1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương môn lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật hoàn chỉnh

28 308 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 172,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với đó, quyền lực nhà nước luôn gắn với chủ quyềnquốc gia và trong điều kiện xã hội hiện đại, quyền lực này thuộc về nhân dân và được thể hiện thông qua những định chế nhà nước - ph

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN LÝ LUẬN CƠ BẢN

- Biểu hiện tính giai cấp của nhà nước: thông qua việcthực hiện các chức năng của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu,nhiệm vụ mà nhà nước đặt ra và qua các hình thức thực hiệnquyền lực kinh tế, chính trị, tư tưởng của nhà nước

- Nhà nước có tính giai cấp vì giai cấp là một trong nhữngnguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hình thành nhà nước và nhànước cũng là công cụ quan trọng để trấn áp giai cấp

Tính xã hội của Nhà nước:

- Khái niệm: là sự tác động của những yếu tố xã hội bêntrong quyết định những đặc điểm và xu hướng phát triển cơ bảncủa nhà nước

- Biểu hiện của tính xã hội: thộng qua việc thực hiện chứcnăng của nhà nước nhằm đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ củanhà nước

- Nhà nước có tính xã hội bởi nhà nước ra đời nhằm đápứng nhu cầu quản lý của xã hội và nhà nước cũng chính là mộttrong những công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội

Mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước

- Là mối quan hệ giữa những mặt, những yếu tố thuộc bảnchất của nhà nước

- Mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội thể hiện sự

mâu thuẫn và thống nhất giữa hai mặt của khái niệm bản chất nhà

nước

Trang 2

- Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước khôngchỉ chịu sự tác động của từng yếu tố (tính giai cấp và tính xã hội)

mà nó còn chịu sự tác động của mối quan hệ tương tác giữa tínhgiai cấp và tính xã hội

- Bản chất nhà nước là nền chuyên chính của một giai cấp nàyđối với giai cấp khác và đối với toàn xã hội Nhờ có bộ máy nhànước, giai cấp thống trị chiếm số ít trong dân cư duy trì được sự ápbức, bóc lột của mình đối với giai cấp bị trị bao giờ cũng chiếm sốđông Bản chất đó được thể hiện ở chức năng và đặc trưng của nhànước

- Với tính cách là nền chuyên chính của một giai cấp đối vớigiai cấp khác, nhà nước của giai cấp bóc lột không thể là kẻ "côngbằng" bảo vệ lợi ích cho các giai cấp trong xã hội

- Theo bản chất đó, nhà nước, là một bộ phận quan trọng nhấtcủa kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp Do đó, "Nhànước nói chung chỉ là sự phản ánh, dưới hình thức tập trung củanhững nhu cầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất"

Kết luận: Nhà nước là một tổ chức chính trị có quyền lực công cộng đặc biệt, được hình thành và bị quyết định bởi nhu cầu trấn áp giai cấp và nhu cầu quản lý các công việc chung của xã hội.

Cấu trúc của quyền lực nhà nước

Sự ra đời và tồn tại của Nhà nước là kết quả của cuộc đấutranh giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp Nhà nước khácvới các tổ chức xã hội khác ở chỗ, Nhà nước thiết lập quyền lựccông cộng đặc biệt, có bộ máy cưỡng chế để đảm bảo thựcthi quyền lực đó Đây là thứ quyền lực chỉ riêng Nhà nước mới

có và nhờ thứ quyền lực này, cho phép Nhà nước thâu tóm quản

lý hầu hết các nguồn nhân lực, tài lực của một quốc gia

Cùng với đó, quyền lực nhà nước luôn gắn với chủ quyềnquốc gia và trong điều kiện xã hội hiện đại, quyền lực này thuộc

về nhân dân và được thể hiện thông qua những định chế nhà nước

- pháp luật Quyền lực nhà nước được biểu hiện cụ thể ở hệ thốngcác cơ quan, tổ chức nhà nước, các quy định pháp luật và những

Trang 3

nguyên tắc vận hành của hệ thống đó tạo nên một cơ chế thực hiệnquyền lực nhà nước Cơ chế đó được hình thành và phát triển cùngvới sự phát triển của văn minh nhân loại và được cụ thể hóa ở mỗiquốc gia tùy thuộc vào những điều kiện khách quan và chủ quan ởmỗi thời kỳ phát triển.

