1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn xây dựng chính sách tôn giáo của đảng cộng sản việt nam

27 347 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 177 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cả 54 dân tộcanh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành một truyền thốngtốt đẹp từ ngàn xưa, đó là xây dựng cuộc sống đan xen, hoà bình, trong đó mỗidân tộc đều có tín ngư

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU:

Chúng ta, đang sống trong những năm tháng mà tôn giáo đặt ra hàng loạt những vấn đề khó khăn, phức tạp cho mỗi dân tộc, và trên toàn thế giới Nhiều nơi, tôn giáo đã dẫn tới xung đột đẫm máu Xung đột tôn giáo ngày càng khoét sâu thành kiến và thù hanạ giữa các dân tộc và các cộng đồng

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo Trong đó có 6 tôn giáo lớn là Thiên chúa giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Tin Lành, Hồi giáo với hàng chục triệu tín đồ Phật giáo và Thiên chúa giáo là hai tôn giáo lớn nhất ở nước ta đều

du nhập từ ngoài vào, đã ít nhiều chịu ảnh hưởng phong tục, tập quán và bản sắc văn hoá Việt Nam.

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đời sống nhân dân Đánh giá được tầm quan trọng của công tác tôn giáo Đảng và Nhà nước ta chủ trương, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng tự do, tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo Dựa trên nguyện vọng chính đáng của nhân dân, điều đó củng cố niềm tin trong nhân dân, tạo sự phấn khởi trong đồng bào tôn giáo Hiện nay xu thế toàn cầu hoá đang có những tác động mạnh mẽ đến các quốc gia, dân tộc Việt Nam không nằm ngoài guồng quay đó Những tác động xu thế toàn cầu hoá đến kinh tế, chính trị đất nước đang ngày càng phức tạp Tôn giáo là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm Kẻ thù đang lợi dụng tôn giáo để từng bước phá hoại công cuộc xây dựng đất nước, chia rẽ dân tộc, gây mất ổn định xã hội Vì vậy việc tìm hiểu chính sách tôn giáo của Đảng là rất cần thiết Để thấy được đúng đắn tỏng việc giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo

phần 1: MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một nước đa tín ngưỡng, tôn giáo với khoảng hơn 20 triệu tín đồtheo các tôn giáo khác nhau Từ xưa đến nay, các tín ngưỡng, tôn giáo luônchung sống hoà hợp, gắn bó với dân tộc Trong quá trình dựng nước và giữnước, các dân tộc đã kề vai, đoàn kết bên nhau đấu tranh giành độc lập dân tộc,tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cả 54 dân tộcanh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành một truyền thốngtốt đẹp từ ngàn xưa, đó là xây dựng cuộc sống đan xen, hoà bình, trong đó mỗidân tộc đều có tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán và văn hoá khác nhaugóp phần tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam

Trang 2

Đảng và Nhà nước ta hiểu rõ nhu cầu tâm linh của nhân dân Việt Nam bởi lẽ,hầu hết nhân dân Việt Nam không những có tín ngưỡng truyền thống thờ cúng

tổ tiên, thờ các vị thành hoàng, những vị đã có công xây dựng quê hương, đấtnước…mà không ít người là tín đồ các tôn giáo Bản tính của người Việt Nam

là khoan dung, cởi mở Do vậy, dù là tôn giáo nào, tín ngưỡng nào, từ đâu đếnthì cộng đồng cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là nó không xâm phạm đến lợi íchquốc gia và đi ngược lại truyền thống văn hoá dân tộc.vi vậy Tín ngưỡng, tôngiáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đời sống nhân dân Đánh giá đượctầm quan trọng của công tác tôn giáo Đảng và Nhà nước ta chủ trương, thựchiện nhất quán chính sách tôn trọng tự do, tín ngưỡng tôn giáo và không tínngưỡng tôn giáo Dựa trên nguyện vọng chính đáng của nhân dân, điều đó củng

cố niềm tin trong nhân dân, tạo sự phấn khởi trong đồng bào tôn giáo Hiện nay

xu thế toàn cầu hoá đang có những tác động mạnh mẽ đến các quốc gia, dântộc Việt Nam không nằm ngoài guồng quay đó Những tác động xu thế toàncầu hoá đến kinh tế, chính trị đất nước đang ngày càng phức tạp Tôn giáo làlĩnh vực đặc biệt nhạy cảm Kẻ thù đang lợi dụng tôn giáo để từng bước pháhoại công cuộc xây dựng đất nước, chia rẽ dân tộc, gây mất ổn định xã hội Vìvậy việc tìm hiểu chính sách tôn giáo của Đảng là rất cần thiết Để thấy đượcđúng đắn tỏng việc giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo

1.2 Những lí thuyết sử dụng trong đề tài

1.2.1.Quan điểm Macxit về tôn giáo

- Từ khái niệm, bản chất về tôn giáotôn giáo là một hình thức xã hội dặcbiệt vừa là một thực tế xã hội,tôn giáo vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực

- Từ nguồn gốc ra đời của tôn giáo : Nguồn gốc kinh tế xã hội, nguồngôc nhận thức, nguồn gốc tâm lí tình cảm

- Từ tính chất của tôn giáo: Tính lịch sử, tính quần chúng, tính xã hội,tính chính trị

- Từ phương pháp giải quyết vấn đề về tôn giáo của chủ nghĩa Mác-Lê

Trong đó trước hết dựa vào thái độ của những người mác xít đối vớitôn giáo đó là vấn đề tôn giáo phải được đặt ra và giải quyết trên cơ sở của thếgiới quan duy vật CNMLN phê phán các mưu toan tuyên chiến với tôn giáo,bạo lực, nóng vội trong giải quyết các vấn đề về tôn giáo, dùng chính sách đàn

áp đối với tôn giáo

Dựa trên những bài học kinh nghiệm của chủ nghĩa Mác - Lênintrong giải quyết vấn đề về tôn giáo không thể thuần tuý về tư tưởng trong giảiquyết vấn đề về tôn giáo) Không tả khuynh hoặc đồng nhất tôn giáo với kẻ thùcủa CNXH Không hữu khuynh coi tôn giáo chỉ là nhận thức chưa đầy đủ củanhân dân, cứ xây dựng thành công CNXH thì tự nhiên tôn giáo sẽ tiêu vong

Dựa trên những vấn đề mang tính nguyên tắc của chủ nghĩa Mác Lênin: Khắc phục dần những tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trìnhcải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới Tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do

Trang 3

-không tín ngưỡng của nhân dân cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giảiquyết các vấn đề về tôn giáo cần phân biệt hai mặt nhu cầu tự do tín ngưỡng vàlợi dụng TGTN.

1.2.2.Chức năng của tôn giáo

Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó

có nguồn gốc từ những sự hạn chế của các mối quan hệ giữa con người với tựnhiên và đối với nhau Sự bất lực trước những sức mạnh tự nhiên cũng như xãhội đã nảy sinh nhu cầu đền bù cho những hạn chế đó Vì vậy, tôn giáo có khánhiều chức năng xã hội Đó là:

- Chức năng hư ảo

Luận điểm nổi tiếng của C Mác: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” đãlàm nổi bật chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo Giống như thuốc phiện, tôngiáo đã tạo ra cái vẻ bề ngoài của “sự giảm nhẹ” tạm thời những nỗi đau khổcủa con người, an ủi cho những sự mất mát, thiếu hụt của con người trong cuộcsống

Chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức năng chủ yếu, đặc thù mà còn làchức năng phổ biến của tôn giáo Ở đâu có tôn giáo ở đó có chức năng đền bù

hư ảo

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó không chỉ thực hiện một chứcnăng mà gồm một hệ thống chức năng xã hội Mặc dù là chức năng chủ yếunhưng chức năng đền bù hư ảo không thể tách rời các chức năng khác của tôngiáo

