1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực trung trung bộ và tây nguyên

48 270 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 4,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở khu vực Tây Thái Bình Dương và Việt Nam, rãnh thấpxích đạo hoạt động trong suốt từ tháng 4 đến tháng 11, 12 với một tần suất lớn.Rãnh thấp xích đạo hoạt động đã góp phần mang lại những

Trang 1

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành khóa luận với lòng biết ơn sâu sắc, tôi sinh viên Hoàng ThịBình xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy Cô trong khoa Khí Tượng-Thủy Văn đã chỉ bảo, dạy dỗ tôi trong suốt năm đại học tại trường và quá trình làmkhóa luận tốt nghiệp

Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Phạm Minh Tiến,người đã trực tiếp hướng dẫn tôi ltrong suốt thời gian làm khóa luận

Cũng nhân đây, tôi gửi lời cảm ơn chân thành những ý kiến, nhận xét của cácThầy Cô, bạn bè trong nhóm giúp bài khóa luận của tôi trở nên hoàn thiện hơn.Cuối cùng , tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, người thân và bạn

bè, những người luôn ở bên cạnh động viên, ủng hộ và tạo mọi điều kiện tốt nhấtcho tôi trong suốt thời gian học tập và thực tập tại trường Chúc quý Thầy Cô trongkhoa và toàn thể mọi người sức khỏe, hạnh phúc và công tác tốt

Mặc dù em đã cố gắng hết sức để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp xong không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự đóng góp và thông cảm của quý Thầy Cô và các bạn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 06 năm 2014

Sinh viên

Hoàng Thị Bình

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN

MỞ ĐẦU

MỤC LỤC

DANH MUC HÌNH VÀ BẢNG

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DẢI HỘI TỤ NHIỆT ĐỚI 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT, Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN 1

1.2 TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ 3 1.2.1 Ngoài nước 3

1.2.2 Trong nước 6

CHƯƠNG 2CƠ SỞ SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Cơ sở số liệu 16

2.2 Phương pháp nghiên cứu 16

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18

3.1.Diễn biến mưa khu vực theo thời gian 19

3.1.1 Khu vực Trung Trung Bộ 19

3.1.2 Khu vực Tây Nguyên 22

3.2 PHÂN TÍCH SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ITCZ ĐẾN MƯA LỚN DIỆN RỘNG KHU VỰC TRUNG TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN 25

1 ITCZ kết hợp với tác động của KKL 25

2 ITCZ kết hơp với gió mùa tây nam (SW) trên khu vực Tây Nguyên 30

3 ITCZ kết hợp bão gây mưa trên khu vực Trung Trung Bộ 35

4 ITCZ ảnh hưởng đơn thuần trên khu vực Trung Trung Bộ 38

KẾT LUẬN

Tài liệu tham khảo

Trang 3

MỞ ĐẦU

Miền Trung chịu ảnh hưởng của nhiều hệ thống synop khác nhau trong mùamưa và sự phát triển dòng giáng với hiệu ứng “Fơn” gây khô nóng gay gắt và hạnhán kéo dài trong mùa khô Xen kẽ giữa thời kỳ hoạt động mạnh mẽ của gió mùa lànhững nhiễu động nhiệt đới gây mưa lớn Đặc biệt khi có sự kết hợp với một số hệthống thời tiết khác như dải hội tụ nhiệt đới (ITCZ), xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ),không khí lạnh (KKL) dẫn đến tình hình mưa xảy ra mãnh liệt hơn, thời gian mưakéo dài hơn gây lũ lụt nghiêm trọng

Thường thì dải hội tụ nhiệt đới không phải là loại hình thế đặc trưng gây mưalớn cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Mưa do dải hội tụ nhiệt đới chỉ là loạimưa bất ổn định xảy ra không tuân thủ theo thời gian ban ngày hay ban đêm và chỉxuất hiện trong khu vực có hội tụ mạnh, phân bố tương đối đều về cả hai phía củadải hội tụ nhiệt đới và phạm vi cũng không rộng

Hình thế ITCZ gây mưa lớn diện rộng trên khu vực miền Trung và TâyNguyên trong những năm gần đây từ đó tìm ra được quy luật hoạt động của ITCZ,khả năng gây mưa lớn khi có hoặc không có sự kết hợp với các hệ thống thời tiếtkhác, thời gian tồn tại và kết thúc đối với một đợt mưa do ITCZ gây ra làm tiền đềcho các mục đích nghiên cứu sau này về phương pháp dự báo chúng là mục đíchchính của chuyên đề nghiên cứu này Từ đó nâng cao chất lượng dự báo giúp chocác cơ quan chỉ đạo có định hướng đúng trong công tác phòng tránh và giảm nhẹthiệt hại do mưa lớn gây ra cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên

Việc nắm rõ quy luật, thời gian hoạt động , đặc điểm cơ bản của những hìnhthế gây mưa lớn và sự kết hợp giữa các hình thế với nhau gây nên những biện độngtrong thời tiết hiện nay kết hợp với công tác dự báo của các dự báo viên…giúp chocác nhà hoạch định chính sách nói riêng, người dân nói chung, chủ động trong côngtác ngăn ngừa và phòng tránh thiên tai Dải đất miền trung nhỏ bé nhưng con ngườinơi đây quanh năm phải chống chọi với thời tiết khắc nghiệt bão tố, lũ lụt, hạn hán,

…Trong giới hạn của đề tài này chúng tôi đưa ra những phân tích về các hình thếsynop gây nên hiện tượng mưa lớn diện rộng khu vực miền Trung và Tây Nguyêngiúp chúng ta nắm rõ được quy luật “ mùa” hoạt động của ITCZ để có thể chủ độngphòng thiên tai lũ lụt và phần nào tuyên truyền hiểu biết trong ngành khí tượng thủyvăn cho dân chúng

Trang 4

Do đó em đã thực hiện đề tài “Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực Trung Trung Bộ và Tây Nguyên” trong đó đề

cập tới một số vấn đề sau:

Chương 1.Tổng quan về dải hội tụ nhiệt đới

Chương 2.Cơ sở số liệu và phương pháp nghiên cứu.

Chương 3.Kết quả phân tích.

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Số ngày có MST hoạt động trên khu vực nghiên cứu 10

Bảng 2 Số ngày ITCZ hoạt động trên khu vực bán đảo Đông Dương, Biển Đông và lân cận 11

Bảng 3 Các hình thế hoàn lưu làm nảy sinh các XTNĐ hoạt động trên Biển Đông 15

Bảng 4 Lượng mưa trung bình tháng trên khu vực Trung Trung Bộ 19

Bảng 5: Lượng mưa lớn nhất trong khu vực Trung Trung Bộ 20

Bảng 6: Lượng mưa trung bình tháng trong khu vực trên khu vực Tây Nguyên 22

Bảng 7: Phân bố lượng mưa lớn nhất khu vực Tây Nguyên 23

Bảng 8 Phân bố ngày mưa có lượng lớn hơn 50mm 24

Bảng 9 Đặc trưng mưa trên khu vực 14-20/10/2003 26

Bảng 10: Lượng mưa đợt từ ngày 21-31/07/2005 khu vực Tây Nguyên 31

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Phân bố lượng mưa trung bình năm1971-2000

18

Hình 2 Diễn biến lượng mưa trung bình khu vực Trung Trung Bộ

19

Hình 3 Diễn biến lượng mưa lớn nhất khu vực TrungTrung Bộ

21

Hình 4: Phân bố số ngày mưa có lượng >=50mm

21

Hình 5: Phân bố số ngày có lượng mưa đạt >= 50mm trong năm khu vực Trung Trung Bộ

