DANH MỤC BẢNG, SƠ SỒ Bảng1: Kinh tuyến trục cho từng tỉnh, thành phố Bảng 2: Một số thông số phân chia mảnh bản đồ Bảng 3: Hiện trạng sử dụng đất xã Xuân An năm 2010 Bảng 4: Số hiệu các
Trang 1LỤC MỤC
Trang 2DANH MỤC BẢNG, SƠ SỒ
Bảng1: Kinh tuyến trục cho từng tỉnh, thành phố
Bảng 2: Một số thông số phân chia mảnh bản đồ
Bảng 3: Hiện trạng sử dụng đất xã Xuân An năm 2010
Bảng 4: Số hiệu các tờ bản đồ xã Xuân An
Hình 1 :Lưới chiếu Gauss-Kruger
Hình 2 :Lưới chiếu UTM
Hình 9: Bản mô tả ranh giới thửa đất
Hình 10: Kết quả đo đạc địa chính giới thửa đất
Sơ đồ 1: Sơ đồ mô tả một cách tổng quan về các phương pháp đo vẽ bản đồ địa chính đang được sử dụng hiện nay:
Sơ đồ 2 : Qui trình công nghệ Đo vẽ bản đồ địa chính bằng phương pháp toàn đạc
Sơ đồ 3: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng phương pháp đo ảnh đơn
Sơ đồ 4: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng đo ảnh số
Sơ đồ 5: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng phương pháp đo vẽ lập thể
Sơ đồ 6: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng phương pháp đo ảnh giải tích
Trang 3Sơ đồ 7: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng phương pháp đo vẽ ảnh số
Sơ đồ 8: Sơ đồ lưới địa chính xã Xuân An - huyện Yên Lập - tỉnh Phú Thọ
Sơ đồ 9: Quy trình thành lập bản đồ địa chính bằng phần mềm MicroStation
SE và Famis
Sơ đồ 10: Sơ đồ phân mảnh bản đồ địa chính xã Xuân An-huyện Yên tỉnh Phú Thọ
Trang 4Lập-ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp năm 1992 quy định “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộđất đai theo quy hoạch và pháp luật” Luật Đất đai năm 2003 khẳng định: Tàinguyên đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Đấtđai có vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân Là tài sản, tài nguyên quý giákhông gì thay thế được của quốc gia; là tư liệu sản xuất đặc biệt đối với nôngnghiệp, lâm nghiệp; là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống;
là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, quốcphòng an ninh Ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường, đất đai còn là hàng hoáđặc biệt, nguồn nội lực và là nguồn vốn to lớn rất quý giá của đất nước
Để quản lý, sử dụng đất đai một cách hiệu quả, trước hết cần phải nắm chắcđược số lượng, chất lượng của từng loại đất, của từng khu vực khác nhau Với tầm quan trọng như vậy, do đó việc quản lý nhà nước đối với đất là mộthoạt động không thể thiếu được trong xã hội Bởi vì trong cuộc sống conngười luôn có nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích khác nhau Vấn đề nắmvững quỹ đất để quản lý, sử dụng đất hợp lý và khai thác mọi tiềm năng củađất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao là một việc làm hết sức quan trọng vàcấp bách của các ngành nói chung và ngành địa chính nói riêng
Nhận thức được vấn đề này, được sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, Bộ Tàinguyên và Môi trường đã phối hợp với các địa phương, đôn đốc các cơ quanchuyên môn các cấp xây dựng và thực hiện các dự án thành lập và quản lý hồ
sơ địa chính với công tác trọng tâm là đo đạc, lập bản đồ địa chính
Với chính sách phát triển đúng đắn, những năm gần đây nền kinh tế tỉnh PhúThọ đã có những bước phát triển vượt bậc Kinh tế - xã hội phát triển đã tác
Trang 5động mạnh mẽ tới tình hình quản lý và sử dụng đất của địa phương, đòi hỏiphải có hệ thống công cụ quản lý đất đai chính xác và hiệu quả hơn.
Thực hiện nhiệm vụ được giao, những năm qua, Sở Tài nguyên và Môitrường Phú Thọ đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tiến hành xây dựng vàthực hiện các dự án đo đạc, lập hồ sơ địa chính trên phạm vi tỉnh theo dự ántổng thể “ Xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai giai
đoạn 2008 - 2010, định hướng đến 2015, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” Dự án
này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định theo công văn số60/TCQLĐĐ-ĐKTK ngày 13 tháng 11 năm 2008 và được UBND tỉnh PhúThọ phê duyệt theo Quyết định số 208/QĐ-UBND ngày 25 tháng 02 năm2009
Công tác lập, quản lý hồ sơ địa chính là công tác đặc biệt quan trọng, đóngvai trò quyết định trong việc thực hiện quản lý đất đai trên địa bàn xã, huyện,tỉnh cũng như cả nước theo Luật Đất đai năm 2003 Vì tính chất quan trọngcủa hồ sơ địa chính, từ khi Luật Đất đai năm 2003 ban hành, Bộ Tài nguyên
và Môi trường đã ban hành - Thông tư số 29/2004/TT - BTNMT, ngày01/11/2004 và Thông tư số 09/2007/TT - BTNMT, ngày 02/08/2007 về việchướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính, nhằm ứng dụng tiến bộ củatin học vào quản lý đất đai, đặc biệt là Thông tư số 09/2007/TT - BTNMT,nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai, tăng độ tin cậy và tốc độ xử lýthông tin về đất đai
Để xây dựng được bộ hồ sơ địa chính theo hướng dẫn của Thông tư số09/2007/TT - BTNMT, đòi hỏi bản đồ địa chính phải được thể hiện đầy đủ,chính xác với hiện trạng sử dụng đất, đồng thời phải thỏa mãn các quy địnhcủa Quy phạm hiện hành
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã cho ra đời nhiều phần mềm ứng
Trang 6GIS, LIS Trong đó, phần mềm MicroStation SE có nhiều ưu thế trong đồhoạ, phi đồ hoạ phục vụ công tác quản lý đất đai Phần mềm Famis ra đời, lậptrình chủ yếu là chạy trên nền của phần mềm MicroStation SE, là phần mềmtích hợp cho việc đo vẽ và thành lập bản đồ địa chính, là một phần mềm nằmtrong hệ thống phần mềm chuẩn thống nhất trong ngành địa chính, có tính ưuviệt và khả năng ứng dụng rất lớn nên chúng ta có thể áp dụng phần mềm nàyvào đo vẽ thành lập bản đồ địa chính.
Để ứng dụng các kiến thức thu nhận được của mình trong những năm học trênmái trường đại học Tài nguyên và Môi trường với sự mong muốn được đónggóp một phần cho đất nước trong công cuộc phát triển nền kinh tế Và đượcthực tiễn với công việc em được phép ứng dụng phần mềm MicroStation SE
và phần mềm Famis để thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ lớn và hồ sơ địa chính
xã Xuân An, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, nhằm mục đích quản lý và cấpgiấy chứng nhận quyền sử đụng đất cho các chủ hộ trên địa bàn xã Xuân An,phù hợp với đề tài tốt nghiệp của bản thân, em đã được các thầy cô trong khoa
cho phép em thực hiện đó là “Ứng dụng phần mềm MicroStation SE và
Famis vào thành lập bản đồ địa chính”.
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
- Tìm hiểu cơ sở, quy trình, quy phạm thành lập bản đồ địa chính
- Nghiên cứu các khâu tự động hoá trong quy trình thành lập bản đồ địa chính
- Từ số liệu đo đạc chi tiết, nghiên cứu sử dụng phần mềmMicroStation SE và Famis thành lập bản đồ địa chính
- Tạo ra các sản phẩm như bản đồ địa chính, hồ sơ kỹ thuật thửa đất …phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai
2.2 Yêu cầu
Trang 7- Nắm được các bước trong quy trình công nghệ thành lập bản đồ địa chính.
