7/18/15 CHƯƠNG 3 CHỌN GIỐNG NHÃN I.MỞ ĐẦU Nhãn Dimocarpus longan Luor là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao và là một loại quả quý trong tập đoàn cây ăn quả nước ta.. Giá trị trong y
Trang 17/18/15
CHƯƠNG 3
CHỌN GIỐNG NHÃN
I.MỞ ĐẦU
Nhãn (Dimocarpus longan Luor) là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao và là một loại quả quý trong tập đoàn cây ăn quả nước ta
Quả nhãn có giá trị dinh dưỡng cao không chỉ để phục vụ mục tiêu ăn tươi mà các sản phẩm từ Long nhãn cò có tác dụng chữa bệnh rất tốt
Cây nhãn có khả năng chịu hạn, chịu úng ngập tốt,
có khả năng thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau
Quả nhãn là loại quả có giá trị dinh dưỡng cao:
Cùi nhãn khi tươi có 77,15% nước, độ tro 0,01%, chất béo 0,13%, protit 1,47%, hợp chất có nitơ tan trong nước 20,55%, đường sacaroza 12,25%, vitamin A và B
Cùi khô (long nhãn nhục) chứa 0,85% nước, chất tan trong
nước 79,77%, chất không tan trong nước 19,39%, đội tro 3,36%
Trong phần tan trong nước có glucoza 26,91%, sacaroza 0,22%, axít taetric 1,26%, chất có nitơ 6,309%
II GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY NHÃN
Nhãn tươi Long nhãn
Calories 61 286
Độ ẩm 82,4 g 17,6 g
Protein 1,0 g 4,9 g
Chất béo 0,1 g 0,4 g
Carbohydrates 15,8 g 74,0 g
Chất xơ 0,4 g 2,0 g
Calcium 10 mg 45 mg
Phosphorus 42 mg 196 mg
Sắt 1,2 mg 5,4 mg
Thiamine 0,04 mg
Ascorbic Acid 6 mg 28 mg
Thành phần dinh dưỡng trong 100g
Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
https://sites.google.com/site/lophocphank57vnua/
Trang 2Những món ăn từ nhãn
Hạt nhãn chứa tinh bột, chất béo và tanin Trong chất
béo có các axít xyclopropanoit và axít dihydrosterculic
C19H36O2 khoảng 17,4%
Hạt nhãn cạo bỏ lớp vỏ đen, thái mỏng tán bột rắc lên
những vết thương chảy máu, hoặc trộn với dầu bôi lên
nơi bị bỏng có tác dụng làm lành vết thương
Trong lá nhãn có vị nhạt, tính bình, có tác dụng chữa
cảm mạo với liều 10 - 15g dưới dạng thuốc sắc
Giá trị trong y học
Cùi nhãn khô hay long nhãn nhục (Arillus Longanae) dẻo, có
màu nâu hoặc nâu đen, được dùng làm thực phẩm đồng thời là một vị thuốc thường được dùng trong Đông y chữa các chứng bệnh hay quên, thần kinh kém, suy nhược, hay hoảng hốt, khó ngủ
Long nhãn vị ngọt, tính bình, vào 2 kinh Tâm, Tỳ Có tác dụng bổ tâm, bổ tỳ, nuôi huyết, lưu thông máu, an thần, giúp trí nhớ
Dùng chữa các chứng bệnh mất ngủ, thần kinh suy nhược
Trang 37/18/15
Cùi nhãn khô Long nhãn tươi
Nhãn làm cây bóng mát
Gỗ Nhãn làm đồ mỹ nghệ
3 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI
A.Nguồn gốc
Cây nhãn được ghi chép trong sử sách của Trung Quốc từ thì Hán Vũ Đế cách ngày nay trên 2000 năm
Hiện nay Trung Quốc là nước có diện tích lớn nhất và sản lượng vào loại hàng đầu trong các nước trồng nhãn
Ngoài Trung Quốc nhãn còn được trồng ở: Thái Lan, Ấn độ, Malaisia, Việt Nam, Pilipipine…
Đầu thế kỷ XIX nhãn mới được trồng ở một số nước Châu
Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dương trong vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới
B Phân loại:
Cây nhãn là cây nhiệt đới thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae)
Phân loại khoa học
+ Giới: Plantae
+ Ngành: Magnoliophyta
+ Lớp: Magnoliopsida
+ Bộ: Sapindales
+ Họ: Sapindaceae
+ Chi: Dimocarpus
+ Loài: D.longan
Tên khoa học: Dimocarpus longan Luor
Cây nhãn ở Phố Hiến trên trăm tuổi
Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
https://sites.google.com/site/lophocphank57vnua/
Trang 4IV TÌNH HÌNH SẢN XUẤT
A Trên thế giới
Trung Quốc là nước có diện tích nhãn lớn nhất và sản lượng vào loại hàng đầu trong các nước trồng nhãn (40.000 ha)
Thái Lan có diện tích trồng nhãn 31.855 ha với sản lượng hàng năm
87000 tấn trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc với các giống chủ yếu : Daw, chompoo,…Thái Lan có thể xuất khẩu 85 % lượng nhãn của mình
Các nước cung cấp nhãn chủ yếu cho thị trường thế giới là Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam
B Ở Việt Nam
Nhãn được trồng lâu đời nhất ở Phố Hiến – Hưng Yên Hiện
nay nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ
Vùng đất phù sa ven sông Hồng, sông Thao và miền nam
sông Tiền, sông Hậu cũng có rất nhiều nhãn và đã trở thành
những vùng hàng hoá
Trong những năm gần đây do nhu cầu quả tươi tại chỗ, cây
nhãn được phát triển mạnh ở các tỉnh phía nam: Cao Lãnh
(Đồng Tháp), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), cù lao An Bình, Đồng
Phú (Vĩnh Long) Đặc biệt ở các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre,
diện tích trồng nhãn tăng rất nhanh
Năm 2009, diện tích trồng nhãn khoảng 150 nghìn ha, sản
lượng 650 nghìn tấn
V ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC
1 Rễ
Dựa vào chức năng của rễ, với cây nhãn có thể chia làm 3 loại:
+ Rễ tơ (còn gọi là rễ hút), + Rễ quá độ
+ Rễ vận chuyển
Căn cứ vào sự phân bố của bộ rễ có thể phân:
+ Rễ cọc + Rễ ngang
Trang 57/18/15
2 Lộc cành:
Trên cây khi mầm mới nhú gọi là lộc, khi lộc phát triển
đã thành thục thì gọi là cành
Dựa vào mùa vụ phát sinh mà có thể gọi là cành xuân, cành hè, cành thu, cành đông
Khi cây còn bé các loại cành này phát triển và có thể trở thành bộ khung của cây
Còn khi cây đã có quả thì những loại cành này đều có thể trở thành cành mẹ của vụ quả năm sau
3 Thân cành:
Mầm ngọn hay mầm nách của nhãn đều có thể phát triển thành cành
Việc hình thành thân cành của nhãn có những điểm khác với cây ăn quả khác là khi cây đã ngừng sinh trưởng mầm ngọn
ở đỉnh được các lá kép rất non bọc lấy, gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi mầm ở đỉnh này kéo dài thêm
Qua các đợt lộc trong năm, cứ mỗi đợt ở phần ngọn lại được bao bọc bởi các tầng lá kép, dần dần các lá này rụng
đi để trơ ra một đoạn trống khiến chúng ta có thể dễ phân biệt được các đợt lộc cành trong năm trên đoạn cành dài từ gốc đến ngọn…
4 Lá
Lá nhãn thuộc loại kép lông chim Lá đơn mọc đối xứng hay
so le
Đại bộ phận các giống nhãn có từ 3 đến 5 đôi lá, có giống có
từ 1-2 đôi, thường gặp là 4 đôi lá, 7 đôi trở lên là hiếm thấy
Lá nhãn hình mác, mặt lá xanh đậm, lưng lá xanh nhạt,
