Bộ luật đã quy định tương đối đầy đủ các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự thủ tục khởi kiện các vụ án dân sự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, thi hành á
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ DUNG
THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG ANH TUẤN
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Dung
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 4
6 Những điểm mới của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự 7
1.1.1 Khái niệm phiên tòa sơ thẩm dân sự 7
1.1.2 Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm dân sự 9
1.1.3 Ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự 13
1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 16
1.2.1 Khái niệm thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 16
1.2.2 Đặc điểm của thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 17
1.2.3 Ý nghĩa của thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 20
1.3 Nội dung và thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự 20
1.3.1 Nội dung của phiên tòa sơ thẩm dân sự 20
1.3.2 Thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự 24
1.4 Cơ sở của việc xây dựng quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 27
1.4.1 Đảm bảo thực hiện tố quyền dân sự 27
1.4.2 Đảm bảo trật tự công trong tố tụng dân sự 30
Trang 41.5 Pháp luật của một số nước về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 31
1.5.1 Pháp luật Mỹ về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 31
1.5.2 Pháp luật Pháp về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 33
1.5.3 Pháp luật Liêng bang Nga về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 34
1.5.4 Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 36
1.5.5 Pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 37
Kết luận chương 1 399
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN TẠI BẮC NINH 40
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về thủ tục phiên toà sơ thẩm 40
2.1.1 Các quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa 45
2.1.2 Các quy định về thủ tục hỏi 48
2.1.3 Các quy định về thủ tục tranh luận 59
2.1.4 Các quy định về thủ tục nghị án và tuyên án 65
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự tại tỉnh Bắc Ninh 69
2.2.1 Tình hình thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án dân sự của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh 69
2.2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự tại tỉnh Bắc Ninh 72
2.3 Nguyên nhân khiếm khuyết của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục phiên toà sơ thẩm dân sự tại tỉnh Bắc Ninh 80
2.3.1 Trình độ lập pháp của Việt Nam còn hạn chế 80
2.3.2 Năng lực đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân của Tòa án hai cấp tỉnh Bắc Ninh còn hạn chế 82
2.3.3 Trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế và sự phát triển của đội ngũ Luật sư Việt Nam chưa đủ mạnh 84
2.3.4 Viện kiểm sát chưa thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm 86
2.3.4 Tòa án cấp trên chưa thực hiện tốt công tác đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời những sai sót của Tòa án cấp dưới 86
Kết luận chương 2 87
Trang 5Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ 89
3.1 Cơ sở để xây dựng định hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 89
3.1.1 Thực trạng quy định của pháp luật hiện hành, những bất cập 89 3.1.2 Khắc phục những hạn chế phát sinh trong quá trình áp dụng quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm tại các Tòa án trong cả nước nói chung và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh nói riêng 90 3.1.3 Yêu cầu cải cách tư pháp 91 3.1.4 Tham khảo quy định của pháp luật nước ngoài 92
3.2 Những định hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự 93
3.2.1 Sửa đổi theo hướng phát huy những ưu điểm của tố tụng xét hỏi kết hợp tiếp thu những yếu tố hợp lý, tiến bộ của mô hình tố tụng tranh tụng phù hợp với điều kiện
cụ thể của Việt Nam 93 3.2.2 Tăng cường tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm 94
3.3 Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thủ tục phiên tòa sơ thẩm 98
3.3.1 Sửa đổi, bổ sung cơ cấu chương XIV Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm 98 3.3.2 Sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự10000
Kết luận chương 3 115
KẾT LUẬN 116 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS Bộ luật Dân sự BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX Hội đồng xét xử
TAND Tòa án nhân dân Luật TCTAND Luật Tổ chức tòa án nhân dân
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
BLTTDS năm 2004 ra đời đã thay thế các pháp lệnh: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996, là sự phát triển có tính bước ngoặt đối với ngành luật tố tụng dân sự Việt Nam Bộ luật
đã quy định tương đối đầy đủ các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự thủ tục khởi kiện các vụ án dân sự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân
sự tại Tòa án, thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các
cơ quan và người tiến hành tố tụng cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng Chương XIV BLTTDS quy định về trình tự thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm Đây là chế định có vai trò, vị trí rất quan trọng, quy định khá cụ thể và toàn diện các vấn đề về phiên tòa sơ thẩm dân sự mà trọng tâm là phần thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự, gồm các quy định về: thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án
Trong điều kiện nền kinh tế - xã hội đang trên đà phát triển mạnh mẽ như nước ta hiện nay, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng là một nhu cầu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự đang ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp của từng loại vụ việc Quá trình xây dựng
và hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án, đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật Với tinh thần đó, Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012 trong đó có sửa đổi về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
Trang 8Mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng một số quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự vẫn còn nhiều bất cập, chưa thật sự phù hợp với thực tiễn xét xử, dẫn đến việc hiểu và áp dụng tại các Tòa án không thống nhất, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án cũng như kéo dài thời gian giải quyết, chưa đáp ứng được yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận 92-KL/TW ngày 12/3/2014 tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 do Bộ Chính trị ban hành Do đó, việc nghiên cứu để làm
rõ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Mặt khác, việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự tại một Tòa án địa phương cụ thể, qua đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật pháp luật trong lĩnh vực này là một hoạt
động cần thiết Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
phiên tòa sơ thẩm dân sự, điển hình như: (1) Bùi Thị Huyền, Phiên tòa dân sự
sơ thẩm - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội, 2008; (2) Nguyễn Hoành Đạt, Hoàn thiện các quy định
của pháp luật Tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm theo tinh thần cải cách tư
pháp, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006; (3)
Nguyễn Hà Giang, Thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm,
Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, 2008; (4)
Nguyễn Thúy Hằng, Phiên tòa sơ thẩm dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa
án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2014; (5) Lê Thị Thúy Nga, Thủ tục hỏi và
Trang 9tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội, 2014
Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản, quy định của BLDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 về phiên tòa
sơ thẩm dân sự nói chung hoặc tập trung phần thủ tục hỏi, tranh luận và đánh giá được thực tiễn áp dụng các quy định về phiên tòa sơ thẩm dân sự trong cả nước hoặc tại một địa phương cụ thể Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên hoặc là nghiên cứu chung về phiên tòa sơ thẩm dân sự mà không tập chung nghiên cứu về thủ tục phiên tòa hoặc là chỉ nghiên cứu về thủ tục hỏi, tranh luận mà chưa nghiên cứu toàn diện về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên của tác giả về phiên tòa sơ thẩm dân sự, hi vọng rằng trên cơ sở tham khảo những tài liệu có liên quan được viết trong thời gian gần đây, đề tài sẽ có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự, đáp ứng yêu cầu của hoạt động cải cách tư pháp