- Sử dụng phần mềm Microsation và Famis thành lập bản đồ địa chính,đảm bảo tuân thủ theo đúng quy phạm của Bộ Tài nguyên - Môi trường
- Sản phẩm cuối cùng là bản đồ địa chính và hồ sơ kỹ thuật thửa đấtphải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và sử dụng được trong thực tế, phục vụcho yêu cầu của công tác quản lý đất đai
Trang 8CHƯƠNG I TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận của bản đồ địa chính
1.1.1 Khái niệm về bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên ngành đất đai, trên bản đồ thể hiện chínhxác vị trí, ranh giới, diện tích và một số thông tin địa chính của từng thửa đất,từng vùng đất Bản đồ địa chính còn thể hiện các yếu tố địa lý khác liên quanđến đất đai Bản đồ địa chính được thành lập theo đơn vị hành chính cơ sở xã,phường, thị trấn và thống nhất trong phạm vi cả nước Bản đồ địa chính đượcxây dựng trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại, nó đảm bảocung cấp thông tin không gian của đất đai phục vụ công tác quản lý đất
Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính, mang tínhpháp lý cao phục vụ quản lý chặt chẽ đất đai đến từng thửa đất, từng chủ sửdụng đất Bản đồ địa chính khác với bản đồ chuyên ngành thông thường ở chỗbản đồ địa chính có tỷ lệ lớn và phạm vi đo vẽ là rộng khắp mọi nơi trên toànquốc Bản đồ địa chính thường xuyên được cập nhật các thay đổi hợp phápcủa đất đai, có thể cập nhật hàng ngày hoặc xây dựng bản đồ địa chính đachức năng, vì vậy bản đồ địa chính còn có tính chất của bản đồ cơ bản quốcgia.[8]
Bản đồ địa chính được dùng làm cơ sở để thực hiện một số nhiệm vụ trongcông tác quản lý nhà nước về đất đai như:
- Thống kê đất đai
- Giao đất sản xuất Nông nghiệp, Lâm nghiệp
- Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ở và sở hữu Nhà ở
- Xác nhận hiện trạng và theo dõi biến động về quyền sử dụng đất
- Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cải tạo đất, thiết kế xây dựng cácđiểm dân cư, quy hoạch giao thông, thuỷ lợi
Trang 9- Lập hồ sơ thu hồi đất khi cần thiết.
- Giải quyết tranh chấp đất đai
Với điều kiện khoa học và công nghệ như hiện nay, bản đồ địa chính đượcthành lập ở hai dạng cơ bản là: Bản đồ giấy và bản đồ số địa chính.[6]
+ Bản đồ giấy địa chính: là loại bản đồ truyền thống, các thông tin được thể
hiện toàn bộ trên giấy nhờ hệ thống ký hiệu và ghi chú Bản đồ giấy cho tathông tin rõ ràng, trực quan, dễ sử dụng
+ Bản đồ số địa chính: có nội dung thông tin tương tự như bản đồ giấy, song
các thông tin này được lưu trữ dưới dạng số trong máy tính, sử dụng một hệthống ký hiệu đã số hoá Các thông tin không gian lưu trữ dưới dạng tọa độ,còn thông tin thuộc tính sẽ được mã hoá Bản đồ số địa chính được hình thànhdựa trên hai yếu tố kỹ thuật là phần cứng máy tính và phần mềm điều hành.Các số liệu đo đạc hoặc bản đồ cũ được đưa vào máy tính để xử lý, biên tập,lưu trữ và có thể in ra thành bản đồ giấy
Hai loại bản đồ trên thường có cùng cơ sở toán học, cùng nội dung Tuy nhiênbản đồ đã sử dụng thành quả của công nghệ thông tin hiện đại nên có đượcnhiều ưu điểm hơn hẳn so với bản đồ giấy thông thường Về độ chính xác,bản đồ số lưu trữ trực tiếp các số đo nên các thông tin chỉ chịu ảnh hưởng củacác sai số đo đạc ban đầu
Trong khi đó bản đồ giấy chịu ảnh hưởng rất lớn của sai số đồ họa Trongquá trình sử dụng, bản đồ số cho phép ta lưu trữ gọn nhẹ, dễ tra cứu, cập nhậtthông tin, đặc biệt nó tạo ra khả năng phân tích, tổng hợp thông tin nhanhchóng, phục vụ kịp thời cho các yêu cầu sử dụng của các cơ quan Nhà nước,
cơ quan kinh tế, kỹ thuật Tuy nhiên khi nghiên cứu về bản đồ địa chính taphải xem xét toàn bộ các vấn đề cơ bản của bản đồ thông thường
Trang 10Khi nghiên cứu đặc điểm qui trình công nghệ thành lập bẩn đồ địa chính
và phạm vi ứng dụng của từng loại bản đồ địa chính, ta cần làm quen với một
số khái niệm về các loại bản đồ địa chính như sau:
- Bản đồ địa chính cơ sở: Đây là tên gọi chung cho bản đồ gốc được
đo vẽ bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa, đo vẽ bằng các phươngpháp có sử dụng ảnh hàng không kết hợp hay đo vẽ bổ sung ở thực địa hayđược thành lập trên cơ sở biên tập, biên vẽ từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ đã có.Bản đồ địa chính cơ sở được đo vẽ kín ranh giới hành chính và kín mảnh bản
đồ đó
Bản đồ địa chính cơ sở là tài liệu cơ bản để biên tập, biên vẽ và đo vẽ bổsung thành bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính cơ sở xã, phường, thịtrấn, để thể hiện hiện trạng vị trí, hình thể, diện tích và loại đất của các ô thửa
có tính ổn định lâu dài và dễ xác định ở thực địa.[6]
- Bản đồ địa chính gốc: Là bản đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất và
thể hiện trọn và không trọn các thửa đất, các đối tượng chiếm đất nhưngkhông tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa
lý có liên quan; lập theo khu vực trong phạm vi một hoặc một số đơn vị hànhchính cấp xã, trong một phần hay cả đơn vị hành chính cấp huyện hoặc một sốhuyện trong phạm vi một tỉnh hoặc một thành phố trực thuộc Trung ương,được cơ quan thực hiện và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận Bản đồđịa chính gốc là cơ sở để thành lập bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính
xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) Các nội dung đã được cập nhậttrên bản đồ địa chính cấp xã phải được chuyển lên bản đồ địa chính gốc.[6]
- Bản đồ địa chính: Là bản đồ thể hiện trọn các thửa đất và các đối
tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đãđược duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan; lập theo đơn vị hành chính xã,phường, thị trấn, được cơ quan thực hiện, Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan
Trang 11quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận.
