1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ôn thi cao học trường kinh tế quốc dân

75 412 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 508,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ôn thi cao học trường đại học kinh tế quốc dân

Trang 1

Câu 4: Phân biệt Nhà nước với tổ chức tự quản thị tộc, bộ lạc?

* Tổ chức tự quản thị tộc, bộ lạc.

- Cơ sở kinh tế: chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao

động Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, không ai có tài sản riêng, không có người giàu kẻ nghèo, không có sự chiến đoạt tài sản của người khác

- Cơ sở xã hội: Thị tộc là cơ sở tồn tại của xã hội cộng sản nguyên thủy

Trong thị tộc mọi người đều bình đẳng, không một ai có đặc quyền, đặc lợi Thị tộc tổ chức theo huyết thống

- Quyền lực trong xã hội cộng sản nguyên thủy là quyền lực mang tính chất

xã hội, gắn liền với xã hội, không tách rời dân cư

- Tổ chức quản lý: Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc,

bao gồm tất cả những người lớn tuổi không phân biệt nam hay nữ trong thị tộc Quyết định của Hội đồng thị tộc là sự thể hiện ý chí chung của cả thị tộc và có tính bắt buộc đối với mọi thành viên Hội đồng thị tộc bầu ra người đứng đầu như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự,… để thực hiện quyền lực và quản lý các công việc chung của thị tộc

- Bộ lạc là một tập hợp dân cư được tạo thành từ nhiều thị tộc do có quan hệ

huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân liên kết với nhau, trong đó có một thị tộc gốc

tạo thành bộ lạc gọi là bào tộc.

* Sự tan rã của tổ chức thị tộc và Nhà nước xuất hiện

Sự tan rã của tổ chức thị tộc do các nguyên nhân sau đây:

- Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất: công cụ lao động ngày một cải tiến, con người phát triển từng bước về thể chất và trí lực, tích lũy ngày càng nhiều kinh nghiệm trong lao động, sản xuất, lần đầu tiên trong xã hội thị tộc

có sự phân công lao động xã hội lớn, đó là nghề chăn nuôi dần dần trở thành một ngành kinh tế độc lập và tách ra khỏi ngành trồng trọt

Sau lần phân công lao động xã hội đầu tiên này, chế độ tư hữu đã xuất hiện,

xã hội đã phân chia thành người giàu, kẻ nghèo Chế độ tư hữu xuất hiện đã làm thay đổi chế độ hôn nhân Chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã thay thế cho chế

độ quần hôn Gia đình cá thể ra đời

- Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chăn nuôi và trồng trọt, thủ công nghiệp cũng ra đời và phát triển, dẫn đến lần phân công lao động xã hội thứ hai là thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp Sự phân công lao động xã hội lần thứ hai này đã đẩy nhanh quá trình phân hóa xã hội, là cho sự phân biệt giữa kẻ giàu và người nghèo, giữa chủ nô và nô lệ ngay càng sâu sắc, mâu thuẩn giai cấp ngày càng tăng

- Sự ra đời của sản xuất hàng hóa làm cho thương nghiệp phát triển đã dẫn đến sự phân công lao động xã hội lần thứ ba Đây là lần phân công lao động giữ

Trang 2

vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định dẫn đến sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy.

Sự phân công lao động xã hội lần này làm xuất hiện một giai cấp không còn tham gia vào sản xuất mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, nhưng lại chiếm toàn bộ quyền lãnh đạo sản xuất và buộc người sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế và bóc lột cả người lao động lẫn người tiêu dùng

Sự xuất hiện Nhà nước: như chúng ta đã biết, tổ chức thị tộc, vốn sinh ra và tồn tại trong một xã hội không biết đến mâu thuẩn nội tại, thì nay một xã hội mới

ra đời do ba lần phân công lao động xã hội đã phân chia xã hội thành các giai cấp đối lập nhau, luôn luôn mâu thuẩn và đấu tranh gay gắt với nhau để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình Xã hội mới này đòi hỏi phải có một tổ chức đủ sức dập tắt các cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp và giữ cho các cuộc xung đột giai cấp ấy trong vòng “trật tự” Tổ chức đó là Nhà nước

Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt do giai cấp thống trị tổ chức ra

và sử dụng để thực hiện sự thống trị đối với xã hội trên ba lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng

Thống trị kinh tế: có vai trò quyết định, tạo ra sự lệ thuộc về mặt kinh tế của người bị bóc lột đối với giai cấp thống trị

Thống trị chính trị: có vai trò duy trì quan hệ bóc lột, là bạo lực có tổ chức của giai cấp nhằm đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị trị trong xã hội

Thống trị tư tưởng: là sự thống trị về mặt tinh thần, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị được xây dựng và thông qua con đường nhà nước trở thành hệ tư tưởng thống trị trong toàn xã hội

So với tổ chức thị tộc trước đây, nhà nước có hai đặc trưng cơ bản khác biệt với thị tộc, bộ lạc:

Một là, tổ chức thị tộc trước đây, được hình thành và tồn tại trên cơ sở của quan hệ huyết thống Ngược lại, nhà nước tổ chức dân cư theo lãnh thổ

Hai là, quyền lực trong xã hội cộng sản nguyên thủy là quyền lực công cộng (quyền lực xã hội), không tách khỏi dân cư Ngược lại, quyền lực Nhà nước là quyền lực thuộc về giai cấp thống trị, trước hết phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, quyền lực đó tách khỏi dân cư, được thực hiện bằng một bộ máy cưỡng chế của Nhà nước

Câu 5: Nhà nước có chức năng cơ bản nào? Phân biệt chức năng của Nhà nước với chức năng của cơ quan nhà nước?

Chức năng của nhà nước là những phương diện (mặt) hoạt động chủ yếu

của nhà nước nhằm để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước Chức

Trang 3

năng của nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất của nhà nước, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết định

1 Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, các chức năng được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại:

a Chức năng đối nội:

Chức năng đối nội là phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước trong nội

bộ đất nước để quản lí các lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm:

- Chức năng chính trị: Nội dung chủ yếu là thiết lập hệ thống các thiết chế quyền lực nhà nước thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, tiến hành các hoạt động để bảo

vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, trấn áp những phần tử phản động có những hành vi chống đối chính quyền, xâm phạm quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân; xác lập các nguyên tắc, quy định tạo cơ sở pháp lí cho việc quản lí các tổ chức và cá nhân khi tham gia vào các quan hệ chính trị

- Chức năng kinh tế: Thể hiện vai trò của nhà nước trong việc xác lập và bảo

vệ chế độ kinh tế phù hợp với bản chất nhà nước và trình độ phát triển kinh tế-xã hội trong từng thời kì bằng các hoạt động chủ yếu như: ban hành chính sách, kế hoạch về phát triển kinh tế của đất nước; tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh; sử dụng các công cụ tài chính, tiền tệ, pháp luật để tác động, quản lí và giải quyết những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực kinh tế

- Chức năng xã hội: Thể hiện thuộc tính xã hội và vai trò của nhà nước trong việc tác động vào lĩnh vực xã hội để bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội, giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng xã hội bằng các hoạt động như: đề

ra các chính sách, pháp luật và tạo các điều kiện để giải quyết các vấn đề về văn hóa, giáo dục, y tế, lao động và việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm, cứu trợ xã hội, phòng chống thiên tai, phòng chống tệ nạn xã hội

- Chức năng bảo đảm trật tự pháp luật và pháp chế: Nội dung chủ yếu của chức năng này thể hiện ở chỗ nhà nước tiến hành các hoạt động xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu quản lí xã hội, bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của công dân trong từng thời kì; tổ chức thực hiện và hình thành các thiết chế cần thiết để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện và giải quyết những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này

b Chức năng đối ngoại

Chức năng đối ngoại là phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước trên trường quốc tế, bao gồm:

- Thiết lập và thực hiện các quan hệ hợp tác về các lĩnh vực với các quốc gia khác

- Phòng thủ đất nước, chống sự xâm lược từ bên ngoài, bảo vệ chủ quyền quốc gia

Trang 4

- Tham gia vào các hoạt động quốc tế vì lợi ích chung của cộng đồng như:

bảo vệ môi trường, chống khủng bố, buôn lậu ma túy và các tội phạm quốc tế khác

và vì mục đích nhân đạo như ủng hộ và tham gia các hoạt động cứu trợ quốc tế

trong các trường hợp khẩn cấp như động đất, sóng thần, bão lũ

c Một số chức năng mới của nhà nước.

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, của dân chủ và tiến bộ xã hội, của toàn cầu hóa, giao lưu và tiếp biến văn hóa, vai trò của nhà nước ở trong nước cũng như trên trường quốc tế cũng đã có những biến đổi mạnh mẽ, đòi hỏi các nhà nước hiện đại phải tổ chức thực hiện một số chức năng mới Theo đó, các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước cũng đã có sự gia tăng về số lượng và

mở rộng về phạm vi hoạt động Bên cạnh các chức năng truyền thống nói trên, các chức năng mới đã xuất hiện và ngày càng quan trọng như: Chức năng văn hóa, giáo dục, bảo vệ môi trường sinh thái

2 Phân biệt chức năng nhà nước với chức năng của cơ quan nhà nước.

Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ trung ương xuống địa phương, bao gồm nhiều loại cơ quan như cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Toàn bộ hoạt động của bộ máy nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị Bộ máy nhà nước bao gồm nhiều cơ quan, mỗi cơ quan cũng có những chức năng, nhiệm vụ riêng phù hợp với phạm vi quyền hạn được giao

Chức năng của nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu của toàn thể bộ máy nhà nước, trong đó mỗi cơ quan khác nhau của nhà nước đều tham gia thực hiện ở những mức độ khác nhau Chức năng của một cơ quan chỉ là những mặt hoạt động chủ yếu của riêng cơ quan đó nhằm góp phần thực hiện những chức năng và nhiệm vụ chung của nhà nước Mỗi kiểu nhà nước có bản chất riêng nên chức năng của các nhà nước thuộc mỗi kiểu nhà nước cũng khác nhau và việc tổ chức bộ máy để thực hiện các chức năng đó cũng có những đặc điểm riêng Vì vậy, khi nghiên cứu các chức năng của nhà nước và bộ máy nhà nước phải xuất phát từ bản chất nhà nước trong mỗi kiểu nhà nước cụ thể để xem xét

Câu 6 Các hình thức hoạt động và phương thức thực hiện chức năng nhà nước?

