KHOA THƯƠNG MẠI LUẬN VĂN Đề tài luận văn: Hoạt động dịch vụ giao nhận vận tải trong kinh doanh thương mại quốc tế Lấy ví dụ tại công ty TNHH Vận Tải Hàng Đầu... T Giao nhận là một n
Trang 1KHOA THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN
Đề tài luận văn:
Hoạt động dịch vụ giao nhận vận tải trong kinh doanh
thương mại quốc tế (Lấy ví dụ tại công ty TNHH Vận Tải Hàng Đầu).
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN : NGUYỄN TUẤN THÀNH
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: THẦY GIÁO - TIẾN SĨ: VŨ QUANG ANH
HÀ NỘI 2003
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo Khoa Thương Mại,
đặc biệt là giáo viên hướng dẫn - Tiến sĩ Vũ Quang Anh lời cảm ơntrân thành nhất
Xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của ban giám đốc,Phòng tổ chức, Phòng kinh doanh và các phòng ban khác trong Công ty TNHH Vận Tải Hàng Đầu và ông Nguyễn Chí Hùng - Trưởng phòng Kinh Doanh - Giáo viên hướng dẫn tại công ty, trongthời gian thực tập tại công ty và trong quá trình hoàn thành Chuyên
đề này
Hà Nội, ngày tháng năm 2002
Sinh viên
Nguyễn Tuấn Thành
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
rong xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, hoạt độngngoại thương được xem như một công cụ hữu hiệu đểđẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế củađất nước Gắn liền với việc xuất nhập khẩu hàng hoá luôn là cácthủ tục rắc rối, những khó khăn do việc di chuyển qua biên giớivới một khoảng cách thường là rất lớn so với buôn bán trong nộiđịa mang lại Tuy nhiên "gánh nặng" xuất nhập khẩu này lạithường được trút một phần thậm chí là tất cả sang vai của mộtngười đó là: " người giao nhận"
T
Giao nhận là một nghành dịch vụ có từ rất sớm, nó xuất hiệncùng với sự xuất hiện của các đội tầu buôn nước Anh, nhưng lúcđầu những người làm hoạt động này chưa được coi trọng lắm Vớinhững sự phát triển của thương mại quốc tế nghành giao nhậnngày càng phát triển và giữ một vị trí quan trọng trong sự lưuchuyển hàng hoá giữa các nước và các châu lục Nghành giaonhận thực sự phát triển mạnh mẽ vào những năm 60, 70 thế nhưngtại nứơc ta giao nhận mới chỉ được quan tâm trong khoảng 15năm trở lại đây
Ở Việt Nam, hoạt động giao nhận hàng hoá tuy mới chỉ xuất
Trang 4lệ, nghành đang từng bước bắt kịp với trình độ tiên tiến của thếgiới
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế nước ta chuyển sang
cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Đứng trước tìnhhình này, hoạt động kinh doanh của các công ty giao nhận đứngtrước một thử thách lớn là không những phải hoàn thành nhữngchỉ tiêu mà nhà nước đề ra mà còn phải
1.1.1 Khái niệm chung về giao nhận
Đặc điểm nổi bật của buôn bán hàng hoá quốc tế là ngườimua và người bán ở các nước khác nhau Sau khi hợp đồng muabán được ký kết, người bán thực hiện việc giao hàng, tức là hànghoá được chuyển từ người bán sang người mua Để cho quá trìnhvận chuyển đó bắt đầu, tiếp tục và kết thúc được, tức là hàng hoáđến tay người mua được, cần phải thực hiện hàng loạt các côngviệc khác nhau liên quan đến quá trình chuyên chở như bao bì,đóng gói, lưu kho, đưa hàng ra cảng, làm các thủ tục gửi hàng,xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng hoá ở dọc đường, dỡ hàng ra
Trang 5khỏi tàu và giao cho người nhận Những công việc đó được gọi
là dịch vụ giao nhận
Dịch vụ giao nhận (Freight forwarding Service), theo “quytắc mẫu của FIATA về dịch vụ giao nhận”, là bất kỳ loại dịch vụnào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đónggói hay phân phối hàng hoá cũng như các dịch vụ tư vấn hay cóliên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tàichính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu nhập chứng từ liên quan đếnhàng hoá Theo luật Thương mại Việt Nam thì Giao nhận hànghoá là hành vi Thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhậnhàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho,lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan
để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, củangười vận tải hoặc của người giao nhận khác