Quan niệm về tổng thể cấu trúc quyền lực nhà nước, ngay từtrước Công nguyên, các nhà tư tưởng lớn như Platon và Aristote

đã nhắc tới phân quyền, nhưng chỉ dừng lại ở quan niệm về một sựphân công lao động và phân nhiệm trong bộ máy nhà nước Chođến tận thế kỷ thứ XVI - thế kỷ thứ XVIII, J.Locke và S.LMontesquieu đã phát triển các tư tưởng này thành học thuyết

"phân chia quyền lực” Cùng với các ông, nhiều học giả tư sảnkhác cũng quan tâm đến vấn đề này Có quan niệm thì phân chiaquyền lực thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liênbang (J Locke); có quan niệm thì phân chia quyền lực thànhquyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp (S.LMontesquieu, I Cant) Nhưng dù sao cũng không ít quan niệm chorằng, quyền lực không thể phân chia hoặc chí ít cũng có mối quan

hệ khăng khít không thể tách rời (J.J Rousseau ) Ở Trung Quốctrước kia - Trung Hoa Dân quốc, còn có quan niệm quyền lựcđược phân chia thành 5 quyền và họ phản ánh 5 quyền đó vàoHiến pháp năm 1947 Vậy có thể nói rằng, việc phân chia quyềnlực không hẳn là một nguyên tắc khoa học, hợp lý mà là một thủpháp chính trị nhằm hạn chế độc tài, chuyên chế, bảo vệ tự do củacon người Tuy nhiên, việc phân công, phân nhiệm trong bộ máynhà nước là cần thiết để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong quá trìnhquản lý xã hội

Nghiên cứu về cấu trúc quyền lực nhà nước, theo chúng tôi,vấn đề cơ bản cần xem xét đó là kết cấu của các nhánh quyền lực

và nguyên tắc vận hành của các nhánh quyền lực Trong xã hộihiện đại, quyền lực nhà nước bao gồm 3 nhánh quyền lực chủ yếu

là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, theo đó:

Trang 4

(1) Quyền lập pháp là quyền làm ra Hiến pháp và luật, do cơquan lập pháp thực hiện Cơ quan lập pháp ở các nước khác nhau

có tên gọi khác nhau và cách thức tổ chức cũng khác nhau;

(2) Quyền hành pháp là một bộ phận cấu thành của quyền lựcnhà nước, có nhiệm vụ thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào tổchức xã hội và quản lý xã hội Quyền hành pháp do một bộ máyhành chính nhà nước phức tạp trải rộng từ trung ương tới địaphương thực hiện

(3) Quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật do cơ quan

tư pháp thực hiện

Về ba quyền cơ bản trong hệ thống quyền lực nhà nước, theoLocke, thì ông ta chỉ thừa nhận hai quyền lập pháp và hành pháp,đồng thời đề xuất về sự phân công quyền lực, nhưng không nêuviệc kiểm soát quyền lực Chỉ đến Montesquieu, ngoài việc đềxuất phân chia quyền lực nhà nước thành 3 quyền: Lập pháp, hànhpháp và tư pháp, thì ông cũng đề xuất thêm yêu cầu kiểm soátquyền lực Hơn nữa, không phải chỉ kiểm soát từ bên ngoài, mà làngay trong cơ cấu nội tại của hệ thống quyền lực nhà nước, như

một cơ thể sống với cơ chế tự động, tự phòng chống

Trang 5

Câu 2 Bằng l ý luận và thực tiễn anh (chị) hãy làm rõ tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