22

Hình 6: Phân bố lượng mưa trung bình tháng trên khu vực Tây Nguyên

23

Hình 7: Phân bố lượng mưa cực đại trên khu vực Tây Nguyên

24

Hình 8: Phân bố số ngày mưa có lượng hơn 50mm khu vực Tây Nguyên

25

Hình 9 Tổng lượng mưa từ 7 giờ ngày 14/10 đến 7 giờ ngày 21/10/2003

30

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DẢI HỘI TỤ NHIỆT ĐỚI

1.1 Tính cấp thiết, ý nghĩa thực tiễn và lý luận

Trong công tác dự báo thời tiết, việc nắm vững được những hệ thống thời tiết

và hình thế thời tiết với những quy luật hoạt động của nó là một vấn đề then chốt,

có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của công tác này Vì vậy, việc nghiên cứu xácđịnh được những hệ thống và hình thế thời tiết ảnh hưởng đến khu vực nghiên cứu

là một việc làm rất cần thiết đối với các nhà khí tượng

Rãnh thấp xích đạo, một trong những hình thế thời tiết rất điển hình hoạtđộng ở vùng nhiệt đới, có một ý nghĩa rất quan trọng đối với chế độ thời tiết ởnhững vùng vĩ độ thấp Ở khu vực Tây Thái Bình Dương và Việt Nam, rãnh thấpxích đạo hoạt động trong suốt từ tháng 4 đến tháng 11, 12 với một tần suất lớn.Rãnh thấp xích đạo hoạt động đã góp phần mang lại những đợt lũ lụt lịch sử ở ViệtNam nhưng cũng lại là những nguyên nhân gây lên nắng nóng tùy thuộc vào dạnghình thế cụ thể là dải hội tụ nhiệt đới, rãnh gió mùa hay là dải thấp xích đạo đơnthuần

Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về riêng rãnh thấp xích đạo lại chưa thực sựđược quan tâm nghiên cứu bài bản hoặc không có sự đồng nhất như: Dải áp thấpvùng nội chí tuyến nằm giữa hai đới áp cao cận nhiệt đới của hai bán cầu được các

tài liệu khác nhau gọi bằng nhiều tên khác nhau như: front nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới, rãnh gió mùa, rãnh tín phong với những hàm ý không đồng nhất với

nhau trong những trường hợp cụ thể của mỗi tác giả

Dải hội tụ nhiệt đới (ITCZ) là một dải tương đối hẹp được đặc trưng bởi sự

hội tụ khối lượng giữa hai đới tín phong đến từ hai bán cầu Trong nhiều trường hợpkhi gió tây xích đạo xuất hiện, ITCZ thường có dạng kép do có sự hội tụ giữa đớigió tây này với tín phong của cả hai bán cầu

Rãnh tín phong là một dải áp thấp bề mặt tương đối hẹp có sự hợp lưu của tín

phong đến từ hai bán cầu Rãnh tín phong thường xuất hiện trên các đại dương

Rãnh gió mùa là một dải tương đối hẹp, được đặc trưng bởi sự chuyển hướng

gió theo chiều xoáy thuận trong vùng gió mùa Trên khu vực Nam Á và Đông Nam

Á, rãnh gió mùa là một hệ thống hình thành từ một dải thấp nóng bề mặt mạnh vàphát triển đến tầng đối lưu giữa nhờ có sự hội tụ vào rãnh của gió mùa tây nam giàuhơi nước với gió đông có nguồn gốc lục địa ở phía bắc

Trang 8

Vì vậy, chúng tôi nhận thấy rằng, việc nghiên cứu rãnh thấp xích đạo đã đạtđược những kết quả nhất định Những kết quả đó đã giúp cho chúng ta nhận thứcđược một số quy luật hoạt động của rãnh thấp xích Tuy nhiên, với mục đích hiểubiết thêm vầ cấu trúc, quy luật hoạt động cũng như ảnh hưởng của nó đối với từng

khu vực Trung Trung Bộ và Tây Nguyên khóa luận án chọn đề tài: “Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực Trung Trung Bộ

A B

Trang 9

1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế

1.2.1 Ngoài nước

Đối với việc dự báo thời tiết, việc nắm vững những hệ thống thời và hìnhthế thời tiết với những quy luật hoạt động của nó là một vấn đề then chốt, có ýnghĩa quyết định sự thành bại của công tác dự báo Chính vì vậy mà ngay sau Đạichiến Thế giới lần thứ II, khi người ta nhận thức được tầm quan trọng của bản tin

dự báo khí tượng đối với an ninh và quốc phòng, hàng loạt các công trình nghiêncứu về hệ thống thời tiết và hình thế thời tiết được thực hiện, và hầu hết các côngtrình đó được thực hiện trên các vùng thuộc Châu Âu, Bắc Mỹ, và Bắc Đại TâyDương

Koji Nishiyama và cộng sự (2007); Cũng đã tiến hành nghiên cứu các hệthống Synop và mối liên hệ giữa các trường Synop và các trường hợp mưa lớn tạiđảo Kyushu, thuộc tây nam Nhật Bản, trong suốt thời kỳ mùa mưa Baiu, các trườngsynop này đã được phân loại sử dụng bản đồ tự thiết lập (SOM – self-organizingmap), để có thể biến đổi các đặc tính phi tuyến phức tạp thành các mối liên quan 2chiều đơn giản giả thiết rằng các hình thế synop có thể được biểu diễn một cáchđơn giản bằng sự phân bố không gian của các thành phần gió ở mực 850hPa, mưatiềm năng được định nghĩa là lượng hơi nước được chứa trong một cột thẳng đứngcủa khí quyển bằng thuật toán và phương pháp xếp nhóm, các trường synop đượcchia thành 8 loại hình thế(nhóm) Một trong những nhóm có các đặc điểm khônggian nổi bật được giới thiệu bởi lượng mưa tiềm năng đi kèm với các thành phần giómạnh được gọi là dòng xiết mực thấp Các đặc tính của nhóm này chỉ ra một hìnhthế Synop điển hình thường gây ra lượng mưa lớn tại Kyushu trong suốt thời kỳmùa mưa

Tác giả P.Seibert và cộng sự (2007), cũng đã tiến hành nghiên cứu mô hìnhgây ra mưa lớn ở Áo, và đã xác định được 7 hình thế qui mô synop gây ra đợt giángthủy lớn tại Áo được xác định với phương pháp chùm quĩ đạo Các quĩ đạo phản hồi

ở các mực khác nhau, tại các thời điểm khác nhau trong mỗi ngày, và tại các vị tríkhác nhau tại Áo Thêm vào đó, 7 vùng tại Áo với lượng giáng thủy ngày tương tựnhau cũng được xác định Mối quan hệ của lượng giáng thủy lớn tại mỗi vùng nàyvới các hình thế synop cũng đã được nghiên cứu các kết quả tương ứng các thựcnghiệm về hình thế synop và phản ánh các tình hình khí tượng đã đã được biết đến.Các phân tích này dựa trên cơ sở số liệu tái phân tích trong 15 năm của ECMWF(1979-1993), sử dụng để tính toán các quĩ đạo phản hồi và tổng lượng giáng thủyngày của 131 trạm khí tượng tại Áo