1.1.2 Sự ra đời của ngành giao nhận ở Việt Nam.
Ngày 3/11/1959, Bộ Ngoại thương đã ra quyết định số BNT cho ra đời Cục vận tải giao nhận kho nhận Việt Nam
338-Mặc dù đã có hơn 40 năm phát triển, nhưng do điều kiệnkinh tế, chính trị, xã hội có nhiều thăng trầm nên ngành giao nhậnViệt Nam mới chỉ thực sự phát triển trong vòng vài năm nay,trong thời kỳ đổi mới kinh tế của đất nước
1.1.3 Các giai đoạn phát triển của ngành giao nhận ở Việt Nam.
Trang 6- Giai đoạn trước Đại hội Đảng VI:
Trước năm 1986, trong thời kỳ bao cấp, những tính chất chủyếu của hoạt động ngoại thương có thể thấy là: Nhà nước nắm độcquyền ngoại thương, hoạt động ngoại thương theo kế hoạch nhằmbảo vệ và phục vụ việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Cáchthức hoạt động là Nhà nước ký các Nghị định thư (chủ yếu là cácnước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô), xác định rõ kimngạch xuất nhập khẩu từng năm cho từng đơn vị
Vì muốn quản lý hoàn toàn hoạt động ngoại thương nêncông tác giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu trong giai đoạn nàyđược Nhà nước giành độc quyền cho các Công ty Nhà nước.Phạm vi các dịch vụ giao nhận trong giai đoạn này chỉ giới hạn ởcác hoạt động như nhận hàng của người gửi hàng, hoặc nhận hàng
từ người chuyên chở giao cho người nhận hàng
- Giai đoạn sau Đại hội Đảng VI:
Bằng chính sách mở cửa kinh tế, việc buôn bán, trao đổihàng hoá giữa Việt Nam và các nước ngày càng phát triển Cáchình thức hoạt động ngoại thương bao gồm cả cơ chế xuất nhậpkhẩu theo Nghị định thư và xuất nhập khẩu tự cân đối Các đơn vịxuất nhập khẩu có điều kiện để phát triển năng động, nâng caohiệu quả kinh doanh của mình
Trong tình hình mới nhiều doanh nghiệp từ nhiều thành phầnkinh tế đã tham gia vào hoạt động giao nhận kho vận Các tổ chứcgiao nhận gồm: Viconship, Transimex, Viefracht, Saigonship,VOSCO, Vietrantimex, Romanico, Prime Cargo tất cả có hơn
Trang 730 tổ chức trong nước Trong đú phần lớn là cỏc cụng ty nhànước, cỏc hóng tầu nước ngoài và số ớt là cỏc cụng ty Trỏchnhiệm hữu hạn.
Tuy nhiên, giá cả và chất lượng của các doanh nghiệp rấtkhác nhau Những đơn vị có chuyên môn, có cơ sở vật chất kỹthuật, làm ăn tốt được khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệmnhư Vietrans, Viefracht, Transimex, VOSCO, Prime Cargo
Bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn tốt trong lĩnh vực này,còn có những doanh nghiệp chưa thực sự hoạt động có hiệu quả
Đó chủ yếu là những doanh nghiệp mới vào kinh doanh nghề này,thiếu nghiệp vụ cơ sở vật chất để tiến hành các nhiệm vụ giaonhận mà thực chất chỉ hoạt động như đại lý, môi giới, thụ độnglàm theo chỉ dẫn của đối tác nước ngoài Ngoài các đơn vị chuyênlàm giao nhận, nay còn có những đơn vị, Tổng Công ty, Công tyxuất nhập khẩu đứng ra lo liệu cùng cảng làm giao nhận cho hànghoá xuất nhập khẩu của mình (Transimex) nhằm tiết kiệm chi phí
Sự cạnh tranh trên thị trường giao nhận ngày càng tăng làmtăng thêm các loại dịch vụ như khai thuê hải quan, vận chuyểnnhanh chứng từ, gom hàng, thuê tàu, đại lý tàu nhằm tiến tớilàm giao nhận tổng hợp ngoài giao nhận thông thường
Ngành giao nhận Việt Nam đến nay phát triển cả về chấtlượng và số lượng các dịch vụ Tuy nhiên loại hình giao nhậntruyền thống là giao nhận hàng hoá bằng đường biển vẫn chiếm80% tổng khối lượng hàng hoá giao lưu Quốc tế Vì vậy, cho đếnnay, sự phát triển của ngành giao nhận Quốc tế ở Việt Nam cũng
Trang 8phản ánh sự phát triển của giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩubằng đường biển ở nước ta.
