Quản lý doanh nghiệp là quá trình vận dụng những qui luậtkinh tế, qui luật tự nhiên trong việc lựa chọn và xác định các biệnpháp về kinh tế- xã hội , tổ chức kỹ thuật để tác động lên tập
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhànước giao nhiệm vụ cho các công ty tự hạch toán, quyết định tìnhhình sản xuất kinh doanh Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh, doanh nghiệp phải hoàn thiện không ngừng cơ cấu tổ chức
bộ máy theo hướng ngày càng tinh giản, gọn nhẹ hơn Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rarằng “phải đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy, đổi mới công tác cán
bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, có phẩm chất năng lực đápứng yêu cầu đổi mới của cơ chế quản lý”
Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy của công
ty từ lâu đã được ban lãnh đạo công ty đặc biệt quan tâm Xuấtphát từ thực tế trên, trong quá trình thực tập tại công ty TNHH nhànước một thành viên cơ khí Hà Nội, em đã chọn đề tài “ hoàn thiện
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty TNHH nhà nước mộtthành viên cơ khí Hà Nội”
Với mục đích tìm hiểu chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổchức bộ máy của công ty, qua đó thấy được điểm mạnh, điểm yếu
và rút ra bài học cho bản thân, trong phạm vi nghiên cứu vấn đềhoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
Kết cấu chuyên đề gồm ba phần:
- Chương I : Lý luận chung về cơ cấu tổ chức bộ máy
- Chương II : Phân tích đánh giá thực trạng cơ cấu tổ chức bộ
máy quản lý
Trang 2- Chương III : Giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ
máy
Trang 3PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Quản lý và nội dung quản lý
Quản lý là tác động có hướng, có mục đích của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý nhằm duy trì hoạt động của hệ thống, sửdụng tốt mọi tiềm năng sẵn có, các cơ hội để đi đến mục tiêu đã đề
ra trong điều kiện biến động của môi trường
Quản lý doanh nghiệp là quá trình vận dụng những qui luậtkinh tế, qui luật tự nhiên trong việc lựa chọn và xác định các biệnpháp về kinh tế- xã hội , tổ chức kỹ thuật để tác động lên tập thểlao động, từ đó tác động các yếu tố vật chất của sản xuất kinhdoanh Tuy vậy hoạt động quản lý chỉ được thực hiện khi có cácyếu tố sau:
- Chủ thể quản lý : là tác nhân tạo ra tác động quản lý và đối
tượng quản lý Đối tượng quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tácđộng quản lý, tác động quản lý có thể chỉ là một lấn mà cũng cóthể liên tục nhiều lần
- Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng bị quản
lý, mục tiêu này là căn cứ tạo ra các tác động Chủ thể quản lý cóthể là một người hoặc nhiều người, đối tượng bị quản lý có thể làngười hoặc máy móc, thiết bị, đất đai, vật nuôi, cây trồng…
- Mục đích của quản lý doanh nghiệp: Một mặt nhằm đạt được
năng suất cao nhất trong sản xuất, kinh doanh, mặt khác khôngngừng cải thiện điều kiện tổ chức lao động
Trang 4Thực chất của quản lý hệ thống là quản lý con người, vì conngười là yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất Qui mô của hệthống càng lớn thì vai trò quản lý càng cần phải được nâng cao, cónhư vậy mới đảm bảo hiệu quả hoạt động của hệ thống.
Quản lý con người gồm nhiều chức năng phức tạp bởi vì conngười chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, sinh lý, tâm lý, xã hội…Các yếu tố này luôn tác động hình thành nhân cách con người Vìvậy muốn quản lý tốt con người phải là một nhà tổ chức, nhà tâm
lý, nhà xã hội và nhà chiến lược
1.1.2 Lao động quản lý
Là sự tác động có tổ chức, có hứong đích của chủ thể quản lýnên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềmnăng, cơ hội tổ chức
“ Quản lý lao động là sự tác động liên tục, có tổ chức, cómục đích của chủ thể quản lý nên tập thể người lao động trong hệthống, sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng của xã hội nhằm đạt đượcnhững mục tiêu đề ra theo đúng luật định và mục tiêu hiện hành”
Quản lý lao động hay nói cách khác là quản lý nguồn nhânlực của doanh nghiệp bao gồm các vấn đè tuyển dụng, sắp xếpphân phối lao động một cách hợp lý, khoa học, thực hiện tốt việcđào tạo nguồn lao động một cách hợp lý khoa học, thực hiện tốtviệc quản lý nguồn lao động, sử dụng hợp lý và tiết kiệm sức laođộng cả về số lượng lẫn chất lượng Có những chính sách cụ thể vềthời gian và năng suất lao, giải quyết tốt việc làm và chế độ thù laongười lao động
Trang 5Như vậy trước hết những nhà quản lý cần phải tuyển chọnnhững lao động có trình độ chuyên môn, sức khỏe, tư cách, phẩmchất, độ tuổi, giới tính… phù hợp với công việc của doanh nghiệp.Khi đã có đội ngũ lao động phù hợp với yêu cầu mà doanh nghiệp
đã đặt ra thì cần sự linh hoạt sáng tạo của những nhà quản lý laođộng Ngoài ra, còn có thể đề ra những chính sách cụ thể nhằmđào tạo thêm đội ngũ công nhân lành nghề, bổ sung những kiếnthức cần thiết nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của người laođộng, những người góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng vàphát triển của doanh nghiệp, có những chế độ thù lao thích hợpcho lực lượng lao động của doanh nghiệp để kích thích sự say mêhứng thú trong công việc của họ cũng như là vấn đề cần lưu ý
Đối tượng của quản lý lao động là con người trong lao động
và khả năng của mỗi con người, đó là sức lao động và khả năngsản xuất
Nội dung của lao động quản lý bao gồm:
− Lập kế hoạch lao động