Phương thức thực hiện chức năng nhà nước

Để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại, nhà nước sử dụng nhiều phương thức khác nhau, trong đó có các phương thức chính là: Điều chỉnh pháp luật, thuyết phục, cưỡng chế và thanh tra, kiểm tra

- Đối với phương thức điều chỉnh pháp luật, nhà nước quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể; tạo điều kiện và khuyến khích các chủ thể chủ động tham gia tích cực vào các quan hệ xã hội đồng thời có các chế tài nghiêm khắc để áp dụng đối với các trường hợp vi phạm

Trang 5

- Phương thức thuyết phục được nhà nước sử dụng nhằm động viên và khuyến khích tính tích cực, tự giác và tự nguyện của các chủ thể trong việc đáp ứng các yêu cầu thực hiện chức năng của nhà nước.

- Phương thức cưỡng chế được nhà nước sử dụng trong trường hợp có vi phạm pháp luật và cần thiết phải áp dụng các biện pháp truy cứu trách nhiệm pháp lí

- Phương thức thanh tra, kiểm tra được nhà nước sử dụng thường xuyên ở nhiều cấp độ khác nhau để đánh giá, phát hiện và xử lí kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện các chức năng Do tính chất phức tạp và quy mô rộng lớn của các chức năng nhà nước nên thanh tra, kiểm tra cũng có nhiều loại hình

Câu 7 Các kiểu nhà nước và quy luật thay thế kiểu nhà nước?

Lý luận Mác - Lenin về nhà nước và pháp luật đã đưa ra khái niệm kiểu nhà nước trong lịch sử: Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản, đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định Cơ sở để xác định kiểu nhà nước là học thuyết Mác - Lênin về các hình thái kinh tế xã hội Mỗi kiểu nhà nước phù hợp với một chế độ kinh tế nhất định của một xã hội có giai cấp Đặc điểm chung của mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ quyết định những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của một kiểu nhà nước tương ứng Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và

xã hội chủ nghĩa Phù hợp với bốn hình thái kinh tế xã hội đó đã có bốn kiểu nhà nước:

- Kiểu nhà nước chủ nô;

- Kiểu nhà nước phong kiến;

- Kiểu nhà nước tư sản;

- Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa

Các kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản mặc dù mỗi kiểu có những đặc điểm riêng nhưng chúng đều là những kiểu nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Các nhà nước đó đều là "nhà nước theo đúng nghĩa", là công cụ để bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, duy trì sự thống trị của giai cấp bóc lột đối với đông đảo quần chúng nhân dân lao động Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước mới có bản chất khác với các kiểu nhà nước bóc lot Nhiem vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa là thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội

Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng một kiểu nhà nước mới tiến bộ hơn là một quy luật tất yếu Quy luật về sự thay thế các kiểu nhà nước phù hợp với quy luật về sự phát triển và thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội Cách mạng là con đường dẫn đến sự thay thế đó Một kiểu nhà nước mới xuất hiện trong quá trình cách mạng khi giai cấp cầm quyền cũ bị lật đổ và giai cấp thống trị mới giành được chính quyền Các cuộc cách mạng khác nhau diễn ra trong lịch sử đều tuân theo quy luật đó: Nhà nước phong kiến thay thế nhà nước chủ nô, nhà nước tư sản thay thế nhà nước phong kiến, nhà nước xã hội chủ nghĩa thay thế nhà nước tư sản Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước mới tiến bộ nhất nhưng cũng là

Trang 6

kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ tiêu vong và sau đó sẽ không còn một kiểu nhà nước nào khác nữa.

Câu 8 Khái niệm hình thức nhà nước và các kiểu hình thức nhà nước?

Hình thức nhà nước là cách tổ chức quyền lực nhà nước và những phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước Hình thức nhà nước là một khái niệm chung được hình thành từ ba yếu tố cụ thể: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị

1 Hình thức chính thể:

Đây là cách tổ chức và trình tự để lập ra các cơ quan tối cao của nhà nước và xác lập những mối quan hệ cơ bản của các cơ quan đó Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ (hay một phần) trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế Chính thể cộng hòa là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định Cả hai hình thức đều có những biến dạng của mình Chính thể quân chủ được chia thành chính thể quân chủ tuyệt đối

và chính thể quân chủ hạn chế Trong các nước quân chủ tuyệt đối, người đứng đầu nhà nước (vua, hoàng đế…) có quyền lực vô hạn; còn trong các nhà nước quân chủ hạn chế người đứng đầu nhà nước chỉ nắm một phần quyền lực tối cao và bên cạnh

đó còn có một cơ quan quyền lực khác nữa, như nghị viện trong các nhà nước tư sản có chính thể quân chủ

Chính thể cộng hòa cũng có hai hình thức chính là cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý tộc Trong các nước cộng hòa dân chủ, quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện (quyền lực) của nhà nước được quy định về mặt hình thức pháp lý đối với các tầng lớp nhân dân lao động (mặc dù trên thực tế, các giai cấp thống trị của các nhà nước bóc lột thường đặt ra nhiều quy định nhằm hạn chế hoặc vô hiệu hóa quyền này của nhân dân lao động) Trong các nước cộng hoà quý tộc quyền đó chỉ quy định đối với tầng lớp quý tộc

2 Hình thức cấu trúc nhà nước:

Đây là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập những mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương với địa phương Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là hình thức nhà nước đơn nhất và hình thức nhà nước liên bang Nhà nước đơn nhất là nhà nước có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lí thống nhất từ trung ương đến địa phương và có các đơn vị hành chính bao gồm tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường) Ví dụ: Việt Nam, Lào, Ba Lan, Pháp là các nhà nước đơn nhất Nhà nước liên bang là nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại Nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý; một hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống trong mỗi nước thành viên; có chủ

Trang 7

quyền quốc gia chung của nhà nước liên bang và đồng thời mỗi nước thành viên cũng có chủ quyền riêng: Ví dụ: Myu, Đức, ấn Độ, Malaixia là các nước liên bang Cần phân biệt nhà nước liên bang với nhà nước liên minh Nhà nước liên minh là sự liên kết tạm thời của các nhà nước với nhau nhằm thực hiện một số mục đích nhất định Sau khi đã đạt được các mục đích đó, nhà nước liên minh có thể tự giải tán hoặc có thể phát triển thành nhà nước liên bang Ví dụ: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ từ 1776 đến 1787 là nhà nước liên minh, sau đó trở thành nhà nước liên bang.

4.3 Chế độ chính trị: Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, thủ

đoạn mà các cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước Trong lịch sử, từ khi nhà nước xuất hiện cho đến nay, các giai cấp thống trị đã sử dụng nhiều phương pháp và thủ đoạn để thực hiện quyền lực nhà nước Những phương pháp và thủ đoạn đó trước hết xuất phát từ bản chất của nhà nước đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố của mỗi giai đoạn trong mỗi nước cụ thể Vì vậy, có rất nhiều phương pháp và thủ đoạn khác nhau nhưng tựu chung chúng được phân thành hai loại chính là: Phương pháp dân chủ va phương phap phản dân chủ Những phương pháp dân chủ cũng có nhiều loại, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như những phương pháp dân chủ thật sự và dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi và dân chủ hạn chế; dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp Cần phân biệt chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được đặc trưng bằng việc sử dụng các hình thức dân chủ thật sự, rộng rãi với chế độ dân chủ tư sản đặc trưng bằng các phương pháp dân chủ hạn chế và hình thức

Các phương pháp phản dân chủ thể hiện tính chất độc tài cũng có nhiều loại, đáng chú ý nhất là khi những phương pháp này khi phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành những phương pháp tàn bạo, quân phiệt và phát xít Hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước luôn có liên quan mật thiết với chế độ chính trị Ba yếu tố này có tác động qua lại lẫn nhau tạo thành khái niệm hình thức nhà nước, phản ánh bản chất và nội dung của nhà nước Nhưng trong một số trường hợp, ba yếu tố này có thể không phù hợp với nhau Ví dụ: chế độ chính trị phát xít, quân phiệt có thể có hình thức chính thể cộng hòa dân chủ Đây cũng là điều thường gặp trong các nhà nước bóc lột Trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa, ba yếu tố này phải phù hợp với nhau, phản ảnh đúng bản chất và nội dung của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Câu 9 Phân tích hình thức chính thể của nhà nước tư sản?

Nhà nước tư sản có bốn hình thức chính thể: quân chủ lập hiến, cộng hòa nghị viện, cộng hòa tổng thống và cộng hòa lưỡng tính

a Chính thể quân chủ lập hiến

Chính thể quân chủ lập hiến hiện nay đang tồn tại ở khá nhiều nước tư sản trên thế giới như Anh, Thụy Điển, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch Đặc điểm cơ bản của chính thể quân chủ lập hiến là vai trò đối nội của thủ

Trang 8

tướng chính phủ trong việc thực hiện quyền lực chính trị, bởi thủ tướng là thủ lĩnh của đảng chiếm ưu thế trong nghị viện, là người quyết định đường lối chính trị của chính phủ.