Bản đồ địa chính được lập cho từng đơn vị hành chính cấp xã, là tàiliệu quan trọng trong bộ hồ sơ địa chính, trên bản đồ thể hiện vị trí, hình thể,diện tích, số thửa và loại đất của từng chủ sử dụng đất Đáp ứng được yêu cầuquản lý đấy đai của Nhà nước ở tất cả các cấp Xã, Huyện, Tỉnh và Trungương
Ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng (loại đất) của thửa đất thể hiệntrên bản đồ địa chính được xác định theo hiện trạng sử dụng đất Khi đăng kýquyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ranh giới, diệntích, mục đích sử dụng đất có thay đổi thì phải chỉnh sửa bản đồ địa chínhthống nhất với số liệu đăng ký quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sửdụng đất [6]
- Trích đo địa chính: Là đo vẽ lập bản đồ địa chính của một khu đất
hoặc thửa đất tại các khu vực chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địachính nhưng chưa đáp ứng một số yêu cầu trong việc giao đất, cho thuê đất,thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất
- Bản trích đo địa chính, mảnh bản đồ trích đo, bản đồ trích đo (gọi
chung là bản trích đo địa chính): Là bản đồ thể hiện trọn một thửa đất hoặctrọn một số thửa đất liền kề nhau, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạothành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liênquan trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã (trường hợp thửa đất cóliên quan đến hai (02) hay nhiều xã thì trên bản trích đo phải thể hiện đườngđịa giới hành chính xã để làm căn cứ xác định diện tích thửa đất trên từng xã),được cơ quan thực hiện, Ủy ban nhân dân xã và cơ quan quản lý đất đai cấptỉnh xác nhận
Trang 12Ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng (loại đất) của thửa đất thể hiệntrên bản trích đo địa chính được xác định theo hiện trạng sử dụng đất Khiđăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ranhgiới, diện tích, mục đích sử dụng đất có thay đổi thì phải chỉnh sửa bản trích
đo địa chính thống nhất với số liệu đăng ký quyền sử dụng đất, giấy chứngnhận quyền sử dụng đất
* Khi thành lập bản đồ địa chính cần phải quan tâm đến các yêu cầu cơ bảnsau:
- Chọn tỷ lệ bản đồ địa chính phù hợp với từng vùng đất, loại đất
- Bản đồ địa chính phải có hệ thống toạ độ thống nhất, có phép chiếu phùhợp để các yếu tố trên bản đồ biến dạng nhỏ nhất
- Thể hiện đầy đủ và chính xác các yếu tố không gian như vị trí các điểm,các đường đặc trưng, diện tích các thửa đất…
- Các yếu tố pháp lý phải được điều tra, thể hiện chuẩn xác và chặt chẽ
1.1.2 Chức năng của địa chính[5]
- Chức năng kỹ thuật: Bản đồ địa chính thể hiện chính xác vị trí, kíchthước, diện tích các thửa đất trong các đơn vị hành chính và các yếu tố địa lý
có liên quan trong một hệ tọa độ thống nhất
- Chức năng tư liệu: Địa chính là nguồn cung cấp tư liệu phong phú vềđất đai, các công trình gắn liền với đất, hạng đất, thuế Đó là các tư liệu dạngbản đồ, sơ đồ và các văn bản phục vụ cho các yêu cầu của cơ quan nhà nước
và nhân dân
- Chức năng pháp lý: Đây là chức năng cơ bản của địa chính Sau khi
có đủ tư liệu xác định hiện trạng và nguồn gốc đất đai, thông qua việc đăng ký
và chứng nhận thì tư liệu địa chính có hiệu lực pháp lý và là cơ sở pháp lý vềquyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai và bất động sản
Trang 13- Chức năng định thuế: Đây là chức năng nguyên thuỷ và cơ bản củađịa chính Trước hết là nhận dạng vị trí, ranh giới, sau đó là xác định nộidung, đánh giá, phân hạng, định giá nhà đất, xác định mức thuế, tính toán cáckhoản thuế.
1.1.3 Quản lý địa chính[5]
Là hệ thống các biện pháp giúp cơ quan nhà nước nắm chắc được cácthông tin đất đai, quản lý được quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, bảo vệquyền lợi hợp pháp cho người sở hữu và sử dụng đất
Nội dung quản lý địa chính bao gồm: Điều tra đất đai, đo đạc, lập bản
đồ địa chính, đăng ký đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phân loại,phân hạng, định giá đất…
Nguyên tắc quản lý:
- Quản lý địa chính tiến hành theo quy chế thống nhất do nhà nước đề ra, được cụthể hoá bằng các văn bản pháp luật như luật, nghị định, thông tư…
- Tư liệu địa chính phải đảm bảo tính nhất quán, liên tục và hệ thống
- Đảm bảo độ chính xác và có độ tin cậy cao
- Đảm bảo tính khái quát và tính hoàn chỉnh
1.2 Các yếu tố cơ bản và nội dung của bản đồ địa chính
1.2.1 Yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính [8]
Bản đồ địa chính được sử dụng trong quản lý đất đai là bộ bản đồ biêntập riêng cho từng đơn vị hành chính cơ sở xã, phường Mỗi bộ bản đồ có thể
là một hoặc nhiều tờ bản đồ ghép lại Để đảm bảo tính thống nhất, tránh nhầmlẫn và dễ dàng vận dụng trong quá trình thành lập cũng như trong quá trình sửdụng bản đồ và quản lý đất đai ta cần phải phân biệt và hiểu rõ bản chất cácyếu tố cơ bản của bản đồ địa chính và các yếu tố phụ khác có liên quan
Yếu tố điểm: Điểm là một vị trí được đánh dấu ở thực địa bằng các mốc
Trang 14biên thửa đất, các điểm đặc trưng của địa vật, địa hình Trong địa chính cầnquản lý dấu mốc thể hiện điểm ở thực địa và toạ độ của chúng.
Yếu tố đường: Đó là các đoạn thẳng, đường thẳng, đường cong nối qua
các điểm thực địa Đối với đoạn thẳng cần xác định và quản lý toạ độ haiđiểm đầu và cuối, từ toạ độ có thể tính ra chiều dài và phương vị của đoạnthẳng Đối với đường gấp khúc cần quản lý toạ độ các điểm đặc trưng của nó.Các đường cong có dạng hình học cơ bản có thể quản lý các yếu tố đặc trưng.Tuy nhiên trên thực tế đo đạc nói chung và đo đạc địa chính nói riêng thườngxác định đường cong bằng cách chia nhỏ đường cong tới mức các đoạn nhỏcủa nó có thể coi là đoạn thẳng và nó được quản lý như một đường khấpkhúc
Thửa đất: Là yếu tố đơn vị cơ bản của đất đai Thửa đất là một mảnh
tồn tại ở thực địa có diện tích xác định, được giới hạn bởi một đường baokhép kín, thuộc một chủ sở hữu hoặc một chủ sử dụng nhất định Trong mỗithửa đất có thể có một hoặc một số loại đất Đường ranh giới thửa đất ở thựcđịa có thể là con đường, bờ ruộng, tường xây, hàng rào hoặc đánh dấu bằngcác dấu mốc theo quy ước của các chủ sử dụng đất Các yếu tố đặc trưng củathửa đất là các điểm góc thửa, chiều dài các cạnh thửa và diện tích của nó
Thửa đất phụ: Trên mỗi thửa đất lớn có thể tồn tại các thửa nhỏ có
đường ranh giới phân chia không ổn định, có các phần được sử dụng vào cácmục đích khác nhau, trồng cây khác nhau, mức tính thuế khác nhau, thậm chíthường xuyên thay đổi chủ sử dụng đất Loại thửa này gọi là thửa đất phụ
đơn vị tính thuế
Lô đất: Là vùng đất có thể gồm một hoặc nhiều loại đất Thông thường
lô đất được giới hạn bởi các con đường kênh mương, sông ngòi Đất đai đượcchia lô theo điều kiện địa lý khác nhau như có cùng độ cao, độ dốc, theo điềukiện giao thông, thuỷ lợi, theo mục đích sử dụng hay cùng loại cây trồng
Trang 15Khu đất, xứ đồng: Đó là vùng đất gồm nhiều thửa đất, nhiều lô đất.
Khu đất và xứ đồng thường có tên gọi riêng được đặt từ lâu
Thôn, bản, xóm, ấp: Đó là các cụm dân cư tạo thành một cộng đồng
người cùng sống và lao động sản xuất trên một vùng đất Các cụm dân cưthường có sự gắn kết mạnh về các yếu tố dân tộc, tôn giáo nghề nghiệp
Xã, phường: Là đơn vị hành chính cơ sở gồm nhiều thôn, bản hoặc
đường phố Đó là đơn vị hành chính có đầy đủ các tổ chức quyền lực để thựchiện chức năng quản lý nhà nước một cách toàn diện đối với các hoạt động vềchính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong phạm vi lãnh thổ của mình
1.2.2 Nội dung của bản đồ địa chính [8]
Bản đồ địa chính là tài liệu chủ yếu trong bộ hồ sơ địa chính, vì vậytrên bản đồ cần thể hiện đầy đủ các yếu tố đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai
Điểm khống chế toạ độ và độ cao: Trên bản đồ cần thể hiện đầy đủ các
điểm khống chế toạ độ và độ cao nhà nước các cấp, lưới toạ độ địa chính cơ
sở, lưới toạ độ địa chính cấp 1, cấp 2 cũ, lưới địa chính và các điểm khốngchế đo vẽ có chôn mốc để sử dụng lâu dài Đây là yếu tố dạng điểm cần thểhiện chính xác đến 0.2 mm trên bản đồ
Địa giới hành chính các cấp: Để thể hiện chính xác đường địa giới
quốc gia, địa giới hành chính các cấp tỉnh, huyện, xã, các mốc giới hànhchính, các điểm đặc trưng của địa giới Khi đường địa giới hành chính cấpthấp trùng với đường địa giới cấp cao hơn thì biểu thị đường địa giới cấp cao.Các đường địa giới phải phù hợp với hồ sơ địa giới đang được lưu trữ trongcác cơ quan quản lý nhà nước
Ranh giới thửa đất: Thửa đất là yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính.