− Tuyển mộ lao động
− Tuyển chọn lao động
− Làm hoà nhập người lao động
− Sử dụng lao động và đánh giá thực hiện công việc
− Thanh toán thù lao lao động
− Đào tạo, bồi dưỡng lao động
− Chế độ khen thưởng, kỉ luật đối với người lao động
1.1.3 Cơ cấu tổ chức, cơ cấu bộ máy
Trang 6 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu là sự phân chia tổng thể ra những bộ phận nhỏ theonhững tiêu thức chất lượng khác nhau, những bộ phận đó thực hiệntừng chức năng bộ phận riêng biệt nhưng có mối quan hệ chặt chẽvới nhau nhằm phục vụ một mục tiêu chung Tổ chức bao hàm mộtchỉnh thể hoạt động độc lập, có chính danh và tôn chỉ những mụcđích hoạt động của mình Nó có thể là một doanh nghiệp, mộtcông ty, một cơ quan, một tổ chức, một ngành… Trong quá trìnhphát triển của xã hội cũng như của tổ chức, các hoạt động ngàycàng mở rộng, càng đa dạng, phức tạp và có mục đích, hoạt độngcủa nó cũng thường xuyên biến đổi, vì thế cơ cấu tổ chức ngàycàng phức tạp và biến đổi theo Để nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa tổ chức đòi hỏi phải có sự phân công lao động theo chức nănghay có sự chuyên môn hoá Vì thế, các bộ phận chuyên môn hoátrong tổ chức ra đời và hoàn thiện dần Tổ chức còn là sự bố trí sắpxếp các bộ phận được chuyên môn hoá theo chức năng trong một
tổ chức sao cho các bộ phận đó phối hợp hoạt động nhịp nhàng,không chồng chéo, không trùng lặp nhằm đạt mục tiêu đề ra Vìthế phải thường xuyên đánh giá tính hiệu quả, tính hợp lí của cơcấu tổ chức
Một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tính hợp
lí của một cơ cấu tổ chức là mức độ gọn nhẹ, ít đầu mối, ít bộ phận
mà vẫn quản lý tốt, vẫn hoạt động nhịp nhàng và đạt hiệu quả sảnxuất cao
Trang 7Cơ cấu tổ chức chia thành nhiều tầng, nhiều cấp tuỳ thuộc vào yêucầu nhiệm vụ của tổ chức Việc phân chia đó vừa là đòi hỏi kháchquan, vừa có yếu tố chủ quan Thông thường tổ chức có thể cắtdọc, cắt ngang, chéo tạo nên các loại cơ cấu tổ chức khác nhau.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Nếu hiểu một cách khái quát nhất cơ cấu phản ánh sự cấu tạo
và hình thức bên trong của một hệ thống Một trong những nộidung đầu tiên và rất quan trọng của tổ chức bộ máy quản lý doanhnghiệp là xác định cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là tổng hợp các bộ phận (đơn
vi và cá nhân) khác nhau có mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhauđược chuyên môn hoá và có những trách nhiệm quyền hạn nhấtđịnh và được bố trí theo từng cấp và nhằm thực hiện các chứcnăng quản trị và phục vụ mục đích chung đã xác định của doanhnghiệp Cơ cấu bộ máy quản lý được hình thành bởi các bộ phậnquản lý và các cấp quản lý
Hiểu một cách khác, cơ cấu là sự phân chia tổng thể ra các bộphận nhỏ hơn theo những tiêu thức chất lượng khác nhau Những
bộ phận đó thực hiện từng chức năng riêng biệt nhưng có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau phục vụ mục tiêu chung của tổ chức
1.2 Vai trò, chức năng quản lý
1.2.1 Vai trò của lao động quản lý
Trong mọi nền kinh tế, từ nền kinh tế giản đơn, đến nền kinh
tế thị trường, đến nền kinh tế mới, thì vai trò của quản lý đều rất
Trang 8quan trọng, nó thúc đẩy sự phát triển và ổn định kinh tế cho các tổchức, xí nghiệp, tập đoàn kinh tế.
Quản lý ngày càng có xu hướng xã hội hoá, không chỉ chútrọng đến chất lượng sản phẩm mà còn chú trọng đến cuộc sốngcủa mọi người trong xã hội
Lao động quản lý là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng tới sựthành bại về kinh tế của doanh nghiệp cũng như của quốc gia.Thực tế đã chứng minh công tác quản lý có vai trò hết sức quantrọng, nó có thể quyết định sự thành bại của công ty
Lao động quản lý tốt sẽ làm cho các công ty hạn chế được rủi
ro, ngăn ngừa sự phá sản và chọn được những hướng kinh doanh
có lợi nhất trong nền kinh tế Trong cùng một môi trường nhưnhau, công ty nào có được chính sách quản lý tốt sẽ tạo được thànhcông hơn Còn đối với quốc gia mà quản lý có mức độ đặc biệtquan trọng thì nó có thể chi phối lên toàn bộ nền kinh tế quốc dân,ảnh hưởng đến đời sống của mọi người, mọi nền kinh tế cả tầm vĩ
mô và vi mô
1.2.2 Chức năng của lao động quản lý
Chức năng là những hoạt động riêng biệt của quản lý thểhiện những phương pháp tác động của chủ thể quản lý lên đốitượng quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu quản lý
Việc phân loại chức năng quản lý nhằm làm cho quá trìnhquản lý được trọn vẹn ở từng chức vụ được quản lý Nó tạo điềukiện để xác định khối lượng công việc và số lượng lao động quản
Trang 9lý, từ đó làm cơ sở để tổ chức bộ máy theo hướng chuyên tinh, gọnnhẹ
Theo nội dung, quá trình quản lý chia làm 5 chức năng sau:
− Chức năng lập kế hoạch: là sự dự đoán có căn cứ khoahọc sưh phát triển có thể xảy ra của quá trình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, từ đó lập ra kế hoạch hành động cho doanhnghiệp nội dung của chức năng này là để nhằm hoàn thành nhữngmục đích của doanh nghiệp đặt ra
− Chức năng tổ chức: là kết hợp liên kết các bộ phận riêng
rẽ trong doanh nghiệp thành hệ thống, kết hợp các yếu tố sản xuấtvới nhau đủ để tiến hành sản xuất kinh doanh
− Chức năng điều hành : lắp đặt các bộ phận khác nhau vàođúng vị trí và đảm bảo vận hành nhịp nhàng và ăn khớp với nhau
để đạt hiệu quả cao Người ta thường ví bộ máy quản lý của doanhnghiệp như là một cỗ máy, nếu không có sự liên kết các bộ phận sẽkhông hoạt động được, hoặc hoạt động với hiệu quả rất thấp