1.2 VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIAO NHẬN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.
Người giao nhận đóng vai trò là cầu nối giữa các hoạt độngkinh tế, giữa các khu vực, giữa trong nước và nước ngoài, giữa cácnước với nhau Nó góp phần không nhỏ vào việc tạo điều kiện thuậnlợi cho hoạt động xuất nhập khẩu Hoạt động xuất nhập khẩu vàhoạt động giao nhận có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫnnhau Chúng có sự tăng trưởng và phát triển cùng chiều với nhau.Theo sự tính toán thống kê của Nhà nước, thì giá trị phần mà ngườigiao nhận thu được từ các hoạt động xuất nhập khẩu chiếm từ 8 -18% giá trị xuất nhập khẩu của mỗi nước Điều đó cho thấy mức độđóng góp vô cùng to lớn của người giao nhận đối với hoạt độngxuất nhập khẩu Người giao nhận giữ vị trí, vai trò to lớn như vậytrong xuất nhập khẩu bởi nó đã làm chức năng và công việc củangười sau đây:
1.2.1 Môi giới hải quan(Customer Broker):
Thuở ban đầu người giao nhận chỉ hoạt động ở trong nước.Nhiệm vụ của người giao nhận lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quanđối với hàng nhập khẩu Sau đó mở rộng hoạt động phục vụ cả hàngxuất khẩu và giành chỗ chở hàng trong vận tải Quốc tế hoặc lưucước với các hãng tàu theo sự uỷ thác của người xuất khẩu hay nhậpkhẩu tuỳ thuộc vào quy định của hợp đồng mua bán Trên cơ sởđược Nhà nước cho phép, người giao nhận thay mặt người xuất
Trang 9khẩu, người nhập khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan như mộtmụi giới haỉ quan.
Mụi giới hải quan cũng là một khõu khỏ quan trọng trong quỏtrỡnh thụng quan hàng hoỏ, thời bởi quy định nhập khẩu và xuấtkhẩu của cỏc nước, cỏc vựng, cỏc khu vực trờn thế giới là khỏ phứctạp Ngoài những khuõn mẫu thường được ỏp dụng trung, cũn cúnhững mẫu riờng do cỏc nước đề ra theo từng mặt hàng Chớnh vỡvậy, “mụi giới hải quan” cũng là một loại dịch vụ quan trọng và phổbiến tại Việt Nam và toàn thế giới
Để cú thể đưa ra được một Dịch vụ mụi giới hải quan tốtngười làm vận tải cần phải cú vốn hiểu biết luật phỏp tốt, khả nănggiao dịch tốt và phải cú mối quan hệ tốt với cỏc cơ quan chức năng
có các đại lý Người giao nhận còn có thể làm các dịch vụ mà hãngchuyên chở uỷ thác Bên cạnh đó, đối với người gửi hàng thì đại lýcũng thực sự cần thiết để có thể nhanh chóng tiếp cận được vớingười chuyên chở
Trang 10Đối với hàng hoá phải chuyển tải hoặc quá cảnh qua nước thứ
ba, người giao nhận sẽ lo liệu thủ tục quá cảnh hoặc tổ chức chuyểntải hàng hoá từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tảikhác, hoặc giao hàng đến tay người nhận Công việc chuyên mônnày của người giao nhận làm giảm tối thiểu thời gian tiêu phí và rủi
ro, tổn thất, trộm cắp, hư hỏng hàng hoá ở các điểm chuyển tải.Trong trường hợp phải lưu kho hàng hoá trước khi xuất khẩu hoặcsau khi nhập khẩu, người giao nhận sẽ lo liệu việc đó bằng phươngtiện của mình hoặc thuê của người khác và phân phối hàng hoá nếucần
Trong xu thế kinh doanh hiện nay của Việt Nam, thị trườngcủa ta tuy được coi là một trong những mảnh đất mầu mỡ để cỏc tậpđoàn nước ngoài đầu tư Nhưng thực tế ta luụn bị coi là một nềnkinh tế yếu và chưa đỏng tin cậy Chớnh vậy nếu muốn phỏt triểnnghành giao nhận vận tải, ta cần phải cú những đại lý quốc tế mạnh,những cụng ty giao nhận hàng đầu quốc tế đỡ đầu, giới thiệu, cungcấp mối hàng, cũng như bảo lónh, giỳp đỡ.Khi cú được những đại lýđỏng tin cậy ta cú thể hoàn toàn yờn tõm với cụng việc trong nước
