phân biệt là tập hợp các chữ cái phát âm được, có thể có nghĩa hoặc không

có nghĩa Phần mô tả không có khả năng tạo nên tính phân biệt cho tên thương mại (hai doanh nghiệp có tên thương mại khác nhau có thể có phần mô tả giống nhau) Ví dụ: Với tên Công ty TNHH xây dựng Thành Đô Phần mô tả là “Công ty TNHH xây dựng”, phần phân biệt là “Thành Đô”, phân biệt với “Công ty TNHH xây dựng Tiến Thành” “Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam” không có khả năng phân biệt (Tổng công ty - mô tả loại hình công ty; Bưu chính viễn thông - lĩnh vực hoạt động; Việt Nam - không có khả năng phân biệt) Vì vậy phải thêm dấu hiệu khác là “VNPT”

là tên giao dịch

1.2 Điều kiện bảo hộ tên thương mại

Trong hoạt động kinh doanh có nhiều cạnh tranh như ngày nay thì việc khẳng định tên tuổi, hình ảnh của minh trên thương trường là một điều luôn được quan tâm

và hướng tới của mọi chủ thể tham gia kinh doanh Cùng với các yếu tố như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp,… thì tên thương mại cũng đóng góp một vị trí không nhỏ trong mục tiêu chung đó Trong hoạt động kinh doanh thường ngày, trong các giấy tờ giao dịch, hiểu hiện, sản phẩm, hàng hóa, bao bì hàng hóa và phương tiện cung cấp dịch vụ quảng cáo Chính vì vậy tện thương mại có một ý nghĩa quan trọng đối với hình ảnh của một tổ chức hay một cá nhân nào đó Trong bối cảnh của luật thực định thì tên thương mại được định nghĩa là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Vậy điều kiện tiên quyết để có được tên thương mại cho riêng mình thì chính bản thân nó phải gắn yếu tố phân biệt

1 1 Bài viết về Đề tài: TÊN THƯƠNG MẠI VÀ CƠ CHẾ BẢO HỘ TÊN THƯƠNG MẠI, ngày 02/04/2014, từ nguồn http://123doc.org/document/1278400-ten-thuong-mai-va-co-che-bao-ho-ten-thuong-mai-doc.htm, truy cập ngày 29/03/2016.

Trang 3

Hay nói khác đi thì để được Nhà nước bảo hộ thì tên thương mại phải chứa khả năng phân biệt Hơn thế nữa quyền sở hữu trí tuệ tên thương mại lại được xác định dựa trên

cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp của nó mà không cần thực hiện thủ tục đang ký Vậy liệu tên thương mại như thế nào là có khả năng phân biệt và để coi là được sử dụng hợp pháp, không có tranh chấp trên thực tiễn

Tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP Điều 14 quy định: “Tên thương mại

1 Tên thương mại được bảo hộ là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được;

b) Có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh.

2 Các tên gọi sau đây không được bảo hộ dưới danh nghĩa là tên thương mại: a) Tên gọi của các cơ quan hành chính, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc các chủ thể không liên quan tới hoạt động kinh doanh;

b) Tên gọi nhằm mục đích thực hiện chức năng của tên thương mại nhưng không

có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh của các cơ sở kinh doanh trong cùng một lĩnh vực;

c) Tên thương mại gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đã được sử dụng từ trước trên cùng một địa bàn và trong cùng một lĩnh vực kinh doanh, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã được bảo hộ từ trước khi bắt đầu sử dụng tên thương mại đó.”.

Do đó, để tên thương mại được bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ, nhìn chung, tên thương mại phải có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Ngoài ra theo quy định tại Điều 78 Luật Sở hữu trí tuệ, tên thương mại còn phải đáp ứng một số yêu cầu khác,

đó là:

- Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi:

+ Một tên thương mại có thể là tên đầy đủ hoặc tên giao dịch (tên viết tắt để tiện cho việc giao dịch) theo đăng ký kinh doanh hoặc tên thường dùng

Ví dụ: Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel, Công ty sữa Vinamilk là tên thương mại đầy đủ, bên cạnh đó, công ty có thể sử dụng tên giao dịch là Tập đoàn Viettel, Công ty Vinamilk Từ “Viettel” ,”Vinamilk” chính là tên riêng thành phần phân biệt.+ Tuy nhiên, trong thực tế, có một số tên thương mại không chứa thành phần tên riêng nhưng đã tồn tại trong thời gian lâu dài và được người tiêu dùng biết đến rộng rãi Đối với trường hợp này, tên thương mại đó đã đạt được khả năng phân biệt qua quá trình sử dụng thực tế, người tiêu dùng vẫn phân biệt được chủ thể kinh doanh đó