− Chức năng kiểm tra: xem xét diễn biến trong quá trình sảnxuất so với kế hoạch chương trình, phát hiện, tìm nguyên nhân vànhững giải pháp khắc phục những sai lệnh Ngoài ra, kiểm tra còntìm kiếm các cơ hội, tiềm năng có thể khai thác được để tận dụngthúc đẩy doanh nghiệp mau chóng đạt được mục tiêu đề ra
− Chức năng điều chỉnh: có kiểm tra phải có điều chỉnh,kiểm tra những gì bất cập, sau đó là điều chỉnh nó cho phù hợp vớiyêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức
Trang 10 Theo mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinhdoanh
- Chức năng quản lý kĩ thuật
Gồm tất cả những công việc liên quan đến chuẩn bị kĩ thuậtcho sản xuất, chuyển giao công nghệ, quản lý quy trình, quy phạm
kĩ thuật cho sản xuất, tham gia và trực tiếp xây dựng tiêu chuẩn kĩthuật, ứng dụng phương pháp công nghệ mới, thiết kế sản phẩmmới
- Chức năng quản lý kinh tế
Bao gồm chức năng kế hoạch hoá và điều động sản xuất,chức năng thương mại, chức năng tổ chức lao động và thù lao laođộng, chức năng tài chính kế toán, hành chính pháp chế, bảo vệdoanh nghiệp…
- Chức năng tổ chức lao động và thù lao lao động
Đó là công việc về định mức lao động, công tác tiền lươngtiền thưởng có ảnh hưởng tới năng suất lao động và thu nhập củangười lao động
1.1.1 Mối quan hệ giữa lao động quản lý và đối tượng của lao động
quản lý
Nền kinh tế quốc dân cũng như bất kì một đơn vị kinh tế nàođều có thể coi là một hệ thống quản lý bao gồm 2 phân hệ là chủthể quản lý và đối tượng quản lý
Bộ phận quản lý bao gồm các chức năng quản lý đội ngũ cán
bộ nhân viên quản lý, các phương tiện quản lý và hệ thống cácphương tiện bị quản lý
Trang 11Bộ phận bị quản lý bao gồm hệ thống các phân xưởng, các
bộ phận sản xuất trung tâm, hệ thống máy móc thiết bị, cácphương tiện, công nghệ
Hai bộ phận này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác độngqua lại lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất
Biểu 1:Sơ đồ mối quan hệ
Chủ thể quản lý trên cơ sở các mục tiêu đã định, tác động lênđối tượng quản lý của mình và qua hành vi quản lý - mối quan hệngược mà chủ thể quản lý có thể điều chỉnh quyết định đưa ra
Trang 12mà ở đó các nơi làm việc được phân cấp với nhau theo quan hệ
phân quyền, ra mệnh lệnh Mối quan hệ bình đẳng cấp giữa các
nơi làm việc cá biệt được hình thành với tư cách bình đẳng trênhay dưới Sau đây là một số hệ thống có tính chất điển hình:
1.3.1 Hệ thống cơ cấu trực tuyến, chức năng
Hệ thống cơ cấu trực tuyến
Đây là cơ cấu tổ chức giản đơn nhất trong quan hệ cấp trên
và cấp dưới, cơ cấu này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiệnchế độ thủ trưởng, người lãnh đạo phải chịu hoàn toàn tráchnhiệm về kết quả công việc của người dưới quyền Tuy nhiên, cơcấu này đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện, tổnghợp, đồng thời cơ cấu này làm hạn chế việc sử dụng các chuyêngia có trình độ cao theo chuyên môn Kiểu này chỉ áp dụng chocác tổ chức có quy mô nhỏ và việc quản lý không quá phức tạp
Biểu 2: sơ đồ cơ cấu trực tuyến
Người lãnh đạo
Người lãnh đạo
tuyến 1
Người lãnh đạo tuyến 2
Các đối tượng quản lý các đối tượng
quản lý
Trang 13 Hệ thống cơ cấu chức năng
Hệ thống cơ cấu theo chức năng hay còn gọi là hệ thống cơcấu nhiều tuyến được Taylor xây dựng trong phạm vi phân xưởng.Trong phân xưởng, người lao động không phải nhận nhiệm vụ từcấp trên mà từ nhiều cấp khác nhau trong đó mỗi cấp trên có mộtchức năng quản lý nhất định Với tư cách thiết lập mối quan hệgiao nhận nhiệm vụ như thế nào, hệ thống chức năng đã bỏ quatính thống nhất của giao nhận nhiệm vụ
Biểu 3: Sơ đồ cơ cấu theo chức năng
Theo kiểu cơ cấu này công tác quản lý được tổ chức theochức năng Do đó hình thành nên những người lãnh đạo đượcchuyên môn hóa chie đảm nhận một chức năng quản lý nhất định,cấp dưới không những chịu sự lãnh đạo của một bộ phận chứcnăng mà còn chịu sự lãnh đạo của một bộ phận chức năng khác
Người lãnh đạo
Người lãnh đạo
chức năng A
Người lãnh đạo chức năng C
Đối tượng
quản lý
Đối tượng quản lý
Người lãnh đạo chức năng B
Đối tượng quản lý
Trang 14Mô hình này thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn,
cơ cấu tương đối phức tạp, nhiều chức năng liên quan đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh
- Giải quyết các vấn đề chuyên môn một cách thành thạo và
giảm bớt gánh nặng trách nhiệm quản lý cho người lãnh đạo
* Nhược điểm:
- Không duy trì được tính kỉ luật, kiểm tra và phối hợp
- Cơ cấu phức tạp đòi hỏi nhiều bộ phận
1.3.2 Hệ thống cơ cấu trực tuyến- chức năng
Hệ thống này là sự kết hợp giữa hệ thống cơ cấu trực tuyến và hệthống cơ cấu chức năng
Biểu 4 : Hệ thống cơ cấu trực tuyến – chức năngNgười lãnh
Người lãnh đạo chức năng C
Người lãnh đạo cấp 2
Trang 15Hệ thống cơ cấu quản lý dưới đây (biểu 3) cho thấy, lãnh đạo
tổ chức được sự giúp đỡ của các phòng ban chức năng trong việc
ra quyết định để hướng dẫn, điều khiển và kiểm tra, truyền mệnhlệnh theo tuyến được quy định Người lãnh đạo các phòng, banchức năng không có quyền ra quyết định cho người thừa hành ởcác tuyến
- Do có quá nhiều bộ phận chức năng nên lãnh đạo tổ chức
thường phải họp hành nhiều, gây căng thẳng, lãng phí thời gian
Đối tượng quản lý
Đối tượng
quản lý
Trang 16- Có thể gây ra những mâu thuẫn giữa lãnh đạo các tuyến
với nhau, do không thống nhất quyền hạn và quan điểm
1.3.3 Hệ thống cơ cấu trực tuyến tham mưu