Ranh giới thửa đất được thể hiện trên bản đồ bằng đường viền khép kín dạngđường gấp khúc hoặc đường cong Để xác định vị trí thửa đất cần đo vẽ chính
Trang 16ngoặt, điểm đường cong của đường biên Ngoài ra trên mỗi thửa đất còn thểhiện đầy đủ ba yếu tố: số thửa, diện tích và phân loại đất theo mục đích sửdụng.
Loại đất: Tiến hành phân loại đất và thể hiện năm loại đất chính là đất
nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở và đất chưa sử dụng.Trên bản đồ địa chính cần phải phân loại đến từng thửa đất, từng loại đất chitiết
Công trình xây dựng trên đất: Khi đo vẽ bản đồ tỷ lệ lớn ở vùng đất
thổ cư đặc biệt là khu vực đô thị, trên từng thửa đất phải thể hiện chính xácranh giới, các công trình xây dựng như nhà ở, nhà làm việc ranh giới cáccông trình xây dựng được xác định theo mép tường phía ngoài Trên vị trícông trình còn biểu thị tính chất vật liệu của công trình như nhà gạch, nhà bêtông, nhà nhiều tầng
Ranh giới sử dụng đất: Trên bản đồ thể hiện ranh giới các khu dân cư,
ranh giới lãnh thổ sử dụng của các doanh nghiệp, của các tổ chức xã hội, doanh trạiquân đội
Hệ thống giao thông: Thể hiện tất cả các loại đường sắt, đường trong
làng, ngoài đồng, đường phố, ngõ phố Đo vẽ chính xác vị trí tim đường, mặtđường, chỉ giới đường, các công trình cầu cống trên đường và các tính chấtcủa đường Giới hạn thể hiện hệ thống giao thông là chân đường, đường có độrộng lớn hơn 0.5 mm trên bản đồ phải vẽ hai nét, đường có độ rộng nhỏ hơn0.5 mm trên bản đồ thì vẽ một nét và ghi chú độ rộng
Hệ thống thuỷ văn: Thể hiện hệ thống sông, ngòi, kênh, mương, ao
hồ Đo vẽ theo mức nước tại thời điểm đo vẽ Kênh mương có độ rộng lớnhơn 0.5 mm trên bản đồ phải vẽ hai nét, kênh mương có độ rộng nhỏ hơn0.5 mm trên bản đồ thì vẽ một nét theo đường tim của nó và ghi chú độ rộng.Khi đo vẽ khu dân cư thì phải thể hiện chính xác hệ thống thoát nước công
Trang 17cộng Sông ngòi, kênh mương cần phải ghi chú tên riêng và ghi chú dòngchảy.
Địa vật quan trọng: Trên bản đồ địa chính thể hiện các địa vật quan
trọng có ý nghĩa định hướng như cột cờ, ăngten
Mốc giới quy hoạch: Trên bản đồ địa chính phải thể hiện đầy đủ mốc
giới quy hoạch, chỉ giới quy hoạch, hành lang an toàn giao thông, hành langbảo vệ đường cao thế, hành lang bảo vệ đê điều
Dáng đất: Khi đo vẽ bản đồ ở vùng địa hình có chênh cao lớn phải thể
hiện dáng đất bằng các đường đồng mức hoặc ghi chú độ cao
Ghi chú thuyết minh: Trên bản đồ địa chính phải dùng hình thức ghi
chú thuyết minh để thực hiện định tính, định lượng của các yếu tố nội dungnhư: địa danh, độ cao, diện tích, số thửa đất, loại đất
Tất cả các ghi chú phải dùng chữ viết phổ thông hoặc phiên âm sangtiếng Việt (nếu là tiếng dân tộc ít người) ghi chú đầy đủ các yếu tố khung bản
đồ như giới hạn, vị trí tiếp
Ghi chú ngoài khung tên bản đồ, lãnh thổ cấp quản lý, thời gian đo vẽ,người đo vẽ, người kiểm tra, ngày tháng năm sản xuất
Đối với thửa đất có diện tích nhỏ, không đủ chỗ để ghi số thứ tự thửa
và diện tích thửa thì cần ghi chú số thửa còn các nội dung khác thì sẽ lậpthành bảng phụ lục riêng đặt vào khu vực trống của tờ bản đồ hoặc ghi rangoài thửa và dùng mũi tên chỉ vào thửa đó
Trong trường hợp một thửa nằm ở hai hoặc ba, bốn mảnh bản đồ tiếpgiáp nhau thì ta đánh số thứ tự vào thửa có phần diện tích lớn nhất phần cònlại của thửa thuộc vào các mảnh bản đồ khác
Ký hiệu của bản đồ địa chính: Nội dung của bản đồ địa chính được
biểu thị bằng các ghi chú Các ký hiệu được thiết kế phù hợp cho từng loại tỷ
Trang 18đảm bảo tính chất trực quan, dễ đọc, không làm lẫn lộn ký hiệu này với kýhiệu khác Các ký hiệu quy ước của bản đồ địa chính được chia làm ba loại:
ký hiệu theo tỷ lệ, ký hiệu không theo tỷ lệ, ký hiệu nửa tỷ lệ [4]
- Các ký hiệu vẽ theo tỷ lệ dùng để thể hiện các đối tượng có diện tích
bề mặt tương đối lớn ta dùng ký hiệu theo tỷ lệ Phải vẽ đúng kích thước củađịa vật theo tỷ lệ bản đồ Đường viền của đối tượng có thể vẽ bằng nét liền,nét đứt hoặc đường chấm chấm Bên trong phạm vi đường viền dùng màu sắchoặc các hình vẽ biểu tượng và ghi chú để biểu thị các đặc trưng địa vật Vớibản đồ địa chính gốc thì được phép ghi chú các điển đặc trưng và biểu tượngđược dùng làm phương tiện chính Các ký hiệu này thể hiện rõ vị trí, diệntích, các điểm đặc trưng và tính chất của đối tượng cần biểu diễn
- Các ký hiệu không theo tỷ lệ dùng để thể hiện vị trí đặc trưng, sốlượng, chất lượng của đối tượng, song không thể hiện diện tích, kích thước vàhình dạng của chúng theo tỷ lệ bản đồ Ký hiệu này làm tăng khả năng nhậnbiết trực quan của người sử dụng bản đồ
- Các ký hiệu nửa theo tỷ lệ là loại ký hiệu dùng để thể hiện các đốitượng có thể biểu diễn kích thước thực một chiều theo tỷ lệ bản đồ còn chiềukia dùng kích thước quy ước
1.2.3 Hệ thống tỷ lệ bản đồ địa chính [3]
Chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ địa chính: Phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụcủa công tác quản lý đất đai, giá trị kinh tế sử dụng đất, mức độ khó khăn vềgiao thông, về kinh tế, về mức độ chia cắt địa hình, về độ che khuất, về quan
hệ xã hội… của từng khu vực, mật độ thửa trung bình trên một (01) ha, quyhoạch phát triển kinh tế, quy hoạch sử dụng đất của từng khu vực trong đơn vịhành chính để lựa chọn tỷ lệ đo vẽ cho phù hợp Không nhất thiết trong mỗiđơn vị hành chính xã phải lập bản đồ địa chính ở cùng một tỷ lệ nhưng phảixác định tỷ lệ cơ bản cho đo vẽ bản đồ địa chính ở mỗi đơn vị hành chính xã
Trang 19Tỷ lệ cơ bản đo vẽ bản đồ địa chính quy định như sau:
1 Khu vực đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đấtlàm muối, đất nông nghiệp khác: tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:2000 và 1:5000.Đối với khu vực đất sản xuất nông nghiệp mà phần lớn các thửa đất nhỏ,hẹp hoặc khu vực đất nông nghiệp xen kẽ trong khu vực đất đô thị, trongkhu vực đất ở chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ là 1:1000 hoặc 1:500 và phải đượcquy định rõ trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình
2 Khu vực đất phi nông nghiệp mà chủ yếu là đất ở và đất chuyên dùng:
a) Các thành phố lớn, các khu vực có các thửa đất nhỏ hẹp, xây dựngchưa theo quy hoạch, khu vực giá trị kinh tế sử dụng đất cao tỷ lệ đo vẽ cơbản là 1:200 hoặc 1:500
b) Các thành phố, thị xã, thị trấn lớn, các khu dân cư có ý nghĩa kinh tế,văn hoá quan trọng tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:500 hoặc 1:1000
c) Các khu dân cư nông thôn tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:1000 hoặc 1:2000
3 Khu vực đất lâm nghiệp, đất trồng cây công nghiệp tỷ lệ đo vẽ cơbản là 1:5000 hoặc 1:10000
4 Khu vực đất chưa sử dụng: thường nằm xen kẽ giữa các loại đất trênnên được đo vẽ và biểu thị trên bản đồ địa chính đo vẽ cùng tỷ lệ Khu vựcđất đồi, núi, khu duyên hải có diện tích đất chưa sử dụng lớn tỷ lệ đo vẽ cơbản là 1:10000
5 Khu vực đất chuyên dùng, đất tôn giáo, tín ngưỡng, đất nghĩa trang,nghĩa địa, đất sông, suối, đất có mặt nước chuyên dùng, đất phi nông nghiệp:thường nằm xen kẽ giữa các loại đất trên nên được đo vẽ và biểu thị trên bản
đồ địa chính đo vẽ cùng tỷ lệ cho toàn khu vực
Ngoài qui định chung về tỷ lệ cơ bản của bản đồ địa chính nêu trên,trong mỗi đơn vị hành chính cấp xã khi thành lập bản đồ địa chính do có
Trang 20hoặc một cụm thửa hay một khu vực ở tỷ lệ lớn hơn.