1.2.3 Người gom hàng (Cargo Consolidator)
Ở châu Âu, người giao nhận từ lâu đã cung cấp dịch vụ gomhàng để phục vụ cho vận tải đường sắt Đặc biệt trong vận tải hànghoá bằng container, dịch vụ gom hàng là không thể thiếu đượcnhằm biến hàng lẻ (LCL) thành hàng nguyên (FLC) để tận dụng sứctrở của container và giảm cước phí vận tải Khi là người gom hàng,người giao nhận đóng vai trò là người chuyên trở đối với người có
Trang 11hàng gửi, còn đối với những người “chuyên chở thực sự” thì họ làngười gửi hàng Những người gửi hàng lẻ, nhận lẻ không trực tiếpvới người “chuyên chở thực sự” Người giao nhận sẽ cấp vận đơngom hàng (House Bill of lading) cho những người gửi hàng lẻ.Điều đáng lưu ý là House Bill of lading chưa được ICC thông qua
và có nội dung không thống nhất trên toàn thế giới Ở những nước
có điều kiện kinh doanh chuẩn, nhiều người giao nhận khi cấpHouse Bill of lading, họ chịu trách nhiệm về hàng hoá đối với chủhàng như người “chuyên chở thực sự“ Ở những nước không cóđiều kiện kinh doanh tiêu chuẩn, nhiều người giao nhận khi cấpHouse Bill of Lading họ chỉ chịu trách nhiệm về hàng hoá với chủhàng như là người đại lý Hiện nay, FIATA đang khuyến khíchnhững người giao nhận cấp vận đơn vận tải liên hợp (FBL) Khi cấpFBL, người giao nhận chịu trách nhiệm về hàng hoá như nhữngngười “chuyên chở thực sự”
1.2.4 Người chuyên chở
Ngày nay trong nhiều trường hợp người giao nhận đóng vaitrò người chuyên chở, tức là người giao nhận trực tiếp ký hợp đồngvận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từnơi này đến nơi khác Người giao nhận đóng vai trò là người thầuchuyên chở (Contracting Carrier) nếu anh ta ký hợp đồng mà khôngtrực tiếp chuyên chở Nếu anh ta trực tiếp chuyên chở thì anh ta làngười chuyên chở thực tế (Performing Carrier)
1.2.5 Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO)
Trang 12Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đisuốt hoặc còn gọi là vận tải từ “cửa đến cửa” thì người giao nhậnđóng vai trò là người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO).MTO cũng là người chuyên chở và chịu trách nhiệm đối với hànghoá MTO chỉ cấp một chứng từ duy nhất Người giao nhận kinhdoanh vận tải liên hợp có thể cấp BIMCO (Hội nghị hàng hải Quốc
tế và Bantic) hay FBL (tuỳ thoả thuận) và hành động như một người
1.3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.3.1 Những chứng từ liên quan đến giao nhận vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu.
- Bản đăng ký hàng chuyên chở (Cargo List- Cargo Manifest):
Để người vận tải vạch sơ đồ sắp xếp hàng trên tàu, được người vậntải lập khi có hàng trở trên tàu
Bản này được dùng làm giấy thông báo của tàu cho ngườinhận hàng biết về các hàng xếp trên tàu; làm chứng từ để thuyền
Trang 13trưởng khai báo với hải quan về các hàng xếp trên tàu; làm cơ sở đểthanh toán với cảng hoặc với đại lý tàu biển về các loại phí liênquan đến hàng (phí xếp dỡ, kiểm kiện ) nếu các phí này tính theokhối lượng hàng chở; làm cơ sở để lập biên bản kết toán giao nhậnhàng giữa tàu với Cảng.