Theo cơ cấu này người lãnh đạo ra mệnh lệnh và chịu tráchnhiệm hoàn toàn đối với người thừa hành trực tiếp của mình khigặp vấn đề phức tạp người lãnh đạo phải tham khảo ý kiến của cácchuyên gia ở bộ phận tham mưu giúp việc Kiểu cơ cấu này chophép người lãnh đạo tận dụng được những tài năng, chuyên môncủa các chuyên gia, giảm bớt sự phức tạp của cơ cấu tổ chức
Trang 17Biểu 5 : Sơ đồ cơ cấu trực tuyến – tham mưu
Các đối tượng quản lý Các đối tượng quản lý
Người lãnh đạo tuyến 1 Người lãnh đạo tuyến 2
Người lãnh đạo
Trang 18* Ưu điểm:
- Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ
- Sử dụng chuyên gia tốt hơn
- Giảm nhẹ gánh nặng cho người lãnh đạo
* Nhược điểm:
- Công việc của người lãnh đạo tuy đã được giảm nhẹ
nhưng nói chung vẫn rất nặng nề
- Nếu tham mưu tốt giúp cho người lãnh đạo ra quyết định
hợp lý, ngược lại nếu tham mưu không có năng lực, sẽ gây trởngại và nguy hiểm
1.3.4 các kiểu cơ cấu quản lý doanh nghiệp khác
* Cơ cấu chính thức của tổ chức
Thể hiện qua sơ đồ tổ chức và có sự khác biệt với hệ thốngphi chính phủ cùng tồn tại
Cơ cấu chính thức tạo nền móng cho sự quản lý, nó vạch racông việc cần làm
Biểu 6 : Bộ máy quản lý chính thức của tổ chức
Trang 19* Cơ cấu không chính thức
Đòi hỏi người lãnh đạo doanh nghiệp phải có nghệ thuật trongquản lý, thường xuyên nghiên cứu xu hướng phát triển, xã hội thúcđẩy sự phát triển của cơ cấu này vì mục tiêu chung của doanhnghiệp
Mô hình cơ cấu không chính thức là phương thức tổ chức quản lýhiện đại nhất hiện nay vì điều này cho phép doanh nghiệp tự thíchnghi, tự điều chỉnh
Biểu 7: Bộ máy quản lý không chính thức quy mô nhỏ
Giám đốc doanh nghiệp
Phó giám
đốc nhân
sự
Phó giám đốc sản xuất
Phó giám đốc Marketing
Phó giám đốc tài chính
Trang 201.3.5 Vai trò và nhân tố ảnh hưởng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
* Vai trò của bộ máy quản lý
Quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp đềuthực hiện những mục tiêu nhất định của tổ chức đòi hỏi phải có lựclượng điều hành toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện Đó chính làlực lượng quản lý doanh nghiệp và hình thành nên bộ máy quản lýdoanh nghiệp Để đảm bảo sự thống nhất ăn khớp trong điều hành
tổ chức kinh doanh thì mỗi doanh nghiệp ít nhất cần có một thủtrưởng trực tiếp chỉ đạo lực lượng quản lý, thực hiện nhiệm vụ bốtrí sắp xếp nhân viên quản lý cho phù hợp vào từng nhiệm vụ cụthể đảm bảo phối hợp nhịp nhàng của các thành viên trong cơ cấunhằm khai thác các khả năng sáng tạo của mỗi thành viên trongviệc thực hiện các mục tiêu của tổ chức đã đề ra như năng suất,chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanhnghiệp
Giám đốc doanh nghiệp
Phó giám đốc doanh nghiệp
Phòng kinh
doanh
Phòng tài chính kế toán
Phòng nội chính
Phòng điều hành sản xuất
Trang 21Trong doanh nghiệp có rất nhiều chức năng quản lý đảm bảocho quá trình quản lý được trọn vẹn, không bỏ sót Để đảm nhiệmhết các chức năng quản lý đó cần có sự phân công lao động quản
lý, thực hiện chuyên môn hóa Bộ máy quản lý doanh nghiệp tậphợp những người có trình độ cao trong doanh nghiệp việc sử dụng
có hợp lý các kế hoạch lao động cho cán bộ và nhân viên quản lý,
sự phân chia công việc cho nhân viên quản lý phù hợp, thiết kế cácmối quan hệ với nhau cho hợp lý sẽ góp phần hoàn thiện nhiệm vụsản xuất, nhiệm vụ quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp
* Những nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức bộ máy quản lý
- Nhóm các nhân tố thuộc đối tượng quản lý
o Trình trạng và trình độ phát triển của công nghệ sảnxuất
o Tính chất và đặc điểm của sản xuất: chủng loại sảnxuất, quy mô sản xuất, loại hình sản xuất
o Số lượng nhân viên
- Nhóm nhân tố thuộc lĩnh vực quản lý
o Mức độ chuyên môn hóa và tập trung hóa các hoạtđộng quản trị
o Trình độ cơ giới hóa và các hoạt động quản trị, trình
độ năng lực quản lý của cán bộ
o Quan hệ phụ thuộc giữa số lượng người lãnh đạo,người bị lãnh đạo
Trang 22o Chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp đối với độingũ quản lý
o Ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức cũ
o Trình độ năng lực của cán bộ ở bộ phận tham mưu
tổ chức
o Quan hệ bên trong tổ chức (mức độ thể hiện quyềnlực, mức độ kiểm soát của người lãnh đạo và mức độ hợp tác giữacác nhân viên)
o Mức đảm nhận của các nhân viên trong tổ chức
1.3. Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức
Như chúng ta đã biết vai trò quan trọng của cơ cấu tổ chức bộmáy Bộ máy như thế nào đối với doanh nghiệp, doanh nghiệp nàocũng cần có một hệ thông cơ cấu tổ chức để vận hành và hoạt độngsản xuất kinh doanh, được tiến hành theo mục tiêu đã đề ra chonên hoàn thiện cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp là hết sức cầnthiết Nó cần thiết ở chỗ:
- Một tổ chức ra đời cần phải ổn định trong thời gian nhất
định, mặc dù một vài bộ phận, con người có thể thay đổi Sự ổnđịnh của tổ chức sẽ tạo điều kiện thực hiện thành công nhữngchiến lược đề ra của tổ chức, nó tạo điều kiện cho mọi người yêntâm làm việc theo hướng tích cực tiến lên Một tổ chức lỗi thờitrong nhiều trường hợp sẽ làm cản trở sự phát triển của doanhnghiệp
- Một công ty, doanh nghiệp mà cơ cấu tổ chức quá cồng
kềnh, phức tạp sẽ làm chậm sức sản xuất, làm cho các bộ phận
Trang 23phối hợp không đồng bộ với nhau, bộ phận làm nhiều, bộ phậnlàm ít, gây mất đoàn kết nội bộ, làm ảnh hưởng đến tình hình sảnxuất của công ty Một công ty mà không rõ ràng sẽ gây khó khăntrong công việc quản lý tổ chức đó, gây cản trở trong quản lý cũngnhư trong sản xuất của tổ chức đó.