Trang 10

Jun Matsumoto (2007) đã tiến hành nghiên cứu về sóng lạnh và dị thườnggió Nam tại khu vực giữa biển Đông (Nam Trung Hoa) kết hợp với một áp thấpnhiệt đới gây mưa lớn ở khu vực Trung Bộ; với tác giả, khi nghiên cứu về mưa lớnmiền Trung, Jun Matsumoto đã sử dụng bộ số liệu tái phân tích và bộ số liệu vềlượng giáng thủy bề mặt trong 24 năm (1972-2002) Cùng với đó là bộ số liệu vớitrường hoàn lưu khí quyển sử dụng trong nghiên cứu này là bố số liệu tái phân tíchtrong 25 năm của Nhật Bản cung cấp bởi cơ quan khí tượng Nhật Bản (JMA) vàtrung tập nghiên cứu về công nghiệp điện năng (CRIEPI) Độ phân giải theophương ngang với kinh độ và vĩ độ là 1,250, khoảng thời gian là 6h, với 12 mực tạitầng đối lưu (1000, 925, 850, 700, 600, 500, 400, 300, 250, 200, 150, và 100 hPa).Nghiên cứu này cũng sử dụng số liệu lượng mưa hàng ngày tại các trạm của khuvực phía đông miền Trung Việt Nam với số liệu được thu thập liên tục bởi phòngkhí tượng thủy văn Lào (8 trạm), phòng khí tượng Campuchia (4 trạm) và Trungtâm khí tượng - Thủy văn quốc gia Việt Nam (52 trạm) Tác giả đã xác nhận rằng sựcùng tồn tại của sóng lạnh và áp thấp nhiệt đới là khá quan trọng đối với sự xuấthiện của mưa lớn tại miền trung Việt Nam Các quan trắc cho thấy các sóng lạnhkhông có áp thấp nhiệt đới không dẫn đến lượng mưa lớn Theo Matsumoto tìm cácnhiễu động qui mô synop và qui mô lớn gây ra những biến đổi về giáng thủy tạimiền Trung trong suốt mùa gió mùa mùa hè với một khoảng thời gian dài từ vàingày cho tới vài tuần Các nhiễu động cũng đóng vai trò quan trọng đối với nhữngbiến đổi về giáng thủy tại các khu vực ven biển phía đông trong suốt pha chuyểntiếp gió mùa có 2 nhiễu động khí quyển đóng vai trò quan trong trong trận mưa lớnnày

Chen(Chen, người Mỹ gốc Đài Loan )nghiên cứu mưa lớn miền Trung bằngcách xem xét ảnh hưởng của hiện tượng ENSO đến mưa ở miền Trung Thông qualượng mưa 29 năm (1979-2007) theo dạng lưới từ bộ số liệu thích hợp quan trắcphân giải cao Châu Á để đánh giá nguồn nước (APHRODITE) được sử dụng để để

mô tả khí hậu mưa ở Việt Nam Lượng mưa quan trắc được tại 163 trạm mặt đất tạiViệt Nam năm 2007 được sử dụng để xác nhận kết quả phân tích lượng mưa từAPHRODITE và để xác nhận 2 chế độ mưa: chế độ mưa tháng 10 - tháng 11 ở miềnTrung Việt Nam và chế độ mưa tháng 5 - tháng 10 ở phía Bắc và phía Nam ViệtNam được xác định từ số liệu APHRODITE Chen đã nhận thấy rằng sự hiện diệncủa dãy Trường Sơn dọc theo biên giới phía tây của Việt Nam với Lào vàCampuchia đã tạo ra chế độ mưa tháng 10- 11 ở miền Trung Việt Nam khác biệt sovới chế độ mưa tại những vùng khác Biến động nhiều năm của chế độ mưa tháng

10 - 11 có thể được mô tả rõ bởi một kiểu chính từ hàm thực nghiệm trực giao khi

Trang 11

phân tích số liệu mưa 29 năm từ APHRODITE Biến động thời gian của kiểu mưanhiều năm này không cùng pha với chỉ số SST (NINO3.4) Điều này được nhận biếtkhu vực miền trung Việt Nam trở nên khô hơn khi SSTs trên vùng NINO3.4 ấm lên

và khu vực miền trung Việt Nam trở nên ẩm ướt hơn khi SSTs trên vùng NINO3.4trở lên lạnh đi Điều này cũng được nhận ra từ các phân tích trường vận tải ẩm khimột hoàn lưu xoáy thuận (xoáy nghịch) trên khu vực nam Á kết hợp với hoàn lưuxoáy nghịch trên khu vực tây bắc Thái Bình Dương trong pha lạnh (pha nóng).Lượng ẩm được hội tụ (phân kỳ) bởi hai hoàn lưu này hướng về biển Đông ViệtNam và Biển Philipin ngoài 1500E trong những năm ấm (lạnh) Các hoàn lưu này

đã làm tăng cường hoặc suy giảm lượng ẩm vận tải đến Đông Dương nói chung vàViệt Nam nói riêng Cùng với các cặp hoàn lưu này, lượng ẩm được hội tụ về phíaĐông Nam Á trong pha lạnh đã gây nên mưa lớn ở khu vực Đông Nam Á trong khiphân kỳ ẩm trong pha ấm đã gây nên tình trạng khô hanh ở khu vực này

Theo hướng nghiên cứu này, một chương trình thực nghiệm rất lớn đượcthực hiện trên khu vực Đại Tây Dương, Chương trình GATE (Global AtmosphericTropical Experiment) Kết quả nghiên cứu của Chương trình này về rãnh thấp xíchđạo cho thấy, cấu trúc của chúng tại mỗi nơi cũng có những đặc trưng riêng và biếnđộng khá phức tạp Sự biến động theo thời gian là do: (1) sự dịch chuyển theohướng bắc-nam quy mô lớn; (2) sự di chuyển của sóng đông; và (3) biến thiên ngàycủa nhiệt độ Kết quả phân tích sự phân bố trường các yếu tố khí tượng trong rãnhthấp xích đạo cho thấy, đối với trường khí áp, phía bắc của chúng gradient khí áp là0,15mb/độ vĩ, còn phía nam là 0,3mb/độ vĩ Đối với trường gió, phía bắc dòng hội

tụ yếu hơn nhưng phát triển lên độ cao lớn hơn phía nam Đối với trường ẩm, từthấp lên cao, độ ẩm tương đối trong rãnh thấp xích đạo lớn hơn xung quanh 10-15%

Hoặc có thể lý giải về sự biến động theo thời gian của rãnh thấp xích đạo/dảihội tụ nhiệt đới (ITCZ) đó là:

1) Là giới hạn phía xích đạo của vòng hoàn lưu Hadley và cũng là nơi hìnhthành nhánh đi lên vòng hoàn lưu này;

2) Về cơ bản, rãnh thấp xích đạo nằm trong bán cầu mùa hè Tuy nhiên, vị trícủa chúng có sự biến động rất lớn tuỳ theo từng khu vực;

3) Khi rãnh thấp xích đạo nằm ở vị trí cao nhất lên phía bắc hay thấp nhấtxuống phía nam thì khối không khí phía xích đạo của rãnh không phải bao giờ cũng

là khối không khí từ bán cầu mùa đông thổi sang;

Trang 12

4) Rãnh thấp xích đạo/ITCZ không nằm ngay trên xích đạo mà thường là ở phíabắc hoặc phía nam Khi tín phong của một trong hai bán cầu vượt qua xích đạo rồiđổi hướng thành gió có thành phần tây trước khi hội tụ vào ITCZ;

5) Trên quy mô hành tinh, ta có thể xem ITCZ là một đới có khí áp thấp nhất và

có sự hội tụ khối lượng theo phương nằm ngang trong tầng thấp, do vậy nó cũng làđới có dòng thăng mạnh;

6) Thông thường khối không khí phía cực của ITCZ là không khí trong nhánh

đi xuống của vòng hoàn lưu Hadley nên nó là dòng giáng đoạn nhiệt, vì vậy nó khánóng, khô và ổn định Trong khi đó khối không khí phía xích đạo của ITCZ là khốikhông khí biển nhiệt đới, khá mát hơn khối không khí phía cực nên ITCZ thườngnghiêng về phía xích đạo Độ nghiêng của ITCZ có tính biến động rất lớn theokhông gian cũng như thời gian;

