Làm thế nào để định hướng cho họ, giúp họ cósuy nghĩ và hành động hướng đến giá trị hôn nhân bền chặt.Thực hiện đề tài định hướng giá trị hôn nhân gia đình của thanhniên nông thôn hiên n
Trang 1PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân gia đình là vấn đề thu hút sự chú ý và suy nghĩ củanhiều tầng lớp, lứa tuổi nhiều ngành như: tâm lý học, kinh tế học, xãhội học… trong đó có xã hội học
Sự ổn định và bền vững của quan hệ hôn nhân, hạnh phúc ấm nocủa các gia đình có liên quan chặt chẽ đến dự phát triển xã hội ảnhhưởng đến sự phồn vinh của dân tộc
Hôn nhân ở nước ta có nhiều biến đổi cùng với sự biến đổi củađât nước Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 hôn nhân chịu ảnhhưởng nhiều của tư tưởng nho giáo “Nam năm thê bảy thiếp” chỉ tưtưởng “đa thê” ở đàn ông trong xã hội được chấp nhận Còn với nữgiới thì đó là: “Nữ chính chuyên chỉ có một chồng” Đây là sự bấtnình đẳng cơ bản trong quan hệ hôn nhân và gia đình của xã hộiphong kiến Cũng vì thế mà nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương đã viết: “Chémcha cái kiếp lấy chồng chung Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đặc biệt là sau năm 1959 khiluật hôn nhân và gia đình được ban hành đánh dấu bước ngoặt pháp lýtrong hôn nhân và gia đình đảm bảo quyền hôn nhân tự do, tự nguyệntiến bộ một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Hôn nhân không phânbiệt tuổi tác, dân tộc, tôn giáo…đều được pháp luật thừa nhận va bảo
vệ Đồng thời với nó là sự lên án thứ tình yêu vị kỷ, tư lợi hôn nhân do
ép buộc của cha mẹ Ngày nay nhà nước ta thi hành nhiều chính sách
về kinh tế xã hội mới như: Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
Trang 2phần và cơ chế thị trường, chuyển giao quyền sử dụng đất cho nôngdân, tăng cường áp dụng công nghệ tiên tiến, mở rộng sinh hoạt dânchủ trong, mở rộng giao lưu quố tế nhiều mặt Những tác động của cácchính sách làm cho kinh tế xã hội đất nước có sự chuyển biến Đi cùng
nó là vấn đề hôn nhân gia đình có sự thay đổi Bên cạnh những mặttích cực như nâng cao mức sống trong các gia đình, tạo sự ổn định dânsố…thì hôn nhân gia đình cũng bộc lộ một số hạn chế đáng quan tâmnhư: vấn đề ly thân, ly hôn, kết hôn không đúng pháp luật…vv Theo
số liệu thống kê của Toà án nhân dân tối cao năm 2003, số vụ vợchồng xin ly hôn ở việt nam qua các năm liên tục tăng
ký và không tổ chức lễ cưới…vv thì khó có con số chung cho cả nước
vì ở mỗi vùng diễn biến khó thu thập Đã có nhiều nhận định khẳngđịnh rằng những xu hướng trên không chỉ xảy ra ở khu vực thành thị
mà còn đang gia tâưng ơ khu vực thanh niên nông thôn và các giađình nông thôn
Từ thực trạng xảy ra đối với hôn nhân và gia đình khiến chochung ta phai quan tâm nhìn nhận lại tầng lớp thanh niên hiện nay họnghĩ gì về giá trị hôn nhân gia đình Nhận thức của họ về giá trị hôn
Trang 3nhân gia đình ra sao Làm thế nào để định hướng cho họ, giúp họ cósuy nghĩ và hành động hướng đến giá trị hôn nhân bền chặt.
Thực hiện đề tài định hướng giá trị hôn nhân gia đình của thanhniên nông thôn hiên nay, tác giả mong muốn góp phần đem lại sự thayđổi trong nhận thức của thanh niên nông thôn hướng họ đến với hành
vi hôn nhân vững chắc trong thời kỳ đổi mới hiện nay
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học.
Thực hiện đề tài này là quá trình vận dụng một số phương phápnghiên cứu, một số lý thuyết, một số khái niệm xã hội học nhằm tìnhiểu về định hướng giá trị hôn nhân gia đình trong thanh niên nôngthôn hiện nay Qua đây làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về giá trịhôn nhân gia đình
Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu thực nghiệm làm phong phúthêm nguồn tài liệu về hôn nhân gia đình cho thanh niên và cho nhữngđộc giả có cùng mối quan tâm Bên cạnh đó nó cung cấp thông tin chonhững bậc phụ huynh có con em trong độ tuổi thanh niên va các cơquan chức năng khi đưa ra những chính sách về hôn nhân gia đình
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích tìm hiểu định hướng giá trị hôn nhân giađình của thanh niên nông thôn hiên nay tác giả chỉ ra một số khía cạnhđặc điểm của giá trị hôn nhân gia đình giúp cho thanh niên nói chung
và thanh niên nông thôn hiên nay nói rêng nhận biết về thực tế suynghĩ của chính
Trang 4họ về hôn nhân Từ đó làm họ hiểu hơn về sự thay đổi trong cácchuẩn mực của hôn nhân và để họ tự tìm ra hành động va các tiêuchuẩn để hành động thực hiên giá trị của hôn nhân gia đình.
Tác giả mong muốn góp phần đem lại sự ổn định hơn trong hônnhân ở khu vực thanh niên nông thôn
Qua nghiên cứu thực nghiệm cho phép nêu ra những giải kiếnthiết thực dự báo khả năng phân định giá trị hôn nhân gia đình đểhướng thanh niên có những nhận định trước khi kết hôn để tránhnhững cuộc ly hôn có thể xảy ra do những hiểu biết sai lầm về giá trịhôn nhân
Những giải kiến thiết thực sẽ mang lại cho gia đình và xã hội cónhững hiểu biết và phương pháp định hướng hợp lý cho thanh niên
3 Mục đích, đối tượng khách thể và phạm vi nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu.
• Thực hiện đề tài định hướng giá trị hôn nhân gia đình củathanh niên nông thôn tàc giả muốn nhìn nhận một cách tổng quát, thực
tế nhận thức của thanh niên về hôn nhân gia đình, những tiêu chuẩn đểlựa chọn bạn đời của thanh niên nông thôn và những yếu tố ảnh hưởngđến định hướng giá trin hôn nhân gia đình của thanh niên nông thôn
Và muốn góp phần đem lại sự ổn định hơn trong hôn nhân ở khuvực thanh niên nông thôn trong thời kỳ mà theo nhận định của nhiềunhà nghiên cứu đã nói thì xu hướng ly hôn, ly thân, kết hôn khôngđúng pháp luật đang gia tăng ở nông thôn Góp phần giữ vững được
sự ổn định trong các gia đình ở nông thôn làm cho nông thôn phát
Trang 5triển, công nghiệp hoá đô thị hoà không làm sói mòn các giá trị củahôn nhân gia đình.
• Qua việc tổng hợp nhận thức và các tiêu chuẩn lựa chọn bạnđời cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị hôn nhâncùng các tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời Bằng phương pháp nghiên cứu
xã hội học tác giả đề xuất khuyến nghị và giải pháp có tính khả thigiúp các cơ quan chức năng và gia đình áp dụng cùng với xã hội giúpthanh niên nông thôn hiểu biết sâu hơn về giá trị hôn nhân gia đình
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là định hướng giá trị hôn nhâncủa thanh niên nông thôn
3.3 Khách thể nghiên cứu
Thực hiện đề tài này tác giả lựa chọn đối tượng khảo sát là thanhniên nông thôn Đó là những người đang sống và nlàm việc tại vùngnông thôn Họ là những người có độ tuổi tư 18 tuổi đến 30 tuổi vàchưa kết hôn lần nào
3.4 Phạm vi nghiên cứu.
3.4.1 Phạm vi không gian.
Thực hiện đề tài này tác giả chọn một xã ở một tỉnh trung dumiền bắc là xã La Phù huyện Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ Khảo sát chỉđựơc thực hiện với những đối tượng thanh niên đang sống và làm việctrong xã
3.4.2 Phạm vi thời gian.
Trang 6Với ý nghĩa là báo cáo thực tập tốt nghiệp nên đề tài được bóhẹp trong thời gian từ 1 tháng 2 đến 1 tháng5 năm 2006.