Cở sở để chọn tỷ lệ đo vẽ cơ bản và tỷ lệ trích đo phải nêu chi tiết trongthiết kế kỹ thuật - dự toán công trình (viết tắt là TKKT-DT) thành lập bản đồđịa chính và hồ sơ địa chính của đơn vị hành chính hay khu vực (sau đây gọichung là khu vực) cần lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính
Trong trường hợp thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ lớn hơn hoặc nhỏhơn dãy tỷ lệ nêu trên, phải tính cụ thể các chỉ tiêu kỹ thuật nhằm đảm bảoyêu cầu về quản lý đất đai và đảm bảo độ chính xác của các yếu tố nội dungbản đồ ở tỷ lệ lựa chọn trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình của khuvực.[3]
1.3 Các loại hồ sơ địa chính, hồ sơ thửa đất
1.3.1 Các loại hồ sơ địa chính
Là hồ sơ phục vụ quản lý Nhà nước đối với việc sử dụng đất Hồ sơ địachính được lập chi tiết đến từng thửa đất của mỗi người sử dụng đất theo từngđơn vị hành chính cấp xã, gồm: bản đồ địa chính (hoặc bản trích đo địachính), sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai và bảnlưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Bản đồ địa chính các tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và 1:10000,bản trích đo địa chính (sau đây gọi chung là bản đồ địa chính) là tài liệu củaQuốc gia, được thành lập nhằm mục đích:
1 Làm cơ sở để thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất (hay gọi tắt làđăng ký đất đai), giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặtbằng, cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, giấy chứng nhậnquyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật [6]
2 Xác nhận hiện trạng về địa giới hành chính xã, phường, thị trấn;quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện); tỉnh, thành phố trực
Trang 21thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh).
3 Xác nhận hiện trạng, thể hiện biến động và phục vụ cho chỉnh lý biếnđộng của từng thửa đất trong từng đơn vị hành chính xã
4 Làm cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xâydựng các khu dân cư, đường giao thông, cấp thoát nước, thiết kế các côngtrình dân dụng và làm cơ sở để đo vẽ các công trình ngầm
5 Làm cơ sở để thanh tra tình hình sử dụng đất và giải quyết khiếu nại,
tố cáo, tranh chấp đất đai
6 Làm cơ sở để thống kê và kiểm kê đất đai
7 Làm cơ sở để xây dựng cở sở dữ liệu đất đai các cấp
Hồ sơ địa chính là tài liệu cần thiết được lập ra nhằm thể hiện đầy đủcác thông tin đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về đất đai Theoquan điểm kỹ thuật có thể chia các hồ sơ địa chính thành ba nhóm:
- Nhóm thứ nhất gồm các tài liệu cơ bản thể hiện tổng hợp các thôngtin phục vụ quản lý đất, chúng được sử dụng thường xuyên để quản lý biếnđộng đất ở các cấp Tài liệu trong nhóm này gồm có:
+ Bản đồ địa chính hoặc các tài liệu đo đạc để xác định vị trí, hìnhdạng, kích thước và diện tích thửa đất
+ Sổ địa chính
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở
- Nhóm thứ hai gồm các tài liệu phụ trợ kỹ thuật cho yêu cầu quản lýđất, hồ sơ gồm:
+ Các tài liệu gốc về đo đạc
+ Sổ mục kê đất
+ Bảng biểu thống kê diện tích đất
+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Trang 22+ Tài liệu về đánh giá, phân loại đất, định giá đất.
+ Sổ theo dõi biến động đất đai
- Nhóm thứ ba là các tài liệu về thủ tục hành chính và các văn bản phápquy làm căn cứ pháp lý để thành lập các tài liệu nhóm thứ nhất, có giá trị tracứu lâu dài trong quản lý đất Tài liệu nhóm này gồm có:
+ Hồ sơ chủ sử dụng đất gồm các giấy tờ do chủ sử dụng đất nộp khiđăng ký đất ban đầu và khi đăng ký biến động đất đai
+ Các tài liệu thẩm tra xét duyệt đơn của cấp xã, phường
+ Các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đếnquyền của người sử dụng đất như: Quyết định giao đất, cho thuê đất, quyếtđịnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
+ Các tài liệu kiểm tra kỹ thuật đối với bản đồ và hồ sơ địa chính
+ Các văn bản chính sách đất đai, các quy phạm, quy trình kỹ thuật.+ Hồ sơ địa giới hành chính, tài liệu quy hoạch sử dụng đất
+ Các tài liệu thanh tra, giải quyểt tranh chấp đất đai đã được các cơquan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Các hồ sơ địa chính kể trên được các cơ quan chuyên môn quản lý đấtđai thành lập và hoàn thiện dần dần trong quá trình quản lý sử dụng đất Côngviệc được bắt đầu từ đo vẽ bản đồ địa chính, đăng ký đất ban đầu và đăng kýbiến động đất.[6]
1.3.2 Các loại hồ sơ thửa đất
- Hồ sơ kỹ thuật thửa đất
+ Hồ sơ kỹ thuật thửa đất là một tài liệu cơ sở phục vụ công việc cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữa nhà ở trong khu vực đô thị
+ Mỗi thửa đất ở sẽ lập một bản hồ sơ riêng Hồ sơ này do người làm côngtác bản đồ địa chính và người làm công tác quản lý địa chính cùng thực hiện
+ Hồ sơ kỹ thuật thửa đất bắt đầu được tập hợp trong quá trình thành
Trang 23lập bản đồ gốc từ khi đo vẽ ngoài thực địa đến biên vẽ bản đồ in ra chínhthức Trong hồ sơ kỹ thuật phải thể hiện toàn bộ số liệu liên quan đến thửa đấtnhư tên tờ bản đồ, số thửa, diện tích, loại ruộng đất, chủ sử dụng, kích thướccác cạnh, toạ độ góc thửa, các thửa tiếp giáp.[3]
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ)
Giấy chứng nhận QSDĐ là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệhợp pháp giữa nhà nước và người sử dụng đất, nó là căn cứ pháp lý để giảiquyết mọi mối quan hệ về đất đai theo pháp luật Trong thực tế việc quản lýđất của nhà nước hiện nay đang lưu hành bốn loại giấy chứng nhận sau
+ GCNQSDĐ cấp đến từng thửa đất nội thành, nội thị xã, thị trấn, đất ởthuộc khu vực nông thôn, đất chuyên dùng của các tổ chức và cá nhân
+ GCNQSDĐ cấp cho hộ gia đình, trong đó có ghi nhiều thửa đất, loạinày sử dụng chủ yếu cho đất nông nghiệp, lâm nghiệp
+ GCNQSDĐ “ đồng sử dụng “, cấp cho loại đất mà một thửa đất có nhiềuchủ sử dụng
+ GCNQSDĐ “ hạn chế “ dùng cho loại đất nông nghiệp, lâm nghiệp
chưa có bản đồ địa chính chính thức [12]
- Sổ mục kê đất