Trang 4

với các chủ thể kinh doanh khác, vì vậy mà được chấp nhận bảo hộ Ví dụ như Công ty Thuốc lá Sài Gòn, Công ty Bia Sài Gòn, Công ty Kem Tràng Tiền…

- Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác

đã sử dụng trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

Điều này cũng có thể hiểu là nếu tên thương mại của hai chủ thể kinh doanh trùng nhau hoặc tương tự nhưng hai chủ thể kinh doanh đó lại hoạt động trong hai lĩnh vực kinh doanh khác nhau hoặc thuộc hai khu vực địa lý khác nhau thì vẫn được chấp nhận bảo hộ

- Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc quyền của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được

sử dụng

Cũng do tên thương mại thường là tên doanh nghiệp hoặc được sử dụng thường xuyên trong hoạt động kinh doanh của mỗi chủ thể kinh doanh, nên quyền sở hữu tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tên thương mại đó tương ứng với khu vực và lãnh thổ kinh doanh, mà không cần thực hiện thủ tục đăng

ký tên thương mại đó tại cục Sở hữu trí tuệ Điều này khác với việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với các chỉ dẫn đầu tư khác như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, những đối tượng này cần phải đăng ký mới được bảo hộ

1.3 Việc xác lập bảo hộ Tên thương mại

Theo quy đinh của pháp luật VN, nếu một tên thương mại hay tên doanh nghiệp được coi là có khả năng phân biệt, nó được bảo hộ thông qua sử dụng, cho dù đã đăng

ký hay chưa Nếu không có khả năng phân biệt, nó có thể được bảo hộ sau khi có khả năng phân biệt thông qua sử dụng Khả năng phân biệt trong ngữ cảnh này nghĩa là công chúng tiêu dùng công nhận tên thươ ng mại đó như một dẫn chiếu tới nguồn gốc kinh doanh đặc biệt

Theo Nghị định số 103/2006/ NĐ - CP ngày 22-9-2006 được sửa đổi , bổ sung một số điều bởi Nghị định số 122/2010/NĐ-CP ngày 31-12-2010 quy định chi tiết hướng dẫn một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp Điều 6 Khoản 3

quy định: “Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tên thương mại đó tương ứng với khu vực (lãnh thổ) và lĩnh vực kinh doanh mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký.”.

Tiếp theo Điều 16 Khoản 2 thì “Phạm vi quyền đối với tên thương mại được xác định theo phạm vi bảo hộ tên thương mại, gồm tên thương mại, lĩnh vực kinh doanh và lãnh thổ kinh doanh, trong đó tên thương mại sử dụng một cách hợp pháp Việc đăng

ký tên gọi của tổ chức, cá nhân trong thủ tục kinh doanh không được coi là sử dụng tên gọi đó mà chỉ là một điều kiện để việc sử dụng tên gọi đó được coi là hợp pháp.”.

Trang 5

Một tên thương mại hay tên doanh nghiệp cũng có khả năng được bảo hộ thông qua đăng ký như một nhãn hiệu Thông thường, cả tên doanh nghiệp đầy đủ và tên doanh nghiệp ngắn đều có thể được đăng ký Để đảm bảo việc bảo hộ, tên thương mại đương nhiên phải được sử dụng như một nhãn hiệu thực sự.

1.4 Quyền sở hữu và quyền chuyển nhượng đối với tên thương mại

Theo quy định tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP, Điều 15 và Luật SHTT Điều 21

Khoản 2 quy định: “Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại là

tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.”.

Tiếp theo tại Điều 16 quy định “Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với tên

thương mại

1 Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại có quyền sử dụng tên thương mại vào mục đích kinh doanh bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại đó trong các giấy

tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và quảng cáo.

2 Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại có quyền chuyển giao tên thương mại theo hợp đồng hoặc thừa kế cho người khác với điều kiện việc chuyển giao phải được tiến hành cùng với toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.”.

Điều 17 quy định “Thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại: Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được bảo hộ khi chủ

sở hữu vẫn còn duy trì hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.”.

Tiếp theo, Luật SHTT Điều 123 quy định “Quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp

1 Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có các quyền tài sản sau đây:

a) Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 124 và Chương X của Luật này;

b) Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 125 của Luật này;

c) Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Chương X của Luật này.”.

Theo LSHTT Điều 124 Khoản 6: “Sử dụng tên thương mại là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo.”.