4 Phương pháp nghiên cứu.
Vận dụng phương pháp luận triết học Mác- Lê Nin đối tượngcủa đè tài được tiếp cận một cách khách quan, vận động và biến đổitheo sự phát triển theo sự phát triển của xã hộivà chịu ảnh hưởng củanhiều yếu tố hình thành giá trị trong xã hội
4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể.
4.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu.
Trang 7Thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng những thông tin có liênquan đến hôn nhân gia đình như những báo cáo, bài viết trên các tạpchí (khoa hoc về phụ nữ, xã hội học) hoặc báo viết.
Tác giả tìm và sử dụng có chọn lọc những thông tin cần thiết từcác nguồn tai liệu đã có sẵn để phục vụ đề tài
4.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu.
Nhằm đem đến những hiểu biết sâu hơn về suy nghĩ của thanhniên sống ở nông thôn về tình yêu, hôn nhân, gia đình tác giả đã thựchiện phỏng vân sâu
Phỏng vấn được thực hiện với sự phân loại theo tuổi gồm 12bảng phỏng vấn với các độ tuổi cụ thể là
Thanh niên dưới 18 tuổi la 2 bảng
Thanh niên từ 19 đến 20 tuổi là 4 bảng
Thanh niên từ 21 đến 25 tuổi là 4 bảng
Thanh niên trên 25 tuổi là 2 bảng
4.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Nhằm đem đến những thông tin mang tính đại diện tác giả đã sửdụng 100 bảng hỏi để thu thập thông tin từ thực tế
Trong 100 bảng hỏi được phát theo tỷ lệ giới tính là
Nữ thanh niên : 50 bảng
Nam thanh niên :50 bảng
Nội dung thông tin trong bảng hỏi bao gồm 4 nội dung chính là:Nhận thức của thanh niên nông thôn về tình yêu, hôn nhân, giađình
Trang 8Những tiêu chuẩn của thanh niên nông thôn khi lựa chọn bạnđời.
Những yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị hôn nhân giađình của thanh niên nông thôn
Thôn tin cá nhân của những người được điều tra
Cách thực hiện được dựa trên sự phân chia địa lý của xã thành
10 khu khác nhau Mỗi ngày tác giả điều tra ở 1 khu vực với số bảnghỏi phát ra la 10 bảng trong 10 ngày số bảng hỏi được thu hồi hoàntoàn
5 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết.
5.1 Giả thuyết ngiên cứu.
Thanh niên hiện nay đã chủ động hơn trong việc tìm hiểu và lựachọn bạn đời
Gia đình không còn giữ vai trò quan trọng trong giáo dục tìnhyêu hôn nhân gia đình cho thanh niên
Nghề nghiệp ổn định là tiêu chuẩn quan trọng trong định hướnglựa chọn bạn đời của thanh niên nông thôn
5.2 Khung lý thuyết.
Điều kiện kinh tế—— xã hội
truyền thông
Định hướng giá trị hôn nhân
Nhận thưc của thanh niên về tình
yêu hôn nhân gia đình
Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên
Định hướng
về tuổi kết hôn của thanh niên
Kết luận — Khuyến nghị
Trang 10PHẦN 2: NỘI DUNG Chương1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
1.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu.
Hôn nhân gia đình là vấn đế không chỉ của những người đã cógia đình hay những thanh thiếu niên, hay người già mà nó là vấn đềcủa toàn xã hội nhất là khi những mặt hạn chế của hôn nhân trong thờiđại mới đang diễn ra
Đây là đối tượng được nhiều ngành nghiên cứu, với xã hội học
đã hình thành một chuyên ngành riêng cho việc nghiên cứu về vấn đề
xã hội này là chuyên ngành xã hội học gia đình Chuyên ngành nàyđang được giảng dạy ở tất cả các trường đào tạo cử nhân xã hội học
Nghiên cứu về hôn nhân gia đình đã thu hút nhiều nhà nghiêncứu trong đó các nghiên cứu đa số tập trung vào gia đình và đối tượngchủ yếu là phụ nữ, trẻ em, người già Trong nghiên cứu về gia đình thìtập trung vào nghiên cứu về vai trò, chức năng của gia đình và nghiêncứu về thực trạng hôn nhân ở Việt Nam Nghiên cứu cụ thể là các vấn
đề của hôn nhân như ly thân, ly hôn, hôn nhân không đúng pháp luât,các tập tục hôn nhân của các dân tộc, các nghi lễ tổ chức hôn nhân…
vv Trong các nghiên cứu về thực trạng hôn nhân các nhà nghiên cứutập trung vào lý giải nguyên nhân, xu hướng, biện pháp hạn chế tiêucực trong hôn nhân
Nhìn chung hôn nhân và gia đình là đề tài hấp dẫn mang nhiềukhía cạnh phong phú, tác giả có thể kể ra một số tài liệu về hôn nhân
Trang 11gia đình cho thấy xu hướng hiện tại khi nghiên cứu về hôn nhân giađình.
1: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày- Nùng- Thái ở ViệtNam Nhà xuất bản Khoa học xã hội- Hà Nội 1994
2: Các mô hình hôn nhân và gia ở đồng bằng sông Hồng từtruyền thống đến hiện đại Tác giả Khuất Thu Hồng, Hà Nội 1996
3: Tình bạn, tình yêu và tình dục tuổi vị thành niên NguyễnLinh Hiếu, tạp chí Khoa học về phụ nữ số 3/ 2000
4: Hôn nhân gia đình việt nam và xu hướng phát triển thế kỷ 21.Tạp chí Khoa học về phụ nữ số 2 năm 2002
5: Hỏi đáp về hôn nhân và gia đình ở Việt Nam của Giáo sư LêThi Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2004
Chúng ta nếu theo dõi về các nghiên cứu về hôn nhân gia đình sẽnhận thấy những nghiên cứu về hôn nhân gia đình mà đối tượng khảosát là thanh niên có rất ít mà nội dung nghiên cứu chủ yếu là tội phạm
vị thành niên hay sức khoẻ sinh sản Người ta chỉ chú ý đến việc địnhhướng hôn nhân trong thanh niên như la một biện pháp giảm tỷ lệ lyhôn, ly thân hay kết hôn không đúng pháp luật
Tác giả lựa chọn đề tài định hướng giá trị hôn nhân của thanhniên nông thôn để nghiên cứu nhằm tìm hiểu vấn đề hôn nhân gia đìnhtrong cách nhìn nhận của thanh niên là những người sẽ và sắp lập giađình