7) Nếu căn cứ vào sự bất liên tục của hướng gió thì trên vùng Ấn Độ, vào tháng

7, ITCZ phát triển lên đến độ cao lớn nhất, tới mực 400mb Trong khi đó ở nhữngvùng khác, ITCZ thường chỉ phát triển lên đến mực 700mb Phía trên mực đó làdòng gió đông khá khô thuộc hoàn lưu của áp cao cận nhiệt đới Mây được hìnhthành trong lớp không khí ẩm phía xích đạo của ITCZ;

8) ITCZ có vai trò vận chuyển nhiệt: Như đã biết, cán cân bức xạ của hệ thốngmặt đất-khí quyển vùng nhiệt đới luôn luôn dương, còn ở vùng vĩ độ cao luôn luôn

âm Trong đó, các đại dương nhiệt đới chiếm phần lớn năng lượng này Khoảng 1/3năng lượng mà các đại dương nhận được được vận chuyển lên vùng vĩ độ cao nhờcác dòng hải lưu, còn 2/3 năng lượng còn lại được vận chuyển từ các đại dương vàokhí quyển do bốc hơi Khi trong ITCZ chưa có đối lưu phát triển mạnh thì hơi nướcđược vận chuyển tới những vùng cận nhiệt đới trong tầng đối lưu dưới Nhưng khitrong ITCZ có đối lưu phát triển mạnh thì tiềm nhiệt ngưng kết được giải phóng ra,trở thành hiển nhiệt trong các lớp khí quyển của tầng đối lưu trên rồi được vậnchuyển lên các vĩ độ cận nhiệt đới

1.2.2 Trong nước

Ở Việt Nam, do rãnh thấp xích đạo có vai trò rất lớn ảnh hưởng đến chế độthời tiết trên suốt lãnh thổ cho nên, ngay từ những thập năm 60, 70 của thế Kỷ trước,nhiều nhà khí tượng Việt Nam đã tập trung nghiên cứu nên đã đạt được những thànhtựu rất lớn trong lĩnh vực này Những kết quả phong phú của các nhà khí tượng ViệtNam như Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc, Nguyễn Vũ Thi, Đinh Văn Loan, Trần GiaKhánh, Phạm Vũ Anh, Nguyễn Ngọc Thục, và rất nhiều nhà khí tượng nữa thườngđược công bố trong các giáo trình, Tạp chí khí tượng thủy văn, tuyển tập các báo cáotại hội nghị khoa học của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, tuyển

Trang 13

tập các báo cáo tại hội nghị khoa học của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môitrường

Ở đây, chúng tôi có thể tóm tắt một số kết quả nghiên cứu về rãnh thấp xíchđạo từ những ấn phẩm trên như sau:

Rãnh thấp xích đạo hoạt động trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương vàảnh hưởng đến thời tiết Việt Nam từ tháng 5 đến tháng 11, 12; trong những thángcòn lại, rãnh thấp xích đạo hầu như không ảnh hưởng đến thời tiết Việt Nam Trong

đó, bắt đầu từ tháng 5, chúng dịch chuyển dần lên phía bắc và đến tháng 9, lên tới vĩ

độ cao nhất là 250N; sau đó dịch chuyển dần về phía nam và đến tháng 12, nằm ởbán cầu Nam

Ngoài ra, rãnh thấp xích đạo còn có những biến động cả vị trí lẫn cường độrất lớn với chu kì ngắn hơn, thậm chí có những ngày không phân tích được trên bản

đồ synop Nguyên nhân gây nên sự biến động đó là do:

- Rãnh thấp xích đạo di chuyển lên phía bắc do áp cao Thái Bình Dương dichuyển lên phía bắc trong quá trình áp cao này mạnh lên, hoặc nếu áp cao này lấnsang phía tây thì cường độ của rãnh thấp xích đạo cũng mạnh lên;

- Khi bão đổ bộ lên các vĩ độ cao thường kéo theo rãnh thấp xích đạo lên phíabắc, nhưng khi bão đổ bộ vào đất liền thì rãnh thấp mất đi, một rãnh khác lại đượcthiết lập ở vĩ độ thấp hơn;

- Khi không khí lạnh xâm nhập xuống phía nam cũng làm cho rãnh bị đẩy lùixuống phía nam;

- Nếu áp thấp nóng phía tây mạnh lên, đường trục rãnh trên Biển Đông đang

có hướng đông-tây sẽ chuyển hướng thành tây bắc-đông nam

Theo Nguyễn Viết Lành và Phạm Vũ Anh, rãnh thấp xích đạo/ITCZ hoạtđộng trên Tây Bắc Thái Bình Dương và trên lãnh Việt Nam như sau:

Trong tháng 4, ở vùng xích đạo tồn tại ITCZ kép, tín phong từ hai bán cầuđều tiếp cận và xâm nhập vào vùng xích đạo, chúng vẫn đang ở thế gần như cânbằng: tín phong bán cầu Bắc chưa rút lui hẳn nhưng tín phong bán cầu Nam cũngchưa vượt lên phía bắc được Hình thế này phản ánh đây là tháng chuyển tiếp từmùa đông sang mùa hè ở bán cầu Bắc

Sang tháng 5, ITCZ kép đã được thay thế bằng hệ thống đệm ở trên khu vựcxích đạo từ Ấn Độ Dương qua nam Biển Đông tới Tây Bắc Thái Bình Dương Tínphong bán cầu Nam đã vượt xích đạo đi lên bán cầu Bắc, thay thế tín phong ở phíanam áp cao Ả Rập và áp cao vịnh Bengal Đới gió tây này, ngoài phần thổi qua Ấn

Độ và Myanma để hội tụ vào rãnh thấp Nam Á, thổi sang phía đông để cùng đới gióvượt xích đạo ở nam Biển Đông hội tụ với tín phong bán cầu Bắc từ rìa tây nam áp

Trang 14

cao Thái Bình Dương tạo thành ITCZ chạy từ Tây Thái Bình Dương đến nam BiểnĐông.

Sang tháng 6, hoàn lưu khu vực không thay đổi nhiều so với tháng 5, ngoạitrừ một số điểm đáng chú ý như: áp cao Thái Bình Dương thì đang có xu hướngdịch chuyển dần lên phía đông bắc cùng với sự mạnh lên của đới gió mùa tây nam

đã làm cho ITCZ ở phía nam Biển Đông dịch dần lên phía đông bắc, đi qua phíanam quần đảo Philippines và liên thông với nhánh tây bắc-đông nam của rãnh giómùa (MST) ở ven biển Trung Bộ

Đến tháng 7, áp thấp Nam Á và áp thấp phía đông Trung Quốc đã mạnh đếncực điểm, còn áp cao Thái Bình Dương tiếp tục dịch chuyển lên phía đông bắc tớivùng biển phía đông Trung Quốc; cho nên, gió mùa tây nam mạnh thêm, thổi quabán đảo Đông Dương, Biển Đông và gặp tín phong bán cầu Bắc ở vùng biển phíađông Philippines Vì thế ITCZ không liên thông được với nhánh tây bắc-đông namcủa MST nữa mà bị đẩy lên phía đông bắc, rời khỏi Biển Đông đi ra vùng biểnPhilippines

Vào tháng 8, gió mùa tây nam trở nên ổn định, không tiến triển thêm nữa, ápcao Thái Bình Dương tiếp tục dịch chuyển về phía đông bắc, trục của áp cao đã lêntới vĩ tuyến 300N Sự dịch lên của áp cao này cũng tạo điều kiện cho gió mùa tâynam mạnh thổi xa hơn về phía đông và ITCZ cũng tiếp tục lùi xa hơn một ít về phíađông, song vẫn ở trên vùng biển ngoài khơi quần đảo Philippines