cuống lá ngắn, gân chính vỡ gân phụ nổi rõ
Lá non màu đỏ, tím hay đỏ nâu tuỳ giống và thay đổi theo
thời tiết Mặt lá bằng, có giống biên lá hơi quăn
Lá nhãn từ lúc bắt đầu nhú đến thành thục biến động trong
khoảng thời gian 40-50 ngày tuỳ nơi trồng, điều kiện dinh
dưỡng và mùa vụ
Tuổi thọ của lá là 1-3 năm
Trang 65 Hoa nhãn
Cấu tạo của chùm hoa: Là loại hoa kép được cấu tạo bởi một
trục chính và nhiều nhánh
Căn cứ vào hình thái chùm hoa, nông dân Hưng Yên phân
biệt là "chùm sung", “chùm bị” hay “chùm dâu da"
Trên một chùm hoa có rất nhiều hoa tùy thuộc vào độ lớn
của cây và mùa vụ trong năm Có thể từ vài trăm hoa đến 2-3
nghìn hoa
Hoa nhãn màu trắng vàng, đài và cánh có 5, phía ngoài có
lông, mùi thơm nhẹ, có nhiều mật
Hoa nhãn gồm có 4 loại: hoa đực, hoa cái, hoa lưỡng tính và
hoa dị hình
a) Hoa đực
Đường kính hoa 4-5
micron, nhị cái thoái hoá,
hoa có 5 cánh màu vàng
nhạt, có 7-8 chỉ nhị và túi
phấn xếp hình vòng
Túi phấn đính vào đầu chỉ
nhị Khi thành thục túi
phấn nứt ra, phấn hoa tung
ra ngoài để thụ phấn thụ
tinh
Hoa nở sau 1-3 ngày thì
tàn
b) Hoa cái
Ngoại hình và độ lớn giống hoa đực, có 7-8 chỉ nhị, nhưng nhị đực đã thoái hoá
Có hai bầu nhị kết hợp làm một, ở giữa có một nhụy khi thành thục đầu nhụy chẻ làm đôi, cong lại
Sau khi hoa cái nở, nhụy hoa tiết ra một loại dịch nước
Sau thụ phấn thụ tinh 2-3 ngày cánh hoa héo, bầu hoa phát triển, bầu có màu xanh
Trang 77/18/15
c) Hoa lưỡng tính
Hình thái hoa giống hoa đực vỡ hoa cái, nhị đực và nhị cái của
hoa phát triển bình thường, bầu thượng
Có khả năng thụ phấn thụ tinh để phát triển thành quả
d) Hoa dị hình
Một bộ phận nào đó của hoa phát triển không bình thường, ví
dụ nhụy hoa không tách, chỉ nhị không phát triển, túi phấn
không mở và không có khả năng tung phấn
Trong sản xuất loại hoa này không có ý nghĩa.
6 Quả
Quả có hình cầu, tròn dẹp, cần
đối hay hơi lệch, đỉnh quả
tròn, cuống quả hơi lõm
Vỏ quả nhãn thường trơn
nhẵn, cũng có giống vỏ hơi xù
xì, màu vàng xám hay nâu
nhạt
Cùi của quả nhãn là do cuống
noãn phát triển mà thành
Giữa vỏ và cùi của các giống
nhãn ở miền Bắc thường dễ
bóc, các giống miền Nam thì
khó hơn
7 Hạt
Cùi nhãn là một lớp vỏ giả Lớp này bao bọc lấy hạt
Hạt nhãn có hình tròn, tròn dẹp, màu đen hay nâu đen, bóng, phản quang, có giống màu trắng nhưng rất hiếm (nhãn Bạch sa)
Lá mầm trong hạt màu trắng, có nhiều tinh bột, phôi màu vàng
Độ lớn hạt cũng rất khác nhau giữa các giống, thường thì 1,6 - 2,6g, chiếm 17,3 - 42.9% trọng lượng quả
Cũng có giống nhãn hạt rất bé, hầu như không có hạt, do kết quả thụ phấn thụ tinh kém
1 Nhãn lồng Hưng Yên:
Quả tròn, to gần như vải
thiều, trọng lượng quả
trung bình 12-17g
Múi chồng lên nhau phía
đỉnh quả, cùi hình thành
các nếp nhăn, hạt màu đen
Quả ăn giòn và ngọt, thơm
mát, vỏ quả dày, giòn, dễ
tách
Quả chín sớm, phần ăn
được chiếm 63,25% khối
lượng quả
VI QUỸ GEN CÂY NHÃN 2 Nhãn cùi: -
Trồng phổ biến ở Hưng Yên, Hải Dương
Quả hình cầu hơi dẹt, vỏ dày khoảng 0,5mm, không sáng mà màu vàng nâu
Quả to, trọng lượng trung bình 10-15g