- Khi một tổ chức có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ phù hợp
linh hoạt được vận hành trơn chu một cách khoa học sẽ làm hiệuquả của tổ chức đó tăng nhanh, làm cho năng suất lao động tăng,doanh thu tăng, thu nhập của người lao động cũng tăng từ đó tạomối quan hệ lành mạnh trong tổ chức các bộ phận, phòng ban đoànkết không ai ghen tị nhau trong công việc mọi người được phâncông nhiệm vụ đúng với vai trò quyền hạn của mình, tạo ra hứngthú và phấn đấu cao cho người lao động
- Bất kì một doanh nghiệp nào cũng nên phải hoàn thiện cơ
cấu tổ chức của doanh nghiệp mình cho phù hợp với mục tiêu yêucầu của sản xuất để có thể tiến hành sản xuất tốt hơn, hiệu quảhơn, ngược lại, nếu một doanh nghiệp mà không coi trọng việchoàn thiện cơ cấu tổ chức thì doanh nghiệp đó sẽ gặp rất nhiều khókhăn trong sản xuất kinh doanh, gây tình trạng bất hợp lý trong sảnxuất, mà trong nền kinh tế như ngày nay sự lạc hậu lỗi thời sẽ bịđào thải và không thể nào cạnh tranh được với công ty, doanhnghiệp khác có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ hơn, hiệu quả hơn
Nhìn chung sự hoàn thiện dần dần cơ cấu tổ chức bộ máy củacác doanh nghiệp, các doanh nghiệp quốc doanh, các doanh nghiệpngoài quốc doanh đang là vấn đề quan tâm của Đảng và Nhà nước
Trang 24Biết là việc hoàn thiện nó là rất cần thiết như thế nào, hoàn thiệnthế nào cho phù hợp đang là câu hỏi lớn cho các doanh nghiệp vàcác tổ chức chuyên quyền.
Sự cần thiết nhất hiện nay các doanh nghiệp đang hướng đến
là sự hoàn thiện tư duy con người trong quá trình quản lý, muốnhoàn thiện cơ cấu tổ chức trước hết phải hoàn thiện chính bản thâncon người
Trong tình hình hiện nay thì cơ cấu tổ chức bộ máy quản lýphải được hoàn thiện theo hướng ngày càng thích nghi với cơ chếthị trường và thích hợp với mục tiêu và nhiệm vụ sản xuất kinhdoanh Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải đủ về số lượng cũngnhư chất lượng, gọn nhẹ nhưng vẫn đáp ứng được sự biến độngcủa môi trường kinh doanh và mục tiêu của công ty
Công tác quản lý là một trong những nhân tố quyết định sựphát triển của hệ thống, tuy nhiên để thực hiện được công tác nàyđòi hỏi phải có một bộ máy quản lý ổn định Việc xây dựng vàhoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là hết sức cần thiết vìtrong tình hình hiện nay nó sẽ giúp cho doanh nghiệp đứng vững
và phát triển
“Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ khí Hà Nội” làcông ty nhà nước một thành viên nên cùng với sự phát triển củanền kinh tế trải qua quá trình hoạt động phát triển, cơ cấu tổ chức
bộ máy ngày càng được hoàn thiện dần Hàng năm, do sự thay đổicủa nền kinh tế, nhu cầu sản phẩm của người tiêu dùng cũng thayđổi theo nhu cầu thị trường nên các phòng ban, phân xưởng từ đó
Trang 25mà thay đổi cho phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhucầu của thị trường, nên cơ cấu tổ chức của công ty cũng bị thay đổitheo Từ đó chức năng nhiệm vụ của các phòng ban hoạt độngngày càng hợp lý hơn và đem lại hiệu quả sản xuất cao hơn, doanhthu tăng, tổng giá trị sản lượng qua các năm cũng tăng.