Nội dung của Cargo Manifest gồm tên tàu, ngày tàu vào cảng,
số thứ tự các vận tải đơn của chuyến đi, ký hiệu hàng, tên hàng, sốkiện, trọng lượng, tên người gửi, tên người nhận và cảng đến
- Sơ đồ xếp hàng (Cargo plan, Stowage plan): Là bản vẽ vị tríđặt hàng trên tàu
Người ta dùng sơ đồ xếp hàng để tính được thời gian xếp hàng
và vị trí hàng được xếp đặt, dùng để kiểm tra hàng và nhận hàng dễdàng
Nội dung của Cargo plan là bản vẽ mặt cắt của tàu, trên đó ghi
rõ vị trí xếp hàng, tên hàng, trọng lượng và số thứ tự vận đơn liênquan đến hàng xếp ở từng vị trí
- Thông báo sẵn sàng (NOR: Notice ò Reodiness): Là một vănbản do thuyền trưởng gửi cho người gửi hàng hoặc nhận hàng đểthông báo tàu đã sẵn sàng để xếp hàng, dỡ hàng
Người ta dùng NOR để làm căn cứ xác định tàu đã đến cảng
và sẵn sàng xếp dỡ hàng; làm cơ sở để tính thời gian giao nhậnhàng
Nội dung của giấy NOR có hai phần là: Sự báo tin của tàu vàtàu đã đến cảng vào giờ, ngày nào đó và đang sẵn sàng để bắt đầu
Trang 14xếp hoặc dỡ một loại hàng với số lượng nào đó, ngày giờ mà chủhàng thông báo.
- Lịch trình xếp dỡ: Là bản thống kê tổng hợp việc sử dụngtrong xếp đồng chí để tính tiền thưởng hoặc phạt do xếp dỡ chậm
- Biên bản kết toán nhận hàng với tàu (ROROC)
Nội dung gồm các cột: Số liệu hàng căn cứ theo Manifest; sốliệu hàng thực nhận, chênh lệch giữa hai số liệu
- Phiếu thiếu hàng (Shortage Bond)
Nội dung gồm tên tàu, số vận đơn, số lượng hàng đã ghi trênB/L, ký mã hiệu hàng, số lượng kiện hàng thực nhận, số kiện hàngcòn thiếu, số kiện và ngày tháng của ROROC đã được dùng làm căn
- Thư dự kháng (Letter of Reservation, Notice of Claim)
Nội dung gồm: Mô tả hàng, Nhận xét sơ bộ về hàng và sự ràngbuộc trách nhiệm của người vận chuyển với tình trạng hàng
- Biên bản đổ vỡ, mất mát:
Trang 15Nội dung gồm: Tên tàu, Ngày tàu đến, Số vận đơn, Tên hàng,
Ký mã hiệu, Số lượng hàng, Kho chứa hàng, Tình trạng hàng bênngoài và bên trong, Nguyên nhân tổn thất, Chữ ký của các đại diện
- Vận đơn gom hàng: Là chứng từ vận tải do người gom hàngcấp cho các chủ hàng lẻ người người gom hàng nhận hàng từ cácchủ hàng để vận chuyển bằng các phương tiện vận tải đường biểnhoặc đường hàng không
- FBL là vận đơn dùng trong vận tải đường biển, đa phươngthức, hàng có chuyển tải do liên đoàn Quốc tế các hiệp hội giaonhận (FIATA)
- Federation International des Associations de Transitores etAssinmiles soạn thảo để dùng cho các nhà giao nhận quốc tế, đồngthời đóng vai trò là MTO trong VTĐPT
1.3.2 Các hình thức giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển.
Thường có 2 loại là giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu đóngtrong các container và giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu thôngthường
Giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu thông thường là việc giaonhận những loại hàng rời, có khối lượng lớn, không thể tận dụngđược việc sử dụng container để chứa đựng các loại hàng hoá đó
Đối với giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu đóng trong cáccontainer có các hình thức giao nhận sau:
- Nhận nguyên giao nguyên (FCL/FCL):
Trang 16Hàng nguyên (Full Container Load - FCL) là lô hàng củangười gửi hàng có khối lượng tương đối lớn, đòi hỏi phải xếp, trongmột hoặc nhiều container Nhận nguyên, giao nguyên tức là ngườichuyên chở nhận nguyên từ người gửi hàng (Shipper) ở nơi đi vàgiao nguyên cho người nhận (Consignee) ở nơi đến.