Nhiều học giả cho rằng sở dĩ có chính thể quân chủ lập hiến là do trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản, giai cấp tư sản không giành được thắng lợi hoàn toàn và chính thể quân chủ lập hiến như là hình thức thỏa thuận giữa giai cấp tư sản và tầng lớp quý tộc phong kiến Với quan điểm này thì hình thức chính thể cộng hòa dân chủ tư sản mới là hình thức quá độ khi giai cấp tư sản chưa giành được thắng lợi hoàn toàn và nó sẽ biến mất khi tầng lớp quý tộc phong kiến không còn nữa Tuy nhiên, trên thực tế ở một số nhà nước tư sản như Anh, Thụy Điển, Nhật Bản – các quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới thì chính thể quân chủ lập hiến rõ ràng là có những hạt nhân hợp lí Trong lịch sử nhà nước và pháp luật, nhà nước quân chủ chuyên chế đã tồn tại khoảng 2000 năm (ở Trung Quốc, nhà nước quân chủ chuyên chế đã tồn tại từ thế kỉ III TCN đến năm 1911) Một thiết chế tồn tại lâu dài như vậy dĩ nhiên có các bí quyết trường sinh của nó Một trong những bí quyết quan trọng của nó là đảm bảo tính ổn định của các giá trị xã hội Nếu thiết chế chính trị thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh nhưng làm cho đạo đức xã hội xuống cấp, các phong tục tập quán tốt đẹp nhanh chóng bị mai một, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên thiếu sự hài hòa thì đó chưa phải là thiết chế chính trị tốt Các nước có chính thể quân chủ lập hiến như Anh, Nhật Bản, Thụy Điển, Thái Lan đều là những quốc gia kết hợp được những giá trị truyền thống của chính thể quân chủ với những giá trị mới của nền dân chủ tư sản như nhà vua là đại diện cho sự thống nhất ý chí và đoàn kết dân tộc với chế độ bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín để thành lập nghị viện – cơ quan lập pháp Với vị hoàng đế quyền lực hạn chế, nghị viện có nhiều quyền lực và vị đại tướng – thủ lĩnh của đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện, chính thể quân chủ lập hiến trở thành một trong những chính thể phổ biến và có nhiều ưu việt hiện nay trên thế giới

b Chính thể cộng hòa nghị viện (còn gọi là cộng hòa đại nghị)

Chính thể cộng hòa nghị viện là mô hình của nền cộng hòa thứ tư của Pháp (từ năm 1946 đến năm 1958) và hiện nay đang tồn tại ở Italia (theo Hiến pháp 1947), Cộng hòa liên bang Đức (theo Hiến pháp năm 1949) Đặc điểm của mô hình chính thể này là quyền lực của tổng thống không lớn, quyền lực chính trị tập trung vào thủ tướng là người quyết định và chịu trách nhiệm về đường lối chính trị của chính phủ Đây là hình thức chính thể mà chính phủ được thành lập trên cơ sở đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện Thủ tướng luôn luôn là thủ lĩnh của đảng cầm quyền – đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện Chính quyền hành pháp được chia sẻ giữa tổng thống và thủ tướng.Theo chính thể cộng hòa nghị viện, thủ tướng luôn luôn là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện, vì vậy quyền hạn của thủ tướng rất lớn Hạt nhân hợp lí trong tổ chức và hoạt động của chính thể

Trang 9

cộng hòa nghị viện chính là cơ chế tạo sự thống nhất giữa chính phủ và nghị viện

do chính phủ luôn luôn được số đông trong nghị viện ủng hộ Như vậy, có thể thấy rằng việc phân chia quyền lực trong trường hợp này không dẫn đến việc phân lập quyền lực

c Chính thể cộng hòa tổng thống

Bản hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới – Hiến pháp Hoa Kì năm

1787 đã tạo ra mô hình chính thể đặc sắc với tổng thống có nhiều quyền lực bên cạnh nghị viện lập pháp và pháp viện tối cao hoàn toàn độc lập trong các phán quyết của mình đã làm cho học thuyết phân chia quyền lực được áp dụng một cách khá hoàn hảo Học thuyết phân chia quyền lực mặc dù do các nhà tư tưởng người Anh và người Pháp (J Locke, C.L.Montesquieu) xây dựng và hoàn thiện, tuy nhiên lại được áp dụng một cách triệt để nhất ở Hoa Kì

Nguyên tắc phân chia quyền lực được áp dụng một cách mềm dẻo, có sự điều hòa, phối hợp giữa các nhánh quyền lực lập, hành pháp và tư pháp Trên thực

tế, quyền lực của tổng thống và thủ tướng có lớn hay không phụ thuộc vào việc tổng thống và thủ tướng có cùng đảng phái hay không? Nếu cùng một đảng phái thông thường quyền lực của tổng thống rất lớn vì tổng thống có chỗ dựa của mình

là đa số trong quốc hội Ngược lại, nếu không cùng đảng phái thì tổng thống và thủ tướng phải “chung sống hòa bình” và tổng thống trong nhiều vấn đề chính trị phải nhượng bộ với thủ tướng vì thủ tướng có đa số trong quốc hội làm hậu thuẫn Cũng đều là mô hình cộng hòa lưỡng tính nhưng nếu Pháp đứng trên thế cân bằng giữa cộng hòa nghị viện và cộng hòa tổng thống thì Nga nghiêng nhiều hơn về phía cộng hòa tổng thống Tổng thống Cộng hòa Liên bang Nga có quyền hạn rất lớn:

có thể bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ tướng Chính phủ, các phó thủ tướng và các thành viên của Chính phủ có thể chủ tọa các phiên họp của Chính phủ, có thể giải tán Chính phủ, giải tán Hạ nghị viện, có thể tổ chức trưng cầu dân ý, có thể gửi các

dự luật đến Hạ nghị viện, kí và công bố các đạo luật liên bang; gửi các thông điệp cho Nghị viện thông báo về tình hình của đất nước, về đường lối chính trị đối nội cũng như đối ngoại của Nhà nước Tổng thống do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín Có thể nói rằng đặc điểm chung của chế độ cộng hòa lưỡng tính là xây dựng chính quyền hành pháp mạnh nhưng có các cơ chế kiềm chế và giám sát thích hợp để hạn chế tới mức tối đa sự lạm dụng quyền lực

Câu 10 Nêu những điểm giống nhau và khác nhau của chính thể cộng hòa tổng thống và chính thể cộng hòa lưỡng tính?

Chính thể cộng hòa là hình thức tổ chức chính quyền nhà nước phổ biến nhất hiện nay ở các nước tư sản vì nó khắc phục được những tàn dư của nhà nước phong kiến Chính thể cộng hòa có hai biến dạng là cộng hòa tổng thống và cộng

Trang 10

hòa đại nghị Ngoài ra còn một hình thức chính thể khác là hình thức hỗn hợp giữa cộng hòa tổng thống và cộng hòa đại nghị.

- Trong chính thể cộng hòa tổng thống, vai trò của nguyên thủ quốc gia rất

quan trọng Tổng thống được nhân dân bầu ra Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa đứng đầu chính phủ Chính phủ không do nghị viện thành lập Các thành viên chính phủ do tổng thống cử và chịu trách nhiệm trước tổng thống Quốc hội không được bỏ phiếu không tín nhiệm chính phủ Hình thức này tồn tại ở Mỹ và một số nước châu Mỹ La tinh Cộng hòa tổng thống có một số đặc trưng chủ yếu là: Tổng thống được bầu không phải bởi nghị viện; sự phân định ranh giới rõ ràng giữa quyền lực của nguyên thủ, của nghị viện và chính phủ; tổng thống không được giải tán nghị viện trước thời hạn và nghị viện không được giải tán chính phủ

Chính thể cộng hoà lưỡng tính là chính thể kết hợp những đặc điểm của

cộng hoà Tổng thống và cộng hoà đại nghị Chính thể này có những đặc điểm như:

Tổng thống do dân bầu (trực tiếp hoặc gián tiếp); Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người lãnh đạo nội các; Nội các do Thủ tướng đứng đầu, do Nghị viện thành lập, vừa chịu trách nhiệm trước Nghị viện vừa chịu trách nhiệm trước Tổng thống; Tổng thống có quyền giải tán Nghị viện Chính thể ở Pháp, và Nga là điển hình cho loại hình cộng hoà lưỡng tính

Như vậy, có thể nhận thấy:

1 Những điểm giống nhau:

- Đều là hình thức chính thể cộng hòa;

- Về căn bản đều khắc phục được tàn dư của nhà nước phong kiến;

- Đều là hình thức cai trị tiến bộ hơn chế độ quân chủ;

- Tổng thống do nhân dân bầu ra;

- Quyền lập pháp thuộc về nghị viện, quyền tư pháp thuộc về hệ thống tòa án

2 Những điểm khác nhau:

- Với hình thức chính thể cộng hòa tổng thống, vai trò của tổng thống rất lớn

- vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu bộ máy hành pháp, do nhân dân trực tiếp bầu ra Mọi thành viên của chính phủ đều do tổng thống bổ nhiệm, và chịu trách nhiệm trc tổng thống, không chịu trách nhiệm trc nghị viện Tổng thống

có quyền thành lập chính phủ, có quyền bổ nhiệm các thành viên của chính phủ, các thẩm phán tòa án liên bang với sự đồng ý của thượng nghị viện, có quyền can thiệp vào hoạt động lập pháp bằng quyền phán quyết

Chính thể cộng hòa tổng thống áp dụng tuyệt đối nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước lập pháp, hành pháp, tư pháp mà không có sự phối hợp và chịu trách nhiệm lẫn nhau

- Đối với chính thể cộng hòa lưỡng tính: nguyên tắc phân chia quyền lực được áp dụng một cách mềm dẻo có sự điều hòa và phối hợp giữa các nhánh quyền lực lập, hành, tư pháp

Trang 11

Chính phủ bao gồm các bộ trưởng và thủ tướng không những chịu trách nhiệm trc nghị viện mà còn chịu trách nhiệm trc tổng thống Chính thể cộng hòa lưỡng tính xây dựng một chính quyền hành pháp mạnh nhưng có các cơ chế kiềm chế và giám sát thích hợp để hạn chế tối đa việc lạm quyền.

Câu 11 Nêu những điểm giống và khác nhau của chính thể cộng hòa đại nghị với chính thể quân chủ đại nghị?