Cùi dày trung bình 4,7mm, khô, màu cùi trong hoặc hơi đục, ăn ngọt vừa
Phần ăn đươc chiếm khoảng 60% trọng lượng quả
Trang 8-
3 Nhãn Bàm bàm:
Qủa to gần bằng nhãn lồng, trung bình khoảng 12 – 15g
Trôn quả hơi vẹo, vai quả gồ ghề
Cùi dày, khô, ăn có vị ngọt nhạt
Phẩm chất quả kém nhãn lồng
Đây là dạng biến dị của nhãn lồng
4 Nhãn đường phèn:
Quả nhỏ hơn nhãn lồng, khối
lượng trung bình 7-12g
Vỏ màu nâu nhạt, cùi tương
đối dày, đậm nước, bóc vỏ
trên mặt cùi quả có các u nhỏ
như cục đường phèn, ăn ngọt
sắc, thơm đặc biệt
Hạt bé, đen nhánh, nặng
khoảng 1.5g
Ra hoa muộn hơn nhãn cùi,
chín chậm hơn khoảng 10-15
ngày
Phần ăn được chiếm 60.24 %
trọng lượng quả
5 Nhãn nước:
Cây thường sai quả, quả nhỏ, khối lượng trung bình 6-9g
Cùi mỏng khoảng 2,7mm, nhão, nhiều nước, độ ngọt vừa phải, cùi khó dóc ra khỏi hạt
Chùm thường có nhiều quả, năng suất tương đối ổn định,
về chất lượng ăn tươi kém nhãn cùi
Phần ăn được chiếm khoảng 38,63% trọng lượng quả
6 Nhãn Vĩnh Châu:
Giống này trồng nhiều ở huyện
Vĩnh Châu, Sóc Trăng
Cây mọc khoẻ, lá to, biên lá gợn
sóng Qủa có màu xanh, nhẵn
Hạt tương đối to, nhiều nước,
cùi mỏng, ngọt, khó tách khỏi
hạt
Giống này tuy ăn không ngon
bằng Nhãn cùi hay Nhãn đường
phèn song có ưu điểm thích
nghi với đất xấu, có ảnh hưởng
mặn
7 Nhãn Tiêu Da Bò:
Nhãn tiêu da bò (nhãn quế) được phát triển ở miền Nam từ
20 năm nay, có nguồn gốc ở Huế, được trồng chủ yếu ở các huyện cù lao như: An Bình, Hoà Ninh, Đồng Phú
Từ khi nhãn ra hoa cho đến khi trái chín trung bình khoảng 3-4 tháng (tuỳ giống), giống nhãn tiêu da bò có thời gian chín lâu hơn
Chỉ thu hoạch quả khi vỏ chuyển từ màu nâu hơi xanh sang màu nâu sáng vàng, vỏ trái từ xù xì hơi dày chuyển sang mỏng và nhẵn
Trái mềm hơn (do đã có nước nhiều), cùi có vị thơm, hạt chuyển sang màu đen hoàn toàn
Trang 97/18/15
8 Nhãn xuồng cơm vàng:
Giống có nguồn gốc ở thành
bằng hạt
Thịt quả dày, màu hanh vàng,
trường ưa chuộng
Đặc điểm dễ nhận diện là quả
chưa chín gần cuống có màu
vàng da bò
Cùi có màu hơi trắng hoặc
ngọt, khá thơm
Xuồng cơm vàng thích hợp
trên đất thịt hoặc sét nhẹ nên
ghép qua gốc ghép là giống
tiêu da bò
9 Nhãn Hương Chi:
Là một giống nhãn ngon được trồng trong vườn nhà cụ Hương Chi, thị xã Hưng Yên
Là giống nhãn thấp cây, cành xoè rộng, tán tròn xum xuê, lá màu xanh đậm nhỏ hơn lá nhãn lồng, gân lá nổi rõ, mép lá quăn vào phía lưng lá
Quả hình trái tim hơi vẹo
Cùi dày, dễ bóc, hạt nhỏ, vỏ mỏng
VII MỤC TIÊU TẠO GIỐNG
1 Tạo ra các giống có năng suất quả cao, phẩm chất ổn
định qua các vụ:
Về năng suất: Cây được chọn phải hơn giống cũ 25-
30% sản lượng các năm không chênh lệch nhau quá
30%
Về phẩm chất: Quả to, cùi dày, hạt bé, cùi quả ăn thơm
có vị ngọt sắc, hàm lượng chất tan và tỷ lệ đường/axít
cao
2 Mục tiêu ăn tươi: Chọn giống có quả to, cùi dày, hạt
nhỏ, nhiều nước, độ ngọt vừa phải nên yêu cầu ngọt và
có mùi thơm
3 Mục tiêu cho chế biến (làm long nhãn)
Trang 104 Chọn giống chịu hạn
quả chống xói mòn
Nhãn là cây chịu hạn, chịu ngập úng, trồng được trên
đất chua, đất nghèo dinh dưỡng ở vùng gò đồi và vùng