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Việc nghiên cứu các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự nhằm phân tích, đánh giá các điều luật, tạo điều kiện cho việc nhận thức và áp dụng trên thực tế một cách thống nhất, đồng bộ và đạt hiệu quả Qua đó, tìm
ra những tồn tại, bất cập của các quy định của pháp luật, đưa ra những giải pháp hữu ích đóng góp vào quá trình xây dựng hoàn thiện quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm Đồng thời, nêu lên thực tiễn thực hiện quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự tại tỉnh Bắc Ninh, qua đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
3.2 Mục tiêu cụ thể
Việc nghiên cứu đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự theo tinh thần cải cách
Trang 10tư pháp Từ đó mục tiêu cụ thể của đề tài là giải quyết về mặt lý luận các khái niệm thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng như các vấn đề có liên quan Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành, nêu lên thực trạng của việc áp dụng luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân
sự tại phiên tòa sơ thẩm Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục phiên tòa sơ thẩm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS
mà không nghiên cứu toàn bộ các quy định về phiên tòa sơ thẩm, cũng như không nghiên cứu về thủ tục phiên họp giải quyết việc dân sự Luận văn chỉ
đề cấp đến thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự như là một giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án dân sự Về thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật
về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự, đề tài chỉ nghiên cứu và đánh giá trong phạm vi hẹp là tại TAND hai cấp của tỉnh Bắc Ninh, trong thời gian 05 năm gần đây
5 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nội dung nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu các nội dung về: Những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự; thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự và thực tiễn thực hiện tại TAND tỉnh Bắc Ninh và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp điều
Trang 11tra xã hội học, phương pháp thống kê Trong quá trình nghiên cứu có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn thông qua điều tra, khảo sát,… từ đó đánh giá bản chất của hiện tượng trong phạm vi đề tài nghiên cứu
5.3 Địa điểm nghiên cứu
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thủ tục phiên tòa sơ thẩm trên lãnh thổ Việt Nam Về phần thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân
sự, luận văn chỉ nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Bắc Ninh
6 Những điểm mới của luận văn
Quá trình đổi mới của đất nước ta đang bước sang một giai đoạn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thực hiện mục tiêu hướng tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Cải cách hoạt động tư pháp là một trong những nội dung của quá trình đổi mới đồng thời cũng là đòi hỏi đối với năng lực quản lý nhà nước trong việc đảm bảo cho các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội phát triển lành mạnh
Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự là một trong những nội dung quan trọng nhất của BLTTDS Do đó việc, nghiên cứu, làm rõ và đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này có ý nghĩa rất lớn góp phần tích cực cho việc thực hiện nhiệm vụ cải cách hoạt động tư pháp, đảm bảo cho việc xét xử sơ thẩm đạt chất lượng tốt, là cơ sở để Tòa án ra các bản
án, quyết định đúng pháp luật, hạn chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phiên tòa sơ thẩm dân sự Tuy nhiên, so với những công trình đã nghiên cứu trước đây, đề tài có hướng
nghiên cứu khác và có những nội dung mới, cụ thể: thứ nhất, phạm vi nghiên
cứu của đề tài có sự khác biệt, không nghiên cứu chung về phiên tòa sơ thẩm
dân sự mà chỉ tập trung nghiên cứu về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự; thứ
hai, nghiên cứu quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLTTDS năm 2011 về thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm, đồng thời đánh giá
Trang 12các quy định trong Dự thảo BLTTDS sửa đổi năm 2015 về thủ tục phiên tòa
sơ thẩm dân sự; thứ ba, là nêu được thực tiễn thực hiện quy định về thủ tục
phiên tòa sơ thẩm dân sự tại Tòa án hai cấp tỉnh Bắc Ninh Từ đó, đề tài sẽ đưa ra những giải pháp, kiến nghị có cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần vào quá trình hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cầu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục phiên tòa sơ thẩm
dân sự;
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thủ tục phiên tòa sơ thẩm
dân sự và thực tiễn tại Bắc Ninh;
Chương 3: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
Trang 13Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC
PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự
1.1.1 Khái niệm phiên toà sơ thẩm dân sự
Theo từ điển tiếng Việt, “phiên” là lần mà mỗi người theo thứ tự cùng làm một loại việc như người trước và sau mình để đảm bảo sự liên tục [52] Dưới góc độ pháp lý, “phiên tòa” được hiểu là “hình thức hoạt động xét xử của Tòa án” [55, tr620]
Có thể hiểu, “phiên tòa” là phiên họp để xét xử của Tòa án, phiên họp này có những đặc thù riêng về người chủ trì, người tham gia, nguyên tắc, trình
tự và thủ tục tiến hành Người chủ trì là HĐXX Người tham gia có thể là bị cáo, đương sự, người làm chứng, người phiên dịch, người giám định, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… Phiên họp này được tiến hành công khai, tuân theo những nguyên tắc và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Tại phiên họp này, HĐXX sẽ nhân danh Nhà nước xem xét, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật, đánh giá bản chất của các quan hệ pháp luật, áp dụng các quy phạm pháp luật tương ứng để ra bản
án quyết định về quyền và nghĩa vụ của các bên Bản án này được đảm bảo thi hành bằng các cơ chế do pháp luật quy định Tùy theo tính chất của từng
vụ án là có phiên tòa dân sự, phiên tòa hình sự, phiên tòa hành chính
Trong khoa học pháp lý, phiên tòa sơ thẩm dân sự không phải là một thuật ngữ mới mẻ, nhưng từ trước đến nay ít người quan tâm và hầu như không có sự tranh luận về khái niệm phiên tòa sơ thẩm dân sự
Theo Thạc sĩ Ngô Minh Ngọc, phiên tòa sơ thẩm được hiểu “là một phiên họp đặc biệt và các trình tự của phiên họp này do pháp luật về tố tụng quy định chặt chẽ, mà ở đó HĐXX sơ thẩm vụ án không thể tùy tiện thêm, bớt các bước trong quá trình xét xử hoặc làm sai các trình tự này” [11, tr11]
Trang 14Khái niệm này tác giả mới chỉ dừng lại ở việc mô tả các dấu hiệu của một phiên tòa nói chung mà chưa nêu được bản chất của phiên tòa sơ thẩm dân sự
Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội:
“Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự là phiên xét xử vụ án dân sự lần đầu của Tòa
án” [49, tr278] Khái niệm này, chỉ mới dừng lại ở việc mô tả khái quát và xác
định vị trí của phiên tòa sơ thẩm dân sự trong toàn bộ quá trình tố tụng dân
sự, mà chưa nêu lên được bản chất của phiên tòa sơ thẩm dân sự
Theo tiến sĩ Bùi Thị Huyền: “Phiên tòa sơ thẩm dân sự là phiên họp công khai lần đầu của Tòa án với sự tham gia của những người tham gia tố tụng theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định để Tòa án ra phán quyết về toàn bộ vụ việc dân sự hoặc những vấn đề còn tranh chấp giữa các bên đương sự” [7, tr34] Với khái niệm này, tác giả đã đưa ra được đầy đủ các dấu hiệu
và bản chất của phiên tòa sơ thẩm dân sự như là một phiên họp, phiên họp này được tiến hành công khai, do Tòa án tiến hành, có sự tham gia của những người tham gia tố tụng, được tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ, là phiên họp lần đầu của Tòa án, để đưa ra phán quyết về việc giải quyết toàn bộ vụ việc dân sự Tuy nhiên, theo tác giả, nếu đưa ra dấu hiệu “công khai” trong khái niệm này sẽ không thật chính xác, vì có những trường hợp đặc biệt, để đảm bảo an ninh quốc gia hoặc đảm bảo thuần phong mỹ tục, vẫn có thể xét xử kín Ngoài ra, phiên tòa sơ thẩm dân sự có sự phân biệt với phiên họp giải quyết việc dân sự Do vậy, trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ không đề cập đến khái niệm này cho giải quyết việc dân sự, vì vậy thuật ngữ “vụ việc dân sự mà khái niệm này đưa ra sẽ không được sử dụng mà thay vào đó là khái niệm “vụ án dân sự”
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các khái niệm nêu trên, tác giả đưa ra
khái niệm “phiên tòa sơ thẩm dân sự” như sau: Phiên tòa sơ thẩm dân sự là
phiên họp lần đầu của Tòa án với sự tham gia của những người tham gia tố tụng theo những nguyên tắc, thủ tục luật định để Tòa án ra bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự
Trang 151.1.2 Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm dân sự
a) Phiên tòa sơ thẩm dân sự là phiên họp của Tòa án để xét xử lần đầu một vụ án dân sự