Cộng hòa đại nghị được đặc trưng bởi việc nghị viện thành lập ra chính phủ

và khả năng của nghị viện kiểm tra hoạt động của chính phủ bởi vai trò không lớn của tổng thống do chính nghị viện bầu ra Tổng thống chọn thành viên nội các không phải tùy thích mà phải chọn từ số đại biểu của phe đa số trong nghị viện Hình thức này được áp dụng ở Tây Đức, Ao, Phần Lan, Italia

Chính thể cộng hòa đại nghị có các đặc trưng sau:

- Trong bộ máy nhà nước vừa có chức vụ tổng thống vừa có chức vụ thủ tướng, tổng thống đứng đầu quốc gia còn thủ tướng đứng đầu chính phủ Quyền hành pháp do tổng thống và chính phủ nắm giữ (mà chủ yếu là nội các)

- Tổng thống do nghị viện bầu ra, được hiến pháp quy định khá nhiều song thực tế không có thực quyền, không trực tiếp tham gia vào việc giải quyết các công việc của nhà nước

- Thủ tướng là người đứng đầu nội các, cũng là người đứng đầu bộ máy hành pháp Nội các là trụ cột và là trung tâm giải quyết các vấn đề quyết sách của toàn bộ các cơ quan hành chính nhà nước

- Nghị viện có quyền lực tối cao, chính phủ do nghị viện lập ra và chịu sự giám sát của nghị viện Các bộ trưởng phải chịu trách nhiệm trc nghị viện, kể cả trách nhiệm liên đới và trách nhiệm cá nhân

Chính thể quân chủ đại nghị tồn tại khá phổ biến hiện nay Ở chính thể

này, chúng ta thấy nguyên thủ quốc gia không có quyền hạn trong lĩnh vực lập pháp và trong lĩnh vực hành pháp cũng bị hạn chế đến mức tối đa Nghị viện thông qua luật và nguyên thủ không được quyền phủ quyết Chính phủ được thành lập dựa vào phái đa số trong nghị viện và chỉ chịu trách nhiệm trước nghị viện Chính thể này hiện đang tồn tại ở Nhật (theo Hiến pháp 1947), Thụy Điển (theo Hiến pháp 1974), Anh và Bỉ

Hình thức chính thể quân chủ đại nghị có những đặc điểm sau:

- Nghị viện là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, có vị trí tối cao trong mối quan hệ với quyền hành pháp

- Chính phủ được thành lập trên cơ sở Nghị viện và chịu trách nhiệm trc Nghị viện Do nhà vua chỉ có thể bổ nhiệm thủ tướng, các bộ trưởng theo đề nghị

Trang 12

của đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện Trong trường hợp Nghị viện không tín nhiệm Chính phủ nữa thì Chính phủ phải từ chức Tuy nhiên, để hạn chế bớt quyền của Nghị viện, Chính phủ có quyền đề nghị Nhà vua giải tán Nghị viện (hạ Nghị viện), quyết định tổ chức bầu cử để nhân dân phán xét giữa hành pháp và lập pháp.

- Nguyên thủ quốc gia do thế tập truyền ngôi Vua là người đứng đầu nhà nước, là biểu tượng của sự thống nhất phi chính trị và không thiên vị Quyền lực của nhà vua chỉ mang tính chất tượng trưng, quyền lực thực thuộc về Chính phủ và Nghị viện

- Thừa nhận chế độ đa đảng, các đảng được tổ chức chặt chẽ, luôn thống nhất nhưng không có cương lĩnh lâu dài và điều lệ

Câu 12 Phân tích hình thức cấu trúc nhà nước tư sản

Nhà nước tư sản có ba hình thức cấu trúc: nhà nước đơn nhất, nhà nước liên bang và nhà nước liên minh

Nhà nước đơn nhất là hình thức cấu trúc phổ biến nhất của nhà nước tư sản Hình thức đơn nhất tồn tại ở Italia, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Thụy Điển, Đan Mạch Đặc điểm cơ bản của các nhà nước đơn nhất tư sản là nhà nước chỉ có một chính phủ, một hiến pháp, một quốc tịch, một hệ thống pháp luật thống nhất, tuy nhiên đảm bảo sự phân quyền cho chính quyền địa phương và tính tự quản cao cho các hội đồng địa phương – cơ quan đại diện cho cộng đồng dân cư ở các đơn vị hành chính lãnh thổ của nhà nước

Cấu trúc nhà nước liên bang tồn tại ở một số nước như Hoa Kì, Canada, Đức, Australia, Nga Nhà nước liên bang được hình thành bởi sự liên kết các bang, các lãnh địa (land), các nhà nước thành viên bằng hiệp ước về thành lập liên bang, trong đó các chủ thể liên bang đều có quyền bình đẳng như nhau Ở các nhà nước liên bang có nhiều chính phủ, nhiều hiến pháp, nhiều hệ thống pháp luật, tuy nhiên hiến pháp liên bang là đạo luật cơ bản và có hiệu lực pháp lí cao nhất, là cơ

sở của toàn bộ hệ thống pháp luật liên bang

Ngoài hai hình thức nói trên, một số nhà nước tư sản còn có hình thức cấu trúc nhà nước liên minh Nhà nước liên minh là sự liên kết giữa các quốc gia độc lập vì những nhiệm vụ chính trị, quân sự hoặc kinh tế bằng hiệp ước do các thành viên liên minh thỏa thuận Hình thức cấu trúc nhà nước liên minh đã tồn tại ở Hoa

Kì và ở Đức trước khi thành lập nhà nước liên bang Hiện nay Liên minh châu Âu (EU) là hình thức điển hình của nhà nước liên minh Liên minh châu Âu có nghị viện, có tòa án, có đơn vị tiền tệ chung, tuy nhiên các thành viên trong liên minh vẫn là những quốc gia có chủ quyền độc lập

Trang 13

Câu 13 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước? Liên hệ với Bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam?

1 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là những nguyên

lí, những tư tưởng chỉ đạo có tính then chốt (xuất phát điểm), thể hiện bản chất, nội dung, ý nghĩa, mục tiêu và nhiệm vụ của nhà nước, tạo cơ sở cho việc tổ chức và triển khai các hoạt động của bộ máy nhà nước Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã được quan tâm nghiên cứu, đề xuất và áp dụng từ nhiều thế kỉ trước nhưng trên thực tế cho thấy có sự khác biệt về quan niệm, nhận thức và áp dụng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong các quốc gia rất khác nhau

Mặc dù còn có những sự khác nhau nhất định nhưng cùng với thời gian, các nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước vẫn có giá trị và được áp dụng một cách khá phổ biến trong nhiều quốc gia qua các thời kì lịch sử

và đương đại Đó là các nguyên tắc như: Nguyên tắc tối ưu hóa tổ chức và cấu trúc

bộ máy nhà nước; nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và hiệu quả trong

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; nguyên tắc bảo đảm tính chuyên nghiệp của công chức nhà nước, đề cao các tiêu chuẩn về đạo đức, văn hóa và tính trung thực của các nhà chức trách

2 Liên hệ với Bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, khách quan và khoa học, phù hợp với bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, tạo thành cơ sở cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và toàn thể bộ máy nhà nước

Hệ thống nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa rất phong phú và nhiều loại, trong đó những nguyên tắc cơ bản có tính bao quát đối với toàn thể bộ máy nhà nước thường được ghi nhận trong hiến pháp, đạo luật cơ bản của nhà nước Ở nước ta những nguyên tắc cơ bản đó gồm có: Nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước; nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc bình đẳng đoàn kết giữa các dân tộc

2.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước:

Đây là một trong những nguyên tắc rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của thể chế nhà nước xã hội chủ nghĩa đó là: Trong chủ nghĩa xã hội quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân

Trang 14

trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thể hiện trên ba phương diện cơ bản là:

Thứ nhất, quyền lực nhà nước phải xuất phát từ nhân dân, thể hiện ý chí

của nhân dân và thuộc về nhân dân

Thứ hai, phải bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo vào việc quản lý

các công việc nhà nước và quyết đính những vấn đề trọng đại của đất nước

Thứ ba, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và quy định trách

nhiệm của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước trong việc tôn trọng nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như những hình thức tham gia của nhân dân vào việc thiết lập bộ máy nhà nước, tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước

2.2 Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: Nhà

nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức thông qua đó Đảng cộng sản thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với tiến trình phát triển của xã hội Sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng tổ chức và hoạt động của nhà nước xã hội chủ nghĩa, là điều kiện quyết định để nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia vào công việc của nhà nước Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước còn nhằm giữ vững bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta, nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là nguyên tắc hiến định Điều 4, Hiến pháp 2013 đã khẳng định: "Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội" Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thể hiện ở các mặt chủ yếu là: Đảng vạch ra đường lối chính trị, những chủ trương và phương hướng lớn, và quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy, đồng thời chỉ đạo quá trình xây dựng pháp luật, nhất là những đạo luật quan trọng nhằm thông qua nhà nước thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật, thành những quy định chung thống nhất trên quy mô toàn xã hội, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan nhà nước hoạt động theo đúng đường lối của Đảng và đào tạo cán bộ tăng cường cho bộ máy nhà nước Đảng lãnh đạo bằng vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên trong việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đặc biệt thông qua các tổ chức Đảng và các đảng viên làm việc trong bộ máy nhà nước Đảng lãnh đạo nhà nước nhưng không làm thay nhà nước Năng lực lãnh đạo của Đảng thể hiện trước hết ở việc xây dựng, kiện toàn, sử dụng và phát huy vai trò của nhà nước Sự tin yêu của nhân dân đối với nhà nước và sự tham gia tích cực, chủ động của nhân dân vào quản lý

Trang 15

nhà nước là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước Để có thể thực hiện tốt vai trò lãnh đạo đối với nhà nước, Đảng cũng phải thường xuyên củng cố, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên trong bộ máy nhà nước.