Sổ được thiết lập nhằm mục đích liệt kê từng thửa đất trong phạm vi địa giớihành chính mỗi xã, phường, thị trấn về các nội dung: Tên chủ sử dụng,diện tích, loại đất để đáp ứng yêu cầu tổng hợp thống kê diện tích đất đai,lập và tra cứu các loại tài liệu HSĐC một cách đầy đủ thuận tiện, chínhxác
Sổ mục kê lập theo đơn vị hành chính cơ sở là xã, phường, thị trấn; được
Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt
Sổ mục kê lập thành ba bộ lưu ở xã (phường), huyện và tỉnh
Trang 24tra đo đạc đã được chỉnh lý sau khi xét duyệt cấp giấy chứng nhận và xử
lý các trường hợp vi phạm pháp luật đất đai.[13]
- Sổ địa chính
Lập sổ địa chính nhằm đăng ký toàn bộ diện tích đất đai được nhànước giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, các hộ gia đình và cá nhâncũng như các loại đất chưa giao, chưa sử dụng Sổ sẽ đăng ký đầy đủ cácyếu tố pháp lý của các thửa đất
Sổ được lập trên cơ sở đơn đăng ký sử dụng đất đã được xét duyệt
và được công nhận quyền sử dụng theo pháp luật
Lập sổ địa chính theo đơn vị xã, phường, theo phạm vị địa giới hànhchính, do cán bộ địa chính cơ sở thực hiện Sổ phải được UBND xã và Sở Tàinguyên và Môi trường duyệt Sổ địa chính lập thành ba bộ, lưu giữ ở ba cấp
xã, huyện, tỉnh.[13]
- Sổ theo dõi biến động đất đai
Sổ theo dõi biến động đất đai được lập ra để theo dõi và quản lý chặtchẽ tình hình đăng ký biến động đất, chỉnh lý hồ sơ địa chính và tổng hợp cácbáo cáo thống kê diện tích đất đai theo định kỳ
Biến động đất đai là những thay đổi các yếu tố cần quản lý của các thửađất như thay đổi hình thể, diện tích, chia nhỏ hoặc gộp lại, thay đổi chủ sửdụng đất, thay đổi mục đích sử dụng
Mỗi xã sẽ lập một bộ sổ theo dõi biến động, lưu trữ tại xã (phường) và
do cán bộ quản lý ruộng đất xã quản lý Sổ được lập ngay sau khi hoàn thànhđăng ký đất đai ban đầu [13]
- Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Sổ được lập ra để cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theodõi việc xét duyệt, cấp giấy chứng nhận đến từng chủ sử dụng đất, quản lýgiấy chứng nhận đã cấp
Trang 25Có ba cấp hành chính lập sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất là xã, huyện và tỉnh.
Phần lớn đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở lầnđăng ký ban đầu Các giấy chứng nhận này được vào sổ quản lý cấp cơ sở xã,phường Cấp huyện và tỉnh chỉ vào sổ theo dõi của mình những GCN đượccấp do thẩm quyền của chính cấp đó [13]
1.4 Cơ sở toán học của bản đồ địa chính [7]
Để đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai, đặc biệt là khi sử dụng hệ thốngthông tin đất đai, bản đồ địa chính trên toàn lãnh thổ phải là một hệ thốngthống nhất về cơ sở toán học và độ chính xác Muốn vậy phải xây dựng lướitọa độ thống nhất và chọn một hệ quy chiếu tối ưu và hợp lý để thể hiện bản
đồ Trong khi lựa chọn hệ quy chiếu cần đặc biệt ưu tiên giảm nhỏ đến mức
có thể ảnh hưởng của biến dạng phép chiếu đến kết quả thể hiện yếu tố bản
đồ, Ta xem xét việc lựa chọn hệ qui chiếu theo các vấn đề sau:
Bản đồ địa chính phải được thể hiện trên mặt phẳng qua một phépchiếu xác định Phép chiếu cần được chọn sao cho độ biến dạng của các yếu
tố thể hiện trên bản đồ là nhỏ nhất, tức là ảnh hưởng biến dạng phép chiếuđến độ chính xác các yếu tố đo đạc và cần quản lý thể hiện trên bản đồ làkhông đáng kể
Thực tế hiện nay có hai lưới chiếu đẳng góc có khả năng sử dụng chobản đồ địa chính Việt Nam đó là lưới chiếu Gauss và UTM Sơ đồ múi chiếu
và đặc điểm biến dạng của hai phép chiếu Gauss và UTM được thể hiện trênhình sau:
Trang 26• Phép chiếu Gauss – Kruger
Hình 1 :Lưới chiếu Gauss-Kruger
Lưới này được thiết lập theo các điều kiện sau:
* Thể elipsoid quả đất KraxovSki (1946) với:
Trang 27Phép chiếu UTM
Hình 2 :Lưới chiếu UTM
Ưu thế cơ bản của lưới chiếu UTM là biến dạng qua phép chiếu nhỏ vàtương đối đồng nhất Tỷ lệ độ dài trên kinh tuyến trục múi 60 là m0 = 0,9996,trên hai kinh tuyến đối xứng nhau cách nhau khoảng 1,50 so với kinh tuyếnm=1, trên kinh tuyến biên của múi chiếu m>1 Ngày nay, nhiều nước phươngTây và trong vùng Đông Nam Á dùng múi chiếu UTM và Elipsoid WGS84.Ngoài ưu điểm cơ bản là biến dạng nhỏ, nếu dùng múi chiếu UTM sẽ thuậnlợi hơn trong công việc sử dụng một số công nghệ của phương Tây và tiệnliên hệ toạ độ Nhà nước Việt Nam với hệ toạ độ quốc tế
Bản đồ địa chính của Việt Nam được thành lập trước năm 2000 đều sửdụng phép chiếu Gauss Tháng 7 năm 2000 Tổng cục Địa chính đã công bố vàđưa vào sử dụng hệ quy chiếu và hệ toạ độ nhà nước VN-2000
Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và 1:10000được thành lập ở múi chiếu 3o trên mặt phẳng chiếu hình, trong hệ toạ độQuốc gia VN-2000 và độ cao Nhà nước hiện hành Kinh tuyến gốc (00) đượcquy ước là kinh tuyến đi qua GRINUYT Điểm gốc của hệ toạ độ mặt phẳng
Trang 28(điểm cắt giữa kinh tuyến trục của từng tỉnh và xích đạo) có X = 0 km, Y =
500 km Điểm gốc của hệ độ cao là điểm độ cao gốc ở Hòn Dấu - Hải Phòng.Các tham số chính của Hệ toạ độ Quốc gia VN-2000:
1 Elipsoid quy chiếu quốc gia là Elipsoid WGS-84 toàn cầu với kíchthước:
3 Điểm gốc hệ toạ độ Quốc gia: Điểm N00 đặt tại Viện Nghiên cứuĐịa chính (nay là Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ) thuộc Bộ Tài nguyên vàMôi trường, đường Hoàng Quốc Việt - Hà Nội
4 Hệ toạ độ phẳng: hệ toạ độ phẳng UTM quốc tế, được thiết lập trên
cơ sở lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc với các tham số được tính theoElipsoid WGS-84 toàn cầu
5 Điểm gốc hệ độ cao Quốc gia: Điểm gốc độ cao đặt tại Hòn Dấu Hải Phòng
-Để đảm bảo chắc chắn cho khu vực đo vẽ bản đồ địa chính cấp tỉnhhoặc thành phố không cách xa kinh tuyến trục của múi chiếu quá 80km, trongquy phạm quy định cụ thể kinh tuyến trục cho từng tỉnh riêng biệt Hiện nay
cả nước có 63 tỉnh và thành phố, có nhiều tỉnh nằm trên cùng một kinh tuyến,
vì vậy mỗi tỉnh được chỉ định chọn một trong 9 kinh tuyến trục từ 103000' đến
108030'
Trang 29Bảng1: KINH TUYẾN TRỤC CHO TỪNG TỈNH, THÀNH PHỐ
TT Tỉnh, Thành phố Kinh độ TT Tỉnh, Thành phố Kinh độ
1 Lai Châu 103000' 33 Quảng Nam 107045'