Sơ thẩm dân sự là việc giải quyết lần đầu một vụ án dân sự, bao gồm các hoạt động khởi kiện, thụ lý, chuẩn bị xét xử, hòa giải và mở phiên tòa sơ thẩm dân sự Phiên tòa sơ thẩm dân sự là khâu cuối cùng của sơ thẩm dân sự
và tại đó Tòa án sẽ xét xử để ra phán quyết về vụ án dân sự Do vậy, phiên tòa
sơ thẩm dân sự là phiên họp của Tòa án để xét xử lần đầu vụ án dân sự Do tính chất xét xử lần đầu, nên phiên tòa sơ thẩm khác với phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự
Phiên tòa phúc thẩm dân sự là phiên tòa do Tòa án cấp trên trực tiếp xét
xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Do đó, phiên tòa phúc thẩm dân sự được hiểu là lần xét xử thứ hai của Tòa án để giải quyết vụ án dân sự Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm chỉ dừng lại ở phạm vi xét xử những nội dung của
vụ án đã được giải quyết ở cấp sơ thẩm mà có kháng cáo kháng nghị, không xét xử lại toàn bộ vụ án, cũng như không xem xét, giải quyết những vấn đề, tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm Tuy nhiên, không phải bất kỳ một vụ án nào cũng được xét xử phúc thẩm - xét xử lần thứ hai Nếu việc xét
xử tại phiên tòa sơ thẩm dân sự được thực hiện tốt, đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, thì bản án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, việc giải quyết vụ án dân sự dừng lại sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm
Giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử, mà là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật do bị người có thẩm quyền kháng nghị do có sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án hoặc phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi nội dung bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự Phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự
là phiên họp của Tòa án xét lại bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật Do
Trang 16đó, phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là phiên xét xử lần đầu, mà phải được thực hiện sau khi đã xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm Tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự, Tòa án không giải quyết lại vụ án, không xác định quyền và nghĩa vụ của các đương sự mà chỉ xem xét Tòa án đã xét xử vụ
án có vi phạm pháp luật hay không, hoặc có tình tiết mới làm thay đổi bản án, quyết định hay không Nếu phát hiện có vi phạm pháp luật, Tòa án có thẩm quyền sẽ hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại Nếu phát hiện tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án, Tòa án có thẩm quyền sẽ hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp để xét xử
cứ, lập luận của mình và nghe yêu cầu, chứng cứ, lập luận của các đương sự khác Tòa án thẩm định, đánh giá công khai, khách quan các yêu cầu của đương sự, cũng như lời khai của người làm chứng, kết luận giám định Từ đó, Tòa án sẽ đưa ra quyết định giải quyết toàn diện vụ án một cách khách quan, chính xác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Không giống như phiên tòa sơ thẩm dân sự, phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa giám đốc, tái thẩm dân sự không nhất thiết phải có mặt đầy đủ người tham gia tố tụng Tại phiên tòa phúc thẩm dân sự, chỉ cần sự có mặt của người kháng cáo và những người có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng
Trang 17nghị Phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm được tiến hành mà không cần sự có mặt của những người tham gia tố tụng, họ chỉ được triệu tập khi cần thiết
c) Phiên tòa sơ thẩm được tiến hành theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật
Phiên tòa sơ thẩm được tiến hành theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật Các nước có thể có quy định khác nhau
về nguyên tắc và thủ tục phiên tòa sơ thẩm Các nguyên tắc đặc trưng của phiên tòa sơ thẩm dân sự có thể kể đến như nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự có thể bao gồm: Bắt đầu phiên tòa, hỏi, tranh tụng (hoặc tranh luận), nghị án và tuyên án
d) Kết quả của phiên tòa sơ thẩm dân sự là bản án, quyết định trong đó chứa đựng phán quyết của Tòa án về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự
Trong quá trình giải quyết một vụ án dân sự, Tòa án có thể tổ chức nhiều phiên họp khác nhau, nhưng chỉ có phiên tòa sơ thẩm, Tòa án mới ra phán quyết về việc giải quyết toàn bộ vụ án
Pháp luật tố tụng của nhiều nước trên thế giới như pháp luật của Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga, Hàn Quốc…, trước khi mở phiên tòa sơ thẩm dân sự, Tòa án mở nhiều phiên họp để các bên xuất trình chứng cứ và trao đổi về những vấn đề mà các bên đưa ra, Tòa án sẽ hòa giải những vấn đề
mà các bên đã thống nhất được Tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án chỉ đưa ra phán quyết về những vấn đề mà các bên còn có tranh chấp
Đối với Việt Nam, pháp luật không quy định về việc mở các phiên họp trước phiên tòa sơ thẩm để các bên đưa ra chứng cứ, mà giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ thu thập, xem xét, đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ của các đương sự cần thiết cho việc giải quyết vụ án Tại phiên tòa sơ thẩm, toàn bộ tài liệu, chứng cứ sẽ được HĐXX xem xét, đánh giá công khai Trên cơ sở xem xét, đánh giá tài liệu chứng cứ của vụ án và kết quả tranh luận của các đương sự, Tòa án sẽ ra phán
Trang 18quyết giải quyết toàn bộ vụ án Bản án, quyết định của HĐXX tại phiên tòa sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật nếu hết một thời hạn nhất định mà không có kháng cáo kháng nghị Các đương sự có nghĩa vụ tôn trọng và chịu trách nhiệm thi hành, nếu không thi hành sẽ được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của Nhà nước, cụ thể là cơ quan thi hành án dân sự
e) Phiên tòa sơ thẩm dân sự có những đặc điểm khác với phiên tòa sơ thẩm hình sự và phiên tòa sơ thẩm hành chính
Do bản chất các quan hệ pháp luật dân sự, hình sự hành chính là khác nhau, dẫn đến sự khác nhau giữa phiên tòa sơ thẩm dân sự và phiên tòa sơ thẩm hình sự, phiên tòa sơ thẩm hành chính Trong đó sự khác nhau rõ nét nhất thể hiện giữa phiên tòa sơ thẩm dân sự và phiên tòa sơ thẩm hình sự
Việc giải quyết vụ án dân sự xuất phát từ việc thực hiện quyền khởi kiện của một bên đương sự Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, không có căn cứ để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ và không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự thì phải mở phiên tòa sơ thẩm dân sự Do vậy, phiên tòa sơ thẩm dân sự được mở dựa trên quyền cầu của đương sự Việc giải quyết vụ án hình sự là việc Nhà nước phán quyết trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm pháp luật hình sự Việc mở phiên tòa sơ thẩm là trên cơ sở quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan công an, cơ quan kiểm sát hoặc cơ quan công tố)
Phạm vi và diễn biến của phiên tòa sơ thẩm dân sự phụ thuộc vào quyền tự định đoạt của đương sự Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đương sự có quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu hoặc thỏa thuận về giải quyết vụ án Quyền tự định đoạt của đương sự sẽ quyết định diễn biến của phiên tòa, phiên tòa có thể tiếp tục diễn ra hoặc kết thúc ngay ở phần hỏi hoặc đình chỉ giải quyết vụ án Trong khi phạm vi và diễn biến của phiên tòa sơ thẩm hình sự phụ thuộc vào quyết định của cơ quan nhà nước, cụ thể là phụ thuộc vào quyết định truy tố của cơ quan kiểm sát đối với các bị can về tội danh và khung hình phạt Diễn biến của phiên tòa sơ thẩm
Trang 19hình sự phải tuân theo quy định của pháp luật, mà không bị thay đổi do quyền
tự định đoạt của người tham gia tố tụng Bên buộc tội và bên gỡ tội không thể thỏa thuận với nhau về tội danh và hình phạt để giải quyết vụ án
Tại phiên toà sơ thẩm dân sự, các bên đương sự bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự, bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu và đưa ra các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu Tòa án chỉ là cơ quan trung gian, đưa ra phán quyết dựa trên việc chứng minh yêu cầu của các bên đương sự Ngược lại, đối với phiên tòa sơ thẩm hình sự, việc chứng minh bị cáo có tội hay không có tội và đưa ra mức hình phạt phù hợp là nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng Bị cáo có quyền, nhưng không
có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội
So sánh tính chất của phiên tòa sơ thẩm dân sự và phiên tòa sơ thẩm hành chính, tác giả nhận thấy về bản chất, phiên tòa sơ thẩm hành chính cũng giống như phiên tòa sơ thẩm dân sự, đều xuất phát từ yêu cầu khởi kiện của người có quyền và lợi ích bị xâm phạm Tuy nhiên, do nhiệm vụ phiên tòa sơ thẩm hành chính là giải quyết tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan nhà nước, nên quyền bình đẳng giữa người khởi kiện và người bị kiện tại phiên tòa sơ thẩm hành chính không được đảm bảo thực hiện triệt để như phiên tòa sơ thẩm dân sự