+ chức năng thế giới quan

Khi phản ánh một cách hư ảo hiện thực, tôn giáo có tham vọng tạo ra một bứctranh của mình về thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con ngườidưới một hình thức phi hiện thực Bức tranh tôn giáo ấy bao gồm hai bộ phận:thế giới thần thánh và thế giới trần tục và trên cơ sở đó mà tôn giáo giải thíchcác vấn đề của tự nhiên cũng như xã hội Sự lý giải của tôn giáo về thế giớinhằm hướng con người tới cái siêu nhiên , thần thánh, do đó nó đã xem nhẹ đờisống hiện thực Quan niệm này có thể tác động tiêu cực đến ý thức giáo dân,đến thái độ của họ đối với xung quanh

+ chức năng điều chỉnh

Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực, những giá trị nhằm điều chỉnhhành của những con người có đạo Những hành vi được điều chỉnh ở đây khôngchỉ là những hành vi trong thờ cúng mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngàytrong gia đình cũng như ngoài xã hội của giáo dân Vì vậy, hệ thống chuẩn

Trang 4

mực, giá trị trong lý thuyết đạo đức và xã hội mà tôn giáo tạo ra đã ảnh hưởngquan trọng đến mọi hoạt động của con người Tất nhiên ở đây chúng ta cần phảichú ý rằng những chuẩn mực, giá trị tôn giáo đã bị tước bỏ khá nhiều những đặctrưng khách quan và phụ thuộc vào những giá trị siêu nhiên, hư ảo.

+ chức năng giao tiếp

Chức năng giao tiếp của tôn giáo thể hiện khả năng liên hệ giữa những người cóchung một tín ngưỡng Sự liên hệ (giao tiếp) được thực hiện chủ yếu trong hoạtđộng thờ cúng, sự giao tiếp với thánh thần được coi là sự giao tiếp tối cao.Ngoài mối liên hệ giao tiếp trong quá trình thờ cúng, giữa các giáo dân còn có

sự giao tiếp ngoài tôn giáo như liên hệ kinh tế, liên hệ cuộc sống hàng ngày,liên hệ trong gia đình Những mối liên hệ ngoài tôn giáo có thể lại củng cố,tăng cường các mối liên hệ tôn giáo của họ

+ chức năng liên kết

Trong các xã hội trước đây, tôn giáo với tư cách là bộ phận tất yếu trong cấutrúc thượng tầng đã đóng vai trò quan trọng của nhân tố liên kết xã hội, nghĩa lànhân tố làm ổn định những trật tự xã hội đang tồn tại, dựa trên những hệ thốnggiá trị và chuẩn mực chung của xã hội Tuy nhiên không nên quan niệm mộtcách sai lầm rằng tôn giáo bao giờ cũng là nhân tố liên kết xã hội chủ yếu, bảođảm sự thống nhất của xã hội Sự thống nhất của xã hội trước hết được bảo đảmbởi hệ thống sản xuất vật chất xã hội chú không phải bằng cộng đồng tínngưỡng Hơn nữa trong những điều kiện xã hội nhất định, tôn giáo có thể biểuhiện như là ngọn cờ tư tưởng của sự chống đối lại xã hội, chống lại chế độ phảntiến bộ đương thời

Trên đây là hệ thống chức năng của tôn giáo, trong đó mỗi chức năng lại hàmchứa các chức năng khác

1.2.3.Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo quanđiểm mácxít về tín ngưỡng, tôn giáo trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam nhằmthực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh Tư tưởng này được xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ đặc điểm vănhóa Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, các tín ngưỡng, tôn giáo

có lịch sử hình thành, phát triển và có đặc điểm riêng, với xu hướng hòa đồng,tồn tại đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau

Trang 5

Tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo quan điểmmácxít về tín ngưỡng, tôn giáo trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam nhằm thựchiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh Tư tưởng này được xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ đặc điểm văn hóaViệt Nam - một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, các tín ngưỡng, tôn giáo cólịch sử hình thành, phát triển và có đặc điểm riêng, với xu hướng hòa đồng, tồntại đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau.