Ngoài ra, chủ sở hữu tên thương mại có quyền ngăn cấm người khác sử dụng tên thương mại theo điểm b, khoản 1 điều 123 LSHTT Hành vi xâm phạm đối với tên

Trang 6

thương mại theo khoản 2 Điều 129 LSHTT là : “Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm,dịch vụ hoặc cho sản phẩm,dịch vụ tương tự,gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh,cơ sở kinh doanh,hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại Đồng thời có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm tên thương mại.”

Về việc chuyển nhượng, theo Khoản 3 Điều 139 LSHTT: “Quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.”.

1.5 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

1.5.1 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

Tại Luật SHTT Điều129 Khoản 2: “Mọi hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm dịch vụ hoặc cho sản phẩm dịch vụ tương tự gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền với tên thương mại.”

Tiếp đó tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP, Điều 20 cũng quy định về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

Cũng tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP, Điều 21quy định: “Quyền yêu cầu xử lý việc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại

1 Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại và người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền buộc người thực hiện hành vi xâm phạm quyền của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại

2 Trong trường hợp xảy ra các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại hoặc đưa các thông tin sai lạc về tên thương mại, chỉ dẫn sai lạc về nguồn gốc địa lý hàng hoá khiến người tiêu dùng bị nhầm lẫn thì người tiêu dùng có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người thực hiện hành vi trên phải chấm dứt hành vi đó và bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng

3 Thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quy định tại khoản

1 và khoản 2 Điều này là một năm tính từ ngày phát hiện được hành vi xâm phạm nhưng không quá ba năm tính từ ngày hành vi xâm phạm xảy ra”

Nghị định 54/2000/NĐ-CP Điều 22 quy định về Nghĩa vụ chứng minh, theo đó, thuộc về chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại sẽ chứng minh

NĐ 105/2006/NĐ-CP Điều 24 Khoản 3 Điểm c

Nghị định 105/2006/NĐ-CP Điều 13 được sửa đổi bởi NĐ 119/2010/NĐ-CP quy

định về “Yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại

Trang 7

1 Yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại được thể hiện dưới dạng chỉ dẫn thương mại gắn trên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ.

2 Căn cứ để xem xét yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại là phạm vi bảo hộ tên thương mại được xác định trên cơ sở các chứng cứ thể hiện việc sử dụng tên thương mại đó một cách hợp pháp, trong đó xác định cụ thể về chủ thể kinh doanh,

cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh và sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại.

3 Để xác định một dấu hiệu bị nghi ngờ có phải là yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại hay không, cần phải so sánh dấu hiệu đó với tên thương mại được bảo hộ và phải so sánh sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu đó với sản phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ, dựa trên các căn cứ sau đây:

a) Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ; trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với tên thương mại được bảo hộ nếu giống với tên thương mại về cấu tạo từ ngữ, kể cả cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái; một dấu hiệu bị coi là tương tự với tên thương mại được bảo hộ nếu tương tự về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại được bảo hộ;

b) Sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ bị coi là trùng hoặc tương tự với sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại được bảo hộ nếu giống nhau hoặc tương

tự nhau về bản chất, chức năng, công dụng và kênh tiêu thụ.”

1.5.2 Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

Việc bảo hộ tên thương mại cũng giống như bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ khác

là bảo hộ quyền tài sản của các chủ thể và được hiểu dưới hai phương diện sau đây:Thứ nhất, theo phương diện khách quan: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại là tổng hợp các quy định của pháp luật công nhận chủ sở hữu tên thương mại được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được pháp luật thừa nhận.Thứ hai, theo phương diện chủ quan: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại là những biện pháp cụ thể được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu tên thương mại tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm

- Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại gồm việc xác định hành vi, tính chất và mức độ xâm phạm quyền đối với tên thương mại, xác định thiệt hại, yêu cầu và giải quyết yêu cầu xử lý xâm phạm, xử lý xâm phạm bằng biện pháp hành

Trang 8

chính, kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, giám định sở hữu trí tuệ.

- Các biện pháp bảo hộ:

+ Biện pháp dân sự:

Biện pháp dân sự được áp dụng để giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của chủ thể quyền đối với tên thương mại hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi tranh chấp gây ra, kể cả hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng các biện pháp hành chính hoặc hình sự Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp dân sự, thẩm quyền, trình tự, thủ tục

áp dụng biện pháp dân sự tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

Các tranh chấp sở hữu trí tuệ nói chung và tranh chấp liên quan đến tên thương mại nói riêng là loại tranh chấp dân sự, bởi vậy, về nguyên tắc tranh chấp này được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự do Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định Tuy nhiên, xuất phát từ nhiều đặc thù của vi phạm, tranh chấp

sở hữu trí tuệ, Luật Sở hữu trí tuệ quy định nhiều nội dung cụ thể hơn so với Bộ luật