1.1.3 Ý nghĩa của phiên toà sơ thẩm dân sự
Phiên tòa sơ thẩm dân sự là khâu cuối cùng của sơ thẩm dân sự và tại
đó Tòa án sẽ xét xử để ra phán quyết về vụ án dân sự Phiên tòa dân sự là nơi thể hiện kết quả của cả một quá trình tố tụng của Tòa án để giải quyết một vụ
án dân sự Do đó, phiên tòa sơ thẩm dân sự có ý nghĩa đặc biệt lớn
a) Về phương diện pháp lý:
Phiên tòa sơ thẩm dân sự là phương thức để Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết nội dung tranh chấp Xem xét một cách tổng thể đối với toàn bộ quá trình giải
Trang 20quyết vụ án dân sự thì phiên tòa sơ thẩm dân sự đóng vai trò trung tâm, tác động và chi phối các hoạt động tố tụng trước và sau nó [7, tr35]
Phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn để kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động của Tòa án ở các giai đoạn trước đó bao gồm thụ lý, thu thập chứng cứ, hòa giải, chuẩn bị xét xử sơ thẩm Bởi vì, tại phiên tòa sơ thẩm, các yêu cầu của đương sự, các tài liệu, chứng cứ được xem xét một cách toàn diện, trực tiếp, công khai và khách quan, qua đó HĐXX có thể làm rõ được các thủ tục
tố tụng trước đó đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật chưa, chứng
cứ đã được thu thập đầy đủ để có thể đưa ra được phán quyết cuối cùng hay chưa Từ việc phát hiện ra các sai sót ở các giai đoạn tố tụng trước, Tòa án có thể có giải pháp khắc phục kịp thời, hạn chế tối đa việc hủy, sửa án sơ thẩm ở các thủ tục xét xử tiếp theo Kết quả của phiên tòa sơ thẩm là căn cứ để thực hiện thủ tục phúc thẩm dân sự, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự
Mặt khác, phiên tòa sơ thẩm dân sự còn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động lập pháp Tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, Tòa án cùng với những người tham gia tố tụng kiểm tra, phân tích, đánh giá toàn diện các yêu cầu, tài liệu, chứng cứ, phân tích và áp dụng các quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng để đưa ra phán quyết cuối cùng Thông qua việc phân tích các quy định của pháp luật, Tòa án có thể tìm ra những hạn chế, vướng mắc của các quy định hiện hành, cũng như khoảng trống của pháp luật, từ đó có những kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp hoặc ban hành các văn bản pháp luật mới thay thế
b) Về mặt chính trị:
Phiên tòa sơ thẩm dân sự đáp ứng những đòi hỏi của nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền có hai đặc trưng cơ bản là dân chủ và tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó phải đảm bảo tính thượng tôn của pháp luật Trong mối quan hệ với công dân, Nhà nước phải bảo vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của công dân
Trang 21Trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, phiên tòa sơ thẩm dân
sự được tiến hành trên cơ sở tố quyền của công dân, còn việc mở phiên tòa sơ thẩm dân sự là trách nhiệm của nhà nước đối với công dân trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó bao gồm cả quyền lợi và tố quyền Các phán quyết của Tòa án tại phiên tòa sơ thẩm dân sự góp phần đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền Phiên tòa tiến hành tốt sẽ là cơ sở để Tòa án ra các bản án, quyết định chính xác, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của công dân Thông qua phiên tòa sơ thẩm, nhà nước răn đe các hành vi vi phạm pháp luật, buộc người vi phạm phải chịu chế tài của Nhà nước Cũng thông qua phiên tòa sơ thẩm dân sự, ý thức pháp luật của công dân được nâng cao, bởi vì thông qua phán quyết của Tòa án, công dân biết được hành vi của mình là đúng hay là vi phạm pháp luật và cách thức hành xử đúng là gì Từ đó, công dân sẽ có những hiểu biết sâu sắc hơn về các quy định pháp luật của Nhà nước Đây là một trong những yếu tố để đảm bảo xây dựng Nhà nước pháp quyền
c) Về mặt xã hội:
Việc xét xử tốt tại phiên tòa sơ thẩm dân sự sẽ góp phần bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người dân, bảo đảm công bằng, ổn định xã hội, củng
cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm uy tín của Tòa án
Phiên tòa sơ thẩm dân sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết
vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Kết quả của phiên tòa là bản án sơ thẩm Tại bản án sơ thẩm, xác định rõ quan hệ pháp luật tranh chấp, quyền và nghĩa
vụ của các đương sự trong vụ án Do đó, phiên tòa sơ thẩm xác định lại cho đúng nội dung của quan hệ pháp luật, vị trí, quyền và nghĩa vụ của các đương
sự trong quan hệ đó Qua đó đảm bảo việc thực hiện chức năng xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án
Phiên tòa sơ thẩm được tổ chức công khai, mọi công dân đều có quyền
dự Thông qua việc xem xét, đánh giá chứng cứ, xem xét giải quyết các yêu
Trang 22cầu của đương sự, cũng như việc phân tích các quy định của pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, Tòa án đã thực hiện được việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giúp người dân hiểu rõ hơn về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước Từ đó, họ cũng nắm rõ hơn quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia các quan hệ xã hội, để thực hiện và tuân thủ pháp luật, hạn chế việc xảy ra các tranh chấp trên thực tế Như vậy, ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm không chỉ giúp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân
mà còn góp phần ổn định trật tự xã hội
1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
1.2.1 Khái niệm thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
Thủ tục là “Những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [52, tr927]; là “Cách thức tiến hành công việc theo một thứ tự hoặc một thể lệ đã quen” [9, tr1764]
Nội hàm của định nghĩa “thủ tục” nêu trên bao gồm cả hai yếu tố nội dung và hình thức Nội dung của thủ tục là những việc phải thực hiện và hình thức của thủ tục là cách thức, trật tự tiến hành các công việc đó Định nghĩa
“thủ tục” cũng cho thấy: Thủ tục luôn gắn liền với một công việc nhất định Do
đó, nội dung của thủ tục (bao gồm cả những công việc phải làm và cách thức, trật tự tiến hành) chịu sự quy định của tính chất, nội dung công việc mà thủ tục
đó thực hiện và nhằm đạt được Thủ tục được thực hiện thông qua hoạt động có
ý thức, có mục đích của con người, do đó thủ tục bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhất định Tính mục đích của thủ tục cho phép chúng ta xác định được phạm vi “những công việc cụ thể” và thông qua đó, chỉ ra được chủ thể tiến hành, chủ thể thực hiện thủ tục Để xác định cách thức, thứ tự thực hiện một công việc, trước hết phải xác định được việc cần làm là việc gì Khi xác định được việc cần làm thì mới đặt ra vấn đề ai làm và làm như thế nào
Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự là những công việc phải làm, cách thức, trật tự tiến hành và chủ thể tiến hành các công việc đó tại phiên tòa sơ
Trang 23thẩm dân sự để Tòa án ra phán quyết về toàn bộ vụ án dân sự hoặc những vấn
đề còn tranh chấp giữa các bên đương sự
Các công việc phải làm tại phiên tòa sơ thẩm dân sự bao gồm: Bắt đầu phiên tòa, trình bày nội dung vụ án và cung cấp chứng cứ mới của đương sự, hỏi, tranh tụng (hoặc tranh luận), nghị án và tuyên án Cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động này sẽ được quy định cụ thể trong pháp luật tố tụng dân
sự của mỗi quốc gia Tùy theo mô hình tố tụng của mỗi quốc gia mà các hoạt động này được sắp xếp theo một trình tự nhất định, trong đó có sự khác nhau
về việc đánh giá mức độ quan trọng của mỗi hoạt động Chủ thể tiến hành các hoạt động tại phiên tòa sơ thẩm dân sự bao gồm HĐXX, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên (nếu có) Chủ thể tham gia các hoạt động tại phiên tòa sơ thẩm dân sự bao gồm đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự và người tham gia tố tụng khác (người làm chứng, người phiên dịch, người giám định )
1.2.2 Đặc điểm của thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
a) Thủ tục phiên tòa sơ thẩm có thể bao gồm thủ tục đầy đủ và thủ tục rút gọn
Thủ tục rút gọn là thủ tục giải quyết vụ án dân sự được rút ngắn thời gian và thủ tục, được áp dụng đối với các vụ án có giá trị tranh chấp nhỏ, đã
có đầy đủ tài liệu, chứng cứ, các đương sự đều có nơi cư trú rõ ràng Đối với thủ tục rút gọn, phiên tòa sơ thẩm dân sự sẽ được tổ chức đơn giản hơn, có thể cắt bớt một hoặc một số thủ tục, để đảm bảo cho phiên tòa được diễn ra nhanh chóng, nhưng vẫn đảm bảo được phán quyết của Tòa án là chính xác và khách quan Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có quy định về thủ tục rút gọn, nhưng pháp luật của nhiều nước trên thế giới đã quy định về thủ tục này
b) Phạm vi và diễn biến của phiên tòa sơ thẩm dân sự phụ thuộc vào quyền tự định đoạt của đương sự
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đương sự có quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu Tòa án không thể tự mình xác định