Ở Việt Nam không có xung đột, chiến tranh tôn giáo Theo Chủ tịch Hồ ChíMinh, trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo nên hệgiá trị truyền thống vô cùng quý báu, trong đó yêu nước là giá trị hàng đầu.Trong lịch sử dân tộc đã từng có sự đồng điệu giữa đức tin tôn giáo và lòng yêunước, Trần Nhân Tông vừa là ông vua yêu nước có công lãnh đạo quân dân tahai lần đánh thắng quân Nguyên, vừa là nhà thiền học tiêu biểu của thiền pháiTrúc Lâm Sự đồng điệu ấy đã góp phần to lớn tạo nên sức mạnh đại đoàn kếtdân tộc trong suốt cuộc đấu tranh giữ nước và dựng nước Kế thừa truyền thống

ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, lòng yêu nước và đức tin tôn giáokhông có gì mâu thuẫn, trái lại còn gắn bó chặt chẽ với nhau Một người dùtheo tôn giáo nào thì trước hết người đó phải là công dân, có nghĩa vụ với dântộc, đất nước

Như vậy, đặc điểm văn hóa dân tộc nói chung, truyền thống yêu nước nói riêng

là cơ sở thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách tôn giáo.

Kế thừa quan điểm mácxít về tôn giáo trong việc xử lý các vấn đề tôn giáo rằng

"tuyên chiến ầm ĩ với tôn giáo là dại dột" Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có thái

độ mềm dẻo, biện pháp khôn khéo, hợp tình hợp lý trong việc giải quyết cácvấn đề tôn giáo ở nước ta

Trên cơ sở tư tưởng về chính sách tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những quan điểm, giải pháp đúng đắn để thực hiện thành công vấn đề đoàn kết các tôn giáo mà trọng tâm là đoàn kết Lương - Giáo.

Đoàn kết là một nội dung cơ bản, bao trùm, có ý nghĩa quyết định thành côngcủa sự nghiệp cách mạng Việt Nam Đối với tôn giáo thì sự chân tình và bềnvững như là một điều kiện tiên quyết để thực hiện đoàn kết Người nhấn mạnhrằng: "Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài Đoàn kết là mộtchính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị Ta đoàn kết để đấutranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta phải đoàn kết để xây dựng nướcnhà Ai có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân thì tađoàn kết với họ" Đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiếnlược đại đoàn kết toàn dân của Chủ tịch HồChí Minh

Trang 6

Để thực hiện đoàn kết tôn giáo, Người đã tìm ra cơ sở khoa học, đó là sự tươngđồng giữa các tôn giáo, thể hiện ở chỗ:

- Thứ nhất, các tôn giáo chân chính xét đến cùng đều có hy vọng giải thoát conngười, mong muốn con người được sung sướng tự do, hạnh phúc Chủ tịch HồChí Minh nói: "Phật sinh ra để lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha", "Đức Giê su hysinh là vì muốn loài người được tự do, hạnh phúc" "Khổng Tử sinh ra cũng là

để giúp con người sống nhân nghĩa vì một thế giới đại đồng"

- Thứ hai, tín đồ các tôn giáo căn bản đều là những người lao động bị chế độ cũ

áp bức bóc lột Họ đều là những người yêu nước thực sự, do vậy họ là lựclượng của cách mạng, là bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dânvới tư cách là chủ thể của cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh sự tương đồng giữa các tôn giáo

mà còn tìm ra sự tương đồng giữa các tôn giáo với chủ nghĩa Mác - Lênin, chủnghĩa xã hội Người coi tôn giáo như là nơi gửi gắm nguyện vọng thiết tha củamột bộ phận quần chúng lao động mong chờ sự giải thoát khỏi áp bức, bấtcông, nghèo khổ, từ đó cổ vũ họ tham gia kháng chiến, kiến quốc Đối với cácchức sắc tôn giáo, Người luôn động viên, khơi dậy lòng yêu nước thương nòi,gìn giữ, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Như vậy, với sự sắc sảo vềchính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh cái chung, cái tương đồng của cáctôn giáo để thực hiện đoàn kết tôn giáo, các lực lượng tôn giáo vào sự nghiệpcách mạng của toàn dân tộc Nội dung tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch

Hồ Chí Minh mang tính chất toàn diện, điều đó được thể hiện cả trong kinh tế,chính trị và văn hóa, xã hội Người nói: "Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bàoLương và các đồng bào tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm

no, xây dựng Tổ quốc

Trọng tâm tư tưởng về chính sách tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vấn đềđoàn kết Lương - Giáo Cơ sở của đoàn kết Lương - Giáo theo tư tưởng Hồ ChíMinh chính là sự "đồng nhất" với nhau vì mục tiêu độc lập tự do của dân tộc.Người cho rằng, đồng bào Lương và đồng bào Giáo đều là người ViệtNam, đều

là người lao động và sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp lớn, lâu dài Vì thếLương - Giáo phải đoàn kết, toàn dân phải đoàn kết thì sự nghiệp lớn của dântộc mới giành được thành công Qua các bức thư gửi cho đồng bào các tôn giáo

và các chức sắc tôn giáo, Người luôn đề cao cái chung của mọi người, không kểLương hay Giáo, là lòng yêu nước, đó là cái căn bản Còn cái riêng, cái dị biệt

về đức tin, lối sống: Đồng bào Giáo thì có tình cảm kính Chúa, đồng bào Lươngthì ngưỡng mộ Đức Phật chỉ là sự khác biệt nhỏ, không căn bản Chúng ta cầnphải bỏ qua cái dị biệt nhỏ, giữ lại cái tương đồng lớn

Trang 7

Để thực hiện đoàn kết tôn giáo, trong đó trọng tâm là đoàn kết Lương - Giáo,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những giải pháp có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

to lớn là: Xây dựng hệ thống chính trị trong vùng có đồng bào tôn giáo, làm tốt công tác vận động với các chức sắc và tín đồ tôn giáo, tích cực đấu tranh chống bọn đế quốc, phản động lợi dụng tôn giáo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng lãnh đạo và chỉ đạo việc xây dựng vàphát huy vai trò của tổ chức Đảng các cấp, các hệ thống chính quyền, của mặttrận dân tộc thống nhất và các đoàn thể quần chúng khác ở các địa phương, nhất

là vùng có đông đồng bào theo đạo Người đặc biệt chú ý tới công tác phát triểnĐảng ở chính các tín đồ công giáo Điều này rất quan trọng trong việc tăngcường mối liên hệ giữa Đảng với đồng bào tôn giáo Khi trả lời câu hỏi "ngườicông giáo có thể vào Đảng được không?" Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Có.Người công giáo nào cũng vào được, miễn là trung thành, hăng hái làm nhiệm

vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng Nước ta kinh tế lạc hậu, kỹ thuật kém, tôn giáo

là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điều kiện hiện tại, người theo đạovẫn vào Đảng được"

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán

bộ ở các vùng đồng bào công giáo Người khẳng định: "Cán bộ là gốc của mọicông việc" và "công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém".Người chủ trương phát triển cán bộ tại chỗ là chính, để họ trở thành cán bộ "bánchuyên nghiệp" đi vận động tôn giáo Người thường căn dặn cán bộ phải thậtbền bỉ thì mới có thể giúp đồng bào tôn giáo phân biệt rõ bạn, thù

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi công tác vận động đối với các chức sắc tôn giáo

và đồng bào tôn giáo Người luôn biểu lộ sự tôn trọng, quan tâm đối với các

chức sắc tôn giáo và tìm cách tốt nhất để tranh thủ họ; song cũng có thái độ xử

sự dứt khoát, kiên quyết trừng trị những kẻ mượn tiếng đạo, làm nhục Chúa,làm hại dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến đời sống của đồng bào tôn giáo, chăm sóc cả "phần xác" và "phần hồn" Theo Người, "phần xác có no ấm thì phần hồn

mới thong dong", từ đó Người chỉ đạo Chính phủ cần có chính sách cụ thể đểcải thiện cuộc sống cho đồng bào, tích cực tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống Như vậy, thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng chủ nghĩaMác - Lênin về tôn giáo để giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nammột cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và đápứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam Tín đồ tôn giáo ở Việt Namthực hiện tư tưởng của Người về chính sách tôn giáo, đã và đang sống theophương châm: "Sống phúc âm trong lòng dân tộc", "tốt đời đẹp đạo", "đạo pháp

Trang 8

dân tộc và chủ nghĩa xã hội".