- Nhận lẻ giao lẻ (LCL/LCL):
Hàng lẻ (Less than a Container Load - LCL): Là lô hàng củangười gửi có khối lượng nhỏ, không đủ đóng trong một Container.Nhận lẻ giao lẻ là người chuyên chở nhận lẻ từ người gửi hàng vàgiao hàng lẻ cho người nhận
- Nhận lẻ giao nguyên (LCL/FCL): Phương pháp này được sửdụng khi một người gửi hàng cần gửi hàng cho nhiều người nhận tạimột nơi đến
- Nhận nguyên, giao lẻ (FCL/LCL):
Phương pháp này ngược lại với phương pháp nhận lẻ giaonguyên, tức là người chuyên chở khi nhận nguyên Container từ chủhàng và có thể cấp nhiều B/L tương ứng với số lượng người nhận.Tại nơi đến người chuyên chở sẽ giao lẻ cho từng người nhận tạiCFS
Trên đây là sơ bộ những nét cơ bản về nghiệp vụ giao nhậntrong kinh doanh thương mại Quốc tế Cùng với sự phát triển hiệnnay của thương mại quốc tế thì vai trò của nghành vận tải là rất lớn,
và được đặt trước nhiều khó khăn thử thách Rất nhiều công ty của
cả tư nhân lẫn nhà nước đã có những nhận định chưa kịp thời vềnhu cầu cấp thiết hiện tại nên vẫn giữ những tác phong làm việc và
Trang 17cơ cấu tổ chức cũ, chưa hiện đại nên đang gặp rất nhiều khó khănnhư: Vinafco, Viettran, Cả Lợi kỳ vận Thế nhưng cũng có nhữngcông ty giao nhận tuy mới thành lập nhưng với đường lối làm ănhiện đại, cơ cấu gọn nhẹ, thông thoáng, có mục tiêu rõ ràng đã vàđang tự khẳng định mình Dưới đây là một vài nét về công tyTNHH Vận Tải Hàng Đầu(Prime Cargo).
Trang 18PHẦN II:
MỘT VÀI NÉT GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY
TNHH VẬN TẢI HÀNG ĐẦU (PRIME CARGO)
2.1 Prime Cargo Đan Mạch:
Được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1989 và có trụ sở chínhtại Kolding, Đan Mạch Cùng thời gian này năm 1998 ba chi nhánhđầu tiên của Prime Cargo được thành lập tại Bắc Kinh, Hồng Kông
và Thượng Hải Một bước tiến quan trọng của Prime Cargo ĐanMạch vào năm 1999 họ chuyển tới Profilvej 4 tại Kolding, nơi đây
họ đã có được một hệ thống nhà kho vào loại hiện đại nhất Châu Âuvới trên một trăm nhân viên hoạt động trong 16 km nhà xưởng vớiđội ngũ tầu biển hiện đại Cùng với việc cho vận hành bộ phận sấyhấp và bảo quản hàng quần áo( một loại mặt hàng quan trọng trongvận tải) Prime Cargo đã trở thành một trong những công ty giaonhận hàng đầu trên thế giới Năm 1999 hệ thống văn phòng đại diệnPrime Cargo đồng loạt được thành lập tại nhiều nơi của Châu á:Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh (Trung Quốc), Thành Phố HồChí Minh, Thành Phố Hải Phòng( Việt Nam)
Cuối năm 1999 Prime Cargo được thành lập tại Hà Nội với têngiao dịch: Công Ty TNHH Vận Tải Hàng Đầu (Prime Cargo Co.,Ltd.) Prime Cargo Hà Nội có trụ sở tại 181 Đông Kim Ngưu, QuậnHai Bà Trưng, Hà Nội
Thành lập khá muộn trong thời kỳ mà hoạt động giao nhận tạiViệt Nam đã phát triển mạnh mẽ Công ty TNHH Vận Tải Hàng