Tố tụng dân sự với mục đích giải quyết tốt loại vi phạm, tranh chấp này Ví dụ, quy định về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự (Điều 203), theo đó nguyên đơn

và bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và theo quy định tại Điều 203 Luật

Sở hữu trí tuệ Trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và nêu căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

Khi bị xâm phạm quyền đối với tên thương mại, thì chủ sở hữu tên thương mại

có quyền yêu cầu toà án bảo vệ quyền của mình Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (Điều 25, Điều 27, Điều 29, Điều 33, Điều 34), thẩm quyền giải quyết các tranh chấp này được xác định như sau: Nếu tranh chấp tên thương mại thuần tuý là tranh chấp dân sự thì thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện; Nếu tranh chấp tên thương mại thuần túy là tranh chấp dân sự nhưng có đương sự hoặc đối tượng sở hữu trí tuệ ở nước ngoài, thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh; Nếu tranh chấp tên thương mại giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận được coi là tranh chấp thương mại, kinh doanh và thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh

Thủ tục tố tụng dân sự cho phép chủ sở hữu tên thương mại được quyền khởi kiện yêu cầu toà án công nhận quyền của mình; buộc người có hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại phải chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc người có hành

vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại… Theo biện pháp dân sự, toà án buộc cá nhân,

Trang 9

tổ chức xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu tên thương mại đó.

Ở nước ta, trong nhiều năm gần đây, các hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại chủ yếu được giải quyết bằng biện pháp hành chính Thực tế ở nước ta cho thấy rằng, so với biện pháp hình sự và biện pháp dân sự, thì áp dụng biện pháp hành chính để xử lý những hành vi xâm phạm đem lại hiệu quả cao do không tốn thời gian, tiền bạc Số vụ việc được giải quyết bằng biện pháp dân sự và đặc biệt là biện pháp hình sự còn rất ít

Đối với biện pháp hành chính, cách thức bảo vệ quyền của chủ thể bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung rất phong phú Cụ thể bao gồm các biện pháp xử phạt hành chính (trong đó có hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung) và các biện pháp khắc phục hậu quả Mỗi hành vi vi phạm hành chính chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền Bên cạnh đó, tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số

99/2013/NĐ-CP, thì hình thức xử phạt bổ sung bao gồm: “Đình chỉ hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này” Ngoài ra, còn có các biện pháp khắc phục hậu quả như: “Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm và tiêu hủy yếu tố vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này; Buộc tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm nếu không loại bỏ được yếu tố vi phạm; tem, nhãn, bao bì, vật phẩm vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này; Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hàng hóa quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 12 Điều này; Buộc thay đổi tên doanh nghiệp, loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp đối với hành

vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này; Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này”.

Để bảo đảm việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại bằng các biện pháp hành chính đạt hiệu quả, Luật Sở hữu trí tuệ cho phép các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính

Trang 10

Tuy nhiên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính trong những trường hợp nhất định theo quy định tại khoản 1 Điều 215 Luật Sở hữu trí tuệ: Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội; Tang vật

vi phạm có nguy cơ tẩu tán hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm; Và nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt hành chính

+ Biện pháp hình sự:

Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay chưa quy định tội danh đối với hành vi xâm phạm tên thương mại Tuy nhiên, trên thực tế thông qua những hành vi xâm phạm đó

có thể xác định các yếu tố cấu thành tội phạm như sau: Quyền đối với tên thương mại

là một khách thể được pháp luật bảo vệ, vì vậy khi khách thể này bị xâm phạm mà hành vi xâm phạm đó là do lỗi của chủ thể thực hiện hành vi, gây ra hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn cho chủ sở hữu tên thương mại, cho người tiêu dùng và cho xã hội thì chủ thể thực hiện hành vi đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Như vậy, hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại bị xử lý hình sự khi hành vi đó gây hậu quả nghiêm trọng có dấu hiệu cấu thành tội phạm hình sự hoặc người thực hiện hành vi đó đã bị xử phạt hành chính nay còn vi phạm

Việc khởi tố vụ án hình sự xâm phạm tên thương mại không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu tên thương mại (trừ khi pháp luật quy định) Khi xác định hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại có dấu hiệu tội phạm, các cơ quan tố tụng có có thẩm quyền sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Cơ quan đó có thể là cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc cơ quan hải quan

1.6 Bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên thương mại

Tại Luật SHTT Điều 130 quy định “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh

1 Các hành vi sau đây bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;

b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ;

d) Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi

Ngày đăng: 22/04/2016, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w