1.3 Những khái niệm sử dụng

1.3.1Một số khai niệm tôn giáo

Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rấtnhiêu Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:

- Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và conngười”

- Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vàocái siêu nhiên”

- Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhântrong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thìanh chưa bao giờ có tôn giáo”

- Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôn giáo

là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có tráitim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”

- Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôngiáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượngbên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …

Vi vầy chúng ta cần chú ý

- Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luônphải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu,thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữuhình và vô hình

- Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranhvới tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do

đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệtđối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộcđời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống Nó gieo niềm hi vọng vàocon người, dù có phần ảo tưởng để mà yên tâm, tin tưởng để sống và phải sốngtrong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải

Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tínhthiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách

hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia.Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử,

Trang 9

hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo,được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng

cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.

1.3.2 khái niệm tín ngưỡng

Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới

và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Tín ngưỡng đôi khi đượchiểu là tôn giáo Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡngmang tính đan tộc,dan gian nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức khôngchặt chẽ như tôn giáo Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tínngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôngiáo thì thường là không mang tính dân gian Tín ngưỡng không có một hệthống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ vàrời rạc Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn

giáo Cơ sở của mọi tôn giáo,tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con

người vào những cái siêu nhiên (hay nói gọn lại là "cái thiêng") - cái đối lập vớicái trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được Niềm tinvào "cái thiêng" thuộc về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại, phát triểncùng với con người và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâmlinh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội, tư tưởng, tinh thần, đời sống tình cảm

Trang 10

Để thực hiện phương hướng trên, các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cấp, các ngànhcần thống nhất nhận thức về các quan điểm và chính sách sau đây :

1- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước

ta Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thườngtheo đúng pháp luật Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bìnhđẳng trước pháp luật

2- Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôngiáo và đồng bào không theo tôn giáo Giữ gìn và phát huy những giá trị tíchcực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổquốc và nhân dân Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tínngưỡng, tôn giáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạtđộng mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhànước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninhquốc gia

3- Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần

chúng Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là

Trang 11

điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung Mọicông dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xâydựng và bảo vệ Tổ quốc.

Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu caotinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc; thôngqua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảođảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bàotôn giáo

4- Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, cáccấp, các ngành, các địa bàn Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn

bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộchuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố

và kiện toàn Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranhchống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốtcông tác vận động quần chúng

5- Vấn đề theo đạo và truyền đạo

Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháptheo quy định của pháp luật

Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật

và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chứcsắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ

tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật

Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuânthủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo,hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo Nghiêmcấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo tráiphép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật

Chương 2:Tình hình tôn giáo nước ta trong giai đoạn hiện nay 2.1 Khái quát về tình hình thực trạng tôn giáo hiện nay

2.1.1 Tình hình thực trạng

- Từ khi xuất hiện đến nay, tôn giáo luôn luôn biến động phản ánh sự biến đổi

Trang 12

của lịch sử Một tôn giáo có thể hưng thịnh, suy vong, thậm chí mất đi nhưngtôn giáo luôn luôn song hành cùng với đời sống của nhân loại Tôn giáo là mộthiện tượng xã hội sẽ còn tồn tại lâu dài.

- Về đánh giá thực trạng của tôn giáo, có nhiều ý kiến khác nhau Tựu trung lại

có ba ý kiến sau:

+ Tôn giáo đang khủng hoảng, suy tàn: những người đánh giá theo quan niệmnày cho rằng trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân sẽ được cải thiện, tôn giáo sẽ bị suythoái dưới nhiều hình thái khác nhau Họ cho rằng tôn giáo là một hiện tượng

xã hội không có tương lai

+ Tôn giáo Tây Âu suy tàn nhưng tôn giáo ở các nước khác đang phát triển:đánh giá này xuất phát từ thực tế tôn giáo ở Tây Âu Sự suy giảm biểu hiện rõnhất trong lĩnh vực thực hành tôn giáo: đi lễ và tuân thủ một số nghi lễ, niềm tingiảm sút (nhạt đạo thậm chí khô đạo) Tuy nhiên cũng có người chỉ thừa nhận

sự suy giảm ấy chỉ diễn ra ở trung tâm châu Âu Trong khi đó tôn giáo ở cácnước khác ngoài châu Âu, đặc biệt là các nước đang phát triển