2.3 Nguyên tắc tập trung dân chủ:

Tập trung dân chủ là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa sự chỉ đạo tập trung thống nhất của các cơ quan nhà nước ở trung ương và các cơ quan nhà nước cấp trên với việc mở rộng dân chủ, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các

cơ quan nhà nước ở địa phương và các cơ quan nhà nước cấp dưới

Về mặt tổ chức, nguyên tắc này thể hiện ở chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức bộ

máy, chế độ công vụ, xác lập và giải quyết mối quan hệ giữa các bộ phận của bộ máy nhà nước nói chung, giữa trung ương với địa phương, giữa các bộ phận trong mỗi cơ quan nhà nước và trên bình diện chung nhất là giữa nhà nước với nhân dân

Ở nước ta, nguyên tắc tập trung dân chủ được áp dụng trong lĩnh vực tổ chức bộ máy đều xuất phát từ nguyên lý: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân trực tiếp bầu ra hệ thống cơ quan đại diện, trao quyền cho các cơ quan đại diện bầu ra hoặc phê chuẩn các hệ thống cơ quan khác Ở Trung ương, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, mọi cơ quan khác đều bắt nguồn từ Quốc hội, phải báo cáo chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Ở địa phương, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, mọi cơ quan khác đều chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân Đồng thời các cơ quan địa phương phải phục tùng cơ quan Trung ương, các cơ quan cấp dưới phải phục tùng

cơ quan cấp trên Vì vậy nhiều cơ quan có chế độ hai chiều phụ thuộc Tính tập trung là biểu hiện quan trọng của bộ máy nhà nước, nhưng sự tập trung đó đều bắt nguồn và dựa trên cơ sở của chế độ dân chủ; dân chủ sau khi đã được tập trung phải chịu sự chỉ đạo của tập trung Các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước được trao quyền để quản lý các công việc nhà nước, nhưng đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân

Về mặt hoạt động, các cơ quan nhà nước ở Trung ương có quyền quyết

định các vấn đề cơ bản, quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại trên phạm vi toàn quốc Các cơ quan nhà nước ở địa phương quyết định những vấn đề thuộc phạm vi địa phương mình Quyết định của

cơ quan nhà nước cấp trên có ý nghĩa bắt buộc đối với cơ quan nhà nước cấp dưới Tuy nhiên, trong phạm vi thẩm quyền luật định, các cơ quan nhà nước ở địa phương, cấp dưới có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm về những vấn đề cụ thể ở địa phương và cấp mình Các cơ quan nhà nước trung ương, cấp trên có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan địa phương, cấp dưới, thậm

Trang 16

chí có thể đình chỉ, hủy bỏ quyết định của cơ quan cấp dưới của mình nếu những quyết định đó trái với luật định, nhưng đồng thời cơ quan trung ương, cấp trên cũng phải tạo điều kiện cho các cơ quan địa phương, cấp dưới phát huy quyền chủ động, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề, góp phần vào việc thực hiện các nhiệm

vụ chung của nhà nước

2.4 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Nguyên tắc pháp chế xã hội

chủ nghĩa đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải được tiến hành theo đúng pháp luật trên cơ sở của pháp luật; mọi cán bộ và nhân viên nhà nước đều phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp luật khi thực thi quyền hạn và nhiệm vụ của mình; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật Thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa sẽ là cơ sở đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước, tạo

ra sự thống nhất đồng bộ, phát huy được hiệu lực quản lý của nhà nước, bảo đảm công bằng xã hội Ơ nước ta nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định Tại Điều 12, Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cương pháp chê xã hội chủ nghĩa Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân là mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiện pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa là chông các tội phạm, các vi phạm Hiên pháp và pháp luật Mọi hành động lam phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật"

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc phản ánh nhu cầu tự nhiên của bộ máy nhà nước, đồng thời là đòi hỏi, là yêu cầu từ phía nhân dân đối với bộ máy nhà nước

và nhân viên nhà nước Để thực hiện chủ trương củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam, đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, khắc phục tình trạng yếu kém, lỏng lẻo, thiếu nghiêm minh trong điều chỉnh pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Điều đó đòi hỏi nhà nước phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật làm cơ

sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; phải có những biện pháp giáo dục nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ và nhân dân; tổ chức tốt công tác thực hiện và áp dụng pháp luật; đồng thời phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm minh và xử lý nghiêm khắc các vi phạm pháp luật

2.5 Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc: Xuất phát từ bản

chất của mình các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều thực hiện nguyên tắc bình đẳng

và đoàn kết giữa các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Nhà nước luôn tạo mọi

Trang 17

điều kiện để các dân tộc phát huy mọi khả năng của dân tộc mình tham gia tích cực vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội

Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc thường được biểu hiện ở những điểm cơ bản là:

- Về chính trị, các dân tộc đều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong quá trình thành lập và cử người tham gia vào các cơ quan nhà nước, tham gia vào quản lý các công việc của nhà nước và thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước

- Về kinh tế, các dân tộc bình đẳng với nhau về quyền và lợi ích kính tế, đồng thời nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ để các dân tộc có điều kiện phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

- Về văn hoá, giáo dục các dân tộc đều được dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục tập quán truyền thống và văn hoá tốt đẹp của dân tộc mình

- Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện chính sách đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc

Ở nước ta đoàn kết là truyền thống quí báu của dân tộc Việt nam, là một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước Đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đại đoàn kết dân tộc là một trong những chính sách lớn, quán xuyến trong mọi lĩnh vực, mọi thời kỳ Đại đoàn kết dân tộc lấy mục tiêu chung của các dân tộc làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận và tôn trọng những điểm khác nhau Mục tiêu chung của dân tộc ta hiện nay là: Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc được ghi nhận trong các hiến pháp của nước ta, và trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Câu 14 Vai trò của nguyên thủ quốc gia?

Nguyên thủ quốc gia – người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về mặt đối nội cũng như đối ngoại là thiết chế quan trọng trong tổ chức bộ máy nhà nước

tư sản Đối với các nhà nước cộng hòa, nguyên thủ quốc gia là tổng thống, được thiết lập bằng phương pháp bầu cử Đối với nhà nước quân chủ lập hiến, người đứng đầu nhà nước là vua được thiết lập theo phương pháp truyền thống của chế

độ quân chủ là kế truyền Theo các chính thể khác nhau, cách thức thành lập và quyền hạn của nguyên thủ quốc gia có thể khác nhau

Trang 18

Nguyên thủ quốc gia có quyền hạn lớn nhất là ở trong chính thể cộng hòa tổng thống, điển hình của mô hình này là Hoa Kì, nơi mà tổng thống vừa là người đứng đầu nhà nước vừa đứng đầu Chính phủ.

Ở các nước có chính thể cộng hòa lưỡng tính như Pháp, Nga, Phần Lan, Hàn Quốc, Singapore tổng thống cũng có quyền hạn rất lớn Ở Pháp, Tổng thống do nhân dân bầu cử trực tiếp với nhiệm kì 5 năm có chức năng làm trọng tài điều hòa hoạt động giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, giữ gìn sự tuân thủ hiến pháp, đảm bảo độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và thi hành các điều ước quốc tế

Ở các nước quân chủ lập hiến, quyền lực của nguyên thủ quốc gia không lớn Mặc dù theo quy định của hiến pháp nhà vua có thẩm quyền khá rộng, như bổ nhiệm thủ tướng, cùng với nghị viện thực hiện quyền lập pháp, cùng với chính phủ thực hiện quyền hành pháp; có thể giải tán nghị viện hoặc giải tán hạ nghị viện, có quyền công bố luật, quyền ân xá tuy nhiên, phần lớn các quyền đó trên thực tế do chính phủ thực hiện Quyền quan trọng nhất của nhà vua là bổ nhiệm thủ tướng, tuy nhiên nhà vua không thể lựa chọn ai khác ngoài thủ lĩnh của đảng cầm quyền – đảng chiếm ưu thế trong nghị viện Quyền lực của vua bị hạn chế trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp Chức năng của nhà vua chủ yếu là lễ tân và ngoại giao, vì vậy người ta thường nói: “Nhà vua trị vì nhưng không cai trị”

Câu 15 Phân biệt nguyên tắc tam quyền phân lập và nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa?

- Tam quyền phân lập là nội dung học thuyết của Montesquieu, theo đó chia quyền lực nhà nước cho ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp Mục đích là để tạo cơ chế nội bộ giám sát, ngăn ngừa sự lạm quyền trong bộ máy nhà nước

Dựa trên học thuyết này, hiến pháp của các nước tư sản giao quyền lập pháp cho nghị viện (là cơ quan đại diện được bầu ra bằng tuyển cử, được coi là biểu hiện

ý chí chung của quốc gia)

Quyền hành pháp cho chính phủ (là cơ quan có trách nhiệm thực thi luật pháp đã được nhà nước ban hành)

Quyền tư pháp cho toà án (để phán xử những vi phạm pháp luật)

Ngoài ra, tuỳ quốc gia, hiến pháp còn có nhiều quy định về mối quan hệ ràng buộc giữa ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp

Ví dụ, theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Nghị viện có quyền thông qua luật nhưng để

có hiệu lực phải được Tổng thống ký phê chuẩn Ngược lại, Tổng thống có quyền

ký kết các điều ước quốc tế nhưng phải được Thượng viện phê chuẩn Từ sau vụ

Trang 19

Marbury kiện Madison, nhánh tư pháp ở Hoa Kỳ có quyền xem xét các đạo luật đã được ban hành liệu có vi hiến hay không …

- Nguyên tắc tập quyền XHCN có nguồn gốc từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, gắn liền với yêu cầu xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản

Nguyên tắc này đề cao vị trí, vai trò của cơ quan đại diện các cấp (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) trong tổng thể bộ máy nhà nước Theo nguyên tắc này, hiến pháp xác định cơ quan đại diện cao nhất (Quốc hội) cũng là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền bầu ra các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, bao gồm chính phủ và toà án tối cao, đồng thời trao các chức năng, nhiệm vụ và giám sát hoạt động của các cơ quan đó

Việc tập trung quyền lực nhà nước vào một cơ quan đại diện dân cử được cho là giúp bảo đảm tính thống nhất của quyền lực và nguyên tắc toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân Mặc dù vậy, do quyền lực luôn có nguy cơ bị tha hoá, tập trung quyền lực dễ dẫn đến tình trạng quan liêu, trì trệ và lạm quyền do thiếu giám sát, kiểm soát nội bộ Hậu quả là hiệu năng quản lý của bộ máy nhà nước thấp, tham nhũng phổ biến, các quyền con người, quyền công dân bị vi phạm

Để khắc phục hạn chế của nguyên tắc tập quyền, từ trước đến nay các nhà nước XHCN đã cố gắng áp dụng nhiều biện pháp như thiết lập hệ thống cơ quan viện kiểm sát, xây dựng một cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhưng thực tế cho thấy những biện pháp này rất ít hiệu quả

Câu 16 Phân tích nguyên tắc đảm bảo quyền làm chủ của Nhân dân trong quản lí nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013?