đồng bằng đất thấp Vì cây nhãn có rễ nấm thích nghi
với các điều kiện đó
chọn giống, trồng trên đất đồi núi, tăng hiệu quả chống
xói mòn
5 Chọn giống kéo dài thời gian cung cấp quả tươi:
các giống chín muộn
khi trên thị trường cung cấp quá nhiều loại nhãn
6 Các mục tiêu khác
VIII PHƯƠNG PHÁP TẠO GIỐNG
1 Phương thức nhân hữu tính
đây ở các vùng trồng nhãn vì dễ làm
nghi rộng, nhất là ở các gò đồi, miền núi thiếu nước trong mùa khô
mất 4-5 năm, lại có biến dị lớn, cây con không giữ được những đặc tính tốt ban đầu của cây mẹ nên chủ yếu để làm gốc ghép
2 Tuyển chọn từ các giống địa phương
khác nhau ở trong và ngoài nước
lượng và chống chịu với điều kiện bất thuận
tốt và nhân rộng ra các vùng sản xuất
Trang 117/18/15
a Chọn cây mẹ và cành chiết
Cây mẹ phải có năng suất cao, ổn định qua các năm và có phẩm chất quả tốt, được thị trường ưa chuộng
Cây không bị không bị nhiễm các đối tượng bệnh hại nguy hiểm và cây đang ở độ tuổi sung sức
Chọn cành chiết có đường kính cành 1,0 - 1,5cm, ở giữa tầng tán và phơi ra ngoài ánh sáng
Cành có độ dài 40 - 60cm và cách gốc cành khoảng 30cm có chạc đôi càng tốt
3 Phương pháp nhân giống vô tính 3.1 Nhân giống bằng phương pháp chiết cành
b Đất bó bầu
Dùng đất vườn hoặc đất bùn ao phơi khô đập nhỏ trộn
với rơm rác mục, rễ bèo tây hoặc xơ dừa
Tỷ lệ hỗn hợp gồm 2/3 đất + 1/3 là một trong các
nguyên liệu kể trên
Hỗn hợp trên được tưới nước ẩm đến 70% độ ẩm bão
hoà
Bó bầu chiết với đường kính 6 - 8cm, chiều cao bầu 10
- 12cm
c.Thời vụ và thao tác chiết
Tiến hành tương tự như đối với các chủng loại cây ăn quả khác
Trong điều kiện thời tiết khí hậu của các tỉnh miền Bắc, chiết cành vào các tháng 3, 4 và 8, 9 cho tỷ lệ ra dễ cao hơn ở các tháng khác trong năm
d Giâm lại cành chiết
Sau khi chiết được 2,5 đến 3 tháng, khi bầu chiết đã có nhiều rễ
thứ cấp thì tiến hành cắt cành chiết đem giâm lại trong vườn ươm
Trước khi hạ bầu chiết, cần cắt bớt một số cành quá dày, chỉ để
lại một số cành cần thiết, tránh cắt cành chiết vào những ngày có
gió mùa đông bắc hoặc gió Tây
Cành chiết được giâm trong túi ni lông, hoặc trong các rọ đan
bằng tre
Làm giàn che giảm bớt khoảng 50% ánh sáng tự nhiên, hàng
ngày tưới ẩm 2 lần, sau 7 - 10 ngày thì tưới ngày một lần tuỳ theo
độ ẩm của đất
Đến ngày thứ 30 trở đi có thể tưới thúc nước phân chuồng pha
loãng hoặc phân khoáng pha loãng nồng độ 0,5%
Khi cây có một đợt lộc mới thành thục thí có thể đem trồng mới
3.2 Nhân giống bằng phương pháp ghép
a Gieo ươm cây gốc ghép
Chuẩn bị hạt gốc ghép
Sử dụng nhãn nước, nhãn thóc làm gốc ghép hoặc có thể
sử dụng chính giống muốn nhân làm gốc ghép
Thu hạt gốc ghép trên cây khoẻ mạnh, sinh trưởng tốt, không có các đối tượng sâu bệnh nguy hiểm gây hại
Hạt sau khi tách khỏi quả, được rửa sạch và đặc biệt là phần cùi còn dính ở đầu hạt
Xử lý hạt bằng dung dịch thuốc trừ nấm Benlat C 0,3%
trong thời gian 3 - 5 phút, sau đó vớt hạt ra để giáo nước và
ủ cho tới khi hạt nứt nanh mới đem gieo
Hạt được ủ bằng bao tải đay hoặc vải mềm trong các dụng
cụ như: thúng, rổ giá hoặc có thể ủ trong cát ẩm