Nhìn chung với sự hoàn thiện dần của cơ cấu tổ chức, cácchức năng phòng ban, phân xưởng của công ty được hoạt độngphù hợp hơn và đem lại hiệu quả cao
Trang 26CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC
MỘT THÀNH VIÊN CƠ KHÍ HÀ NỘI 2.1 Một số đặc điểm chủ yếu
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ khí Hà Nội
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nhà nước ta xâydựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc, một nền công nghiệp mạnh làđiều kiện cần thiết để miền Bắc trở thành hậu phương vững chắccho tiền tuyến là miền Nam Ngày 26-01-1995 Đảng và Chính phủ
đã quyết định cho xây dựng một nhà máy cơ khí hiện đại làm nòngcốt cho công nghiệp chế tạo máy sau này, đó là nhà máy cơ khí HàNội, dưới sự giúp đỡ của nhân dân Liên Xô anh em
Ngày 15-12-1955 nhà máy cơ khí bắt đầu được xây dựngtrên khu đất rộng 51.000 m2 thuộc xã Nhân Chính, nay là quậnThanh Xuân Hà Nội Sau gần 3 năm xây dựng ngày 12-04-1958nhà máy cơ khí Hà Nội đã được khánh thành và chính thức đi vàohoạt động và lấy tên là công ty TNHH nhà nước một thành viên cơkhí Hà Nội
Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ khí Hà Nội làmột doanh nghiệp Nhà nước được tiến hành sản xuất kinh doanhđộc lập tự chủ, là thành viên của tổng công ty và thiết kế côngnghiệp thuộc Bộ Công nghiệp
Trang 27- Tên giao dịch quốc tế của công ty là HAMECO (Hanoi
Mechanical Company)
- Giấy phép đăng kí kinh doanh số 108898
- Trụ sở: 74 Nguyễn Trãi- Thanh Xuân- Hà Nội
Xuất phát điểm của công ty TNHH nhà nước một thành viên
cơ khí Hà Nội có 600 cán bộ công nhân viên trong đó có 200người chuyển từ ngành quân đội sang
Dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, nhà máy đã cửcán bộ công nhân viên sang Liên Xô học hỏi kinh nghiệm quản lý,
kĩ thuật để làm lực lượng sản xuất chính sau này Các sản phẩmđầu tiên của nhà máy là máy công cụ, tiện, phay, bào, mài do Liên
Xô giúp đỡ một phần hoàn thiện một dây chuyền khép kín
Trong thời kì này, nhà máy đã sản xuất được 900 đến 1000máy các loại (từ năm 1961 đến 1965 – kế hoạch 5 năm lần thứnhất), đã hoàn thành vượt bậc so với kế hoạch năm trước về tổnggiá trị tổng sản lượng Riêng máy công cụ tăng 122% so với kếhoạch ban đầu Với thành tích đó nhà máy với các cá nhân đã đượcĐảng và Nhà nước trao tặng huân chương và các danh hiệu caoquý khác
Cho đến nay đã qua 18 năm xây dựng và trưởng thành công ty
đã vượt qua rất nhiều khó khăn, gian khổ và đã đạt được rất nhiềuthành tích lớn lao Quá trình phát triển công ty TNHH nhà nướcmột thành viên cơ khí Hà Nội có thể chia làm các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1 (từ 1958 đến 1965): đây là giai đoạn khai thác
công suất của thiết bị, đào tạo cán bộ, đảm bảo tự điều hành mọi
Trang 28khâu trong sản xuất kinh doanh Với nhiệm vụ lúc bấy giờ là sảnxuất máy công cụ để trang bị cho nền cơ khí non trẻ của ta, đápứng nhu cầu khôi phục và phát triển đất nước, mặt khác cũng sảnxuất vũ khí phục vụ cho chiến tranh.
- Giai đoạn 2 (từ 1965 đến 1975): do điều kiện chiến tranh ác
liệt nên khẩu hiệu của công ty là “vừa sản xuất vừa chiến đấu”,hòa nhập với khí thế sôi sục của đất nước, vì vậy sản phẩm củathời kì này vừa phục vụ cho yêu cầu phát triển của đất nước, vừaphục vụ cho việc bảo vệ đất nước sản phẩm của nhà máy gồmmáy đùn gạch, các loại bánh răng, thước ngắm hỏa tiễn 510, súngcối 71, phụ tùng cho các xe tải vượt Trường Sơn, đặc biệt là máy
ép Viết EV250 được tặng huy chương vàng Tuy gặp nhiều khókhăn nhưng nhà máy vẫn hoàn thành kế hoạch sản xuất Nhữngnăm 1966- 1968 nhà máy hoàn thành từ 70- 85% kế hoạch, từ năm1972- 1974 tổng sản lượng của nhà máy đã tăng từ 17- 34% so vớichỉ tiêu kế hoạch
- Giai đoạn 3 (từ 1975 đến 1985): đây là giai đoạn ổn định sản
xuất, cơ sở sản xuất được mở rông với diện tích mặt bằng tăng lên2,7 lần, đội ngũ cán bộ công nhân viên lên đến 3000 người Trong
đó, số lượng kĩ sư và cán bộ có trình độ tương đương đại học là
382 người, công nhân có trình độ chuyên môn từ bậc 4/7 trở lên là
782 người Trong giai đoạn này nhà máy cơ khí tiếp tục thực hiệnthắng lợi các kế hoạch 5 năm (giai đoạn 1975- 1980 và giai đoạn1980- 1985) Với những thành tích đó nhà máy đã được Chính phủtặng danh hiệu Anh hùng Lao động Đến năm 1980 nhà máy đổi
Trang 29tên thành nhà máy chế tạo công cụ số 1, năm 1984 nhà máy đượcnhà nước đầu tư xây dựng cơ sơ cơ khí lớn trang bị thêm trangthiết bị vật chất kĩ thuật để sản xuất phụ tùng cơ khí nặng, máythủy điện.