+ Tôn giáo, tín ngưỡng đang phục hồi và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia,châu lục: cách đánh gia này được nhiều người thừa nhận Thực tế là trong mấythập kỷ gần đây, tín ngưỡng, tôn giáo đang phục hồi và phát triển ở nhiều quốcgia, châu lục Số lượng tín đồ hiện nay chiếm khoảng 3/4 dân số trên thế giới(có số liệu là 5/6)

sự Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn giữa các quốc gia trên thế giới vàkhu vực

- Trật tự thế giới đang xáo trộn, khó định trước: thế giới hai cực được thay bằngthế giới đơn cực do Mỹ chi phối và đang tiềm ẩn sự ra đời của trật tự thế giới đacực với các cường quốc có tiềm lực mạnh về kinh tế, chính trị và quân sự

- Khủng hoảng niềm tin vào mô hình xã hội tương lai: từ khi xã hội có giai cấp

và nạn bóc lột giai cấp, con người đã ước mơ về một xã hội bình đẳng, côngbằng, tự do và bác ái tôn giáo chính là sự phản ánh nguyện vọng ấy của nhân

Trang 13

dân dù đó là sự phản ánh một cách hư ảo Khi chủ nghĩa xã hội hiện thực xuấthiện, sự hướng về thiên đường đã chuyển sang hướng về chủ nghĩa xã hội, gópphần tạo ra sự suy giảm của tôn giáo Tuy nhiên, khi chủ nghĩa xã hội hiện thực

bị sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô trong khi chủ nghĩa tư bản không phải là lýtưởng mà con người vươn tới nên con người có thể đi tìm chỗ dựa tinh thần nơitôn giáo

- Những hậu quả tiêu cực của sự phát triển của khoa học và công nghệ mới:Cuối thế kỷ XX, nhân loại có những thành tựu kỳ diệu trên nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội Tuy nhiên sự phát triển ấy cũng để lại những hậu quả nặng nề

mà nhân loại đang phải gánh chịu Đó là sự suy thoái về môi trường, sinh tháinhư phá rừng, ô nhiễm, tầng ôzôn bị thủng, trái đất nóng dần lên bên cạnh đó

là các bệnh dịch mới xuất hiện (AIDS, SARS ) làm cho tiên tri về “nạn hồngthủy”, “ngày tận thế” lại có dịp phát triển, làm xuất hiện nhiều tôn giáo mới

2.1.3 Chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta hiện nay

Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡn

Việt Nam là một nước đa tín ngưỡng, tôn giáo với khoảng hơn 20 triệu tín đồtheo các tôn giáo khác nhau Từ xưa đến nay, các tín ngưỡng, tôn giáo luônchung sống hoà hợp, gắn bó với dân tộc Trong quá trình dựng nước và giữnước, các dân tộc đã kề vai, đoàn kết bên nhau đấu tranh giành độc lập dân tộc,tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cả 54 dân tộcanh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành một truyền thốngtốt đẹp từ ngàn xưa, đó là xây dựng cuộc sống đan xen, hoà bình, trong đó mỗidân tộc đều có tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán và văn hoá khác nhaugóp phần tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam

Đảng và Nhà nước ta hiểu rõ nhu cầu tâm linh của nhân dân Việt Nam bởi lẽ,hầu hết nhân dân Việt Nam không những có tín ngưỡng truyền thống thờ cúng

tổ tiên, thờ các vị thành hoàng, những vị đã có công xây dựng quê hương, đấtnước…mà không ít người là tín đồ các tôn giáo Bản tính của người Việt Nam

là khoan dung, cởi mở Do vậy, dù là tôn giáo nào, tín ngưỡng nào, từ đâu đếnthì cộng đồng cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là nó không xâm phạm đến lợi íchquốc gia và đi ngược lại truyền thống văn hoá dân tộc

Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng một mặt dựa trênquan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín

Ngày đăng: 22/04/2016, 11:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w