Sang tháng 9, gió mùa tây nam bắt đầu suy thoái, bức tranh hoàn lưu đã thayđổi rõ rệt và điều thể hiện rõ nét nhất là có sự liên thông giữa ITCZ ở phía đôngPhilippines với hệ thống MST Nam Á Tuy vậy, điều quan trọng nhất xuất hiệntrong tháng này là trên mực 1000mb, trong khi gió mùa tây nam còn đang khốngchế khu vực Nam Á và Đông Nam Á, hội tụ mạnh vào MST và ITCZ thì ở trênphần phía đông của lục địa Trung Quốc đã xuất hiện một hoàn lưu xoáy nghịch ởHoa Đông (có vị trí trung tâm ở vào khoảng 370N; 1150E) Xoáy nghịch này có một

ý nghĩa quan trọng vì đây là cơ cấu đầu tiên của hoàn lưu mùa đông, bắt đầu nảysinh từ trong lòng gió mùa tây nam của bán cầu Bắc

Trên các lớp khí quyển tầng thấp, áp cao Hoa Đông là một áp cao lạnh lục địa đượcthể hiện một cách rõ rệt bằng trường đường dòng, nhưng ở các lớp bên trên áp cao này lạichịu sự chi phối của hoàn lưu vành đai áp cao cận nhiệt đới Từ áp cao Hoa Đông, KKLtoả xuống khống chế phần đông nam lục địa Trung Quốc, và ở khoảng vĩ tuyến 23-250N,chúng hợp lưu với tín phong bán cầu Bắc thổi qua bắc Biển Đông, đi sâu vào bắc bán đảoĐông Dương Chính vì thế mà ITCZ từ phía đông bắc quần đảo Philippines đã có thể pháttriển về phía tây, tiếp cận và liên thông với hệ thống MST Nam Á

Trang 15

Sang tháng 10, KKL từ áp cao Sebiria đã đi ra phía đông, hợp lưu với hoànlưu của áp cao Hoa Đông và tín phong từ áp cao Thái Bình Dương, tạo thành mộtđới gió đông bắc mạnh, rộng lớn và thổi từ vùng biển phía đông Trung Quốc xuốngphía tây nam, qua duyên hải phía đông và phần lục địa phía nam của Trung Quốc,qua phía bắc quần đảo Philippines, tới Biển Đông và bán đảo Đông Dương Trênmực 850mb hoàn lưu đông bắc từ áp cao Hoa Đông hợp lưu với tín phong bán cầuBắc thổi tới bao trùm cả Biển Đông và bán đảo Đông Dương Tín phong đông bắcmạnh đã đẩy MST xuống phía nam và đã thực sự trở thành ITCZ đi qua khoảng vĩtuyến 100N Điều đáng chú ý là sự hoạt động mạnh mẽ của gió đông, đông bắc ởphía bắc và gió mùa tây nam ở phía nam Biển Đông cũng làm tăng cường độ hội tụ

và thường tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các xoáy thuận trên ITCZ trongkhu vực Biển Đông và phía đông quần đảo Philippines

Đến tháng 11, trong các lớp khí quyển tầng thấp, gió mùa mùa đông kết hợpvới tín phong đông bắc xâm nhập xuống phía nam, tiếp tục đẩy ITCZ xuống vùngcận xích đạo Trên mực 850mb, ITCZ cũng bị đẩy xuống vùng và lại hình thànhITCZ kép ở hai phía của xích đạo, phản ảnh thế cân bằng của hai đới gió bắc vànam bán cầu và kết thúc thời kì hoạt động của ITCZ ở bán cầu Bắc

Theo Nguyễn Viết Lành, Phạm Vũ Anh và nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng:hoạt động của rãnh gió mùa (MST) và dải hội tụ nhiệt đới (ITCZ) ảnh hưởng tớiViệt Nam như sau:

Hàng năm, trên khu vực Nam Á, khi gió mùa tây nam được thiết lập, tínphong bán cầu Nam vượt xích đạo đi lên bán cầu Bắc, ITCZ kép bị phá vỡ, hệthống đệm ở xích đạo được thiết lập thì gió mùa tây nam nhanh chóng tiếp cận vàhội tụ vào rãnh thấp Nam Á Như vậy, MST hình thành ngay trong rãnh thấp Nam

Á và đem vào rãnh một động năng, và quan trọng hơn là đã tích luỹ được một lượng

ẩm dồi dào khiến cho hệ thống này đã thay đổi về chất Vì thế, vào mùa hè, khi giómùa tây nam đã hội tụ vào rãnh thấp Nam Á thì hệ thống này cần được gọi là MST

để nhấn mạnh đến lượng tiềm năng bất ổn định đang tàng trữ của nó

Gió mùa tây nam không phải bao giờ cũng có thể hội tụ đồng thời trên toàn bộrãnh thấp Nam Á dài hàng chục ngàn km mà thường chỉ xảy ra ở một số đoạn nhất định.Thông thường vào những tháng đầu mùa hè (từ tháng 5-7), ở phía tây kinh tuyến 800E,MST dường như bị neo giữ vào vị trí của rãnh áp thấp, còn ở phía đông kinh tuyến 800E,MST dao động trong phạm vi từ 15-350N Đến những tháng cuối mùa hè (từ tháng 8-9),khi tín phong đã dần dần xuất hiện trên Biển Đông thì MST cũng dần dần tách rời khỏirãnh thấp Nam Á để trở thành ITCZ, lùi dần xuống các vĩ độ thấp cận xích đạo

Nghiên cứu đánh giá mức độ hoạt động của MST trên khu vực bán đảo

Trang 16

Đông Dương, Biển Đông (trong phạm vi từ 900-1400E và từ 00-300N) được dẫn ratrong bảng 1

Qua bảng 1 ta có thể thấy, trung bình hàng năm có 97,6 ngày MST hoạtđộng, riêng năm 1996 chỉ có 88 ngày, còn năm 1997 (năm El Nino) lên tới 113ngày

Vào những tháng đầu mùa hè (tháng 5 và 6), khi gió tây nam đang tiến triển,

số ngày MST hoạt động tăng dần từ 10,6 ngày lên 13,0 ngày/tháng Đến thời kì giómùa thịnh hành và ổn định (tháng 7, 8 và 9), sự hiện diện của MST tăng lên tới trên

20 ngày, nhiều nhất là tháng 8, trung bình có tới 24,6 ngày Sang tháng 10, hoạtđộng của MST giảm xuống một cách đột ngột, xuống còn 5,4 ngày Bởi vì vàotháng 10 với sự mạnh lên của áp cao cận nhiệt đới, tín phong đông bắc đã hiện diện

ở bắc Biển Đông, MST đã rời khỏi rãnh thấp Nam Á và trở thành ITCZ ở vĩ độ thấphơn Đó chính là thời kì kết thúc hoạt động của MST

Bảng 1 Số ngày có MST hoạt động trên khu vực nghiên cứu

Sự hình thành và hoạt động của ITCZ

Trong các tháng tiếp theo, sự mạnh lên của gió mùa tây nam cùng với sựdịch chuyển dần lên phía đông bắc của áp cao Thái Bình Dương đã làm cho ITCZcũng dịch chuyển lên phía đông bắc Biển Đông

Đáng chú ý là trong tháng 6, ITCZ đã liên thông với rãnh tây bắc-đông nam củaMST làm thành một dải thấp chạy ngang qua Biển Đông, đi qua Bắc Trung Bộ và Bắc