Nguyên tắc đảm bảo quyền làm chủ của Nhân dân trong quản lí nhà nước được quy định cụ thể, rõ nét trong Hiến pháp, về chủ thể là Nhân dân, về quyền lực của Nhà nước thuộc về Nhân dân

Thứ nhất, ngay Lời nói đầu Hiến pháp 2013 thể hiện: " Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" đã thể hiện rõ trách nhiệm của nhân dân trong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: "1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân 2 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức" đã thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao quyền làm chủ của nhân dân trong Hiến pháp là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đồng thời thể hiện đất nước Việt Nam là do chính nhân dân làm chủ, nhân dân

là chủ thể quan trọng trong xây dựng và bảo vệ đất nước Lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 từ Nhân dân được viết hoa, đây không phải đơn thuần là cách thể hiện từ

Trang 20

ngữ mà là diễn đạt ý nghĩa của một chủ thể quan trọng của đất nước theo tư tưởng của Bác Hồ.

Thứ hai, khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định:" Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình", đây là điểm

bổ sung mới quan trọng, vì vai trò làm chủ của Nhân dân đối với nước, Nhân dân giao phó trách nhiệm cho Đảng để lãnh đạo Nhà nước và xã hội, vì vậy, Đảng phải chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước nhân dân trong việc lãnh đạo của mình.Thứ ba, tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước", quy định đa dang hơn về thực hiện quyền lực của Nhân dân so với Hiến pháp năm 1992, đặc biệt thể hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn vai trò làm chủ của Nhân dân

Thứ tư, lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 2003 ghi nhận quyền con người, quyền cơ bản của công dân tại chương II, đặt trang trọng sau chương I quy định về chế độ chính trị Hiến pháp năm 2013 đã có những nhận thức mới về đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng” Đây là những nguyên tắc căn bản đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong mối quan hệ với quyền con người, quyền công dân,

là cơ sở hiến định để mọi người và công dân bảo vệ và thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Ngoài việc thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong Hiến pháp, còn thể hiện các cam kết của Việt Nam trong việc thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến quyền con người mà Việt Nam là thành viên

Thứ năm, Điều 53 Hiến pháp năm 2013 thể hiện: "Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" đã khẳng định quyền sở hữu của Nhân dân và Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước đại diện Nhân dân để sở hữu và thống nhất quản lý, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về việc quản lý tài sản do Nhân dân ủy quyền

Thứ sáu, Điều 65 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm

vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế" thể

Trang 21

hiện trách nhiệm của lực lượng vũ trang là tuyệt đối trung thành với Nhân dân và trước hết là phải bảo vệ Nhân dân là một chủ thể làm chủ đất nước, sau đó là bảo

vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa

Thứ bảy, Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" đã nhấn mạnh vai trò của Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về Nhân dân Nhân dân ủy thác thực hiện quyền lực cao nhất cho Quốc hội để thực hiện quyền lập hiến như đề xuất sửa đổi Hiến pháp, thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp, thảo luận và biểu quyết thông qua Hiến pháp, khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định

Quốc hội có trách nhiệm quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập

và bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh đứng đầu các cơ quan này nhằm đảm bảo sự vận hành và thực thi hoạt động quản lý nhà nước và quản lý xã hội theo theo sự

ủy quyền của Nhân dân cho Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất

Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện nhất quán tư tưởng của Bác Hồ, của Đảng về

vị trí, vai trò của Nhân dân trong lịch sử đấu tranh, xây dựng và bảo vệ đất nước trải qua mấy ngàn năm lịch sử Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác Hồ đã được lịch

sử chứng minh qua các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chính vì vậy, Hiến pháp năm 2013 là sự kết tinh và thể hiện tính đúng đắn về quyền làm chủ của Nhân dân đối với đất nước, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã lựa chọn./

Câu 17 Trình bày khái quát các cơ quan trong bộ máy nhà nước CHXHCN VN theo Hiến pháp 2013?

1 Quốc hội (Chương V Hiến pháp 2013)

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do cử tri cả nước bầu ra Quốc hội thực hiện quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước

2 Chính phủ (Chương VII Hiến pháp 2013)

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước

Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các

Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định

Trang 22

Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số

Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước

Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủvà chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ được phân công Khi Thủ tướng Chính phủ vắng mặt, một Phó Thủ tướng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủủy nhiệm thay mặt Thủ tướng Chính phủlãnh đạo công tác của Chính phủ

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ

3 Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân (Chương VIII Hiến pháp 2013)

- Tòa án nhân dân:

+ Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp

+ Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định

+ Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

- Viện kiểm sát nhân dân:

+ Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp

+ Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định

+ Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

4 Chính quyền địa phương (Chương IX Hiến pháp 2013)

- Hội đồng nhân dân:

+ Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện

cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

Trang 23

+ Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân

- Uỷ ban nhân dân:

+ Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở

địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà

nước cấp trên

+ Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao

5 Hội đồng bầu cử quốc gia, kiểm toán nhà nước (Chương X Hiến pháp 2013)

- Hội đồng bầu cử quốc gia:

+ Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụtổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

+ Hội đồng bầu cử quốc gia gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên.+ Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng bầu cử quốc gia và số lượng thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia do luật định

- Kiểm toán nhà nước:

+ Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập

và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công

+ Tổng Kiểm toán nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán nhà nước, do Quốc hội bầu Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán nhà nước do luật định

Tổng Kiểm toán nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách

nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội

+ Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Kiểm toán nhà nước do luật định

Câu 18 Phân tích địa vị pháp lý của Quốc hội nước CHXHCN VN theo Hiến pháp 2013?

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước

Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;

Trang 24

2 Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

3 Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước;

4 Quyết định chính sách cơ bản vềtài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa

đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toánngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;

5 Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

6 Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

7 Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh

án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia

Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp;

8.Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;

9 Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể,nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật;

10 Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

11 Quyết định đại xá;

12 Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

13 Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn

cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

14 Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực củađiều ước quốc tế liên quan đếnchiến tranh, hòa

Trang 25

bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân vàđiều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội;

15 Quyết định trưng cầu ý dân

Câu 19 Phân tích địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương trong bộ máy nhà nước CHXHCN VN?

1 Chính phủ

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước

- Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các

Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định

Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số

- Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước

- Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo

sự phân công của Thủ tướng Chính phủvà chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ được phân công Khi Thủ tướng Chính phủ vắng mặt, một Phó Thủ tướng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủủy nhiệm thay mặt Thủ tướng Chính phủlãnh đạo công tác của Chính phủ

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ

Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

2 Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này; trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội;

3 Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cục

bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân;

4 Trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc

Trang 26

trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

5 Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thực hiện quản lý về cán

bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định;

6 Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;

7 Tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lựcđiều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;

8 Phối hợp với Ủy ban trung ươngMặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội trong việcthực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình

- Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội Khi Quốc hội hết

nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới thành lập Chính phủ

* Bộ và các cơ quan ngang Bộ

1 Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc

2 Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ báo cáo công tác trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân về những vấn

đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý

Câu 20 Phân tích mối quan hệ giữa Chính phủ với các cơ quan khác

Mối quan hệ giữa Chính phủ với các cơ quan khác cũng thể hiện vị trí của Chính phủ trong thực thi quyền lực được phân công

1 Mối quan hệ giữa Chính phủ với Quốc hội

Hiến pháp năm 2013 đã bỏ quy định về thẩm quyền của Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, tạo điều kiện cho Chính phủ và các chủ thể khác chủ động, linh hoạt trong việc đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh; phân định rõ hơn phạm vi chính sách và các vấn đề quan trọng do Quốc hội và Chính phủ quyết định trong một số lĩnh vực (như Quốc hội quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách,

Trang 27

nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia…, còn Chính phủ có thẩm quyền ban hành các chính sách, biện pháp cụ thể để quản lý, điều hành các lĩnh vực)

Về mối quan hệ trong lĩnh vực điều ước quốc tế (đàm phán, ký kết, gia nhập

và tổ chức thực hiện điều ước quốc tế), Hiến pháp năm 2013 đã tạo lập sự phân

công khoa học, hợp lý nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ Theo đó, Quốc hội “quyết định gia nhập hoặc chấm

dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền

quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và

nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của

Quốc hội” (khoản 14 Điều 70); Chính phủ “Tổ chức đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký,

gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính

phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70” (khoản 7 Điều 96); Thủ tướng Chính phủ “quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên” (khoản 5 Điều 98)

2 Mối quan hệ của Chính phủ với Tòa án nhân dân

Số lượng Thẩm phán Tòa án khác, cơ cấu tỷ lệ các ngạch Thẩm phán tại mỗi cấp Tòa án và tổng biên chế của Tòa án nhân dân do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sau khi có ý kiến của Chính phủ (Khoản 2 Điều 95 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân)

Kinh phí hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương do Chính phủ trình Quốc hội quyết định sau khi thống nhất với Tòa án nhân dân tối cao Trường hợp Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao không thống nhất về dự toán kinh phí hoạt động của Tòa

án nhân dân thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị Quốc hội xem xét, quyết định (Khoản 1 Điều 96 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân)

Công tác thi hành án, đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ xét xử của cơ quan hành pháp có tác động không nhỏ đến hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Chính phủ ban hành nhiều Nghị định, là các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng để làm cơ sở cho Tòa án tiến hành xét xử Tòa án nhân dân tối cao và các tòa

án địa phương, về nguyên tắc có quyền xét xử hành vi vi phạm của các thành viên Chính phủ

3 Mối quan hệ của Chính phủ với Viện kiểm sát nhân dân

Trang 28

Tổng biên chế, số lượng Kiểm sát viên; cơ cấu tỷ lệ các ngạch Kiểm sát viên tại mỗi cấp Viện kiểm sát; số lượng, cơ cấu tỷ lệ các ngạch Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sau khi có ý kiến của Chính phủ (Khoản 2 Điều 93 Luật Tổ chức Viện kiểm sát 2014)

Kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân do Viện kiểm sát nhân dân tối cao lập dự toán và đề nghị Chính phủ trình Quốc hội quyết định Trong trường hợp Chính phủ và Viện kiểm sát nhân dân tối cao không thống nhất về dự toán kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị Quốc hội xem xét, quyết định Việc quản lý, phân bổ và sử dụng kinh phí được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách (Khoản 2 Điều 94 Luật Tổ chức Viện kiểm sát 2014)