Trang 24phạm vi xét xử của phiên tòa sơ thẩm dân sự, mà phải căn cứ vào yêu cầu mà đương sự đưa ra tại phiên tòa, phụ thuộc vào quyền tự định đoạt của đương
sự Diễn biến của phiên tòa sơ thẩm dân sự cũng phụ thuộc vào quyền tự định đoạt của đương sự Nếu đương sự rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, thì Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án Nếu đương sự thỏa thuận được việc giải quyết toàn bộ vụ án, thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, thủ tục phiên tòa chỉ dừng lại ở phần hỏi Nếu đương sự không rút yêu cầu khởi kiện, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thì phiên tòa sơ thẩm được tiến hành đầy đủ các thủ tục theo luật định
c) Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự khác với thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự
Do mục đích của phiên tòa sơ thẩm dân sự khác với phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm cũng khác với phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, nên thủ tục phiên tòa sơ thẩm khác với thủ tục phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
Thủ tục phiên tòa sơ thẩm gồm: Bắt đầu phiên tòa, trình bày nội dung
vụ án và cung cấp chứng cứ mới của đương sự, hỏi, tranh tụng (hoặc tranh luận), nghị án và tuyên án
Thủ tục phiên tòa phúc thẩm dân sự về cơ bản giống với thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự, cung bao gồm: Bắt đầu phiên tòa, trình bày nội dung vụ
án và cung cấp chứng cứ mới của đương sự, hỏi, tranh tụng (hoặc tranh luận), nghị án và tuyên án Tuy nhiên, do thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm chỉ dừng lại ở phạm vi xét xử những nội dung của vụ án đã được giải quyết ở cấp
sơ thẩm mà có kháng cáo kháng nghị, không xét xử lại toàn bộ vụ án, cũng như không xem xét, giải quyết những vấn đề, tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm Các thủ tục tại phiên tòa chỉ xoay quanh nội dung của vụ án có kháng cáo, kháng nghị, do đó thủ tục phiên tòa phúc thẩm dân sự đơn giản
Trang 25hơn thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự, việc thực hiện các thủ tục tại phiên tòa phúc thẩm dân sự cũng nhanh chóng hơn phiên tòa sơ thẩm dân sự
Giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật do bị người có thẩm quyền kháng nghị do có sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án hoặc phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi nội dung bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự Thành phần tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ bao gồm Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm và đại diện Viện kiểm sát, trong trường hợp cần thiết, Tòa án mới triệu tập những người tham gia tố tụng Thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm đơn giản hơn rất nhiều so với thủ tục phiên tòa sơ thẩm, gồm: Khai mạc phiên tòa, trình bày về nội dung vụ án, quá trình giair quyết vụ án, về việc kháng nghị; thảo luận và phát biểu ý kiến của các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm/tái thẩm và Kiểm sát viên và biểu quyết giải quyết vụ án của Hội đồng
d) Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự khác với thủ tục phiên họp giải quyết việc dân sự
Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự khác với thủ tục phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự Khái niệm phiên tòa sơ thẩm dân sự dùng để chỉ phiên họp lần đầu giải quyết vụ án dân sự Còn khái niệm phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự dùng để chỉ phiên họp giải quyết lần đầu việc dân sự Do tính chất, mức độ phức tạp của vụ án dân sự và việc dân sự, nên phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự được quy định đơn giản hơn phiên tòa sơ thẩm dân sự Sự đơn giản này thể hiện ở hai nội dung: Đơn giản về thành phần tiến hành phiên họp và đơn giản về thủ tục tiến hành phiên họp Thành phần tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự thường chỉ bao gồm một Thẩm phán Thủ tục phiên họp giải quyết việc dân sự thường đơn giản, các đương sự trình bày và Thẩm phán xem xét, ra quyết định, không có các thủ tục tranh tụng (hoặc tranh luận), nghị án
Trang 261.2.3 Ý nghĩa của thủ tục phiên toà sơ thẩm dân sự
Thủ tục phiên tòa sơ thẩm sơ thẩm dân sự là cách thức, trật tự tiến hành các công việc tại phiên tòa sơ thẩm dân sự Chỉ ra địa vị, nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng; chỉ ra cách thức để làm rõ nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ và đưa ra phán quyết Nếu thủ tục khoa học, hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cao cho phiên tòa, Tòa án làm rõ được nội dung vụ án, đánh giá toàn diện các yêu cầu, chứng cứ
do các bên cung cấp, trên cơ sở nội dung tranh tụng (hoặc tranh luận) của các bên, Tòa án sẽ đưa ra được phán quyết giải quyết vụ án hợp tình hợp lý Điều này sẽ hạn chế việc phát sinh kháng cáo, kháng nghị giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, cũng như hạn chế tình trạng bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy, sửa Ngược lại, nếu thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự không hợp
lý, dẫn đến tình trạng, Tòa án đưa ra phán quyết giải quyết vụ án thiếu chính xác, làm gia tăng số lượng án phúc thẩm, tỷ lệ bản án, quyết định sơ thẩm bị hủy, sửa tăng lên, gây mất niềm tin của nhân dân vào công lý, vào hoạt động của cơ quan thực hiện quyền tư pháp
1.3 Nội dung và thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự
1.3.1 Nội dung của phiên toà sơ thẩm dân sự
Trên thế giới tồn tại hai mô hình tố tụng chủ yếu là mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng xét hỏi Sự khác nhau của hai mô hình tố tụng xuất phát từ sự khác nhau về vai trò của Tòa án và các bên đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nói chung và tại phiên tòa sơ thẩm nói riêng, dẫn đến nội dung các hoạt động tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm của mỗi
mô hình có sự khác biệt nhất định
Đối với mô hình tố tụng xét hỏi, Tòa án ở thế chủ động trong suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự, chủ động trong việc thu thập chứng cứ, yêu cầu các bên đương sự giao nộp chứng cứ, chủ động tại phiên tòa sơ thẩm
Do vậy, nội dung của phiên tòa sơ thẩm dân sự thường bao gồm các hoạt động: Bắt đầu phiên tòa, hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án
Trang 27Đối với mô hình tố tụng tranh tụng, tòa án ở thế thụ động, các bên đương sự chủ động trong việc cung cấp chứng cứ, tài liệu và đưa ra các lập luận, căn cứ pháp lý để bảo vệ cho yêu cầu của mình, Tòa án giải quyết dựa trên các chứng cứ do các bên cung cấp và tranh tụng của các bên tại phiên tòa Do vậy, nội dung của phiên tòa sơ thẩm dân sự thường bao gồm các hoạt động: Bắt đầu phiên tòa, trình bày của các bên đương sự, tranh tụng, nghị án
và tuyên án
Sau đây là phần phân tích nội dung các hoạt động tại phiên tòa sơ thẩm
có trong cả hai mô hình tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng
- Bắt đầu phiên tòa:
Là hoạt động đầu tiên của phiên tòa sơ thẩm Hoạt động bắt đầu phiên tòa bao gồm: Khai mạc phiên tòa; kiểm tra căn cước của những người tham gia tố tụng; kiểm tra sự vắng mặt của các đương sự và xử lý việc hoãn phiên tòa nếu có đương sự vắng mặt thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa; hỏi đương sự về việc thay đổi người tiến hành tố tụng, xử lý yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, quyết định hoãn phiên tòa trong trường hợp không có người thay thế; hỏi các đương sự về việc thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu
và xử lý việc thay đổi này, nếu đương sự rút toàn bộ yêu cầu thì đình chỉ giải quyết vụ án; hỏi các đương sự có thỏa thuận với nhau được về việc giải quyết toàn bộ vụ án hay không, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Hoạt động bắt đầu phiên tòa có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm xác định việc hoãn phiên tòa, chấm dứt việc giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm hoặc tiếp tục phiên tòa Nếu phiên tòa được tiếp tục diễn ra, thì nội dung của hoạt động bắt đầu phiên tòa sẽ đảm bảo cho phiên tòa được diễn ra thuận lợi và việc xét xử của Tòa án được khách quan, chính xác
- Trình bày nội dung vụ án và việc cung cấp chứng cứ mới:
Phần trình bày của các đương sự bao gồm trình bày yêu cầu và các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Đây là hoạt động quan
Trang 28trọng của phiên tòa sơ thẩm nhằm tái hiện lại vụ án, giúp cho các bên đương
sự hiểu được rõ hơn về vụ án, là cơ sở để Tòa án cũng như các đương sự thực hiện các hoạt động tiếp theo Về vấn đề cung cấp chứng cứ mới, pháp luật tố tụng của nhiều nước, không cho phép đương sự được cung cấp chứng cứ mới tại phiên tòa Bởi vì, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
và bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng, thì các đương sự phải được biết trước chứng cứ mới của phía bên kia, để có phương án tranh tụng tại phiên tòa Tuy nhiên, đối với một số nước như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Việt Nam, thì tại phiên tòa sơ thẩm, đương sự vẫn có quyền cung cấp chứng cứ mới, để đảm bảo cho việc thu thập đầy đủ chứng cứ, làm căn cứ để Tòa án giải quyết vụ án
- Hỏi:
Mục đích của việc hỏi là làm rõ các yêu cầu, các quan hệ tranh chấp giữa các bên, các tình tiết, các sự kiện mà các bên đã trình bày, hỏi những vấn đề còn mâu thuẫn hoặc chưa rõ Chủ thể hỏi có sự khác nhau trong mô hình tố tụng của các nước Đối với các nước theo mô hình tố tụng xét hỏi như Việt Nam, chủ thể hỏi bao gồm chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng khác Chủ thể được hỏi bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định Đối với các nước theo mô hình tố tụng tranh tụng, hoạt động hỏi tại phiên tòa không phải là hoạt động trọng tâm và HĐXX không phải là chủ thể hỏi, mà chỉ có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự hỏi để làm rõ hơn các tình tiết mà phía bên kia đưa ra để làm cơ sở cho việc tranh tụng
- Tranh tụng hoặc tranh luận:
Đối với mô hình tố tụng xét hỏi, hoạt động tranh luận được diễn ra sau khi hỏi Tranh luận được hiểu là “hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng tại phiên tòa dân sự trong việc trao đổi, bàn cãi các ý kiến về việc dân sự” [55, tr 807] Tranh luận là thủ tục đối đáp giữa các đương sự, người bảo
Trang 29vệ quyền và lợi ích của các đương sự về chứng cứ, căn cứ pháp luật, để tìm ra bản chất của quan hệ pháp luật đang tranh chấp Tòa án không tham gia vào tranh luận mà chỉ lắng nghe ý kiến tranh luận của các bên, điều hành cho việc tranh luận đi đúng nội dung và trình tự, duy trì quá trình tranh luận giữa các bên, hướng quá trình tranh luận vào việc giải quyết các yêu cầu của đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó Thông qua tranh luận, Tòa
án có điều kiện kiểm tra, đánh giá các chứng cứ đã thu thập ở các giai đoạn trước, xác định những vấn đề cần tiếp tục làm rõ, là cơ sở để Tòa án ra bản án, quyết định Tranh luận là hoạt động trung tâm có vai trò hết sức quan trọng, căn cứ vào kết quả tranh luận và việc xem xét toàn diện các tính tiết của vụ
án, các chứng cứ mà đương sự đưa ra, Tòa án đưa ra phán quyết cuối cùng về việc giải quyết vụ án
Đối với mô hình tố tụng tranh tụng, với ý nghĩa là một hoạt động của phiên tòa sơ thẩm, tranh tụng được hiểu “là sự tranh luận, đối đáp, đấu tranh với nhau bằng các chứng cứ, lý lẽ, lập luận tại phiên tòa giữa các bên có quyền lợi đối lập nhau nhằm chứng minh những yêu cầu hoặc phản bác của mình đối với bên kia là xác đáng, có căn cứ, có cơ sở và đúng pháp luật; ngược lại những yêu cầu hoặc phản bác của phía bên kia là không có căn cứ
và không đúng pháp luật” [7, tr68] Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi bên nguyên đơn hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày, bên bị đơn đã có thể phản bác lại ngay, và yêu cầu HĐXX không chấp nhận yêu cầu của bên nguyên đơn Tranh tụng có thể diễn ra ngay sau hoạt động bắt đầu phiên tòa và kéo dài suốt toàn bộ quá trình diễn ra phiên tòa, chứ không phải chỉ diễn ra ở phần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm dân sự theo mô hình xét hỏi và “tranh luận chỉ là một phần của tranh tụng” [7, tr68] Xét về mặt thuật ngữ thì mức độ đối đáp của tranh luận thấp hơn tranh tụng Tranh luận là trao đổi, đối đáp, nhưng tranh tụng thể hiện sự phản bác, đấu tranh Đối với mô hình tố tụng tranh tụng, hoạt động tranh tụng có vai trò quan
Trang 30trọng nhất, là hoạt động trọng tâm, xuyên suốt cả phiên tòa sơ thẩm, Tòa án ra phán quyết dựa trên kết quả tranh tụng của các bên đương sự
- Nghị án và tuyên án:
Nghị án là hoạt động thảo luận tập thể của HĐXX xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án căn cứ vào phần trình bày của đương sự, tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các bên tại phần hỏi và kết quả tranh tụng (hoặc tranh luận) để đưa ra quyết định giải quyết vụ án dân sự Sau khi thông qua bản án, quyết định giải quyết vụ án tại phòng nghị án, HĐXX tuyên án Tuyên án là hoạt động cuối cùng của phiên toàn sơ thẩm dân sự, được thực hiện công khai tại phòng xử án Một thành viên HĐXX đọc toàn văn bản án, quyết định cho các bên đương sự cho những tham gia phiên tòa cùng nghe Phiên tòa sơ thẩm dân sự kết thúc sau khi tuyên án
1.3.2 Thủ tục tiến hành phiên tòa
Nội dung các hoạt động tại phiên tòa sơ thẩm sẽ được luật hóa bằng các thủ tục cụ thể Tùy theo mô hình tố tụng của mỗi nước mà các hoạt động này được sắp xếp theo một trình tự nhất định, trong đó có sự khác nhau về việc đánh giá mức độ quan trọng của mỗi hoạt động Hoạt động trình bày nội dung
và cung cấp chứng cứ mới được lồng ghép với hoạt động hỏi, do đó thủ tục tiến hành phiên tòa sẽ được phân tích gồm: Thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi, thủ tục tranh tụng hoặc tranh luận, thủ tục nghị án và tuyên án
- Thủ tục bắt đầu phiên toà:
Nội dung các hoạt động của thủ tục bắt đầu phiên tòa đã được nêu cụ thể tại mục 1.3.1 Trình tự thực hiện các hoạt động của thủ tục bắt đầu phiên tòa như sau: Trước tiên, chủ tọa phiên tòa tiến hành khai mạc phiên tòa Sau
đó, HĐXX tiến hành kiểm tra căn cước của những người tham gia tố tụng và phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự Tiếp đến, HĐXX kiểm tra sự vắng mặt của các đương sự và xử lý việc hoãn phiên tòa nếu có đương sự vắng mặt thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa HĐXX hỏi đương sự về việc thay đổi người tiến hành tố tụng, xử lý yêu cầu thay đổi người tiến hành tố
Trang 31tụng, quyết định hoãn phiên tòa trong trường hợp không có người thay thế; hỏi các đương sự về việc thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu và xử lý việc thay đổi này, nếu đương sự rút toàn bộ yêu cầu thì đình chỉ giải quyết vụ án Nếu các đương sự không rút toàn bộ yêu cầu, HĐXX thực hiện hỏi các đương sự
có thỏa thuận với nhau được về việc giải quyết toàn bộ vụ án hay không, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Trường hợp, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ
án, thì kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa và chuyển sang thủ tục hỏi
- Thủ tục hỏi:
Đối với mô hình tố tụng xét hỏi, thủ tục hỏi là một thủ tục độc lập tại phiên tòa sơ thẩm bao gồm các hoạt động: Trình bày của đương sự và hỏi Sau khi thực hiện xong thủ tục bắt đầu phiên tòa, HĐXX sẽ điều hành phần trình bày nội dung vụ án của các đương sự Về thứ tự trình bày, thì tùy theo pháp luật của mỗi nước quy định thứ tự khác nhau Về nguyên tắc, nguyên đơn là người đưa ra yêu cầu, là căn cứ làm phát sinh quá trình tố tụng, nên nguyên đơn phải trình bày đầu tiên, sau đó đến bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng phiên tòa, pháp luật tố tụng của nhiều nước quy định để người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày thay cho đương sự, đương sự có quyền bổ sung ý kiến
Hoạt động hỏi được tiến hành sau khi các đương sự đã trình bày xong
về nội dung của vụ án Việc hỏi được thực đối với từng người và hỏi theo từng vấn đề Thứ tự hỏi được xác định như sau: Các thành viên HĐXX hỏi trước, rồi đến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương
sự, Kiểm sát viên (nếu có), người tham gia tố tụng khác
Đối với mô hình tố tụng tranh tụng, hỏi không được xác định là một thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm, mà chỉ quy định về việc người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, đương sự được quyền hỏi những người tham gia tố tụng
Trang 32khác để làm rõ các tình tiết, chứng cứ mà họ đưa ra trong quá trình họ trình bày yêu cầu của mình hoặc tranh tụng Thẩm phán không được quyền hỏi những người tham gia tố tụng để làm rõ nội dung của vụ án
- Thủ tục tranh tụng hoặc tranh luận:
Thủ tục tranh tụng được áp dụng đối với mô hình tố tụng tranh tụng Tại phiên tòa sơ thẩm dân sự được bắt đầu sau khi Luật sư các bên tuyên bố
về nội dung vụ kiện và xác nhận tư cách tham gia tố tụng Luật sư của nguyên đơn trình bày trước Tòa án về ý kiến của họ và chứng minh sự việc bằng các chứng cứ, tài liệu và người làm chứng Luật sư của nguyên đơn sẽ hỏi người làm chứng Các chứng cứ, người làm chứng của nguyên đơn có thể bị kiểm tra hoặc đối chất với Luật sư của bị đơn Khi Luật sư của nguyên đơn trình bày xong, Luật sư của bị đơn cũng đưa ra các quan điểm của mình cùng với chứng cứ tài liệu, người làm chứng Những người làm chứng này sẽ trả lời các câu hỏi của Luật sư bên bị đơn, trả lời các câu hỏi đối chất của Luật sư bên nguyên đơn Sau đó, bên nguyên đơn đưa ra kết luận của mình và bên bị đơn cũng đưa ra kết luận để kết thúc phần tranh tụng Trong quá trình tranh tụng của các bên, Thẩm phán có quyền bác bỏ yêu cầu của Luật sư hoặc buộc người làm chứng phải trả lời các câu hỏi của Luật sư của các bên nếu câu hỏi