Bộ Việt Nam Tuy nhiên, từ góc độ hoàn lưu ta có thể thấy, thực ra ITCZ vẫn chỉ hoạtđộng trên khu vực đông nam Biển Đông chứ chưa thể tiếp cận vào bán đảo ĐôngDương

Tháng 7, khi gió mùa tây nam đạt đến mức độ mạnh nhất cũng là lúc ITCZ

đã bị “đẩy” ra khỏi Biển Đông và chỉ tồn tại ở vùng biển phía đông Philippines cho

Trang 17

đến tháng 8 Sang tháng 9, gió mùa tây nam bắt đầu quá trình suy yếu, áp cao TháiBình Dương mạnh lên, lấn về phía tây và lùi dần xuống phía nam thì tín phong báncầu Bắc đã trở lại ở tây bắc Biển Đông Đến tháng 10, dòng tín phong này tiếp tụclấn sang cả bắc Ấn Độ Dương Vì thế ITCZ cũng có cơ hội hoạt động ngang quaBiển Đông, bán đảo Đông Dương và Ấn Độ Dương ITCZ trong thời kì này cũnglùi dần xuống phía nam Sang tháng 11, ITCZ tiếp cận xích đạo và hệ thống ITCZkép được thiết lập ở hai bên xích đạo.

Bảng 2 Số ngày ITCZ hoạt động trên khu vực bán đảo Đông Dương, Biển

và MST với hoạt động của ENSO

Vào những tháng đầu mùa gió mùa tây nam, khi ITCZ chỉ hiện diện ở đôngnam Biển Đông và vùng biển phía đông Philippines, số ngày hoạt động của ITCZkhông lớn lắm, chỉ chiếm khoảng từ 1/2 đến 2/3 tổng số ngày trong tháng Nhưngđến các tháng cuối mùa (tháng 8-10) khi ITCZ đi ngang qua Biển Đông và bán đảoĐông Dương và lùi dần từ bắc xuống nam thì tần số của ITCZ tăng lên, mỗi tháng

có khoảng 20- 25 ngày xuất hiện ITCZ

Ảnh hưởng của MST và ICTZ đến Việt Nam

Phạm vi hoạt động của MST chỉ trong khoảng từ 15-300N nên nó chủ yếu chỉgây mưa rào và dông cho các khu vực từ Bắc Bộ tới Trung Trung Bộ; còn các khuvực phía nam ít chịu ảnh hưởng của MST

MST thường hiện diện khá đa dạng, song có thể phân thành hai dạng chínhtuỳ theo hướng phát triển của nó: MST vĩ hướng và MST kinh hướng

a) MST vĩ hướng: Vào những thời kì khác nhau MST vĩ hướng cũng cónhững đặc trưng khác nhau, ta có thể chia thành ba giai đoạn, trong đó, giai đoạnđầu và cuối của mùa gió mùa tây nam có những đặc trưng khá giống nhau

Trang 18

 Vào giai đoạn giữa (tháng 6, 7) MST thường xuất hiện ở các vĩ độ khá cao(25-300N) qua bắc bán đảo Đông Dương và nam lục địa Trung Quốc Lúc này MSTthường liên thông với front Meiyu thành một dải từ Nam Á tới Đông Bắc Á Đốivới những đoạn MST trên đất liền thì khi gió mùa tây nam mang theo hơi ẩm đi lêntiếp cận với rãnh thì chúng thường chuyển hướng theo chiều xoáy thuận rồi mới hội

tụ vào rãnh cho nên một dải hội tụ khối lượng của không khí ẩm được hình thànhdọc theo rìa phía nam của rãnh, còn ở phía bắc của rãnh, không khí mát và khô hơntiếp cận và hội tụ thẳng vào rãnh Khi KKL hội tụ vào rãnh đủ mạnh nó sẽ kích hoạtlàm cho không khí nóng ẩm bốc lên theo chiều xoáy thuận và phát triển thànhnhững vùng áp thấp trong rãnh Ở một số địa phương nhất định, tác động địa hình

có thể góp phần tạo nên các dòng KKL mạnh, có tác dụng kích hoạt làm xuất hiệncác trung tâm áp thấp trong rãnh khi MST đi qua địa phương này

Với cấu trúc như vậy, trên MST trong đất liền, thời tiết xấu (mưa rào, dông)thường xảy ra ở trên rãnh và mở rộng về phía nam rãnh Thời tiết xấu thường tậptrung trong khu vực áp thấp và mở rộng ở rìa phía nam và đông rãnh

MST trên đất liền ảnh hưởng đến thời tiết ở Việt Nam thường diễn ra nhưsau: Khi gió mùa tây nam tiếp cận và hội tụ vào MST ở khu vực phía tây nam vànam Trung Quốc, đồng thời KKL lục địa tiếp cận tới phía bắc MST Khi đủ mạnh,KKL đẩy MST di chuyển xuống phía nam Vân Nam Trung Quốc là một trongnhững nơi làm xuất hiện áp thấp trên MST Khi MST xuống gần biên giới Việt-Trung thì mưa bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam và duy trì cho đến khi MST đi quahoặc bị suy yếu và tan đi

Mưa do MST loại này gây ra có thể chỉ một ngày nếu MST đi qua nhanh.Khi MST dịch chuyển chậm hoặc dịch chuyển lên/xuống thì đợt mưa có thể kéo dài2-3 ngày Hàng ngày, mưa thường xảy ra vào buổi chiều hay chiều tối, đó là thờigian thuận lợi nhất cho độ bất ổn định nhiệt lực phát huy tác dụng, đêm và sáng thờitiết tốt

Vào giai đoạn đầu (tháng 5) và cuối (tháng 8, 9) của mùa gió mùa tây nam,gió tây nam thường thổi qua bán đảo Đông Dương tới Biển Đông Trên Biển Đônggió đổi hướng, đi vào rãnh thấp nóng trên lục địa châu Á làm xuất hiện MST trênkhu vực Biển Đông Trong tình huống như vậy MST trên biển không trùng với rãnhthấp nóng như trên đất liền Nhưng chính sự xuất hiện MST trên Biển Đông là cơhội để MST từ đất liền có thể vươn ra biển, đi qua Bắc Bộ hoặc Bắc Trung Bộ Sựliên thông này làm cho MST trên đất liền trở nên ít di động hơn và có độ bất ổnđịnh không lớn nên nó thường chỉ gây ra những trận mưa rào hoặc mưa rào nhẹ vàotrưa và chiều Hiện tượng được lặp đi lặp lại trong mấy ngày Song thường xảy ra

Trang 19

tình huống là cùng với sự xuất hiện của MST trên biển thì ở rìa phía bắc có KKL,gây ra các đợt mưa rào và dông cho vùng duyên hải.

b) MST kinh hướng: Khi rãnh thấp Nam Á phát triển mạnh về phía đông,thường tới bắc bán đảo Đông Dương và tây nam Trung Quốc, đồng thời gió mùa tâynam hoạt động mạnh, tiến xa về phía đông đông bắc, vượt qua bán đảo ĐôngDương tới Biển Đông Ở đây gió mùa tây nam gặp đới tín phong lượn theo chiềuxoáy nghịch ở rìa phía tây của áp cao Thái Bình Dương đi lên phía bắc nên gió mùatây nam cũng phải chuyển hướng đi lên phía bắc, theo chiều xoáy thuận trên BiểnĐông đã làm xuất hiện MST có trục chạy theo hướng bắc tây bắc-nam đông namphù hợp với bờ biển Bắc Trung Bộ và đi qua Bắc Bộ