1.2 Một số lý thuyết có liên quan.
1.2.1 Lý thuyết giá trị.
Trang 12Thuật ngữ “giá trị” có nguồn gốc từ Hy Lạp là AXTA có nghĩa
là giá trị Hiện nay các nhà xã hội học đã thống nhất rằng giá trị là một
sự kiện xã hội và nó cũng là đối tượng nghiên cứu của xã hội học
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “giá trị” các định nghĩađều nói lên được những đạc tính quan trọng nhất về mối quan hệ giữachủ thể của hành động và đối tượng của nó Có thể nói, chỉ trong mốiquan hệ biện chứng giữa hành động có ý thức và khách thể của nó thìkhái niệm giá trị của nó mới có ý nghĩa thực sự Bởi vì nếu tách khỏihoạt động thực tiễn thì giá trị sẽ “khó hiểu” thậm chí “vô giá trị”
Chính M.Weber là nghười đưa ra khái niệm giá trị vào trong xãhội học với tư cách là một phạm trù Theo ông bất kỳ hành động nàocủa cá nhân có ý thức đều kèm theo một giá trị, hành vi có ý thức của
cá nhân phải là hành động có định hướng và cân nhắc những phản ứngđáp lại của những người xung quanh đó mới là hành vi xã hội
Còn E.Durkheim coi “giá trị xã hội” là ý thức tập đoàn đượchình thành trong sự hợp tác và đoàn kết xã hội Mà hành động là cơ sởđoàn kết xã hội bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội và tổ chức
xã hội “Durkhiem coi sự kiện tự tử như một sự kiện xã hội chứ khôngphải là cái tâm lý cá nhân đơn thuần, khi phân tích trường hợp tự tử vịtha ông đã nhấn mạn tinh thần đoàn kết, liên kết tập đoàn và sự nhỏ bécủa đời sống cá nhân sẵn sàng quyên sinh vì tập thể, vì xã hội Cònloại tự tử vì rối loạn chuẩn mực thường xảy ra khi con người đặt raquá nhiều mục đích cho cuộc sống mà không thể đạt được Việcnghiên cứu hiện tượng tự tử cho phép Durkheim có những nhận xét
Trang 13tương quan giá trị từ cấp độ ý thức niềm tin của cá nhân với ý thức tậpđoàn xã hội Khi con người thấm nhuần những giá trị xã hội nó khôngnhững phục tùng mọi mệnh lệnh của xã hội mà còn ham muốn thựchiện những chuẩn mực xã hội nữa.”(2).
Trong xã hội học văn hoá “giá trị là phẩm chất của cái sinh sản
ra kết quả mong ước” Nhưng các giá trị không phải là những chuẩnmực khả ứng dụng trực tiếp ở bình diện hành động, chúng chỉ cungcấp những định hướng chung khiến có thể vận dụng vào vô số nhữngtình huống khác nhau
Giá trị là toàn bộ nguyên tắc nhưng thế không có nghĩa là chúngmang một hình thức trừu tượng mà chúng được cấu thành từ một quátrình tổng quát hoá vô vàn các trường hợp cụ thể của mỗi loại hànhđộng Nhờ thế chúng co tính cách sáng lập, tức là chúng gợi ý chohành động trong những tình huống quyết định cụ thể Hay giá trị lànhững tiêu chuẩn về cái có thể ao ước được, chúng xác định các mụcđích chung của hành độn So với ý nghĩa là “cái ao ước” thì giá trin làmục đích của hành động, hoặc nói giá trin quyết định tính thống nhấtcủa các vai trò xã hội
Có thể nói người ta hành động theo một giá trị nào đó do mỗingười đều đã tiếp nhận phần lớn các giá trị căn bản và cục bộ ngay từtuổi ấu thơ trong các nhóm cơ bản, toàn bộ các giá trị ấy không phải gì
xa lạ mà chúng gắn liền với nhu cầu Chúng là dạng thức ý niệm củanhu cầu, tức nhu cầu được nhận thức Trong giá trị thì chúng cũng có
Trang 14giá trị chính yếu, giá trị phụ thuộc hoặc giá trị cục bộ, mỗi loại giá trịđều thể hiện những nội dung (giá trị) mong muốn.(3)
Sự định hướng giá trị hôn nhân gia đình của thanh niên hiện nayđược xem như một giá trị quan trọng nó chi phối rất nhiều trong địnhhướng các giá trị khác sau này Hiện nay chúng ta có thể thấy thanhniên thường dựa vào thang giá trị đạo đức để định hướng tìm kiếm bạnđời, bên cạnh đó là các thang giá trị hỗ trợ khác như: ngoại hình, tuổitác nghề nghiệp…vv Ta có thể nhận thấy dễ dàng giá trị hôn nhân giađình là tương đối bền vững trong cả không gian và thời gian Tuynhiên mỗi giá trị đều có mặt tích cực, mặt tiêu cực và hạn chế của nó.Những giá trị vừa tích cực vừa tiêu cực thường là những ứng xử nhằmđối phó tình huống mà người ta không mong muốn, vì thế khi hiểuđược giá trị một cách đúng nhất với tương quan của chúng thì chúng
ta sẽ có những hành động tốt nhất có “giá trị” nhất
Giá trị được hiểu là những điều mà một cộng đồng xã hội, mộtchế độ xã hội, một cá nhân kỳ vọng đạt được trong đời sống vật chất,tinh thần của nó Những kỳ vọng ấy là động lực thúc đẩy tính nhất trí
nỗ lực hành động của đại bộ phận các thành viên trong cộng đồng
Tóm lại tính cách xã hội của con người là sự thể hiện của các giátrị xã hội nhờ đó mà các cá nhân và nhóm xã hội điều chỉnh hànhđộng của mình cho phù hợp Chính vì vậy khi nghiên cứu định hướnggiá trị hôn nhân gia đình của thanh niên nông thôn hiện nay được hiểunhư là những giá trị cá nhân lựa chọn trong hành động hướng của mỗi
Trang 15thanh niên hướng đến hôn nhân gia đình Những giá trị đó họ tự lựachọn và cho là hợp lý.
1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội.
Theo quan niệm của thuyết này thì hành động xã hội như là mộthành vi cụ thể của một cá nhân hướng ý nghĩa theo thái độ của nhữngngười khác Theo M.Weber “ Hành động” có nghĩa là thái độ của conngười (tự có hành động bên ngoài hoặc bên trong, không được phéphoặc được phép) khi và chỉ khi chủ thể gắn liền thái độ của mình vớimột ý nghĩa chủ quan “Hành động xã hội” thì lại là hành vi có địnhhướng có ý nghĩa ý nghĩa theo thái độ của ngưới khác.” (M.Weber.1980:1) (4).
Các hình thức đa dạng của hành động xã hội được phân loại mộtcách điển hình lý tưởng theo bốn định hướng của người hành động
“Cũng như mọi hành động, hành động xã hội cũng có thể xác định:Loại hợp mục đích, thông qua các chờ đợi thái độ của các đối tượngcủa thế giới bên ngoài và của những người khác và sử dụng sự chờ đợi
đó như “điều kiện” hoặc “công cụ” cho mục đích riêng, hợp lý, đượccoi là thành tích được phấn đấu và cân nhắc Loại hợp giá trị thôngqua niềm tin có ý thức vào các giá trị tự thân bắt buộc đạo đức, thẩm
mỹ, tôn giáo…của một sự việc nhất định và độc lập với kết quả Loạicảm xúc, đặc biệt cảm động thông qua những sự cảm xúc và cảmnhận Loại truyền thống thông qua thói quen đã từng trải.” (Weber180:12), (4)
Trang 16Định hướng giá trị hôn nhân gia đình của thanh niên là mộthành động xã hội có mục đích phương thức thực hiện nhằm đạt đượckết quả Việc làm này tập hợp tất cả những hành vi cử chỉ có chủ định
để đạt được mục đích Các cử chỉ có chủ định ở đây chính là việcthanh niên hướng mình theo những việc làm mong muốn đạt được giátrị hôn nhân gia đình như kết bạn tìm hiểu thông tin về cá tính, sởthích, thói quen , các quan hệ xã hội… của những người khác giới vớinhau Tất cả đều hướng đến cái đích cuối cùng xây dựng cho bản thânmột gia đình hạnh phúc như mong muốn