Chế độ phụ cấp đặc thù của cán bộ, công chức, viên chức Viện kiểm sát

nhân dân do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Ủy ban thường vụ

Quốc hội, Chính phủ quyết định (Khoản 1 Điều 96 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân)

4 Mối quan hệ của Chính phủ với Hội đồng nhân dân các cấp

Chính phủ hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện các văn

bản của cơ quan nhà nước cấp trên Tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định: (1) Gửi cho Hội đồng nhân dân tỉnh các văn bản của Chính phủ, giải đáp thắc mắc; (2) Bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân về kiến thức quản lý nhà nước; (3) bảo đảm cơ sở vật chất, tài chính để Hội

đồng nhân dân hoạt động

Chính phủ có quyền quyết định điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh Việc điều chỉnh địa giới này ảnh hưởng trực tiếp đến việc phải thành lập Hội đồng nhân dân mới trên các đơn vị hành chính mới Thủ tướng Chính phủ

có quyền đình chỉ thi hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và đề nghị ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ Hội đồng nhân dân các cấp, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có quyền quyết định những đường lối phát triển, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương Hiệu quả các văn bản của Chính phủ muốn thực hiện tốt trên phạm vi địa bàn, cần phải được sự đồng tình, ủng họ của các cơ quan này

5 Mối quan hệ của Chính phủ với ủy ban nhân dân các cấp

Chính phủ và các ủy ban nhân dân đều thuộc hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước Vì vậy, chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau

Chính phủ trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành

Trang 29

chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (khoản 4 Điều 96 Hiến pháp 2013);

Chính phủ thực hiện quản lý về cán bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; lãnh đạo

Ủy ban nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; (khoản 5 Điều 96 Hiến pháp 2013)

Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất

và thông suốt của nền hành chính quốc gia; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;(khoản 3 Điều 98 Hiến pháp 2013)

Thủ tướng chính phủ có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời

đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ; (khoản 4 Điều 98 Hiến pháp 2013)

6 Mối quan hệ giữa Chính phủ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các

tổ chức chính trị xã hội

Về nguyên tắc, các vấn đề liên quan đến mối quan hệ làm việc của các thiết chế nhà nước không quy định trong Hiến pháp Tuy nhiên, do tính đặc thù của hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vị trí, vai trò quan trọng đối với hoạt động của Chính phủ cũng như của cả

bộ máy nhà nước nói chung, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý điều hành các mặt đời sống kinh

tế - xã hội của đất nước Khoản 8 Điều 96 Hiến pháp 2013 quy định Chính phủ

"phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội trong việcthực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình."

Điều 101 của Hiến pháp năm 2013 quy định: "Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được mời tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề

có liên quan."

Câu 21 Hiểu thế nào về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam?

Trang 30

Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân" Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam là như cầu, đòi hỏi khách quan của quá trình xây dựng và phát triển đất nước nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Quá trình đó còn được thúc đẩy bởi các yêu cầu

và xu thế như xây dựng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chống lại các hiện tượng độc đoán, chuyên quyền trong xã hội, đặc biệt là trong bộ mát nhà nước; dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội; bảo đảm và bảo vệ các quyền, lợi ích của công dân, thực hiện công bằng xã hội; thích ứng với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và quốc tế; bảo đảm sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước,…

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam vừa bảo đảm tuân thủ những nguyên tắc, giá trị có tính phổ biết được thừa nhận chung trong tất cả các nhà nước pháp quyền vừa có sự vận dụng sáng tạo những nguyên lí của nhà nước pháp quyền vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam nhằm giữ vững định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa của đất nước Vì vậy, những giá trị của học thuyết nhà nước pháp quyền và kinh nghiệm thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở các nước khác đã được Đảng, Nhà nước Việt Nam tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo cho phù hợp với thực tiễn lịch sử và hiện tại của đất nước Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trên cơ sở tiếp tục kiên định các nguyên lí của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về

tổ chức nhà nước, về hoạt động xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật,

và đảm nguyên tắc tập trung-dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước… Xuất phát từ tất cả những điều kiện trên, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng với những đặc điểm cơ bản sau:

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc đề cao chủ quyền nhân dân, những vấn đề quan trọng nhất của đất nước do nhân dân quyết định

Nhà nước coi con người là giá trị cao nhất trong xã hội, luôn phấn đấu vì hạnh phúc của con người theo tinh thần “tất cả cho con người, tất cả vì con người”;

- Quyền lực nhà nước ở Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất trên cơ sở có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp;

- Trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân ở Việt Nam là mối quan hệ chủ đạo trong xã hội, thể hiện vai trò của một nhà nước “phục vụ”, đồng thời thể hiện trách nhiệm của công dân trước nhà nước và xã hội Nhà nước Việt Nam phấn đấu thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong các mối quan hệ giữa nhà nước và công dân;

Trang 31

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng gắn với một xã hội công dân, xã hội dân sự Do vậy, dân chủ, độc lập, tự do, hạnh phúc vừa là mục tiêu vừa là động lực để Nhà nước và xã hội phấn đấu vươn tới;

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh và có thiện chí các cam kết quốc tế Nhà nước Việt Nam thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi Nhà nước tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, là độ i tiên phong của giai cấp công dân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa kể từ khi ra đời đến nay luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Những đặc điểm nêu trên của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng được xem như là những mục tiêu hành động mà đất nước Việt Nam đã

và đang hướng tới để thực hiện

Câu 22 Vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị của nước CHXHCN Việt Nam?

Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước giữ vị trí trung tâm và

có vai trò chủ đạo đối với quản lí xã hội Sở dĩ nhà nước xã hội chủ nghĩa giữ được

vị trí trung tâm và có vai trò chủ đạo đó là vì so với các tổ chức thành viên khác của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước có hai ưu thế đặc biệt quan trọng

Một là nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức chính trị mang quyền lực nhân dân, thể hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất ý chí và lợi ích của nhân dân

Nhà nước xã hội chủ nghĩa có được ưu thế này do những nguyên nhân dưới đây:

- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là sản phẩm thắng lợi của cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo và tiến hành cùng với các giai cấp và tầng lớp xã hội khác, vì mục tiêu xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, bất công, tiến lên xây dựng chế độ thật sự ấm no, tự do, hạnh phúc, dân chủ, bình đẳng Đây thật sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

- Nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng, củng cố và phát triển trên cơ sở

xã hội rộng lớn nhất so với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Cơ sở xã hội rộng lớn ấy là toàn thể nhân dân lao động mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Trang 32

Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.”

- Nhà nước xã hội chủ nghĩa có quyền lực công khai, bao trùm toàn xã hội

và tác động trong phạm vi rộng lớn nhất so với quyền lực của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân được hợp pháp hóa, công khai hóa và thực hiện hóa bằng pháp luật do nhân dân tạo ra, do đó tác động tới mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội xã hội chủ nghĩa và được đảm bảo thực hiện bằng mọi biện pháp của nhà nước trong đó có biện pháp cưỡng chế

- Nhiệm vụ, mục tiêu của nhà nước phù hợp với ý nguyện, lợi ích của nhân dân: Xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, bảo đảm công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân về mọi mặt, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị xã hội khác nhau

- Mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước và những vấn đề quan trọng nhất liên quan tới lợi ích của cả nước và địa phương đều được nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia xây dựng, quyết định và thực hiện

- Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước đều xuất phát từ nhân dân, một lòng phục vụ nhân dân và chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.” (Điều 8)

Hai là nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ có hiệu lực nhất để thực hiện quyền lực nhân dân Ưu thế thứ hai của nhà nước xã hội chủ nghĩa có được

bởi những lí do sau:

- Do có cơ sở xã hội rộng lớn nhất so với các thành viên khác của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa cho nên nhà nước xã hội chủ nghĩa có khả năng triển khai một cách nhanh chóng và có hiệu quả mọi chính sách, pháp luật của mình, khi những chính sách, pháp luật ấy được nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp xây dựng, quyết định và ủng hộ Nhà nước xã hội chủ nghĩa có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia tích cực, có hiệu quả vào việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước và thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện ấy; gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật do mình ban hành; xử lí mọi hành

vi pháp luật trong bộ máy nhà nước và ở ngoài xã hội một cách kịp thời, nghiêm chỉnh, nhanh chóng, đúng pháp luật; thường xuyên điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện

Trang 33

cơ chế, chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn đang biến đổi nhanh chóng

và sâu sắc

- Nhà nước xã hội chủ nghĩa có quyền ban hành pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật bằng biện pháp cưỡng chế Xây dựng pháp luật là hình thức hoạt động quản lí trước tiên của nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm đưa ra hệ thống các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội hay phần lớn xã hội Khi có pháp luật tốt, nhà nước xã hội chủ nghĩa bảo đảm thực hiện pháp luật

ấy bằng tất cả sức mạnh vật chất và tinh thần của mình; trong đó có biện pháp cưỡng chế Các tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa tự mình không có quyền ban hành pháp luật Trong trường hợp pháp luật quy định các tổ chức đó tham gia quản lí nhà nước thì họ có thể cùng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch để hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nhiệm vụ, chức năng, thẩm quyền của hai bên

- Nhà nước xã hội chủ nghĩa có bộ máy chuyên nghiệp mà bộ máy đó vừ quản lí bằng pháp luật các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, vừa áp dụng biện pháp cưỡng chế khi cần thiết trên cơ sở pháp luật Các tổ chức thành viên khác của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa hoặc là lãnh đạo bộ máy nhà nước (đảng cộng sản) hoặc là tham gia cùng với bộ máy nhà nước (các tổ chức xã hội khác) thực hiện tốt hai nhiệm vụ đó, chứ không phải là những tổ chức chuyên trách quản lí xã hội bằng pháp luật và áp dụng biện pháp cưỡng chế theo pháp luật

- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ sở hữu tối cao những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, nắm trong tay nguồn lực kinh tế, tài chính, kĩ thuật to lớn, không những có khả năng bảo đảm sự hoạt động bình thương của mình mà còn hỗ trợ các

tổ chức thành viên khác của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa hoạt động có hiệu quả Các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đều dựa vào cơ

sở vật chất kĩ thuật của nhà nước xã hội để hoạt động và nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho họ hoạt động, vì mục tiêu chung là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức chính trị duy nhất trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mang chủ quyền quốc gia Đặc tính này thể hiện ở chỗ Nhà nước xã hội chủ nghĩa có toàn quyền quyết định và thực hiện các chính sách đối nội, đối ngoại của mình, không lệ thuộc vào ý chí từ bên ngoài; có quyền nhân danh cả quốc gia và toàn thể dân tộc trong quan hệ đối ngoại và là chủ thể của công pháp quốc tế

Câu 23 Phân tích vai trò của Đảng Cộng Sản VN trong hệ thống chính trị nước CHXHCN VN và mối quan hệ giữa ĐCSVN với Nhà nước CHXHCNVN?