đó được chấp nhận
Thủ tục tranh luận được áp dụng đối với mô hình tố tụng xét hỏi Thủ tục tranh luận được thực hiện sau khi kết thúc thủ tục hỏi Trình tự phát biểu khi tranh luận: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu trước, nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu ý kiến, bị đơn có quyền bổ sung ý kiến Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền và nghĩa vụ liên quan phát biểu, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến
- Thủ tục nghị án và tuyên án:
Thủ tục nghị án được thực hiện sau khi kết thúc thủ tục tranh tụng (hoặc tranh luận) Thủ tục nghị án được thực hiện tại phòng nghị án và chỉ có
Trang 33sự tham gia của các thành viên HĐXX Các thành viên HĐXX thảo luận về các vấn đề: Quan hệ pháp luật cần phải giải quyết; xác định đối tượng chứng minh, đánh giá giá trị chứng minh của các chứng cứ; chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc bác yêu cầu khởi kiện; xác định quyền và nghĩa vụ của các đương sự Sau khi thảo luận, HĐXX tiến hành biểu quyết theo đa số đối với từng vấn đề Việc nghị án phải được lập thành biên bản nghị án có chữ ký của tất cả các thành viên HĐXX Sau nghị biểu quyết xong, HĐXX thông qua bản án, quyết định
Sau khi nghị án xong, HĐXX trở lại phòng xét xử để tuyên án Một thành viên HĐXX đọc toàn bộ nội dung bản án, quyết định cho mọi người trong phòng xử án cùng nghe Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phiên tòa
1.4 Cơ sở của việc xây dựng quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
1.4.1 Đảm bảo thực hiện tố quyền dân sự
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người không chỉ dừng lại
ở việc nhà nước quy định các quyền của con người mà cần phải có các phương tiện để bảo vệ các quyền này Trong mỗi quan hệ pháp luật khác nhau
sẽ có các biện pháp khác nhau để bảo vệ quyền của con người Trong quan hệ dân sự, để bảo vệ quyền lợi của mình các chủ thể có thể tự mình bảo vệ hoặc yêu cầu nhà nước bảo vệ Nhà nước ở đây là các cơ quan nhà nước, trong đó
có Tòa án Khi một chủ thể khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình và đủ các điều kiện do pháp luật quy định thì Tòa
án phải thụ lý vụ việc để giải quyết Quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bảo
vệ quyền lợi được gọi là “tố quyền”
Một số nhà nghiên cứu về tố tụng của Pháp cho rằng tố quyền là khả năng được thừa nhận đối với cá nhân được yêu cầu sự can thiệp của công lý
để đạt được sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng của mình Theo
Từ điển thuật ngữ luật học của Pháp thì tố quyền trước công lý là khả năng
Trang 34được thừa nhận đối với các chủ thể được cầu viện tới công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng [63]
Theo Điều 30 BLTTDS mới của Pháp thì thuật ngữ “action” - “tố quyền” được dịch là quyền tham gia tố tụng, theo đó “Quyền tham gia tố tụng” đối với người có yêu cầu là quyền được trình bày về nội dung yêu cầu của mình để thẩm phán quyết định xem yêu cầu như vậy là có căn cứ hay không có căn cứ; đối với bên bị kiện quyền tham gia tố tụng là quyền được tranh luận về căn cứ của yêu cầu do bên kia đưa ra [63]
Theo nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh thì “Tố quyền tức là có quyền đi kiện” Tố quyền đối vật, mục đích nhằm một vật gì, động sản hay bất động sản Tố quyền đối nhân, nhằm vào một công việc phải làm, liên quan đến một người hay một trái vụ Tố quyền hỗn hợp vừa có tính cách đối vật, vừa có tính cách đối nhân [63]
Theo tác giả Nguyễn Huy Đẩu, tố quyền dân sự (action en justice) là quyền đi kiện, quyền đưa một vụ việc dân sự ra tòa xin phân xử, là một phương tiện mạnh mẽ và thường được sử dụng nhất để người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình [3, tr35]
Tố quyền có thể được định nghĩa như một phương thức mà pháp luật cho phép mỗi người dân cầu viện đến công lý xin xác nhận hay che chở quyền lợi của mình
Từ định nghĩa này có thể phân tích: [3, tr36]
- Tố quyền của luật pháp ban cho là quyền kêu gọi đến cơ quan tư pháp (Tòa án) Tố quyền khác với quyền yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước giải quyết vụ việc Cơ quan hành chính nhà nước không có thẩm quyền xét xử
- Tố quyền là quyền tự do khởi kiện Khi có quyền lợi bị xâm phạm, người dân có quyền lựa chọn đưa hoặc không đưa vụ việc ra Tòa yêu cầu phân xử
- Tố quyền như là một chế tài trong quan hệ dân sự, vì sự can thiệp của Tòa án có hiệu lực làm quyền lợi được củng cố và tôn trọng
Trang 35Tố quyền khác với đơn khởi kiện Nhiều người đồng nghĩa tố quyền với đơn khởi kiện, nhưng về bản chất tố quyền khác với đơn khởi kiện Tố quyền là một quyền pháp luật quy định cho công dân có quyền sử dụng nó như là một phương thức để bảo vệ quyền và ích hợp pháp của mình Trong khi đơn khởi kiện chỉ là một hành vi cụ thể thể hiện tố quyền, “người ta hành
sử tố quyền bằng một đơn khởi kiện” [3, tr39]
Tố quyền khác với quyền lợi Khi nghiên cứu về mối liên hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng, giáo sư N FRICERO cho rằng mối liên hệ giữa tố quyền và quyền lợi (quyền chủ quan) là không thể phủ nhận: Quyền lợi (quyền chủ quan) là đối tượng của tố quyền, và học lý phân loại các tố quyền căn cứ vào đối tượng này: tố quyền động sản có đối tượng là một quyền lợi động sản, tố quyền bất động sản là một quyền lợi bất động sản; tố quyền đối nhân dùng cho một quyền lợi đối nhân, tố quyền đối vật dùng cho một quyền lợi đối vật, tố quyền hỗn hợp liên quan tới một quyền lợi đối nhân và một quyền lợi đối vật được sinh ra từ cùng một hành vi pháp lý Như vậy, quyền lợi gắn với quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động chính là đối tượng của quyền khởi kiện và là cơ sở của quyền này [63] Tác giả Nguyễn Huy Đẩu cũng cho rằng “quyền lợi chủ quan là yếu tố căn bản, thường dùng làm căn nguyên cho tố quyền; có tố quyền thì tất nhiên phải có quyền lợi, nhưng ngược lại có khi có quyền lợi mà không có hoặc chưa có tố quyền” [3, tr41]
Từ sự phân tích trên, có thể khẳng định: Tố quyền dân sự là quyền pháp luật quy định cho phép một người yêu cầu cơ quan tư pháp (Tòa án) bảo vệ quyền lợi (chủ quan) trong quan hệ dân sự Quyền lợi là cơ sở phát sinh tố quyền Khi quyền lợi bị xâm phạm, người đó có thể lựa chọn sử dụng hoặc không sử dụng tố quyền Đơn khởi kiện là phương thức biểu thị của tố quyền
Điều kiện để một người thực hiện tố quyền dân sự bao gồm: Người đó
có quyền lợi bị xâm phạm, có tư cách tham gia quan hệ pháp luật tố tụng và năng lực tố tụng dân sự [3, tr42]
Trang 36Khi phát sinh tố quyền dân sự thì cần phải có một cơ chế để đảm bảo thực hiện tố quyền Tức là Nhà nước phải đưa quy định về thủ tục tố tụng dân
sự giải quyết đơn khởi kiện tại Tòa án, trong đó bao gồm các quy định cụ thể
từ quyền khởi kiện; quyền và nghĩa vụ tham gia các hoạt động trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án của chủ thể thực hiện tố quyền và các chủ thể có liên quan; quy định về trình tự Tòa án thực hiện các hoạt động để đưa ra phán quyết giải quyết tranh chấp Trong đó, phiên tòa sơ thẩm dân sự là khâu quan trọng nhất, kết quả của phiên tòa là quyết định của Tòa án về việc giải quyết
vụ án Thủ tục phiên tòa sơ thẩm phù hợp sẽ giúp tòa án đưa ra phán quyết chính xác, đảm bảo việc thực hiện tố quyền dân sự của người dân
Như vậy, đảm bảo tố quyền dân sự là cơ sở để xây dựng quy định về thủ tục tố tụng dân sự nói chung và thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự nói riêng
1.4.2 Đảm bảo trật tự công trong tố tụng dân sự
Trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng dân sự giải quyết tranh chấp dân sự, một trật tự công phải được thiết lập Trật tự công ở đây được hiểu là thứ tự thực hiện các hoạt động, các giai đoạn trong tố tụng dân sự, cũng như vị trí, quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Trong đó, cần thiết phải tổ chức một phiên gặp mặt, mà ở đó có
sự tham gia đầy đủ người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Đây sẽ là nơi để xác định rõ nhất, quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, cũng như giới hạn hợp lý quyền của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để đảm bảo sự suôn sẻ của quá trình tố tụng, cũng như đảm bảo được hiệu quả của quá trình tố tụng
Việc xây dựng các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự nhằm đặt ra một trình tự tố tụng thống nhất trong phạm vi một quốc gia, buộc tất cả những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải tuân theo Đồng thời, các quy định này sẽ xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, từ đó hạn chế tối đa việc
Trang 37Thẩm phán lợi dụng chức vụ của mình sách nhiễu người dân, hoặc cố tình làm sai lệch nội dung vụ án để trục lợi cá nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng như quyền bình đẳng của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm
Như vậy, đảm bảo trật tự công trong tố tụng dân sự là một trong những
cơ sở để xây dựng các quy định về thủ tục tố tụng dân sự nói chung và thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự nói riêng
1.5 Pháp luật của một số nước về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
1.5.1 Pháp luật Mỹ về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
Phiên tòa sơ thẩm dân sự tại Mỹ thường được tiến hành bởi một Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Bồi thẩm đoàn Tuy nhiên các đương sự có thể thỏa thuận với nhau và đề nghị với Tòa án không cần có Bồi thẩm đoàn tham gia
vụ án với lý do đưa ra là nội dung vụ án quá phức tạp, Bồi thẩm đoàn không thể đảm đương được việc đưa ra phán quyết giải quyết vụ án Trường hợp này, phiên tòa sơ thẩm dân sự chỉ do một Thẩm phán tiến hành
Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự như sau:
Sau khi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa và lựa chọn Bồi thẩm đoàn, Luật sư của nguyên đơn bắt đầu bằng việc đưa ra một tuyên bố về vụ kiện Tiếp đó, Luật sư của bị đơn cũng đưa ra một tuyên
bố để xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ kiện của bị đơn Sau đó Luật
sư của nguyên đơn bắt đầu trình bày trước Tòa án về ý kiến của họ và xuất trình chứng cứ (tài liệu, nhân chứng) để chứng minh cho yêu cầu của mình Các nhân chứng của bên nguyên trong khi trình bày lời làm chứng của mình trước Tòa án về những tình tiết mà mình biết được về vụ án, họ có thể bị chất vấn bởi câu hỏi của Luật sư phía bị đơn [38, tr23]
Khi Luật sư của bên nguyên đơn trình bày xong quan điểm của nguyên đơn, Luật sư của bên bị đơn cũng đưa ra kiến nghị về một phán quyết bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn, nếu Thẩm phán chấp nhận thì nguyên đơn sẽ thua kiện Nếu Thẩm phán không chấp nhận, thì Luật sư của bên bị đơn sẽ trình bày quan điểm của bị đơn bằng các chứng cứ (tài liệu, nhân chứng) Các nhân chứng của bên bị đơn trong khi trình bày lời làm chứng của mình trước Tòa
Trang 38án về những tình tiết mà mình biết được về vụ án, họ có thể bị chất vấn bởi câu hỏi của Luật sư phía bên nguyên đơn
Sau phần trình bày của bị đơn, nguyên đơn có thể đưa ra những bằng chứng bác bỏ, nhằm mục đích bác bỏ các bằng chứng của bị đơn Luật sư của bên bị có thể trình bày những bằng chứng để phản bác lại những bằng chứng bác bỏ của bên nguyên Hình thức “bác bỏ và phản bác” này có thể được tiếp tục cho tới tận khi không còn bằng chứng nào cả
Sau khi tất cả các bằng chứng đã được trình lên, các Luật sư sẽ đưa ra những lập luận kết thúc, hoặc phần tổng kết cho Bồi thẩm đoàn Luật sư của bên nguyên sẽ nói cả trước và sau Điều đó có nghĩa Luật sư này sẽ vừa mở đầu vừa kết thúc phần lập luận, còn Luật sư của bên bị sẽ tranh luận chen ngang Các lập luận nhất thiết phải dựa trên các sự việc thực tế được chứng minh bởi bằng chứng và được trình lên trong phiên tòa
Sau khi các Luật sư của mỗi bên trình bày xong quan điểm của mình, thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ hướng dẫn cho Bồi thẩm đoàn những quy định của pháp luật về giải quyết vụ án Sau khi hướng dẫn các quy định của pháp luật, Bồi thẩm đoàn sẽ tiến hành nghị án tại phòng nghị án Việc nghị án được tiến hành bằng hình thức thảo luận và biểu quyết theo đa số Sau nghị
án, Bồi thẩm đoàn sẽ trình kết quả cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Sau khi nhận được kết quả nghị án của Bồi thẩm đoàn, Thẩm phán sẽ công bố kết quả nghị án của Bồi thẩm đoàn và ra một bản án trên cơ sở phù hợp với kết quả nghị án của Bồi thẩm đoàn Nếu quan điểm giải quyết vụ án của Thẩm phán trái với quan điểm của Bồi thẩm đoàn thì Thẩm phán có thể hủy bỏ phán quyết của Bồi thẩm đoàn nếu cho rằng phán quyết của Bồi thẩm đoàn là trái pháp luật hoặc chưa đủ chứng cứ để giải quyết vụ kiện như phán quyết của Bồi thẩm đoàn [38, tr24]
Thủ tục phiên tòa sơ thẩm của Mỹ là điển hình của mô hình tố tụng tranh tụng với hai đặc trưng lớn: Việc xét xử sơ thẩm có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn và hoạt động trọng tâm tại phiên tòa sơ thẩm là hoạt động tranh tụng giữa Luật sư của các bên, Tòa án sẽ đưa ra phán quyết dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa
Trang 391.5.2 Pháp luật Pháp về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
Thủ tục tố tụng dân sự của Pháp thuộc mô hình tranh tụng xét hỏi Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng dân sự và tại phiên tòa sơ thẩm dân sự là rất lớn, Thẩm phán sẽ tiến hành thu thập đầy đủ các chứng cứ viết và đưa vào hồ
sơ vụ án trước khi mở phiên tòa BLTTDS Pháp quy định một mục riêng gồm
28 điều quy định về hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ của Tòa án [10] và
có rất nhiều quy định về việc đánh giá chứng cứ và giải quyết tranh chấp về
“chứng thư” Trong tố tụng dân sự của Pháp, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trước khi mở phiên tòa là hoạt động trọng tâm, là căn cứ để Tòa án đưa ra phán quyết Phạm vi quyền lực của Thẩm phán là rất lớn “trong khi các bên có rất ít quyền trong các biện pháp thu thập chứng cứ dành cho họ mà không chịu sự can thiệp của Thẩm phán” [38, tr98]
Do thủ tục tố tụng dân sự của Pháp nặng về điều tra, thủ tục xét hỏi đã được các Thẩm phán thực hiện từ trước khi mở phiên tòa, trong giai đoạn điều tra, vì vậy quy định của BLTTDS Pháp về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự chỉ bao gồm: Tranh luận, nghị án và tuyên án [10, tr102] Những người tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự gồm HĐXX (là các Thẩm phán, số lượng Thẩm phán tuân thủ quy định của Luật Tổ chức Tòa án) và Viện Công tố
Hoạt động tranh luận được tiến hành công khai tại phòng xử án hoặc tiến hành kín tại phòng Hội đồng (nếu việc tranh luận công khai xâm phạm đến bí mật đời tư, hoặc khi tất cả các đương sự yêu cầu, hoặc khi xuất hiện những lộn xộn làm ảnh hưởng đến sự trang nghiêm của Tòa án) Chủ tọa phiên tòa điều khiển phần tranh luận, cho phép nguyên đơn, bị đơn lần lượt trình bày yêu cầu của mình Khi xét thấy sự việc đã rõ, chủ tọa phiên tòa cho ngừng lời biện hộ trực tiếp hoặc thông qua Luật sư Chủ tọa phiên tòa và các Thẩm phán có thể yêu cầu các bên đương sự giải thích những điểm cần thiết
về mặt pháp lý hoặc về sự việc nếu xét thấy cần thiết, hoặc yêu cầu nói rõ thêm về những điểm còn chưa rõ Viện công tố sẽ phát biểu cuối cùng trước khi kết thức phần tranh luận [10, tr105] Việc tranh luận về sự thật trước tòa hầu như tập trung hoàn toàn vào việc giải thích các giấy tờ mà từng bên căn
cứ vào [38, tr97] Chứ không có việc phản bác hay đấu tranh như mô hình tố
Trang 40tụng tranh tụng Những tuyên bố của các bên (nếu không phải là sự thừa nhận) trong bất kỳ trường hợp nào không được coi là chứng cứ Chúng chỉ đơn thuần “soi sáng” cho Thẩm phán trong việc tìm ra các kết luận của mình, nhưng nếu xét riêng, thì không phải là căn cứ để giải quyết vụ án Như vậy, thủ tục tranh luận không phải là thủ tục có ý nghĩa quyết định để Tòa án ra phán quyết Thủ tục này giúp Thẩm phán xác nhận lại giá trị của các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đây mới là căn cứ để Thẩm phán đưa ra phán quyết giải quyết vụ án dân sự
Thủ tục nghị án được tiến hành bí mật, các thành viên HĐXX thảo luận
về việc đưa ra phán quyết giải quyết vụ án và biểu quyết theo đa số [10, tr106]
Thủ tục tuyên án có thể thực hiện ngay sau khi nghị án hoặc vào một ngày khác do HĐXX quyết định Một thành viên HĐXX đọc bản án công khai tại phòng xét xử có mặt các đương sự trong vụ án Có thể đọc toàn văn bản án hoạc chỉ cần tuyên đọc phần quyết định trong bản án Việc tuyên án không nhất thiết phải có mặt đầy đủ các thành viên HĐXX và Viện công tố [10, tr107]
1.5.3 Pháp luật Liên bang Nga về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
Thủ tục tố tụng dân sự của Liêng bang Nga là điển hình của mô hình xét hỏi Người tiến hành tố tụng bao gồm một Thẩm phán hoặc HĐXX (bao gồm 03 Thẩm phán, không có Hội thẩm nhân dân) và Kiểm sát viên
Quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm trong BLTTDS Liên bang Nga không chia thành các mục riêng cho từng thủ tục mà chỉ liệt kê các điều luật Nhưng qua nghiên cứu, tác giả tạm chia thành các thủ tục gồm: Bắt đầu phiên tòa, xét hỏi và nghiên cứu chứng cứ, tranh luận, nghị án và tuyên án
Thủ tục bắt đầu phiên tòa: Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và tuyên bố về vụ án được đưa ra xét xử Sau khi khai mạc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa thực hiện các hoạt động theo trình tự sau: Kiểm tra sự có mặt của người tham gia tố tụng tại Tòa án và giải quyết hậu quả của trường hợp vắng mặt; Giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch; Cách ly người làm chứng; Thông báo thành phần HĐXX, giải thích quyền được yêu cầu thay đổi