Bình thường MST kinh hướng chỉ gây nên mưa rào nhẹ vào trưa và chiều ở Bắc

Bộ và Bắc Trung Bộ Nhưng khi ở phía đông của rãnh có sự hợp lưu giữa gió mùa tâynam và gió đông có nguồn gốc là KKL hoặc là tín phong từ áp cao Thái Bình Dươngthổi vào thì vùng hợp lưu thường có trục gần như theo hướng bắc-nam Do tác động củađịa hình, vùng hợp lưu này thường gây ra mưa to đến rất to ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

ITCZ hiện diện trên khu vực nghiên cứu từ tháng 5-12 có thể được chia làmhai giai đoạn: giai đoạn đi lên (từ tháng 5-7) và giai đoạn đi xuống (từ tháng 8-12):

1) Trong giai đoạn đi lên, ITCZ hoạt động ở đông nam Biển Đông sau đó đi

ra phía đông Philippines Lúc này chỉ có gió tây nam vượt xích đạo ở khu vựcMalaysia-Indonesia hội tụ với tín phong bán cầu Bắc, tạo nên ITCZ Vì thế tronggiai đoạn này mọi sự mạnh lên của ITCZ hầu như không ảnh hưởng tới Việt Nam.Chỉ trong một số trường hợp đặc biệt khi hệ thống đệm xích đạo dịch chuyển lên ởtới nam Biển Đông, ITCZ mới có thể tiếp cận vùng duyên hải phía đông Nam Bộhay Nam Trung Bộ, gây mưa rào và dông vài ngày rồi lại rút ra

2) Trong giai đoạn đi xuống, ITCZ thực sự ảnh hưởng đến bán đảo ĐôngDương và Biển Đông một cách đáng kể

o Khi ITCZ đi qua phía bắc Biển Đông, Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ: trong điều kiệnbình thường, tức là chỉ có ITCZ hay ITCZ liên thông với MST thì thời tiết nóichung không xấu lắm, chỉ có mưa rào nhẹ vào trưa và chiều ở khu vực phía bắc củaITCZ Nếu đới tín phong bán cầu Bắc phát triển cao tới mực 500mb hay có sự xâmnhập của KKL từ phía bắc làm tăng độ hội tụ trong ITCZ thì mưa lớn diện rộngxuất hiện ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

o Khi ITCZ đi qua nam Biển Đông, Nam Bộ và Nam Trung Bộ: vào tháng 10, khuvực bắc Biển Đông có sự hợp lưu giữa tín phong bán cầu Bắc với gió đông bắc củaKKL lục địa, đới gió hợp lưu này thổi vào ITCZ ở nam Biển Đông Mưa lớn sẽ xảy

Trang 20

ra cho Trung và Nam Trung Bộ khi đới gió hợp lưu được tăng cường và phát triểncao, phía trên đó lại có gió đông nhiệt đới mạnh.

Nam Bộ chịu ảnh hưởng của ITCZ với đới gió tây nam ở phía nam, thường

có mưa rào và dông vào buổi chiều Mưa sẽ tăng lên trong những điều kiện sau đây:

- Sóng đông trong đới tín phong ở phía bắc ITCZ từ ngoài biển di chuyểnvào;

- Vùng đệm xích đạo nâng lên làm tăng độ hội tụ trong đới gió tây nam ởphía nam ITCZ Tuy nhiên, nếu vùng đệm xích đạo nâng cao tới Nam Bộ thì có thểxảy ra hạn hán

Sang tháng 11-12, ITCZ tiếp tục lùi xuống phía xích đạo, lúc này tín phongthổi vào Nam Bộ, mưa chấm dứt và, chuyển sang thời tiết “gió chướng” Tuy nhiênvẫn cần phải chú ý tới nhiễu động sóng đông hoặc sóng xích đạo có thể ảnh hưởngđến Nam Bộ gây ra các đợt mưa rào và dông muộn Chỉ khi ITCZ đã chuyển xuốngbán cầu Nam thì mùa mưa mới chấm dứt

3) Thời tiết nguy hiểm của ITCZ: ITCZ trở nên nguy hiểm khi xuất hiệnXTNĐ ở trên đó Thực tế cho thấy, khu vực Biển Đông và Tây Thái Bình Dương lànơi mà XTNĐ thường được sinh ra trên ITCZ hay ITCZ liên thông với MST Tiếcrằng cho đến nay vẫn chưa có những số liệu thống kê chứng thực điều này Qua kếtquả phân tích, thống kê nguồn gốc nảy sinh XTNĐ (xoáy thuận nhiệt đới) hoạt độngtrên Biển Đông trên bộ bản đồ SH hàng ngày từ năm 1996-2000 Có thể thấy cáccon số quen thuộc đã được thống kê trên những chuỗi số liệu 20-30 năm như: tỉ sốgiữa số ATNĐ (áp thấp nhiệt đới) và bão là 1/3, tỉ số giữa số XTNĐ hình thành trênThái Bình Dương và trên Biển Đông cũng xấp xỉ 1/3 và số lượng bão và ATNĐ mỗinăm cũng khoảng 13 cơn, riêng năm 1997 chỉ có 6 cơn do hoạt động mạnh mẽ của

El Nino

Như vậy, ta có thể tiến hành tính toán những đặc trưng cần thiết Qua bảng 3

ta thấy trong tổng số 58 XTNĐ trong 5 năm nghiên cứu, hầu hết được hình thànhtrên ITCZ (49 cơn chiếm 84%), một số ít hình thành trên MST (8 cơn, chiếmkhoảng 14%) Chỉ có 1 cơn, chiếm xấp xỉ 2%, được hình thành ngoài hệ thốngITCZ và MST Đó là cơn bão số 8 năm 1999, hình thành ở vùng biển đông bắcPhilippines (18,50N; 128,90E) ngày 03/10/1999, do nhiễu động sâu trong đới tínphong bán cầu Bắc ở phía nam áp cao Thái Bình Dương Bão đã mạnh lên trên cấp

12, với khí áp cực tiểu là 960mb, đã đổ bộ vào Phúc Kiến Trung Quốc sáng 09/10

Trang 21

Bảng 3 Các hình thế hoàn lưu làm nảy sinh các XTNĐ hoạt động

trên Biển Đông

do công cụ hỗ trợ và phương pháp nghiên cứu chưa phù hợp, đồng bộ nên kết quảnghiên cứu vẫn còn rất hạn chế, chưa phản ánh rõ những vấn đề cần hiểu rõ vềchúng Đứng trước những vấn đề đó, em mong muốn được tìm hiểu vấn đề ảnhhưởng của của dải hội tụ nhiệt đới đến mưa lớn trên khu vực trung trung bộ và Tâynguyên trên cơ sở số liệu tái phân tích

Trang 22

Qua tham khảo các công trình nghiên cứu về hoàn lưu trong những nămgần đây, chúng tôi nhận thấy rằng, tập số liệu tái phân tích của Trung tâm Quốcgia Dự báo Môi trường (NCEP-The National Center for EnvironmentalPrediction) và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khí quyển (NCAR-The NationalCenter for Atmospheric Research) được nhiều nhà khí tượng trên thế giới sửdụng và đã đạt được những kết quả rất khả quan

Tập số liệu tái phân tích này là một tập số liệu có độ dài lớn (từ năm1948-2013) và đặc biệt là có tính liên tục nên sử dụng rất thuận tiện Theo khônggian, số liệu được lưu giữ dưới dạng mã GRIB (Grid Binary) Độ phân giải theophương ngang có hai loại lưới: (1) lưới Gaussian, có 94 điểm lưới theo kinhtuyến và 192 điểm lưới theo vĩ tuyến, mỗi điểm cách nhau 1,8750; và (2) lướikinh vĩ có độ phân giải ngang là 2,5 x 2,50 kinh vĩ độ Độ phân giải theo phươngthẳng đứng cũng có hai loại: (1) trên các mực đẳng áp chính (1000, 925, 850,