- Giai đoạn 4 (từ 1985 đến 1994): thực hiện chủ trương của
Đảng và Nhà nước chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung quanliêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhànước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, nhà máy phải tự cân đốiđầu vào, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm dẫn đến tiêu thụ sảnphẩm trì trệ và liên tục giảm Năm 1988 tiêu thụ được 498 máy,năm 1989 là 253 máy và đến năm 1990 thì lượng máy tiêu thụ chỉcòn 90 máy
- Giai đoạn 5 (từ 1994 đến nay): với sự quan tâm của Bộ Công
nghiệp và tổng công ty máy và thiết bị công nghiệp, việc tổ chức
bộ máy và quản lý của công ty đã đi dần vào ổn định, đã từngbước chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm đáp ứngnhu cầu thị trường Trong giai đoạn này nhà máy đã sản xuất cácthiết bị như: thiết bị xi măng lò đứng, thiết bị cho nhà máy đường,nhà máy giấy, các trạm trộn bêtông tự động… mới đây là một sốmáy công cụ làm theo đơn đặt hàng của Mỹ
Ngày 30-06-1995 nhà máy đổi tên thành công ty cơ khí HàNội liên doanh với công ty Shiroki của Nhật Bản thành lập công tyVina- Shiroki chuyên chế tạo khuôn mẫu, công ty liên doanh đivào hoạt động từ năm 1996 đến nay đã được một số thành tíchđáng kể Năm 1997- 1998 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm
Trang 30(1996- 2000), cũng là năm tình hình kinh tế, chính trị trong nước
có nhiều biến động ảnh hưởng trực tiếp sản xuất kinh doanh củacông ty, với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của Bộ Côngnghiệp và tổng công ty máy và thiết bị Công nghiệp, công tyTNHH nhà nước một thành viên cơ khí Hà Nội đã đạt được thànhtích đáng kể trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vực công ty lênđứng vững trong nền kinh tế mới Tháng 10/ 2005 công ty đãchính thức đổi tên thành công ty TNHH nhà nước một thành viên
cơ khí Hà Nội
Với truyền thống tốt đẹp của mình 9 lần được Bác Hồ về thămcông ty đã có bản cam kết nội bộ không ngừng vươn lên đạt nhiềuthành tích mới, xứng đáng là trung tâm cơ khí lớn nhất của cảnước
2.1.2 Đặc điểm, quy trình công nghệ, chức năng, nhiệm vụ chính của công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ khí Hà Nội
a Quy trình công nghệ
Sản phẩm của công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ khí
Hà Nội rất đa dạng về chủng loại và mẫu mã, nên công ty phải sửdụng rất nhiều quy trình công nghệ ứng với mỗi loại sản phẩmriêng biệt, các quy trình đều rất phức tạp, qua nhiều khâu… có thể
ví dụ một sản phẩm là máy công cụ như biểu đồ dưới đây:
Trang 31Biểu 8: Quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm máy công cụ
b Chức năng
Công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ khí Hà Nội là mộtcông ty cơ khí lớn nhất của miền Bắc và từ khi thành lập đến naycông ty luôn được coi là con chim đầu đàn của ngành cơ khí ViệtNam Chính vì vậy mà chức năng của công ty được đề ra rất rõràng : Đảng bộ của công ty TNHH nhà nước một thành viên cơ khí
Hà Nội là hạt nhân chính trị, lãnh đạo đường lối chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước tại công ty Xây dựng Đảng bộ
Đeúc Gia công
chi tiết
Nhập kho BTP
Lắp ráp Tiêu thụ
Làm
khuôn
Làm ruột
Nấu thép
Rót thép
Làm sạch
Cắt ruột
Trang 32vững mạnh là lãnh đạo có hiệu quả, không ngừng nâng cao đờisống vật chất tinh thần cho cán bộ công nhân viên.
Với chức năng hoạt động cụ thể của công ty thì khi mới thànhlập, sản phẩm của công ty sản xuất ra đơn điệu, chủ yếu là máycông cụ, chính vì vậy mà chức năng hoạt động của công ty trongthời gian này bó hẹp, với sản lượng ít ỏi, nhưng cùng với sự lớnmạnh của công ty đã kéo theo sự thay đổi về cơ cấu sản phẩm sảnxuất kinh doanh của công ty Giờ đây công ty chú ý sản xuất kinhdoanh rất nhiều sản phẩm, như máy công cụ, phụ tùng thiết bịcông nghiệp, phụ tùng thiết bị đo lường và thiết bị xi măng…
c Nhiệm vụ
Công ty có nhiệm vụ sản xuất sản phẩm, các mặt hàng cơ khíphục vụ cho các thị trường khác nhau, các ngành công nghiệp khácnhau cho thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài.Đối với vấn đề sản phẩm thì công ty phải chịu trách nhiệm vềchất lượng sản phẩm của mình đối với khách hàng Sản phẩm củacông ty phải đảm bảo chất lượng kĩ thuật do các cơ quan chứcnăng đề ra cũng như yêu cầu của khách hàng
2.1.3 Đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh
a Đặc điểm tài chính
Nguồn tài chính là một trong những nguồn lực không thể thiếuđược của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh Tài chính có một vai tròlớn để trả lương, mua sắm trang thiết bị, nguyên vật liệu, xây dựngnhà xưởng
Trang 33Theo thống kê cuối năm 2002 tổng số vốn của công ty là 140
tỷ đồng trong đó vốn cố định là 51 tỉ, chiếm 36.4%, vốn lưu độngcủa công ty là 89 tỷ chiếm 63.6% Hiện nay tổng số vốn của công
ty đã lên tới 160 tỷ đồng, trong đó vốn cố định là 56 tỷ đồng chiếm35%, còn lại là vốn lưu động 104 tỷ chiếm 65% Số vốn trên đượchuy động từ nhiều nguồn khác nhau như: cấp phát vốn, vốn tự có
và vốn đi vay, trong đó vốn cấp phát chiếm 70%
b Đặc điểm nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một yếu tố quan trọng của quá trình sảnxuất, để đảm bảo quá trình sản xuất được tiếp tục, công ty phảichuẩn bị tốt khâu nguyên vật liệu Khác với các công ty liên doanhkhác, công ty là một doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nênnguyên vật liệu mang đặc điểm chung của sản xuất công nghiệp,chủng loại phong phú đa dạng từ các kim loại, gỗ, nhựa… khốilượng nguyên vật liệu thường lớn, nặng… chi phí dành chonguyên vật liệu lớn, khoảng 50% tổng chi phí, cụ thể là:
Bảng 1: Bảng chi phí dành cho nguyên vật liệu
Đơn giá(USD/tấn)
Thị trường cung ứng
2 Sắt thép các
3 Tôn tấm các
Trang 344 Que hàn 75 400 Nga
Singapore
c Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
Trước năm 1980 sản phẩm chủ yếu của công ty là máy công
cụ chiếm 90% tổng số sản phẩm của công ty và hầu như chưa cóhoạt động kinh doanh thương mại, nhưng đến nay sản phẩm củacông ty rất đa dạng về chủng loại cũng như mẫu mã
+ Máy công cụ : công ty sản xuất các loại máy công cụ thôngdụng như máy tiện, bào B365, máy khoan bàn k612 công ty bắtđầu chế tạo máy công cụ điều khiển số NCN trên cơ sở các máytrong chương trình sản xuất và máy chuyên dùng theo đơn đặthàng
+ Phụ tùng thiết bị công nghiệp :
Các loại bơm thủy lực như bơm bánh răng, bơm biston hướngkính, hướng trục, bơm trục vít áp suất đến 30 Mpa
+ Phụ tùng và thiết bị nhà máy xi măng :
Sản xuất và lắp đặt toàn bộ thiết bị cho nhà máy xi măng đến 8000tân/năm Các loại thiết bị vật chất và phụ tùng thay thế khác chonhà máy xi măng: lò quay cỡ lớn, phụ tùng và thiết bị bán lẻ chongành công nghiệp khác nhau như : dầu khí, giao thông, hóa chất,
và thép cán xây dựng từ 8-12tròn hoặc thép soắn các loại
+ Phụ tùng và thiết bị nhà máy đường :
Trang 35Sản xuất và lắp đặt toàn bộ thiết bị cho nhà máy đường đến
8000 tấn mía/ngày trong đó có thiết bị chính như máy ép mía côngsuất 2800kwm, các lồi chân không
Bên cạnh đó những năm gần đây công ty tiến hành kinh doanhthương mại những thiết bị cơ khí mà nhà nước chưa đủ khả năng
để sản xuất so với nhu cầu như: nhập khẩu và kinh doanh thiết bịvật tư, thiết bị cho các ngành chế tạo máy và thiết bị công nghiệp,hàng năm tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế của công tyđều tăng:
Trang 36nộp Ngân sách
5 Giá trị hợp đồng kí
6 Trong đó gối đầu
Số liệu trên tính đến hết ngày 31-12-2005
Bảng tổng hợp trên cho ta thấy hầu hết các chỉ tiêu thựchiện đều vượt mức kế hoạch đề ra và tăng trưởng cao so với 2004.Tổng doanh thu đạt 250 tỉ đồng, vượt 21% so với kế hoạch và tăng49% so với năm 2004, trong đó đặc biệt là doanh thu sản xuấtcông nghiệp, vượt 10% so với kế hoạch và tăng 51% so với 2004.doanh thu thương mại vượt 32% so với kế hoạch và 46% so với
2004 Đáng lưu ý là trong năm 2005 các đơn đặt hàng nước ngoàivới trị giá gần 1,7 triệu USD như JTT (Nhật), Pilous (Séc), Belgen(Canada), SMS Meer (Italia) đã và đang dần khẳng định vai tròcủa xuất khẩu trong mục tiêu phát triển của công ty Công ty thựchiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước, các khoản trích,nộp Ngân sách tăng 45% so với năm 2004 Thu nhập bình quâncủa công nhân viên tăng 21% so với 2004, đảm bảo cuộc sống chocán bộ công nhân viên
2.1.4 Đặc điểm lao động tiền lương
* Đặc điểm lao động:
Lao động là 1 yếu tố không thể thiếu của hoạt động sản xuấtkinh doanh, số lượng lao động của công ty không cố định mà thayđổi theo thời điểm tùy thuộc vào yêu cầu sản xuất kinh doanh và
Trang 37thường thay đổi qua các năm và thay đổi theo yêu cầu sản xuấtkinh doanh, cụ thể như :
Bảng 3: Cơ cấu lao động tại công ty TNHH nhà nước
một thành viên cơ khí Hà Nội
* Đặc điểm về tiền lương, thưởng
Căn cứ vào sản phẩm thực hiện của công tác tư vấn, khảo sátthiết kế và quy chế khoán sản phẩm của công ty năm 2004 công ty
có 2 hình thức trả lương theo sản phẩm khoán
Trang 38Quỹ lương của công ty được quy định theo số lượng sản phẩmnhập kho với đơn giá tiền lương Hàng quý phòng hành chính căn
cứ vào kế hoạch sản xuất được giám đốc ký duyệt hình thành nênđơn giá tiền lương
Cuối tháng phòng hành chính tổ chức thống kê toàn bộ sốlượng sản phẩm nhập kho nhân với đơn giá tiền lương Sau đó tính
ra quỹ tiền lương của tháng đó rồi trình nên giám đốc duyệt hệ sốlương thưởng
+ Trả theo thời gian : Áp dụng cho lao động quản lý phânxưởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý nhân sự …
- Lương cơ bản = lương tối thiểu * hệ số cấp bậc
22 công ty Trong đó :
h : hệ số lương cấp bậc
m : hệ số phụ cấp
b : ngày công
Trang 39Quỹ thưởng của từng tháng là khác nhau và ai nghỉ 10 ngàytrở nên theo bất cứ hình thức nào đều không được tính lương.
Nguồn tính thưởng được tính từ hai nguồn :
- Trích từ nguồn tiền lương dự phòng, khen thưởng của công
N : số ngày làm việc theo chế độ
NB : ngày công hưởng lương theo thời gian
H : hệ số thưởng
Q : quỹ lương thực tế
Trang 40T : tổng lương thực tại
q : quỹ lương cơ bản
Ngoài ra công ty áp dụng các hình thức thưởng: sáng kiến cảitiến kỹ thuật, thưởng tin nguồn (tìm kiếm công trình…)
2.1.5 Nhận xét thuận lợi khó khăn :
Nhìn chung trong quá trình sản xuất kinh doanh công ty đãđạt được nhiều thành công, thuận lợi nhất định Tuy nhiên, bêncạnh đó cũng còn nhiều hạn chế, khó khăn cần khắc phục
+ Thuận lợi :
- Do công ty hình thành và phát triển khá nâu và được sự quan
tâm chăm lo của cơ quan nhà nước và Bộ công nghiệp nên tìnhhình sản xuất kinh doanh của công ty có nhiều thuận lợi về cả thịtrường đầu ra cũng như đầu vào
- Do hình thành và phát triển sớm nên cơ cấu tổ chức bộ máy
của công ty đã được kiện toàn hợp lý, làm cho quá trình quản lýsản xuất gặp nhiều thuận lợi
- Công ty có nguồn vốn tài chính dồi dào thuận lợi cho việc
chuyển giao công nghệ và mở rộng thị trường sang các nước kháctrên thế giới
- Được sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước : hàng năm
đều được cấp vốn hỗ trợ
- Có đội ngũ cán bộ quản lý, có lực lượng lao động dồi dào có
trình độ cao, có thân liên nâu năm có thể tiếp cận nhanh chóng nhucầu của thị trường
+ Khó khăn :