- Về mặt lý luận

Ở nước ta, sau khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhànước ta mới có đủ những cơ sở và điều kiện khách quan để xâydựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà quyền lựcnhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân

Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩađược coi là một sáng tạo trong tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễncủa Đảng ta về tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng và tổ chức quản

lý xã hội nói chung Từ chỗ cơ bản quan tâm đến các vấn đề bênngoài của tổ chức quyền lực nhà nước (như kiện toàn tổ chức,chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước…),chúng ta đã coi trọng bản chất của Nhà nước Đó là việc xác lậpnguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, coi trọng tính phápquyền trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Từ nhậnthức đúng đắn về nguyên tắc này, chúng ta ngày càng ý thức đượcđây là tinh hoa của khoa học tổ chức quyền lực nhà nước, quản lý

xã hội của loài người và vận dụng sáng tạo, hài hòa với cácnguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạt động của Nhà nước xã hội chủnghĩa

Nguyên tắc tổ chức của quyền lực nhà nước và xây dựng nhànước pháp quyền lần đầu tiên được Ðảng và Nhà nước ta xác địnhtrong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đilên chủ nghĩa xã hội năm 1991 như sau: “Nhà nước Việt Namthống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phâncông rành mạch ba quyền đó”[4] và chính thức đưa vào văn kiệnĐại hội VII, được phát triển thêm qua văn kiện Đại hội VIII, đặcbiệt là văn kiện Đại hội IX của Đảng Đồng thời với chủ trươngtăng cường pháp chế, các nghị quyết của Đại hội IX cũng chủtrương mở rộng dân chủ và được coi là cơ sở chính trị - xã hộicủa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Chủ trương này tiếp tục được khẳng định lại ở Đại hội X:

“Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Cần xây

Trang 6

dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhândân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợpgiữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp

và tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thicủa các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng, hoàn thiện

cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạtđộng và quyết định của các cơ quan công quyền”

Như vậy, ở đây chúng ta vẫn dễ dàng nhận thấy rằng, tínhpháp chế là đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền và bảnchất của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Về mặt tư duy lý luận, có lẽ điểm khácbiệt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam so vớicác Nhà nước pháp quyền khác là ở cơ chế vận hành của Nhànước Ở các nhà nước pháp quyền tư sản dù với các biến thể khácnhau, thì cơ chế vận hành phổ biến vẫn là “tam quyền phân lập”.Việc Đảng ta xây dựng cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơquan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảođảm quyền lực nhà nước là thống nhất, chính là dựa trên cơ sở lýluận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nhà nước và pháp luật

Về mặt thực tiễn

Điều kiện thực tiễn thay đổi, Đại hội XI của Đảng đã kế thừaquan điểm của Đại hội X và bổ sung phát triển phù hợp với tìnhhình mới: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhànước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấpcông nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo Quyền lực nhà nước là thống nhất,

có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong

việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”

So với Đại hội X, việc tổ chức và thực thi quyền lực nhànước ta theo quan điểm của Đại hội XI có hai điểm mới như sau:

Một là, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước trước đây

trong Văn kiện của Đảng thường sử dụng từ “dưới” nay thay bằng

Trang 7

từ “do” - “do sự lãnh đạo của Đảng” Đây là một sự thay đổi nhậnthức quan trọng, khẳng định rằng, dù Đảng là hạt nhân của hệthống chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, dù “sự lãnh đạođúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi củacách mạng Việt Nam” thì Đảng cũng không đứng trên Nhà nướcpháp quyền, không đặt Nhà nước pháp quyền “dưới” Đảng Điềunày cũng thể hiện sự chuyển biến nhận thức về vai trò lãnh đạocủa Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước

Hai là, kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan trong

việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nghĩalà,quyền lực nhà nước phải được kiểm soát, mà trước hết kiểmsoát ngay từ bên trong Nhà nước, ngay trong quá trình tổ chức vàvận hành bộ máy nhà nước, sau đó là sự kiểm soát của nhân dânbằng các hình thức giám sát, phản biện xã hội khác