2 Điện Biên 103000' 34 Quảng Ngãi 108000'
16 Quảng Ninh 107045' 48 Bà Rịa - Vũng Tàu 107045'
17 TP Hải Phòng 105045' 49 Tây Ninh 105030'
19 Hưng Yên 105030' 51 Tiền Giang 105045'
25 Ninh Bình 105000' 57 Kiên Giang 104030'
26 Thanh Hoá 105000' 58 TP Cần Thơ 105000'
Trang 30Yếu tố cơ bản cần quản lý đối với đất đai đó là vị trí, kích thước vàdiện tích các thửa đất Các yếu tố này được đo đạc và thể hiện trên bản đồ địachính Độ chính xác các yếu tố trên phụ thuộc vào kết quả đo, độ chính xácthể hiện bản đồ và độ chính xác tính diện tích Khi sử dụng công nghệ bản đồ
số thì giảm hẳn được ảnh hưởng của sai số đồ họa và sai số tính diện tích, độchính xác số liệu không phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ mà phụ thuộc trực tiếp vàosai số đo
Tuy nhiên trong hệ thống bản đồ địa chính người ta phải nghiên cứu quyđịnh những hạn sai cơ bản của các yếu tố bản đồ các hạn sai này sẽ thiết kếcác sai số đo và vẽ bản đồ phù hợp cho từng bước của công nghệ thành lậpbản đồ Độ chính xác của bản đồ thể hiện qua các yếu tố đặc trưng trên bảnđồ.[6]
1.5.1 Độ chính xác điểm khống chế đo vẽ
Khi đo vẽ bản đồ địa chính theo phương pháp đo trực tiếp ở thực địaphải xây dựng lưới khống chế đo vẽ thực địa, còn khi sử dụng ảnh hàngkhông cần phải tăng dày khống chế ảnh
Trong quy phạm quy định ban hành tháng 3 năm 2000 quy định “Sai
số trung phương vị trí mặt phẳng của điểm khống chế đo vẽ sau bình sai sovới điểm khống chế tọa độ nhà nước gần nhất không vượt quá 0.1 mm tínhtheo tỷ lệ bản đồ cần thành lập”, ở vùng ẩn khuất sai số trên không lớn quá0.15 mm Đối với khu vực đô thị, sai số trên không vượt quá 6 cm trên thựcđịa áp dụng chung cho mọi tỷ lệ đo vẽ Đối với điểm khống chế ảnh ngoạinghiệp cũng phải đạt độ chính xác nói trên, đối với điểm tăng dày khống chếảnh thì sai số này quy định là 0.15 mm
Sai số trung phương độ cao của điểm khống chế đo vẽ sau bình sai vớiđiểm độ cao nhà nước gần nhất không vượt quá 1/10 khoảng cao đều đườngbình độ cơ bản
Trang 311.5.2 Độ chính xác vị trí điểm chi tiết
Về độ chính xác đo vẽ chi tiết, quy phạm quy định như sau: “Sai số
trung bình vị trí mặt phẳng của các điểm trên ranh giới thửa đất biểu thị trênbản đồ địa chính so với điểm của lưới khống chế đo vẽ gần nhất không đượclớn hơn 0.5 mm trên bản đồ, đối với các địa vật còn lại không vượt quá 0.7mm”
“Sai số tương hỗ giữa các ranh giới thửa đất, giữa các điểm trên cùng
ranh giới thửa đất, sai số độ dài cạnh thửa đất không vượt quá 0.4 mm trênbản đồ địa chính”
Quy định tỷ lệ bản đồ và SSTP vị trí điểm chi tiết trên bản đồ, chọnphương pháp vẽ điểm chi tiết và đưa ra các yêu cầu kỹ thuật đo và vẽ chi tiếtbản đồ địa chính
1.5.3 Độ chính xác tính diện tích
Diện tích thửa đất được tính chính xác đến mét vuông, khu vực đô thịcần tính chính xác đến 0.1 m2 Diện tích thửa đất được tính hai lần, độ chênhkết quả tính diện tích phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ và diện tích thửa Quy phạmquy định sai số tính diện tích cho phép là:
∆Pgh=0,0004.M P
Trong đó: M là mẫu số tỷ lệ bản đồ
P là diện tích thửa đất tính bằng m2
1.6 Các phương pháp đo vẽ bản đồ địa chính [5]
Để thành lập bản đồ địa chính người ta có thể sử dụng các phương phápsau:
- Đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa
- Biên tập từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ
- Đo vẽ trên ảnh hàng không
Sơ đồ 1: Sơ đồ mô tả một cách tổng quan về các phương pháp đo vẽ bản đồ
địa chính đang được sử dụng hiện nay:
Trang 32Các phương pháp thành lậpBản đồ địa chính
Biên tập từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ
Phương pháp toàn đạc Đo ảnh đơn Đo ảnh lập thể
Phương pháp tương tự
Phương pháp giải tích Phươngpháp đo ảnh số
Trang 331.6.1 Đo vẽ bản đồ địa chính bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở ngoài thực địa
Thành lập bản đồ địa chính bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp tại thực địa,phụ thuộc vào thiết bị kỹ thuật sử dụng, có thể chia ra làm hai phương pháp
Sơ đồ 2 : Qui trình công nghệ Đo vẽ bản đồ địa chính bằng phương pháp
Trang 34Phương pháp toàn đạc có ưu điểm lớn là: Đo trực tiếp đến từng điểmchi tiết trên đường biên thửa đất, cho độ chính xác cao đối với từng điểm đo,
vì vậy thuận tiện cho việc thành lập bản đồ tỷ lệ lớn và cực lớn, đo đạc khánhanh ở thực địa, có thể đo cả trong điều kiện thời tiết không thuận lợi
Phương pháp này có nhược điểm: Thời gian làm việc ngoài trời lâu,năng xuất công việc bị hạn chế bởi tầm nhìn do địa vật và do địa hình phứctạp Quá trìnhvẽ bản đồ thực hiện trong phòng, việc vẽ chỉ dựa vào số liệu đo
và bản sơ họa, không có điều kiện quan sát trực tiếp, dễ bỏ sót các chi tiết làmsai lệch các đối tượng cần thể hiện trên bản đồ, phương pháp này cho hiệuquả kinh tế không cao Chính vì vậy mà phương pháp đo vẽ trực tiếp ngoàithực địa thường được áp dụng vào những địa bàn không lớn, chủ yếu thànhlập bản đồ địa chính tỷ lệ lớn ở các vùng dân cư đặc biệt là khu vực đô thị cómật độ dân cư cao, nhà cửa, công trình nhiều
Trong phương pháp này phải thành lập một lưới khống chế từ cấp cơ
sở đến lưới khống chế đo vẽ Tùy theo điều kiện mà có thể kết hợp với máythu GPS thành lập lưới khống chế
Việc đo chi tiết được tiến hành theo nhiều phương pháp: Đo vẽ chitiết theo phương pháp tọa độ cực, phương pháp giao hội cạnh, đo vẽ theophương pháp tọa độ thẳng góc, phương pháp cạnh nghiêng giả tung độ.Nhưng chủ yếu là đo vẽ bằng phương pháp tọa độ cực Kết quả đo có thể ghivào sổ thông thường với (máy kinh vĩ) hoặc sổ đo điện tử (với máy toàn đạcđiện tử) Việc sử dụng sổ đo điện tử cho phép phát huy tối đa khả năng củamáy đo toàn đạc điện tử, giảm được các sai số ước đọc, sai lầm và giảm thờigian nhập dữ liệu vào máy tính
Kết quả đo chi tiết cũng được tính toán trực tiếp trên máy tính Saukhi nhập kết quả sơ họa ở thực điạ vào máy tính, kết hợp với phần mềm
Trang 35chuyên dụng máy tính sẽ tự động nối các điểm đó với nhau theo đúng sơ họa.Kết quả công việc này thu được là hình dáng thửa đất.