700, 600, 500, 400, 300, 250, 200, 150, 100, 70, 50, 30, 20 và 10mb); và (2) trêncác mực đẳng nhiệt độ thế vị (270, 280, 290, 300, 315, 330, 400, 450, 550,

6500K)

Theo thời gian, số liệu ngày được lưu giữ tại các thời điểm 00Z và 12Z(UTC), còn số liệu trung bình tháng được lưu giữ tại các thời điểm 00Z, 06Z,12Z, 18Z (UTC)

Bên cạnh đó để đạt được mục tiêu đặt ra, trong khuôn khổ của bài khóaluận này, chúng tôi sử dụng cả số liệu quan trắc thực tế trong 10 năm từ tháng 1năm 1991 đến tháng 12 năm 2000 của lượng mưa các trạm khí tượng trên khuvực Trung Trung Bộ và Tây Nguyên

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Bài toán đặt ra trong bài toán này là xác định cấu trúc, quy luật hoạt động

và sự ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực Để đạtđược mục tiêu đề ra, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê toán học để thống

Trang 23

kê toàn bộ số lượng các đợt mưa lớn trên khu vực xảy ra trong 10 năm nghiêncứu.

Sau khi thống kê được số lượng các đợt mưa lớn trên khu vực nghiên cứu,

để xác định sự ảnh hưởng của ITCZ tới mưa lớn trên khu vực chúng tôi tiến hànhxây dựng bộ bản đồ trường độ cao địa thế vị và trường đường dòng trên những mựcđẳng áp chính cho các ngày:

- Ngày bắt đầu của đợt mưa lớn;

- Ngày trong đợt mưa lớn;

- Ngày kết thúc đợt mưa lớn

Để xây dựng bộ bản đồ này, chúng tôi sử dụng nguồn số liệu phân tích lại đãnói trên Trong các tính toán trên nguồn số liệu này, chúng tôi sử dụng số liệu tạiObs 0 giờ GMT (tức 7h, giờ Hà Nội) tại các mực khí áp chính là mực 1000, 850,

Trang 24

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Các tỉnh miền Trung có địa hình

kéo dài theo hướng Bắc - Nam từ Quảng

Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến

Đà Nẵng, Quảng Ngãi Chiều ngang các

tỉnh miền Trung tương đối hẹp, đoạn hẹp

nhất tỉnh Quảng Bình với bề ngang chỗ

hẹp nhất khoảng 40km Địa hình miền

Trung có đồi núi khá phức tạp bao gồm

hệ thống dãy núi Trường Sơn kéo dài và

nhô dần ra sát biển tạo nên nhiều mũi,

nhiều đèo chia miền Trung thành những

vùng khí hậu khác nhau Một hệ thống

nhiều đèo liên tiếp sát biển như Đèo

Ngang, Đèo Hải Vân, đèo Cù Mông, đèo

Cả là những ranh giới không chỉ phân

chia về mặt hành chính giữa một số tỉnh

mà là gianh giới về mặt thời tiết và khí hậu Dải Trường Sơn chắn gió là địa hìnhthuận lợi cho việc phát sinh các đợt mưa lớn kéo dài nhiều ngày trên khu vực cáctỉnh miền Trung và Tây Nguyên Đặc biệt khi có sự kết hợp với một số hệ thốngthời tiết khác như dải hội tụ nhiệt đới (ITCZ), xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ), khôngkhí lạnh (KKL), tín phong mạnh hoặc hội tụ gió lớp trên tầng đối lưu… dẫn đếntình hình mưa xảy ra mãnh liệt hơn, thời gian mưa kéo dài hơn gây lũ lụt nghiêmtrọng

+ Trung tâm mưa khu vực Trung Trung Bộ gồm: Thừa Thiên Huế (A tây Thừa Thiên Huế) và tỉnh Quảng Ngãi

Lưới-+ Trung tâm mưa Tây Nguyên gồm: Gia lai và Lâm Đồng

*ITCZ có 2 dạng chính: ITCZ hoạt động đơn thuần và ITCZ kết hợp với cáchình thế sy nốp gây mưa khác

Theo thống kê số liệu quan trắc từ thực tế trên toàn quốc lượng mưa năm

Tb từ những 1971-2000 chúng ta nhận thấy rõ khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên lànhững khu vực có lượng mưa trung bình năm lớn nhất trong cả nước Sau đâychúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể hơn về tìm hiểu về mưa lớn xảy ra trên khu vựcnày

Hình 1: Phân bố lượng mưa trung bình

năm1971-2000

Ngày đăng: 22/04/2016, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Công Minh – Khí tượng học sy nốp (Phần nhiệt đới) – NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2006 Khác
2. Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương. Đặc điểm khí tượng thuỷ văn từ năm 2001 – 2010 Khác
3. Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Trung Trung Bộ , Trung tâm dự báo tỉnh Quảng Trị và Đài khí tượng Tây Nguyên Khác
4. Tài liệu tham khảo thêm” Đặc điểm k hí tượng thủy văn ” của Tổng cục khí tượng thủy văn – Trung tâm quốc gia dự báo KTTV các năm Khác
5. Sử dụng số liệu tái phân tích và Số liệu mưa thực tế từ các trạm khí tượng những năm 1991-2000 của các Trung Tâm Khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ và Tây Nguyên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Số ngày ITCZ hoạt động trên khu vực bán đảo Đông Dương, Biển Đông - Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực trung trung bộ và tây nguyên
Bảng 2. Số ngày ITCZ hoạt động trên khu vực bán đảo Đông Dương, Biển Đông (Trang 21)
Bảng 3. Các hình thế hoàn lưu làm nảy sinh các XTNĐ hoạt động - Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực trung trung bộ và tây nguyên
Bảng 3. Các hình thế hoàn lưu làm nảy sinh các XTNĐ hoạt động (Trang 25)
Hình 1: Phân bố lượng mưa trung bình - Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực trung trung bộ và tây nguyên
Hình 1 Phân bố lượng mưa trung bình (Trang 28)
Bảng 4. Lượng mưa trung bình tháng  khu vực Trung Trung Bộ - Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực trung trung bộ và tây nguyên
Bảng 4. Lượng mưa trung bình tháng khu vực Trung Trung Bộ (Trang 29)
Hình 2. Diễn biến lượng mưa trung bình khu vực Trung Trung Bộ - Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực trung trung bộ và tây nguyên
Hình 2. Diễn biến lượng mưa trung bình khu vực Trung Trung Bộ (Trang 29)
Bảng 5: Lượng mưa lớn nhất trong khu vực Trung Trung Bộ - Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực trung trung bộ và tây nguyên
Bảng 5 Lượng mưa lớn nhất trong khu vực Trung Trung Bộ (Trang 30)
Hình 5: Phân bố số ngày có lượng mưa đạt >= 50mm trong năm - Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực trung trung bộ và tây nguyên
Hình 5 Phân bố số ngày có lượng mưa đạt >= 50mm trong năm (Trang 32)
Bảng 6: Lượng mưa trung bình tháng trong khu vực trên khu vực Tây - Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực trung trung bộ và tây nguyên
Bảng 6 Lượng mưa trung bình tháng trong khu vực trên khu vực Tây (Trang 32)
Bảng 7: Phân bố lượng mưa lớn nhất khu vực Tây Nguyên - Phân tích sự ảnh hưởng dải hội tụ nhiệt đới đến chế độ mưa trên khu vực trung trung bộ và tây nguyên
Bảng 7 Phân bố lượng mưa lớn nhất khu vực Tây Nguyên (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w