Như vậy, quá trình nhận thức lý luận của Đảng ta về Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cấu trúc quyền lực trong Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa đã khẳng định rõ: Quyền lực nhà nước

là tập trung thống nhất thuộc về nhân dân Nhân dân là chủ thể củaquyền lực nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo Đây chính là giátrị đích thực và bền vững trong tư tưởng nhân loại về Nhà nướcpháp quyền Để thực thi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân cóhiệu quả, quyền lực nhà nước được tổ chức thành ba bộphận, quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Tuy nhiên, đâykhông phải ba bộ phận quyền tách rời nhau, mà mỗi bộ phậnquyền chỉ đại diện quyền lực nhà nước trong giới hạn chức năng,nhiệm vụ của mình

Hệ thống tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước.

- Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quanquyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết địnhcác vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối vớihoạt động của Nhà nước Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhànước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối

Trang 8

nội và đối ngoại, Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo côngtác trước Quốc hội.

- Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hànhpháp, Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốchội

- Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Chánh án Tòa

án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trướcQuốc hội; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểmsát hoạt động tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối caochịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội

- Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyệnvọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địaphương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơquan nhà nước cấp trên

Sự phân công càng rõ ràng, cụ thể thì hiệu lực và hiệu quảhoạt động của các cơ quan nhà nước càng được nâng cao Vìvậy, sự phân công quyền lực là cơ sở để thực hiện tốt nhất quyềnlực nhà nước thống nhất Hơn nữa, với cơ cấu tổ chức quyền lựcnhư vậy, các cơ quan này thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát lẫnnhau, loại bỏ có hiệu quả nguy cơ độc quyền hay lạm quyền vànạn quan liêu hoá bộ máy nhà nước Bên cạnh đó là yêu cầu phải

có sự phối hợp của các cơ quan trong quá trình thực thi quyềnlực nhà nước mà nhân dân giao phó

Từ nhận thứ lý luận, quan điểm về phân công, phối hợp trongthực thi quyền lực nhà nước đã được thể chế hóa thành các quyđịnh trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), thểchế hóa trong các Luật về tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân nhân, Viện Kiểm sátnhân nhân và nhiều đạo luật khác

Trang 9

Câu 3 Bằng lý luận và thực tiễn anh (chị) hãy làm r õ bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của n

h à nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam

Bản chất nhà nước CHXHCN Việt Nam.

- Bản chất bao trùm nhất, chi phối mọi lĩnh vực đời sống nhànước Việt Nam hiện nay từ tổ chức đến hoạt động thực tiễn là tínhnhân dân của nhà nước Điều 2- Hiến pháp 1992 quy định:" nhànước CHXHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân.Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liênminh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tríthức"

- Như vậy, quyền lực nhà nước không thuộc một đẳng cấp,một tổ chức xã hội hoặc một nhóm người nào Quyền lực nhànước phải hoàn toàn thuộc về nhân dân lao động bao gồm giai cấpcông nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và những người laođộng khác mà nòng cốt là liên minh công nhân- nông dân- trí thức.Nông dân là người chủ sở hữu duy nhất toàn bộ tài sản vật chất vàtinh thần của nhà nước, có quyền quản lý toàn bộ công việc củanhà nước và xã hội, giải quyết tất cả công việc có liên quan đếnvận mệnh đất nước, đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, tưtưởng của toàn thể dân tộc

Bản chất nhà nước CHXHCN Việt Nam được thể hiện rõ thông qua đặc điểm của nó.

Đặc điểm của nhà nước CHXHCN Việt Nam.

1 Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước.

- Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sảnViệt Nam đã tiến hành đấu tranh cách mạng trải qua nhiều giankhổ đánh đuổi quân xâm lược, làm nên cuộc Cách mạng ThángTám năm 1945, tự mình thiết lập nên nhà nước của mình Nhànước CHXHCN VN hiện nay là nhà nước do nhân dân mà nòngcốt là liên minh công nông trí tự tổ chức thành, tự mình định đoạtquyền lực nhà nước

- Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhànước thực hiện quyền lực nhà nước dưới nhiều hình thức khác

Trang 10

nhau Hình thức cơ bản nhất là thông qua bầu cử, lập ra các cơquan đại diện quyền lực của mình Điều 6 Hiến pháp 1992 quyđịnh:" nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội

và Hội đồng nhân dân các cấp là những cơ quan đại diện cho ý chí

và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu tráchnhiệm trước nhân dân"

Ngoài ra, nhân dân còn thực hiện quyền lực của mình dướihình thức trực tiếp tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản

lý xã hội, tham gia thảo luận Hiến pháp và pháp luật, trực tiếp thểhiện ý chí của mình khi có trưng cầu dân ý Nhân dân trực tiếp bầu

ra các đại biểu của mình vào các cơ quan quyền lực nhà nướcTrung ương và địa phương và có quyền bãi nhiệm các đại biểu đókhi họ tỏ ra không xứng đáng, không làm tròn trách nhiệm Cácđại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân phải báo cáo công việccủa mình trước cử tri

2 Nhà nước CHXHCN VN là nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết các dân tộc anh em.

Tính dân tộc của nhà nước Việt Nam là vấn đề có tính lịch sử,truyền thống lâu dài, chính là nguồn gốc sức mạnh của nhà nước.Điều 5 Hiến pháp 1992 quy định" nhà nước CHXHCN VN là nhànước của các dân tộc cùng sing sống trên đất nước Việt Nam "Nhà nước đảm bảo để trong các cơ quan đại diện quyền lựcnhà nước (Quốc hội và HĐND) các thành phần dân tộc thiểu số có

số đại biểu thích đáng (Điều 10 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội),các đại diện dân tộc được chú ý lựa chọn bầu giữ chức vụ trongchính quyền địa phương

- Có các hình thức tổ chức trong các cơ quan quyền lực nhànước để thực hiện lợi ích dân tộc và tham gia quyết định các chínhsách dân tộc như Hội đồng dân tộc trong Quốc hội và các ban dântộc trong HĐND Các cơ quan này đặc biệt là Hội đồng dân tộckhông chỉ được quyền tham gia, giám sát, kiến nghị các vấn đềdân tộc mà còn được quyền tham gia các phiên họp của Uỷ banthường vụ Quốc hội, các phiên họp của Chính phủ bàn về chính

Trang 11

sách dân tộc, được Chính phủ tham khảo ý kiến khi quyết định cácchính sách dân tộc(Điều 94- Hiến pháp 1992).

- Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, đoàn kếttương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị chia rẽdân tộc, thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bướcnâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểusố

3 Nhà nước CHXHCN VN được tổ chức và hoạt động trên cơ

sở nguyên tắc bình đẳng trong các mối quan hệ giữa nhà nước và công dân.

- Trước đây trong điều kiện nhà nước cực quyền, mối quan hệnhà nước và công dân là mối quan hệ lệ thuộc Nhà nước với tínhcách là bộ máy quan liêu luôn áp đặt, đè nén nhân dân Người dân

bị lệ thuộc vào nhà nước, các quyền tự do, dân chủ bị hạn chế.Quyền thì ít nhưng nghĩa vụ thì lại nhiều Trước nhà nước, ngườidân chỉ thấy bổn phận và nghĩa vụ mà không có quyền đòi hỏi

- Ngày nay, khi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mốiquan hệ giữa bộ máy nhà nước và công dân đã thay đổi, công dân

có đầy đủ các quyền tự do, dân chủ trên tất cả lĩnh vực của đờisống xã hội Đồng thời công dân cũng tự giác thực hiện mọi nghĩa

vụ trước nhà nước Về phần mình, nhà nước XHCN cũng tôntrọng các quyền tự do dân chủ của công dân, ghi nhận đảm bảocho các quyền tự do được thực hiện đầy đủ