1.3 Các khái niệm có liên quan.
1.3.1 Khái niệm giá trị.
Vào giữa thế kỷ 19 người ta hiểu rằng giá trị là một cái gì đó “chân, thiện, mỹ” Theo sự nhận định riêng (cá nhân) nhưng vẫn ítnhiều phù hợp với nhận định chung khi ấy Ý nghĩa chung không mất
đi nhưng ngày nay người ta hiểu giá trị theo ý nghĩa cụ thể hơn rằng:
“giá trị là cái khả ao ước trong đời sống của một cộng đồng xã hội,một nhóm hay một cá nhân (5)
Giá trị với tư cách là sản phẩm của văn hoá và thuật ngữ “giá trị”
có thể quy vào những mối quan tâm, thích thú, những ưa thích, những
sở thích, bổn phận, những trách nhiệm, những ước muốn, những nhucầu, những ác cảm những lôi cuốn và nhiều hình thức khác nữa củađịnh hướng lựa chọn
Một trong những định nghĩa được chấp nhận trong khoa học xãhội là coi giá trị như những quan niệm về cái đáng mong muốn ảnh
Trang 17hưởng đến hành vi lựa chọn Trong cách nhìn rộng rãi hơn thì bất cứcái gì tốt, xấu đều là giá trị hay giá trị là điều quan tâm của chủ thể
Như vậy mọi giá trị dường như chứa đựng một số yếu tố nhậnthức, chúng có tính chất hướng dẫn và lựa chọn Chúng cũng gồm một
số yếu tố tình cảm vì chúng thể hiện những gì mà chúng ta cần bảo vệ.Khi nhận thức một cách công khai đầy đủ thì giá trị trở thành tiêuchuẩn cho sự ưu thích lựa chọn và phán xét Vậy giá trị là cái mà tacho là đáng có, mà ta thích, ta cho là quan trọng để hướng dẫn cho tahành động của ta
Phần lớn các giá trị căn bản của xã hội học được con người tiếpnhận ngay khi còn nhỏ thông qua gia đình nhà trường, bạn bè, thôngtin đại chúng và qua các nguồn khác nhau của xã hội.Những giá trịnày trở thành một phần của nhân cách con người Một số người cónhững tập hợp giá trị duy nhất và các giá trị đó được chia xẻ, đượccủng cố bởi những người khác có quan hệ với họ vì giá trị chỉ ra cáiphù hợp, cái gì không phù hợp với cá nhân với cộng đồng với xã hôị
Giá trị ảnh hưởng đến động cơ hướng dẫn cho hành động củacon người Vì thế có thể nhìn người ta hành động mà có thể đoán đượcgiá trị của người ta, tuy nhiên trong một số trường hợp giá trị và hànhđộng laị không nhất quán với nhau
Giá trị là cái có thực và tồn tại trong hiện thực, giá trị phụ thuộctrực tiếp vào điều kiện kinh tế xã hội vì vậy phải xem xét giá trị trongnhững điều kiện cụ thể Ở mỗi cá nhân thường có các quan hệ ưu tiên
và luôn luôn nhấn mạnh loại giá trị này hơn giá trị khác, luôn luôn có
Trang 18mâu thuẫn giá trị Khi các giá trị căn bản mâu thuẫn thì người tathường xếp chúng theo thứ bậc mức độ quan trọng và hành động theonhững giá trị quan trọng nhất Mỗi xã hội, mỗi nền văn hoá có hệ giátrị khác nhau.Hệ giá trị xã hội của một xã hội là phương hướng phấnđấu cho toàn xã hội Mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào nhận thức…đều có hệgiá trị riêng mình (6)
Ngoài ra khi bàn về “giá trị” còn rất nhiều quan niệm, định nghĩakhác nhau Tuy nhiên các định nghĩa đều thống nhất ở một điểm làxem xét giá trị trong tương quan hoạt động sống của con người củanhóm xã hội
Theo H.Spencer thì khái niệm giá trị cho thấy mức phân hoá tổchức và các chức năng xã hội, việc thiết lập trật tự cũng như để ổnđịnh xã hội Trên cơ sở đó, ta có thể hiểu được giá trị là tiêu chuẩn đểđánh giá mức độ liên kết của các lợi ích cá nhân, nhóm, tập thể
Theo nhà xã hội học người Mỹ J.H.Fictcher: “Tất cả cái gì có íchlợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc xã hội đều
có giá trị.” (7)
Hay tron lịch sử đã từng tồn tại không ít các quan niệm khácnhau về giá trị: Giá trị là ý tưởng về các loại mục đích hay các loại lốisống của một cá nhân, được chia xẻ trong nhóm hay toàn xã hội, được
cá thể hay nhóm xã hội mong muốn hoặc coi là có ý nghĩa (8)
Giá trị theo quan niệm của nhiều nhà khoa học là một phẩmchất, là cái đáng quý, cái đó có tác dụng Giá trị là cái mà người tađịnh hướng vào đó, soi vào đó để mà điều chỉnh hành vi của mình
Trang 19Không giống như chuẩn mực, giá trị không mang tính bắt buộc giá trịkhông mang tính bắt buộc, nó cũng không phải là cái bất biến, nóđược hình thành và biến đổi theo sự biến đổi của tư tưởng xã hội vànhận thức của con người Khi xã hội tồn tại thì có sự hiện dịên củatcủa giá trị, bởi vì mỗi một xã hội luôn bao hàm trong nó những giá trịvật chất và giá trị tinh thần.
Còn trong từ điển tiếng việt “giá trị” được định nghĩa như sau:
“Cái làm cho vật có ích, có lợi, có ý nghĩa là cái đáng quý về mặt nào
đó Giá trị có tác dụng, hiệu lực là lao động xã hội của những ngườisản xuất hàng hoá kết tinh trong sản phẩm hàng hoá, giá trị cũng là số
đo của một đại lượng hay số được thay thế bằng một ký hiệu.”(9) Nhưvậy ngay trong từ điển khái niệm giá trị cũng được định nghĩa vớinhiều nghĩa khác nhau, tuỳ từng lĩnh vực, khía cạnh, góc độ, trườnghợp khác nhau mà khi sử dụng người ta hiểu theo nghĩa khác nhau củacùng một khái niệm “giá trị”
Cuối cùng trong xã hội học thì “giá trị là những tiêu chuẩn lýtưỏng mà một xã hội đề ra hướng dẫn những ý nghĩ và hành động củanhững thành viên sống trong xã hội ấy Các giá trị của một xã hội đều
có liên quan với nhau và tạo thành một hệ thống hay còn gọi là thanggiá trị”(10) Như vậy mỗi cá nhân khi hiểu được giá trị cụ thể thì họ sẽ
có những hành động phù hợp cho bản thân
1.3.2 Khái niệm định hướng giá trị:
Trang 20Có nhiều cách hiểu khác nhau về “Định hướng giá trị” Vì nó làmột trong những phạm trù cơ bản liên quan trực tiếp đến đời sống conngười và thực tiễn xã hội.