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ:

“Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung

Trang 34

thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội."

Với vai trò là hạt nhân chính trị trong hệ thống chính trị, Ðảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó có Nhà nước Sự lãnh đạo chính trị của Ðảng được thể hiện thông qua quyền quyết định và quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị

Ðảng quyết định và chịu trách nhiệm về đường lối chính trị trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và phát triển của đất nước Quyền lực chính trị của Ðảng được kết tinh trong cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, chủ trương tạo lập khung chính trị cho sự phát triển của đất nước, của từng lĩnh vực, từng ngành, từng cấp trong mỗi giai đoạn phát triển

Theo mô hình tổ chức và hoạt động, HTCT được vận hành theo nguyên lý huy động tổng lực của mọi thành phần, lực lượng quốc gia, nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của toàn dân tộc, trong đó Đảng là hạt nhân chính trị, Nhà nước là trụ cột của hệ thống, MTTQ và các đoàn thể xã hội là tổ chức liên minh chính trị - xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc Với bản chất đó, Đảng có chức năng, vị trí, vai trò lãnh đạo HTCT để thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng: xây dựng Việt Nam thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Cơ chế Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ là cơ chế hợp

lý Nhân dân làm chủ là đích đến của hoạt động của HTCT Thực tế tổ chức và vận hành của cơ chế Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ qua hơn 80 năm lãnh đạo của Đảng đã phát huy tốt, mặc dù trong mỗi giai đoạn cách mạng, từng bộ phận của HTCT có những đổi mới cho phù hợp với thực tế cuộc sống

Với tư cách là bộ phận hạt nhân của HTCT - Đảng vừa đề ra mục tiêu, vừa lãnh đạo và vừa là động lực hoạt động của HTCT Đảng tổ chức và phát huy các bộ phận khác của hệ thống hoạt động với hiệu quả tối đa nhằm đạt mục tiêu, lý tưởng của Đảng Đảng phát huy sức mạnh của Nhà nước với tư cách trụ cột của HTCT, bảo đảm bộ máy nhà nước vận hành đúng chức năng, nhiệm vụ, vị trí của nó Nhà nước là sức mạnh chính của HTCT Nhà nước mạnh tức là Đảng mạnh Năng lực lãnh đạo của Đảng thể hiện không chỉ ở định hướng chiến lược, đề ra đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước mà còn ở xác định hợp lý, rõ ràng quyền lực, cơ chế hoạt động của Nhà nước, tạo sự độc lập giữa các cơ quan quyền lực nhà nước để một mặt, phát huy tối đa sức sáng tạo, đem lại hiệu lực và hiệu quả cao trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, mặt khác, tạo điều kiện để các cơ quan đó kiểm tra, giám sát và hỗ trợ nhau thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước pháp quyền XHCN HTCT Việt Nam là HTCT của nhân dân và vì nhân dân, bảo đảm và phấn đấu cho quyền và lợi ích của nhân dân

Trang 35

Câu 24: Phân tích vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị của nước CHXHCNVN và mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội với Nhà nước CHXHCN Việt Nam?

Ở nước ta, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình không chỉ bằng Nhà nước, mà còn thông qua các tổ chức chính trị - xã hội Các tổ chức chính trị -

xã hội đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị của nước CHXHCN Việt Nam Địa vị pháp lý của các tổ chức chính trị - xã hội được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật

Theo Khoản 2, Điều 9 Hiến pháp năm 2013: “Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.”

Các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ đối với nhà nước Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Theo Hiến pháp 2013: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận

xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ máy nhà nước, trên cơ sở nguyên tắc hiệp thương, thông qua việc hiệp thương trong bầu cử, mặt trận góp phần hình thành nên hệ thống cơ quan dân cử

- Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam

Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức đoàn kết rộng rãi của các tầng lớp phụ nữ nước ta Hội có nhiệm vụ giáo dục các thành viên của Hội hiểu rõ trách nhiệm

Trang 36

của người phụ nữ đối với đất nước Bên cạnh đó, Hội góp phần hình thành ở phụ nữ tinh thần phấn đấu vươn lên trong mọi lĩnh vực công tác xã hội.

Hội còn là tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, là tổ chức hoạt động với mục đích nâng cao mức sống cho phụ nữ, góp phần tạo lập sự bình đẳng về giới

- Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

Đoàn thành niên cộng sản Hồ Chí Minh là tầng lớp rộng rãi của tầng lớp thanh niên, là nơi rèn luyện và giáo dục thế hệ trẻ Đoàn là lực lượng năng động, nhiệt tình, luôn đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Hội nông dân Việt Nam

Hội nông dân Việt Nam là tổ chức đại diện cho giai cấp nông dân nước ta Hội có nhiệm vụ giáo dục, nâng cao ý thức và năng lực làm chủ cho giai cấp nông dân, động viên nông dân tham gia tích cực vào các hoạt động kinh tế, tham gia quản lý nhà nước và xã hội

- Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Hội Cựu chiến binh là tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là một cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội Hội Cựu chiến binh Việt Nam có chức năng đại diện ý chí, nguyện vọng

và quyền lợi chính đáng, hợp pháp của Cựu chiến binh Hội làm tham mưu giúp cấp uỷ Đảng và làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết, vận động Cựu chiến binh thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội của cách mạng, của Hội; tham gia giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước

- Công đoàn Việt Nam

Hiến pháp 2013 quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lí nhà nước, quản lí kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động, tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Câu 25 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật?

1 Khái niệm pháp luật:

Quan điểm Mác-Lênin được xây dựng trên cơ sở triết học duy vật lịch sử đã khẳng định về hiện diện khác quan của pháp luật trong đời sống xã hội có giai cấp Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban

Trang 37

hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể Với cách tiếp cận này, pháp luật chính là thứ chuẩn mực xã hội, là thước đo của hành vi được hình thành bằng con đường nhà nước và mang tính quyền lực nhà nước.

Pháp luật là hiện tượng lịch sử có nguồn gốc từ xã hội và là nhân tố trật tự hóa các quan hệ xã hội Đó chính là công cụ mà gaii cấp cầm quyền sử dụng để thực hiện chức năng quản lí và hợp pháp hóa quan hệ thống trị đối với xã hội Tuy nhiên, thực tiễn nghiên cứu khoa học pháp lí ở nước ta cũng đã có ý kiến cho rằng cần phải mở rộng nội hàm khái niệm pháp luật để tiếp cận pháp luật một cách đầy

đủ hơn Hay nói cách khác là hiểu pháp luật với nghĩa rộng hơn bằng việc xem xét một cấu trúc đa dạng nguồn tạo lập nên chính nó Theo đó, pháp luật không đơn thuần chỉ là sự hiện hữu bằng hệ thống quy tắc xử sử có tính bắt buộc chung mà còn bao gồm nhiều yếu tố khác như: các nguyên tắc pháp luật, khung pháp luật, chính sách pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật và các học thuyết pháp lí, các thực nghiệm pháp lí cũng như các hành vi pháp lí thực tiễn v.v

2 Đặc điểm của pháp luật:

a Pháp luật mang tính quyền lực nhà nước

Pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện nghĩa

là nó chỉ được hình thành bằng con đường nhà nước Với tư cách đặc biệt của mình, nhà nước là tổ chức hợp pháp, công khai và có quyền lực bao trùm toàn xã hội Thông qua nhà nước, giai cấp thống trị thể hiện và hợp pháp hóa ý chí của mình một cách chính thống trên thực tế Việc bảo đảm cho các quy định pháp luật được thực thi có hiệu quả chính là bảo đảm cho quyền lực nhà nước có thể tác động đến mọi chủ thể Chính vì vậy, pháp luật không tách rời nhà nước, luôn mang tính quyền lực nhà nước trong quá trình tồn tại và phát huy giá trị đích thực của nó

b Pháp luật mang tính bắt buộc chung

Pháp luật được xây dựng nên không phải vì cá nhân hay tổ chức đơn lẻ mà

nó được sử dụng cho số đông các loại chủ thể gắn liền với những điều kiện cụ thể

Vì lẽ đó, pháp luật ghi nhận các giá trị xã hội, các phương thức ứng xử điển hình, phổ biến trong xã hội Bằng những mệnh lệnh thức: cho phép, ngăn cấm hoặc bắt buộc, pháp luật tác động đến ý thức chủ thể, đòi hỏi chủ thể xác lập hoặc không được xác lập những hành vi nhất định Bất cứ chủ thể nào rơi vào hoàn cảnh đã được pháp luật xác định đều phải xử sự theo quy định, yêu cầu của pháp luật Như vậy, xử sự đúng với pháp luật không chỉ là yêu cầu pháp lí đối với chủ thể mà cũng

là trách nhiệm của chính chủ thể đó trước các giá trị và phương thức ứng xử đã được xã hội tôn trọng và thừa nhận Tính bắt buộc chung của pháp luật trước hết đòi hỏi nó phải được thống nhất trong nhận thức và thực thi trên thực tế Tuy nhiên, do ý thức và trình độ văn hóa nói chung ở mỗi người khác nhau nên đòi hỏi

đó là điều khó có được trong đời sống thực tế

c Pháp luật mang tính quy phạm phổ biến

Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự, đó chính là khuôn mẫu, thước đo, chuẩn mực pháp lí Tính quy phạm của pháp luật không trừu tượng mà rất cụ thể trong

Ngày đăng: 22/04/2016, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w