- Mối quan hệ nhà nước và công dân được xác lập trên cơ sởtôn trọng lợi ích giữa các bên Luật pháp không chỉ quy định địa vịpháp lý của công dân mà còn buộc các cơ quan nhà nước phải tôntrọng và đưa ra các đảm bảo thực tế cho các quyền ấy, tránh mọinguy cơ xâm hại từ phía các cơ quan nhà nước, các nhà chứctrách

Trang 12

Câu 4 Từ một ví dụ cụ thể, anh (chị) hãy phân tích các giai đoạn áp dụng pháp luật :

Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, mộthoạt động rất phức tạp được diễn ra theo một quá trình nhất định

Có thể phân quá trình đó thành bốn giai đoạn sau: Xét trường hợp

cụ thể về về Quyết định 02 về quản lý hoạt động bán hàng rongtrên địa bàn Hà Nội mới được UBND TP cho ra đời và có hiệu lựctừ 19/1/2008

- Thu thập, phân tích, đánh giá các tình tiết của cấu thành thực tế của vụ việc được xem xét.

Ở giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền áp dụng phápluật cần phải thu thập, xem xét, đánh giá tất cả các tình tiết của vụviệc, làm sáng tỏ tất cả các sự kiện, tình tiết có liên quan Trongnhững trường hợp cần thiết phải sử dụng các biện pháp chuyênmôn đặc biệt để xác định các sự kiện, tình tiết của vụ việc (nhưgiám định) Việc xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ việc phảitrả lời câu hỏi vụ việc đó có cấu thành pháp lý hay không? Việcthu thập, phân tích và đánh giá các tình tiết cụ thể của vụ việc phảibảo đảm tính khách quan, công bằng và tuân theo những qui địnhcủa pháp luật mang tính thủ tục Như vậy, giai đoạn đầu của quátrình áp dụng pháp luật giải quyết hai nội dung : thu thập, phântích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các tìnhtiết thực tế của vụ việc; xác định các dấu hiệu đặc trưng pháp lýcủa nó

Trong trường hợp ban hành Quyết định 02 về quản lý hoạt động bán hàng rong trên địa bàn Hà Nội Cơ quan có thẩm quyền chưa thu thập đủ thông tin, chưa đánh giá được tác động

Thứ nhất đó là tất yếu trong cuộc mưu sinh của nhiều người dân và cũng là nhu cầu thực sự của những người tiêu dùng Nên rất khách quan ở chỗ, gánh hàng rong là có cung có cầu thật sự Đất nước mình đang phát triển, đang còn khó khăn nhất là trong bối cảnh lạm phát thế này, bán hàng rong tồn tại như một tất yếu trong cuộc mưu sinh, cả người mua người bán sẵn sàng che dấu cho nhau để cùng mua bán nên nó phải tồn tại thôi

Trang 13

Thứ hai là lực lượng sản xuất (người bán hàng rong) họ tự sản tự tiêu, những người khác (tiêu dùng) lại sẵn sàng chia sẻ ủng

hộ điều đó, ngay cả những người đuổi họ (quản lý) cũng không làm nặng quá

- Lựa chọn qui phạm pháp luật để áp dụng giải quyết vụ việc và làm sáng tỏ nội dung của nó:

Trước hết, cần xác định qui phạm pháp luật của ngành luậtnào điều chỉnh vụ việc này, tiếp đến lựa chọn qui phạm pháp luật

cụ thể thích hợp với vụ việc Khi đã chọn được qui phạm pháp luật

để giải quyết vụ việc phải kiểm tra tính hiệu lực và giá trị pháp lýcủa nó Sau đó phải làm sáng tỏ nôi dung của qui phạm được lựachọn Tóm lại, giai đoạn này thể hiện ở các việc sau:

- Lựa chọn đúng qui phạm pháp luật làm căn cứ pháp lý choviệc giải quyết vụ việc;

- Xác định tính hiệu lực và giá trị pháp lý của nó;

- Xác định nguồn văn bản chứa đựng qui phạm đó;

- Nhận thức đúng đắn nội dung của qui phạm pháp luật đượclựa chọn

Với quyết định 02 không có gì là mới chủ trương chỉ lặp lại cao hơn những cái Hà Nội đã làm, ví dụ tuyến phố văn minh thương mại; trật tự đô thị nhân rộng lại xoá đi chuyển các quận huyện rồi lại quay trở lại; Hay nghị định 36 về trật tự hè phố cũng làm mãi rồi; nên chủ trương này không có gì là mới.