“Định hướng giá trị” là một phương pháp cho phép phân loại cáckhách thể của cá nhân theo giá trị của chúng Định hướng giá trị đượchình thành thông qua sự chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội và thể hiệnthông qua các mục đích, tư tưởng chính kiến, ham muốn của cá nhân
“ Định hướng giá trị là sự thừa nhận, lựa chọn của một cá nhânhay cộng đồng về một giá trị hay hệ thống giá trị nào đấy Định hướnggiá trị là cơ sở bên trong của hành vi, quyết định lối sống của cánhân”(7)
Trong cấu trúc của hoạt động con người định hướng giá trị gắnliền với đặc điểm nhận thức và ý trí của nhân cách Hệ thống địnhhướng giá trị tạo thành nội dung xu hướng của nhân cách và là cơ sởbên trong của các mối quan hệ giữa cá nhân với thực tại Sự phát triểncủa định hướng giá trị là dấu hiệu chín muồi của nhân cách , là chỉtiêu do đặc tính xã hội của cá nhân Sự kém phát triển của định hướnggiá trị làm tăng sự khống chế của các kích thích bên ngoài đến các cấutrúc nội tại của nhân cách , trước hết ảnh hưởng đến nhu cầu của mỗingười
Trong tâm lý học cũng có nhiều quan niệm phong phú về địnhhướng giá trị , một số nhà tâm lý học quan niệm , phong phú về địnhhướng giá trị một số nhà tâm lý học quan niệm : Định hướng giá trị là
cơ sở của các đánh giá chủ thể , chẳng hạn trong từ điển tâm lý học
Trang 21Macxit tóm tắt quan niệm.”Định hướng giá trị” là phương thức chủthế sử dụng để phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối vớichính mình , từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu hướng, động cơhành động(11) Như vậy trong định hướng giá trị có quan hệ đến cácmặt nhận thức , ý trí và cảm xúc trong sự phát triển trong sự phát triểnnhân cách
Định hướng đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng cácchương trình hành vi ( ứng xử) lâu dài Chúng hình thành trên cơ sởnhững nhu cầu của chủ thể về việc nắm vững những hình thức cơ bảncủa hoạt động sống trong những điều kiện cụ thể xác định và do tínhchất của các quan hệ quy định Các quan hệ xã hội này là nguồn gốckhách quan hình thành những nhu cầu ấy Các nhà tâm lý học xã hộiquan tâm đến ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực của các giá trị đối với cánhân và nhóm Họ cho rằng hệ thống định hướng giá trị phản ánh hệ
tư tưởng và văn hoá của xã hội, cơ sở bên trong của những quan hệcủa con người đối với những giá trị khác nhau có tính vật chất, chínhtrị, tinh thần và đạo đức
Ngoài ra trong xã hội học cũng có rất nhiều định nghĩa khácnhau về định hướng giá trị Ví dụ ở tài liệu “ Những cơ sở nghiên cứu
xã hội học’’ khi xem xét định hướng giá trị với tư cách là một thành tốtrong cơ cấu nhân cách và là các điều chỉnh hành vi của con người,các tác giả đã quan niệm : Định hướng giá trị là khuynh hướng chung
đã được quy định về mặt xã hội được ghi lại trong tâm lý của cá nhânnhằm vào mục đích và phương tiện hoạt động trong lĩnh nào đó (10).
Trang 22Chúng ta có thể hiểu chung nhất rằng : Định hướng giá trị là thái
độ lựa chọn của con người đối với giá trị vật chất và tinh thần , là một
hệ thống tầm thế , niềm tin , sở thích , được biểu hiện trong hành viứng xử của con người Nói cách khác việc cá nhân hướng vào giá trịnày hay giá trị khác tạo nên định hướng giá trị của họ Nhưng conngười có thể trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển haykhông thì điều quyết định là định hướng giá trị của họ xác lập như thếnào, với nội dung gì Bởi vì chính sự hình thành định hướng giá trị lànội dung cơ bản của xã hội hoá , mà xã hội hoá là quá trình con ngườitiếp thu nền văn hoá xã hội , chuẩn bị vai trò xã hội để hoà nhập vàocuộc sống cộng đồng
Như vậy có nhiều cách quan niệm khác nhau về định hướng giátrị , tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực , góc độ, khía cạnh khác nhau mà sửdụng trong nghiên cứu ta định nghĩa cho phù hợp
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tác giả sử dụng địnhhướng giá trị mục đích làm sáng tỏ sự suy nghĩ của thanh niên về giátrị hôn nhân gia đình
1.3.3 Khái niệm hôn nhân.
Khái niệm hôn nhân là khái niệm được định nghĩa bằng nhiềuđịnh nghĩa khác nhau
Hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo các nghi thức xác địnhquan
hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau(nam, nữ) được coi nhau là chồng và vợ quy định mối quan hệ trách
Trang 23nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con cái của họ, sự xác nhận đótrong quá trình phát triển xã hội dần dần mang thêm những yếu tốmới…(12)
Khái niệm hôn nhân còn được lý giải: Hôn nhân là sự cam kếtchung sống giữa những người trưởng thành khác giới được phê chuẩncủa luật pháp Những người kết hôn có những quyền nghĩa vụ đối vớinhau , cũng như quyền nghĩa vụ đối với con cái do họ sinh ra Bất kể
cả những khác biệt về văn hoá hôn nhân là một thể chế xã hội nó đòihỏi những điều kiện và những thủ tục cần thiết như tuổi kết hôn phạm
vi kết hôn những ghi thức về pháp lý phong tục tôn giáo Giông nhưmọi thể chế của xã hội khác nhân hôn nhân chịu sự tác động của cácnhân tố kinh tế văn hoá trong lịch sử phát triển loài người đã từng tồntại nhiều hình thức hôn nhân khác nhau Chế độ một vợ mộtchồng( monogamy), chế độ nhiều vợ / đa thê( polygyny) , chế độnhiều chồng/ đa phu(polyandry) chế độ mẫu hệ và chế độ phụ hệ(mảianchal and patriarachal union), hộ gia đình với sự cư trú bên nhà
vợ và sự cư trú bên nhà chồng ( matrilocal and patrilocal residence)…(13)
“Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn làviệc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật
về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.(14)
Khái niệm hôn nhân trong đề tài này được sử dụng và xem xétnhư một giá trị xã hội có sự hình thành và phát triển riêng chịu nhiêùyếu tố xã hội tác động trong quá trình phát triển của nó
Trang 241.3.4 Khái niệm gia đình.
Trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam có định nghĩa : “Giađình là một tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân quan
hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các quyềnlợi và nghĩa vụ giữa họ với nhau”(14).
“ Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thànhviên khác giới thông qua hôn nhân để thực hiện các chức năng sinhhọc kinh tế văn hoá xã hội tín ngưỡng ….Khi gia đình đã có con cáithì các thành viên trong gia đình được liên kết với nhau vừa bằng quan
hệ hôn nhân ( không cùng huyết thống ) vừa bằng quan hệ huyết thống( theo dòng bố hoặc dòng mẹ Gia đình là một phạm trù lịch sử thayđổi cùng sự phát triển của xã hội Ngày nay nhiều người cho rằng nếu
về phương diện hôn nhân người ta đi từ quần hôn đến hôn nhân cá thểthì trên lĩnh vực gia đình loài người đi từ đại gia đình ( Đại gia đìnhmẫu hệ , đại gia đình phụ hệ ) đến tiểu gia đình Nói chung người taquan niệm đại gia đình bao gồm từ ba thế hệ trở lên là một đơn vị kinh
tế , là tế bào của xã hội Tiểu gia đình cũng là một đơn vị kinh tế một
tế bào xã hội nhưng chỉ bao gồm bố mẹ và con cái”(12).
Kháiniệm gia đình trong cuốn : Gia đình Việt Nam và người phụ
nữ trong thời kỳ công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước có ghi: Giađình là một khái niệm được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hìnhthành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân ( quan hệ tính giao và quan hệtình cảm) và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó( cha mẹ, con cáI, ông bà , họ hàng nội ngoại ) Gia đình có thể hiểu
Trang 25như một đơn vị xã hội vi mô , nó chịu sự chi phối của xã hội xong cótính ổn định độc lập tương đối Nó có quy luật phát triển riêng với tưcách là một thiết chế xã hội đặc thù Những thành viên gia đình đượcgắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế , văn hoá , tìnhcảm một cách hợp pháp , được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (15).