Công việc còn lại là tính diện tích thửa đất, biên tập thửa đất (đánh sốthửa, phân loại đất) biên tập và in bản đồ Sau đó kiểm tra, đối soát thực địa,kết quả cuối cùng gọi là bản đồ địa chính
1.6.1.2 Phương pháp bàn đạc
Với phương pháp này bản đồ được đo vẽ và đối chiếu trực tiếp trênthực địa, đảm bảo tính trực quan rõ ràng, chất lượng biên tập bản đồ khá cao.Tuy nhiên phương pháp này ít nơi dùng vì máy đo, bản vẽ cồng kềnh, hiệuxuất công tác thấp Khả năng để ứng dụng các công nghệ mới hầu như khôngcó
1.6.2 Đo vẽ bản đồ địa chính bằng phương pháp biên tập và đo vẽ bổ xung trên nền bản đồ địa hình cùng tỷ lệ
Bản chất của phương pháp này là biên tập lại các yếu tố nội dung bản
đồ địa hình cho phù hợp với nội dung bản đồ địa chính mới tại thời điểm đo
vẽ và bổ xung các yếu tố ở khu vực đất lâm nghiệp, khu vực trồng cây côngnghiệp và đất chưa sử dụng ở khu vực đồi núi, duyên hải, đây là phương ánchính để kiểm kê diện tích đất tự nhiên đối với các xã vùng đồi núi,vùng sâu,vùng xa, vùng hải đảo và các khu vực chưa có điều kiện đo vẽ bản đồ địachính Phương pháp này thường được áp dụng để thành lập bản đồ địa chính
tỷ lệ trung bình (từ 1:10000 đến1:25000)
1.6.3 Đo vẽ bản đồ địa chính bằng phương pháp đo ảnh hàng không
Phương pháp đo ảnh được sử dụng rộng rãi và rất có hiệu quả trong
lĩnh vực thành lập bản đồ địa hình và địa chính tỷ lệ nhỏ, tỷ lệ trung bình vàcác loại tỷ lệ lớn Ở các vùng đất canh tác nông nghiệp ít bị địa vật và thựcphủ che khuất, các đường biên thửa đất, bờ ruộng thường thể hiện khá rõ nét
Trang 36chính các vùng đất nông nghiệp là hoàn toàn có thể thực hiện được trong thựctế.
Tùy thuộc vào địa hình khu đo vẽ thành lập bản đồ là đồng bằng haytrung du miền núi mà ảnh hàng không được sử dụng có thể là ảnh đơn hoặcảnh lập thể Do vậy có 2 phương pháp cơ bản là phương pháp đo ảnh đơn và
phương pháp đo ảnh lập thể, các tấm ảnh này sau khi chụp chúng được sử lý
trên các máy đo vẽ ảnh: nắn ảnh nghiêng về ảnh nằm ngang, sau đó ảnh được
biên tập, điều vẽ các yếu tố nội dung địa chính, đối soát đo vẽ bổ xung Tínhdiện tích…và cho ra sản phẩm cuối cùng là bản đồ địa chính Công việc biêntập có thể được làm bằng tay hoặc máy tính với các phần mềm chuyên dụng
1.6.3.1 Phương pháp đo ảnh đơn
Phương pháp đo ảnh đơn, thường áp dụng cho vùng bằng phẳng là
chủ yếu Ở đây các nội dung địa vật của bản đồ địa chính, của đối tượng được
đo vẽ và điều vẽ trên ảnh nắn hay bình đồ ảnh, các nội dung còn lại như độcao được đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa Vì vậy phương pháp này thườngđược gọi là phương pháp đo vẽ phối hợp Đặc điểm chung của phương phápnày là lấy các ảnh nắn (tức là ảnh đã được sử lý sai số vị trí điểm do ảnhnghiêng gây ra), hay bình đồ ảnh được tạo ra từ các tấm ảnh đã nắn làm nền
để xác định vị trí mặt phẳng của các nội dung địa vật của bản đồ
Trong phương pháp đo vẽ phối hợp, nội dung địa hình của bản đồ sẽđược đo vẽ bằng các phương pháp đo trắc địa ngoại nghiệp Qui trình côngnghệ này phù hợp với việc thành lập bản đồ vùng bằng phẳng, có độ chênhcao địa hình không lớn nhằm đảm bảo cho sai số vị trí điểm do độ lồi lõm địahình gây ra không vượt quá sai số cho phép
Hiện nay với sự phát triển của công nghệ đo ảnh, phương pháp đoảnh đơn đã trở thành một trong những phương pháp chủ yếu thành lập bản đồđịa chính tỷ lệ 1:1000 và 1:2000 ở vùng đồng bằng và 1:5000 hoặc 1:10000vùng trung du
Qui trình công nghệ của phương pháp này được mô tả ở sơ đồ
Trang 37Sơ đồ 3: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng phương pháp đo ảnh
Điều vẽ yếu tố nội dungbản đồ địa chính Đo vẽ độ cao
Lập bản đồ địa chính cơ sở, đối soát , kiểm tra
Biên vẽ bản đồ địa chính, đánh số thửa, tính diện tích
Kiểm tra và in bản đồ
Trang 38Phụ thuộc vào thiết bị kỹ thuật sử dụng để nắn ảnh và thành lập bình đồảnh, phương pháp đo ảnh đơn được chia làm 3 phương pháp nhỏ sau đây:
1 - Phương pháp tương tự: Khi công tác nắn ảnh được thực hiện trên
các máy nắn ảnh quang cơ
2 - Phương pháp giải tích: Khi công tác nắn ảnh được thực hiện bằng
phương pháp nắn ảnh giải tích
3 - Phương pháp ảnh đo ảnh số: Điểm đầu tiên ta thấy sự khác biệt
của phương pháp này so với 2 phương pháp trên là ảnh hàng không được sửdụng không phải là những tấm phim chụp trực tiếp mà là ảnh số Ảnh số cóthể được quét từ ảnh tương tự bằng các máy quét để thành ảnh số, hoặc ảnh số
có thể nhận được trực tiếp từ các máy chụp ảnh số Về cơ bản phương pháp
đo ảnh số cũng giống phương pháp giải tích; tọa độ các điểm ảnh cũng đượctính toán thông qua các công thức, phương trình toán học và chúng được thựchiện nhờ máy tính điện tử Sự khác biệt của phương pháp này so với 2phương pháp trên là: Ở các bước đo nối khống chế ảnh, tăng dầy khống chếảnh, tính toán bình sai, nắn ảnh, số hóa… đến biên tập, in ra bản đồ đều đượcthực hiện trên máy tính điện tử bằng các phần mềm chuyên dụng Như vậy sovới 2 phương pháp trên phương pháp đo ảnh số có ưu điểm lớn là giảm bớtthao tác của con người, rút ngắn thời gian làm việc,nâng cao độ chính xác.Với sự phát triển của máy tính điện tử, hiện nay chủ yếu người ta sử dụngphương pháp đo ảnh số
Qui trình công nghệ của phương pháp này được mô tả theo sơ đồ sau:
Trang 39Sơ đồ 4: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng đo ảnh số
1.6.3.2 Phương pháp đo ảnh lập thể
Thành lập bản đồ địa chính bằng phương pháp đo ảnh lập thể chủ yếu
áp dụng cho khu đo vẽ là vùng đồi núi có độ chênh cao địa hình lớn, nơi màphương pháp đo ảnh đơn không áp dụng được do không đạt yêu cầu về độchính xác Do đo vẽ trên mô hình nên phương pháp lập thể có thể đo vẽ đượctất cả các nội dung địa hình, địa vật của bản đồ và hầu như hạn chế đến mức
Chụp ảnh hàng không
Đo nối khống chếảnh ngoại nghiệpQuét phim
Tăng dày điểm khống chế
Nắn ảnh theo độ cao TB khu vực, tạo bình đồ ảnh
Trang 40tối đa ảnh hưởng của địa hình, đặc biệt đối với bản đồ tỷ lệ trung bình và tỷ lệnhỏ phương pháp này cho độ chính xác cao.
Sơ đồ 5: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng
phương pháp đo vẽ lập thể
Chụp ảnh hàng không
Đo nối khống chế ảnh
Tăng dày TGAKG
Đo vẽ trên máy toàn năng chính xácĐối soát kiểm tra ngoại nghiệp
Biên tập, biên vẽ, đánh số thửa, tính diện tích
Điều vẽ đối soát
thống kê các yếu tố
địa chính