- Ra văn bản áp dụng pháp luật :

Đây là giai đoạn rất quan trọng của quá trình áp dụng phápluật Ở giai đoạn này, các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể củacác chủ thể được xác định Ra văn bản áp dụng pháp luật là hoạtđộng thể hiện rõ tính sáng tạo Vì khi ra QĐ áp dụng PL là quátrình đánh giá, đối chiếu, xem xét những vi phạm PL…Mặt khác,chính việc ra văn bản áp dụng PL tức là quyền và nghĩa vụ pháp lýcủa các chủ thể được cụ thể hóa, cá biệt hóa Văn bản áp dụngpháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, tên gọi, có cơ sởthực tế và cơ sở pháp lý, theo đúng mẫu đã qui định Nội dung của

Trang 14

văn bản phải rõ ràng, chính xác, nêu rõ trường hợp cụ thể, chủ thể

cụ thể và chỉ được áp dụng một lần

Với quyết định 02 chưa chuẩn bị kỹ về cơ chế, định nghĩa hàng rong là gì - không có! Ví dụ chúng ta chỉ hiểu ngầm với nhau hàng rong là những người bán quang gánh, bày bán ở vỉa

hè, nhưng nếu họ chỉ bảo tôi chỉ đi qua, tôi không bán, vậy vừa đi vừa bán có phải là hàng rong không? Hay họ rẽ vào nhà người ta bán rồi lại đi tiếp ngoài đường, vậy thì những người đi như thế có

bị cấm không - không có luật, không có quy định nào như thế! Một ông trật tự đuổi theo người bán hàng rong bảo là không được

đi, họ bảo chỉ đi qua có bán đâu - cấm người ta đi lại là vi phạm luật pháp rồi! chưa có văn bản nào quy định như thế nào là hành

vi bán hàng rong, thậm chí văn bản mới nhất của lãnh đạo TP Hà Nội ký để tổ chức thực hiện cũng không có

- Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật:

Việc tổ chức thực hiện trên thực tế văn bản áp dụng luật làgiai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật Giai đoạnnày được tiến hành nhằm tạo ra những bảo đảm về mặt vật chất,

kỹ thuật, tổ chức cho việc thực hiện đúng văn bản áp dụng phápluật đã được ban hành Giai đoạn này bao gồm cả việc thực hiệntrên thực tế văn bản áp dụng pháp luật, việc kiểm tra, giám sát việcthực hành quyết định áp dụng pháp luật

Việc xây dựng PL và thực hiện PL đều là công tác rất quantrọng của nhà nước, nhưng nó lại được quyết định bởi những điềukiện chung về mọi mặt : kinh tế, chính trị, văn hóa của XH Đốivới việc xây dựng PL trong các quan hệ XH, cần chú ý nhữngquan hệ ổn định và điển hình nhất, trong khi đó việc áp dụng PLlại áp dụng cho các quan hệ cụ thể Do đó, hoàn thiện hệ thống PL

là phải trên cơ sở hai mặt xây dựng PL và thực hiện PL, hai mặtnày có quan hệ khăng khít với nhau

Trong quyết định 02 chọn thời điểm tổ chức thực hiện cũng

là không thích hợp vì Tết là thời điểm tất cả các loại hàng đềubung ra - đấy là một phần bản sắc chợ Tết Hà Nội (chợ hoa, nơibán hoa di động, cây cảnh, quầy tết cơ động )

Ngày đăng: 22/04/2016, 09:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w