1.3.5 Định hướng giá trị gia đình
Định hướng giá trị hôn nhân gia đình là sự lựa chọn của cá nhânhay cộng đồng về quan hệ giữa nam và nữ những mong đợi của cánhân và gia đình bạn bè xã hội đã được lựa chọn nhằm xác lập quan
hệ hôn nhân Quan hệ hôn nhân này được xã hội pháp luật thừa nhận
Định hướng giá trị hôn nhân gia đình là tháI độ lựa chọn của conngười đối với giá trị của mối quan hệ hôn nhân và huyết thống là một
hệ thống tâm thể niềm tin sở thích được biểu hiện trong hành vi hànhđộng hướng đến tình yêu hôn nhân gia đình của cá nhân
3.2.6 Khái niệm “ Thanh niên”.
Thanh niên là một kháI niệm được sử dụng nhiều trong công táccũng như trong cuộc sống hằng ngày với nhiều cách hiểu khác nhau ,tuỳ theo trường hợp có khi “ Thanh niên “ dùng để chỉ một con ngườinào đó cụ thể có khi được dùng để chỉ tính cách phong phú trẻ trungcủa con người, có khi lại dùng để chỉ một lớp người trẻ tuổi
Thanh niên còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa họctuỳ theo góc độ tiếp cận của mỗi ngành mà người ta đưa ra các địnhnghĩa khác nhau về “ Thanh niên”
Trang 26Về mặt sinh học thanh niên được coi như là một giai đoạn pháttriển trong cuộc đời con người mang những đặc điểm sinh học sứckhoẻ …vv Khác với giai đoạn trước đó và đánh dấu sự thay đôỉ bởi từđây các em bước sang một giai đoạn mới để trở thành người lớn.
Các nhà tâm lý học nhìn nhận thanh niên gắn liền với đặc điểmtâm lý lứa tuổi và coi đó là các yếu tố cơ bản phân biệt với các lứatuổi khác
Các nhà kinh tế học nhấn mạnh thanh niên với góc độ là lựclượng lao động hùng hậu là nguồn lực bổ xung cho đội ngũ ngươì laođộng trên lĩnh vực sản xuất
Nhìn từ góc độ xã hội học thanh niên là một tập đoàn xã hội dân
số đặc thù có những đặc tính tâm lý và sinh lý nhất định bằng quátrình xã hội hoá mà dần trở thành chủ thể của xã hội ( trực tiếp tạo ralực lượng sản xuất xã hội trực tiếp mang các quan hệ xã hội của một
xã hội nhất định)
Thanh niên là một hiện tượng xã hội khách quan luôn luôn biểuhiện như một tập đoàn xã hôị dân số đặc thù có những đặc thù về lứatuổi Bản chất sinh học và xã hội cũng như thực chất của thanh niên ởmọi giai đoạn vận động của lịch sử thể hiện ở một bộ phận của loàingười với tư cách chủ thể chung của một hình thái kinh tế xã hội lịch
sử cụ thể nhất định
Quá trình chiếm lấy bản chất và thực chất của bộ phận loàingười ấy được thanh niên thực hiện phù hợp với những quy luật chungnhư quy luật tài sản xuất đời sống xã hội quy luật không đều và quy
Trang 27luật phát triển giai đoạn Thanh niên đạt được trạng thái hoàn toànchiếm lấy bản chất và thực chất của bộ phận loài người ấy vào lúc nó
tự khẳng định như chủ thể và khách thể hoàn chỉnh và toàn diện của
sự vận động xã hội và đó là lúc tự phủ định tư cách thanh niên củamình Nhìn từ giới hạn của thanh niên được quy định một cách kháchquan bằng độ dài của các giai đoạn phát triển khác nhau
Như vậy mỗi ngành khoa học tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứucủa mình mà nhấn mạnh khía cạnh tập thể xã hội của khái niệm thanhniên đặc điểm chung về mặt sinh học thanh niên là giai đoạn kết thúccủa tuổi thiếu niên đạt đến đỉnh cao của sự trưởng thành đây là giaiđoạn quan trọng nhất trong quá trình phát triênr của cơ thể con người Xác nhận giai đoạn này thường biểu hiện một cách tập chung ở việcxác định độ tuổi thanh niên Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế
xã hội đặc điểm của từng thời kỳ thời đại lịch sử các yếu tố truyềnthống của từng quốc gia người ta chia thành độ tuổi khác nhau ở nước
ta hiện nay tuổi thanh niên được đồng nhất với độ tuổi từ 16 đến 30tuổi này được quy định trong luật thanh niên Việt Nam
Trong đề tài nghiên cứu tác giả lựa chọn độ tuổi khảo sát tậpchung từ 18 tuổi trở lên đến 30 tuổi …Lựa chọn đọ tuổi này với thanhniên chưa lập gia đình tác giả muốn tiếp cận với đối tượng là thanhniên sắp tiến tới hôn nhân gia đình
1.3.7 Khái niệm nông thôn.
Trong cuốn xã hội học nông thôn của Tống Văn Chung xuất bản
2001 nhà xuất bản Đai học quốc gia Hà Nội đã tóm tắt một định nghĩa
Trang 28về nông thôn của nhà xã hội học người Nga V.Staroverov thành 8 đặctrưng của nông thôn , thể hiện quan niệm nông thôn của nước ta là: Nông thôn phải gắn chặt với một nghề lao động xã hội truyền thống ,đặc trưng và nổi trội là sản xuất nông nghiệp Trình độ pháttriển của nền sản xuất xã hội ở nông thôn do lịch sử để lại gồm những
tụ điểm quần cư thường có quy mô nhỏ về mặt số lượng.Mật độ dân
ông thôn có tính cố kết cộng đồng rất cao
Lối sống nông thôn nặng về luật tục về nghi lễ hơn tính pháp lý Văn hoá nông thôn mang đậm nét dân gian, nét truyền thống
Trên đây là những đặc trưng của khái niệm nông thôn nhờ đó để hiểu được thế nào là nông thôn (16)
Nông thôn Việt Nam đang bước vào thời kỳ đổi mới vì vậy có những đặc trưng khác ngoài những đặc trưng trên nhưng tuỳ ở mỗi vùng có sự biểu hiện khác nhau nhưng cơ bản vẫn là mang đặc trưng trên
Trang 29Chương 2: Kết quả nghiên cứu.
2.1 điều kiện kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu.
La Phù là một xã thuộc huyện Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ cáchthủ đô 69km Từ năm 1999 khi thực hiện tái lập huyện thì La Phù trởthành huyện lỵ của huyện
Là một xã thuộc loại trung bình La Phù có diện tích 4004,8 ha và
số dân 5087 người Dân số của xã thuộc loại kết cấu dân số trẻ nênthành phần thanh niên và trẻ em ở đây chiếm tỷ lệ cao Cũng vì vậy
mà bình quân thu nhập đầu người ở xã còn thấp 5,798 triệu đồng chomột người trên một năm Hiện nay do là trung tâm huyện lỵ lại đượcđầu tư nhiều về cơ sở hạ tầng nên số dân nhập cư của xã ngày càngtăng làm cho bộ mặt nông thôn của xã cũng có nhiều thay đổi Giaothông có đến 80% là đường bê tông hoặc dải nhựa Về các mặt nhưgiáo dục, y tế, hoạt động xã hội khác cũng được quan tâm nên cuộcsống của người dân được nâng lên rõ rệt,
Về cơ cấu nghề nghiệp thì số lượng dân số làm nông nghiệp là57.2%, dân số làm công nghiệp là 26,1%, số dân làm dịch vụ là28.7% Tốc độ tăng trưởng của xã đạt 15% trong một năm
Địa bàn xã có tổng số dân số là thanh niên là 1013 người trong
đó số thanh niên đang sống và làm việc tại xã là705 người Do kinhnghiệm cũng như kinh phí hoạt động còn nhiều hạn chế nên tác giả chỉthực hiện khảo sát 100 thanh niên nam nữ của xã
Về mặt văn hoá xã có hầu hết số gia đình được công nhận là giađình văn hoá Số vụ ly hôn hay ly thân hoặc kết hôn không đúng pháp
Trang 30luật trong xã là rất nhỏ Tuy vậy trong những năm gần đây có xuhướng gia tăng C ác hoạt động văn hoá khác cũng diễn ra thườngxuyên như các hoạt động kỷ niện các ngày lễ lớn trong năm.
Qua các con số trong báo cáo tổng kết của UBND xã La Phùnăm 2005 cho thấy xã có nhiều mặt thuận lợi trong phát triển nhiềuhơn là hạn chế
Khái quát về vấn đề hôn nhân gia đình trong thanh niên hiệnnay
Hôn nhân gia đình là hình thức chung sống phổ biến của nhữngngười trưởng thành khác giới Nói như tác giả Phạm Thanh Vân trongbài viết “một vài ý kiến về thực trạng hôn nhân và gia đình ở Hà Nội”
in trong cuốn gia đình Việt Nam ngày nay nhà xuất bản Khoa học_ xãhội _ Hà Nội năm 1996 do giáo sư Lê Thi chủ biên thì hôn nhân làhiên tượng xã hội là sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà được pháp luậtthừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau
Hôn nhân là cơ sở của gia đình vì vậy quan tâm đến giá trịhôn nhân nhất thiết phải gắn liền với giá trị của gia đình và việc lấy
vợ, lấy chồng của thanh niên từ xưa đến nay vẫn được xem là việc làmnghiêm chỉnh và hệ trọng
Gía trị hôn nhân gia đình đối với một người Việt Nam rất đượccoi trọng chính vì vậy mà ở độ tuổi 50 chỉ có 3,3% dân số chưa từngkết hôn Đối với dân số từ 15 tuổi trở lên có 66% nam và 62% nữ hiệnđang có vợ, có chồng.(Nguồn tổng điều tra dân số và nhà ở Việt
Trang 31Nam_1999_kết quả điều tra chọn mẫu NXB TG.Hà Nội năm2000_trang 39.
Theo số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam ở người phụ
nữ trong gia đình thời kỳ CNH_HĐH(KVMB) NXB KHXH_2002 Tỷ
lệ hôn nhân có đăng ký là 93,2% trong đó thành phố là 98 đồng bằng92,2 trung du miền núi 91,7 Cho thấy tỷ lệ hôn nhân chưa đăng kývẫn còn ở mức 6,8%
Hôn nhân hiện nay phần lớn được xây dựng trên cơ sở tìnhyêu nam nữ, thực hiện một cách tự nguyện tiến bộ, được pháp luậtthừa nhận và bảo vệ Nhưng xã hội biến động kéo theo sự biến độngcủa hôn nhân gia đình Các giá trị đạo đức trong xã hội và tác độnglàm cho giá trị hôn nhân gia đình thay đổi Các vụ ly hôn liên tục giatăng kể cả ở khu vực nông thôn Theo số liệu điều tra của toà án nhândân tối cao năm 2003 thì năm 2002 có 56 487 vụ đến tháng 8 năm
2003 trong vòng 8 tháng có 41 826 vụ Bên cạnh các cuộc hôn nhânphạm pháp như không đúng độ tuổi, không đăng ký… thì xuất hiệnkiểu gia đình mới chung sống như vợ chồng nhưng không có đăng kýhay kiểu gia đình mở rộng do sự tái hôn ở các cặp vợ chồng sau lyhôn Gia đình trong thời đại mới mất dần chức năng kiểm soát quan hệtình dục, đề cao tự do cá nhân… Làm nảy sinh nhiều vấn đề trong hôn
và gia đình Chính vì vậy làm cho nỗi lo gia đình Việt Nam trướcnguy cơ “dẫm chân lên vết xe đổ” của xã hội phương tây là sự khủnghoảngtan rã của giá trị, thiết chế gia đình
Trang 32Hôn nhân là cơ sở của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội.Muốn xã hội phát triển vững mạnh thì gia đình phải là thiết chế bềnvững Vì vậy để xây dựng được gia đình ấm no hạnh phúc điều cốtyếu là giúp cho thanh niên những người sẽ tiến tới thực hiện giá trịhôn nhân gia đình hiểu biết sâu sắc về hôn nhân gia đình những giá trịđáng quý đã được nhân dân ta gìn giữ và phát triển Làm cho giá trịhôn nhân gia đình trong bước chuyển mình từ truyền thống đến hiệnđại vừa bảo tồn và phát huy được những giá trị tốt đẹp của gia đìnhtruyền thống vừa tiếp nhận được những giá trị chân chính tốt đẹp củagia đình hiện đại.
2.2 Kết quả nghiên cứu.
2 2.1 Nhận thức của thanh niên nông thôn về hôn nhân gia đình.
• Nhận thức của thanh niên nông thôn về tình yêu hôn nhân
Có thể nói hôn nhân là một giá trị xã hội mà tất cả các thanhniên nam nữ chưa kết hôn đều mong đợi
Đứng về mặt pháp luật hôn nhân là một hiện tượng xã hội là sựliên kết giữa đàn ông và đàn bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệmối quan hệ đó Chính sự liên kết đó đã tạo ra tổ chức xã hội mới làgia đình Một cuộc hôn nhân tốt, một gia đình hạnh phúc không chỉ làđiều kiện để các thành viên có môi trường phát triển tốt nhất mà nó là
cơ sở để xây dựng một xã hội ấm no hạnh phúc
Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới cùng với việc mở cửakinh tế và xoá bỏ những cấm kỵ lỗi thời trong quan hệ nam nữ và sự
Trang 33công nhận quyền tự do hôn nhân đã làm cho giá trị của tình yêu củahôn nhân gia đình được tôn vinh nhiều hơn được coi trọng hơn.
Nhưng hôn nhân gia đình là hiện tượng mang tính xã hội vì vậy
nó có mặt đối lập bên cạnh cái tích cực Lối sống hiện đại làn sóng
“giải phóng tình dục” ở các nước phương tây tràn vào Việt Nam cùngvới công cuộc mở rộng quan hệ quốc tế nhiều mặt của nước ta Hậuquả của nó để lại trong hôn nhân gia đình là không nhỏ Gía trị củatình yêu bị những toan tính của lợi ích riêng tư, những suy nghĩ giảnđơn, những ham muốn tầm thường làm cho suy giảm Có rất nhiềunhững cuộc hôn nhân diễn ra chỉ vì “ăn cơm trước kẻng” mà phải cưới
và sau đó là những vụ ly hôn, ly thân gia tăng không chỉ ở khu vựcthành thị mà ở các nông thôn
Vậy thanh niên nông thôn hiện nay suy nghĩ như thế nào về tìnhyêu,về hôn nhân gia đình Chúng tôi thực hiện đề tài này không nhằmmục đích nào khác là trả lời câu hỏi trên
•Nhận định của thanh niên nông thôn về tình yêu.
Trong cuộc khảo sát 100 thanh niên thuộc xã La Phù_ThanhThuỷ_Phú Thọ với câu hỏi: Theo anh (chị) trong tình yêu cần nhữngyếu tố nào sau đây? Chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trang 342.1 Một số yếu tố cần thiết trong tình yêu
Qua bảng số liệu trên ta thấy có 94% số người được hỏi cho rằngyếu tố cần thiết trong tình yêu là sự chân thật của hai cả hai người,82% cho rằng trong tình yêu cần phải hiểu và thông cảm cho nhau,80% số người được hỏi cho rằng cần có sự giúp đỡ nhau, 80% chorằng yêu nhau là mong được sống cùng nhau 72% cho rằng yêu nhaucần phải có sự quan tâm đến nhau Nói như trong sách giáo khoa,Giáo dục công dân lớp 11 thì: “ Khó có thể đem đến một định nghĩa
về tình yêu, vì yêu là một tình cảm cực kỳ phong phú bao hàm nhiềumặt Về nội dung nó biểu thị mối quan hệ giữa hai người khác giớicảm thấy có một nhu cầu phải gắn bó lại với nhau để sống, tự nguyệnhiến dâng cho nhau cuộc sống của mình Tình yêu là tình cảm caonhất trong quan hệ giữa nam và nữ.” Những chỉ báo trên chỉ là một sốkhía cạnh mà tác giả thiết nghĩ trong bất kỳ một mối tình nào cũng cầnphải có
Để nhìn nhận một cách tổng quát và khách quan trước những tácđộng của nội tại hay bên ngoài vào suy nghĩ của thanh niên về tìnhyêu chúng tôi thực hiện so sánh giữa nhận định của thanh niên về
xuất
Tỷ lệ %
1 Sự chân thật của cả hai người 94 94
2 Giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn 80 80
3 Luôn quan tâm đến mọi mặt của
4 Hiểu và thông cảm cho nhau 82 82
5 Mong được sống cùng nhau 80 80
Trang 35những yếu tố cần có trong tình yêu và các yếu tố như tuổi, giới tính,trình độ học vấn.
Ví như trong tương quan với giới tính của đối tượng điều tra thểhiện trong bảng số liệu sau
Bảng 2.2 Bảng tương quan giữa các yếu tố trong tình yêu và giới tính.
Như vậy số Nam cho rằng không cần thiết phải có sự chân thậttrong tình yêu là 4%, nữ là 8%, sự chênh lệch là không đáng kể
Tình yêu nam nữ đòi hỏi có nhiều yếu tố để đi đến hôn nhân giađình “Sự chân thật” là điều kiện cần thiết để xây dựng một mối quan
hệ vững chắc nhưng để có một mối quan hệ lâu dài thì yếu tố “hoàhợp” là yếu tố quyết định Trong kết quả điều tra tác giả nhận thấyvẫn còn có những thanh niên cho rằng không cần sự hoà hợp và thôngcảm cho nhau trong tình yêu (18%), không cần sự chân thật trong tìnhyêu (20%), không cần thiết phải giúp nhau vượt qua khó khăn (20%).Thực tế cho thấy tình yêu rất cần “sự chân thật” trong tình cảm cũng
S
tt
Giới tínhCác yếu tố trong tình yêu
Nam(%)
Nữ(%)
1 Sự chân thật của cả hai người 96 92
2 Giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn 84 76
3 Luôn quan tâm đến mọi mặt của
nhau
4 Hiểu và thông cảm cho nhau 84 80
Trang 36như “giúp nhau vượt qua khó khăn” Sự giúp đỡ ta có thể nhân được
từ nhiều người như bạn bè, gia đình nhưng trong tình yêu sự giúp đỡthường có hiệu quả rất lớn dù đó chỉ là sự giúp đỡ về mặt tinh thần.Yếu tố mong muốn được sống cùng nhau là chỉ báo sự lôi cuốn mạnh
mẽ trong quan hệ tình yêu giữa nam và nữ Khi yêu người ta thườnghướng về nhau mong muốn được sống cùng nhau dưới một mái nhàhình thành một gia đình như trong thời bao cấp mong muốn đó thểhiện là “Một mái nhà tranh, hai trái tim vàng” Nhưng trong kết quảđiều tra tác giả thu thập được có 20% số thanh niên được hỏi cho rằngkhông cần thiết phải có yều tố mong muốn được sống cùng nhau
Từ tình yêu đến những suy nghĩ về việc kết hôn là một quá trìnhkhông thể thực hiện “một chốc, một lát” Những nhận định chungthường khẳng định những mối tình “xét đánh” thường dẫn đến nhữngcuộc tình hay những cuộc hôn nhân khó bền vững Lý giải nguyênnhân nhiều nhà nghiên cứu về gia đình nói rằng do thời gian hiểu nhaucòn quá ít vì vậy khi tiến đền hôn nhân chính sự hiểu biết về nhau còn
“ít ỏi” và thực tế cuộc sống hôn nhân có nhiều quan hệ, vấn đề nảysinh vì thế các cuộc hôn nhân không có sự tìm hiểu và chuẩn bị kỹlưỡng thường không bền vững
• Thanh niên nông thôn và việc kết hôn.
Thanh niên hiện nay mong muốn hôn nhân của mình sẽ đượctiến hành khi đã có sự chuẩn bị trước như thế nào? Để biết đươch đềunày chúng tôi đã thăm dò thực tế đó với câu hỏi: Anh (chị) cho biết
Trang 37mình sẽ kết hôn khi có những điều kiện nào sau đây và thu được kếtquả cụ thể là:
S
1 Được gia đình hai bên chấp thuận 94 94
2 Cả hai đều có công việc ổn định 60 60
Bảng 2.3 Mong muốn của thanh niên trước khi kết hôn
Có 3 điều kiện quan trọng trước khi kết hôn là được sự ủng hộ
và hậu thuẫn của gia đình 94%, cả hai đều có công việc ổn định và cókiến thức để chuẩn bị đóng một vai trò mới là làm vợ,mẹ hoặc làmchồng,làm cha có cùng một tỷ lệ là (60%) cho là yếu tố cần thiết
Các yếu tố khác như : Được bạn bè ủng hộ (35%), người con trai
có công việc ổn định (40%) có tiền tích luỹ dành cho việc kết hôn thì
tỷ lệ phần trăm là (40%) số người được hỏi cho là cần thiết, (60%) cho
là không cần thiết Điều kiện có nhà riêng trước khi cưới chỉ có 18%
số người được hỏi cho là cần thiết vì đây là một điều kiện khó vớithanh niên đặc biệt là thanh niên nông thôn
Sự đồng ý hay sự chấp thuận của cha mẹ là điều kiện cần thiết
để cuộc hôn nhân diễn ra chỉ có 6% thanh niên nông thôn cho rằng
Trang 38không cần thiết phải nhận được sự chấp thuận của gia đình chỉ có 6%thanh niên nông thôn cho rằng không cần thiết phải nhận được sựchấp thuận của gia đình Trong xã hội phong kiến thì hôn nhân thường
do cha mẹ sắp đặt nhưng khi tư tưởng nho giáo sụp đổ cùng với chế
độ phong kiến và khi xã hội đề cao tính tự do trong tinh yêu hôn nhân
đã được pháp luật công nhận thì cha mẹ không có quyền “ép duyêncon cái” nhưng không vì thế mà mất đi vị thế trong quyết định trọngđại của con cái, cha mẹ có ảnh hởng rất lớn đến quyết định kết hôncủa thanh niên nông thôn Khi xã hội phát triển cuộc sống gia đình cónhiều thay đổi và để đóng một vai trò mới không phải dễ dàng chính
vì hiểu được điều này mà đã có 52% thanh niên được hỏi cho rằng cầnthiết phải tìm hiểu kiến thức để đóng một vai trò mới là làm vợ hoặclàm chồng, làm mẹ hoặc làm cha
Trong mối tương quan giữa biến giới tính và mong muốn vềnhững điều kiện có được trước khi kết hôn của thanh niên qua bảngtương quan dưới đây cho thấy:
Trang 392.4 Bảng tương quan giữa giới tính và những điều kiện trước
khi kết hôn
S
tt
Giới tínhCác điều kiện
Tỷ lệ %chung
Nam(%)
Nữ(%)
1 Được gia đình cả hai bên chấp
3 Chỉ cần người con trai có công
Trang 40Biểu đồ những điều kiện tr ớc khi kết hôn của thanh niên
0 20 40 60 80 100 120
Đ ợc bạn bè ủng hộ
Có nhà riêng
Có tiền tích luỹ dành cho việc kết hôn
Có kiến thức chuẩn bi làm vợ (chồng),cha (mẹ)
Điều kiện khác
2.5 Biểu đồ những điều kiện kết hụn của thanh niờn nụng thụn
Sự khỏc biệt về giới tớnh khiến cho thanh niờn lựa chọn cỏc điều kiện
để tiến đến hụn nhõn là cú thực
Trong khi nam giới cú 72% lựa chọn điều kiện “Cả hai cú cụngviệc ổn định” thỡ nữ giới cú 48% lựa chọn điều kiện này trờnh lệch là24% cho thấy giỏ trị nghề nghiệp cú một vị trớ rất cao trong hụn nhõn